BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ------ PHAN PHƯƠNG LIÊN MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ - THU TIỀN TẠI CÔ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
PHAN PHƯƠNG LIÊN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI
BỘ CHU TRÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ - THU TIỀN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN HÌNH CÁP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
PHAN PHƯƠNG LIÊN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI
BỘ CHU TRÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ - THU TIỀN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN HÌNH CÁP HÀ NỘI
Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ - thu tiền tại Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội” là do tôi nghiên cứu thực hiện dưới sự hướng dẫn
của TS Đào Thanh Bình Các số liệu, kết quả trong luận văn là số liệu thực tế tại doanh nghiệp đang công tác
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
PHAN PHƯƠNG LIÊN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu, công tác của tác giả tại lớp Cao học Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và tại Công ty Cổ phần truyền hình cáp Hà Nội
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh (2015 - 2017) Xin trân trọng cảm ơn Viện Kinh tế và Quản lý, Viện đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội; Ban Lãnh đạo, cán bộ của Công ty Cổ phần truyền hình cáp Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả được nghiên cứu và hoàn thành bản Luận văn này
Đặc biệt, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đào Thanh Bình, đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện Luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn Luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp, bổ sung của các thầy giáo, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp và bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả luận văn
PHAN PHƯƠNG LIÊN
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ – THU TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ 1
1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp 1
1.1.1 Định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) 1
1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ 3
1.1.3 Mục tiêu cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ 4
1.1.4 Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ 6
1.1.5 Những hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ 14
1.2 Kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền của doanh nghiệp dịch vụ 15
1.2.1 Đặc điểm của chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền 15
1.2.2 Các gian lận và sai sót thường gặp trong chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền 17
1.2.3 Kiểm soát nội bộ đối với chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền 18
Trang 61.3 Phương pháp và kỹ thuật đánh giá kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ
và thu tiền 20
1.3.1 Giai đoạn 1: Khảo sát và mô tả hệ thống: 20
1.3.2 Giai đoạn 2: Xác nhận hệ thống: 20
1.3.3 Giai đoạn 3: Phân tích hệ thống 20
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến KSNB chu trình bán hàng – thu tiền 21
1.5 Kinh nghiệm kiểm soát nội bộ tại một số doanh nghiệp dịch vụ trong và ngoài nước 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ – THU TIỀN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN HÌNH CÁP HÀ NỘI 27
2.1 Tổng quan chung của Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 27
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 27
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 30
2.1.3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 36
2.1.4 Các loại sản phẩm, dịch vụ chủ yếu của Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 39
2.1.5 Kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội trong những năm gần đây 42
2.2 Thực trạng kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền tại Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 43
2.2.1 Thủ tục kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ tại Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 44
2.2.2 Thủ tục kiểm soát nội bộ chu trình thu tiền dịch vụ tại Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 53
2.3 Đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền tại Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội theo các yếu tố cấu thành 63
Trang 72.3.1 Môi trường kiểm soát 63
2.3.2 Đánh giá rủi ro 64
2.3.3 Hoạt động kiểm soát 65
2.3.4 Hệ thống thông tin và truyền thông 66
2.3.5 Hoạt động giám sát 67
2.4 Đánh giá chung về kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ – thu tiền tại Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 68
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ – THU TIỀN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN HÌNH CÁP HÀ NỘI 70
3.1 Định hướng phát triển trong tương lai của Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 70
3.2 Một số đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền tại Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 72
3.2.1 Hoàn thiện môi trường kiểm soát 72
3.2.2 Hoàn thiện và nâng cao các hoạt động kiểm soát trong chu trình cung cấp dịch vụ - thu tiền của Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội 75
3.2.3 Hoàn thiện và nâng cao hệ thống thông tin và truyền thông 77
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 1: GIÁM SÁT CÔNG NỢ THEO TỪNG THU NGÂN 83
PHỤ LỤC 2: BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC 84
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
chống gian lận
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh năm 2014, 2015, 2016 của Công ty 42
Bảng 2.2.1: Lưu đồ quy trình cung cấp dịch vụ truyền hình tại Công ty 44 Bảng 2.2.2: Lưu đồ quy trình thu tiền lắp đặt dịch vụ truyền hình tại Công ty 53 Bảng 2.2.3: Lưu đồ quy trình thu tiền thuê bao dịch vụ truyền hình tại Công ty 54
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Truyền hình cáp Hà Nội 30
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty cổ phần Truyền hình cáp Hà Nội 36
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Kiểm soát nội bộ đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh
tế của các doanh nghiệp và tổ chức Kiểm soát nội bộ giúp các nhà quản trị quản lý hữu hiệu và hiệu quả hơn các nguồn lực kinh tế của công ty mình như: con người, tài sản, vốn , góp phần hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời giúp doanh nghiệp xây dựng được một nền tảng quản lý vững chắc phục vụ cho quá trình mở rộng và phát triển đi lên của doanh nghiệp
Trong đó, công tác kiểm soát nội bộ đối với chu trình cung cấp dịch vụ – thu tiền đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của một doanh nghiệp, tổ chức Công ty CP truyền hình cáp Hà Nội hoạt động trong lĩnh vực: cung cấp dịch vụ truyền hình cáp hữu tuyến, internet, sản xuất các chương trình truyền hình, phát sóng quảng cáo, xây dựng hệ thống truyền thanh, kinh doanh thiết bị, Mặc dù, Công ty đạt được nhiều kết quả tốt trong những năm gần đây nhưng hiện tại vẫn còn nhiều vấn đề cần phải thay đổi trong cách quản lý và xây dựng chiến lược kinh doanh, cung cấp dịch vụ
Với mong muốn được tiếp cận thực tế công tác kiểm soát đối với chu trình cung cấp dịch vụ – thu tiền của một doanh nghiệp cụ thể, đồng thời ứng dụng những kiến thức đã học trong nhà trường, so sánh với thực tiễn nắm bắt, mở rộng hiểu biết, tôi
quyết định chọn đề tài “ Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ - thu tiền tại Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Năm 2012, PGS.TS Trần Thị Giang Tân cùng bộ môn Kiểm toán, khoa Kế toán – kiểm toán trường Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn cuốn sách “Kiểm soát nội bộ” Sách trình bày về các nội dung cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ theo khuôn mẫu của COSO, các loại gian lận và biện pháp phòng ngừa, cũng như kiểm soát nội bộ với một số chu trình nghiệp vụ hay tài sản chủ yếu
Đề tài:“Hoàn thiện hệ thống kiểm soát quy trình bán hàng – thu tiền tại Công
ty cổ phần quốc tế Mekong”, Võ Thị Như Thúy ( 2012)
Trang 12Báo cáo nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với quy trình bán hàng - thu tiền tại Tổng Công ty công nghiệp thực phẩm Đồng Nai”, Nguyễn Minh Tiến (2012)
Đề tài “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng và thu tiền tại Công
ty TNHH Thương mại và dịch vụ Minh Toàn” Trong các công trình này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của kiểm soát nội bộ và đề xuất phương hướng
áp dụng mô hình kiểm soát nội bộ vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài Mặc dù vậy, tất cả các công trình nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền Chính vì vậy, các vấn đề mà đề tài cần tập trung nghiên cứu là một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền và thu tiền cụ thể hơn là tại Công ty cổ phần truyền hình cáp Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ - thu tiền của Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền của Công ty Cổ phần truyền hình cáp Hà Nội trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 2014-2015-2016
Hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ truyền hình - thu tiền
tại Công ty Cổ phần truyền hình cáp Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể như sau:
- Phương pháp so sánh: so sánh khuôn khổ mô hình lý thuyết theo COSO
2013 với mô hình kiểm soát nội bộ đang áp dụng tại công ty
- Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát thực tế công tác kiểm soát nội bộ tại công ty từ bộ máy quản lý đến chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban liên quan đến công tác kiểm soát để tìm hiểu thực trạng công tác kiểm soát nội bộ tại công ty
Trang 13- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn trực diện, qua điện thoại hoặc qua email các cá nhân có trách nhiệm liên quan công tác kiểm soát nội bộ để tìm hiểu thực trạng công tác kiểm soát nội bộ tại công ty
- Phương pháp phân tích: nghiên cứu và tìm hiểu về thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần truyền hình cáp Hà Nội nhằm nắm bắt một cách thật tường tận, rõ ràng và cụ thể những mặt tích cực cũng như những điểm hạn chế còn tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty, từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và một số phụ lục, nội dung luận văn được kết cấu thành 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ - thu tiền trong doanh nghiệp dịch vụ
- Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ - thu tiền tại Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ - thu tiền tại Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội
Trang 14CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH CUNG CẤP
DỊCH VỤ – THU TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ
1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
1.1.1 Định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB)
Hệ thống kiểm soát nội bộ thực chất là sự tích hợp một loạt hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy, chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong
tổ chức để đảm bảo tổ chức đó hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý Có thể hiểu đơn giản là hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống của tất cả những gì mà một tổ chức cần làm để có được những điều muốn có và tránh những điều muốn tránh Cũng trên nguyên tắc này, các hệ thống quản lý khác nhau có chuẩn mực quốc tế như ISO, TQM, QA/QC đảm bảo cho sự hoạt động hiệu quả của một tổ chức đã được xây dựng
Như vậy, bất kỳ hoạt động nào của tổ chức cũng có thể là đối tượng của kiểm soát nội bộ, kể cả kiểm toán nội bộ - một hệ thống kiểm tra, đo lường, đánh giá tính xác thực của các thông tin tài chính và tính khả thi của các quyết định quản lý trong nội bộ doanh nghiệp Có nhiều trường hợp, hoạt động kiểm toán nội bộ có thể mở rộng sang các lĩnh vực khác nhưng quan trọng nhất vẫn là các hoạt động tài chính -
kế toán Trong khi kiểm toán nội bộ hoạt động theo các chuẩn mực của Luật kiểm toán, hệ thống kiểm soát nội bộ vận hành theo các chuẩn mực do tổ chức tự ban hành phù hợp với pháp luật chung
Những định nghĩa về hệ thống kiểm soát nội bộ:
1) Theo IAS 400: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn
vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót để lập báo cáo tà chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”
2) Theo COSO (Committee Of Sponsoring Organizations): Kiểm soát nội bộ
là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng Quản trị, các nhà quản lý và các nhân
Trang 15viên khác của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu mà Hội đồng quản trị, các nhà quản lý mong muốn là:
- Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động
- Tính chất đáng tin cậy của các báo cáo tài chính
- Sự tuân thủ các luật lệ và qui định hiện hành
3) Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC): Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt đựơc 4 mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động
- Sự cần thiết và lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ:
Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại song hành Nếu không có hệ thống kiểm soát nội bộ, làm thế nào để người lao động không vì quyền lợi riêng của mình mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức, của người sử dụng lao động? Làm sao biết được tổ chức đang phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn nào? Làm thế nào có thể phân quyền, uỷ nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm tính?…
Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ giúp đem lại các lợi ích sau cho công ty:
- Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính của công ty
- Giảm bớt rủi ro gian lận hoặc trộm cắp đối với công ty do bên thứ ba hoặc nhân viên của công ty gây ra
- Giảm bớt rủi ro sai sót không cố ý của nhân viên mà có thể gây tổn hại cho công ty
- Giảm bớt rủi ro không tuân thủ chính sách và quy trình kinh doanh của công ty
- Ngăn chặn việc tiếp xúc những rủi ro không cần thiết do quản lý rủi ro chưa đầy đủ Thông thường, khi công ty phát triển lên thì lợi ích của một hệ thống kiểm soát nội bộ cũng trở nên to lớn hơn vì người chủ công ty sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc giám sát và kiểm soát các rủi ro này nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm giám sát trực tiếp của bản thân Đối với những công ty có sự tách biệt lớn giữa người
Trang 16quản lý và cổ đông, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ góp phần tạo nên
sự tin tưởng cao của cổ đông Xét về điểm này, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh là một nhân tố của một hệ thống quản trị doanh nghiệp vững mạnh, và điều này rất quan trọng đối với công ty có nhà đầu tư bên ngoài Các nhà đầu tư sẽ thường trả giá cao hơn cho những công ty có rủi ro thấp hơn
1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có các chức năng và nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Bảo vệ tài sản, sổ sách và nguồn thông tin của đơn vị: bao gồm tài sản vật chất và phi vật chất, không bị mất mát, lạm dụng, sử dụng sai mục đích Sự bảo vệ một số tài sản và sổ sách nhất định đã trở nên ngày càng quan trọng kể từ khi hệ thống máy vi tính được sử dụng rộng rãi trong các đơn vị Số lượng lớn thông tin truyền thông được lưu trữ trong máy vi tính, đĩa CD có thể bị phá hoại nếu không bảo vệ chúng một cách cẩn thận
- Cung cấp thông tin đáng tin cậy
- Giúp cho việc quản lý hoạt động kinh doanh của đơn vị một cách có hiệu quả
- Phát hiện kịp thời những vấn đề trong kinh doanh để đề ra các biện pháp giải quyết
- Phát hiện, ngăn chặn các sai phạm và gian lận trong các bộ phận, các hoạt động của đơn vị
- Đảm bảo việc thực hiện các quyết định và quy định quản lý đúng với yêu cầu và thể thức đề ra
- Đánh giá kết quả việc thực hiện quy định và chế độ, xem xét điều chỉnh cho phù hợp nhằm hoàn thiện và nâng cao năng suất hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
- Bảo đảm việc ghi chép một cách đầy đủ và chính xác theo đúng thể thức các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Bảo đảm việc cung cấp số liệu một cách chính xác, đầy đủ phục vụ việc lập báo cáo nội bộ khi cần thiết và báo cáo tài chính định kỳ kịp thời theo đúng yêu cầu pháp định có liên quan
Trang 171.1.3 Mục tiêu cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ trong một tổ chức có thể hiểu là các chính sách và thủ tục được thiết lập tại đơn vị đó để đảm bảo thực hiện các mục tiêu sau:
* Mục tiêu chung
- Bảo vệ tài sản của đơn vị:
Tài sản của đơn vị bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình, chúng có thể
bị đánh cắp, lạm dụng, hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp
- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin:
Thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp và căn cứ quan trọng trong việc hình thành các quyết định của nhà quản lý Do đó các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kip thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ khách quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế
- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và những quy định:
Hệ thống KSNB được thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tuân thủ đúng mức Cụ thể, cần phải:
+ Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp
+ Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận trong mọi hoạt động của doanh nghiệp
+ Đảm bảo việc ghi chép đầy đủ, chính xác cũng như việc lập Báo cáo tài chính trung thực và khách quan
- Đảm bảo tính hiệu quả và hiệu năng của các hoạt động:
Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp Định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp được thực hiện với cơ chế
Trang 18giám sát của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng quản
lý, điều hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp
* Mục tiêu cụ thể:
- Tính đầy đủ:
Mọi tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu hoặc các khoản nợ phải trả phải được phản ánh trên BCTC của đơn vị tại thời điểm báo cáo và phải thực tế tồn tại tại thời điểm đó Các nhà lãnh đạo và quản lý đơn vị phải có những căn cứ tin cậy để chứng minh cho sự tồn tại của các khoản mục này Đối với một số khoản mục tài sản sự hiện hữu còn bao gồm cả yêu cầu về chất lượng của các tài sản
- Tính hiện hữu:
Mọi nghiệp vụ kinh tế hay sự kiện kinh tế đã phát sinh, đã kết thúc, đã hoàn thành có liên quan đến thời kỳ báo cáo đều được ghi chép đầy đủ vào hệ thống chứng từ, sổ kế toán của đơn vị và được phản ánh vào BCTC
- Tính giá:
Mọi khoản tài sản, công nợ, vốn chủ sở hữu, các khoản thu nhập và chi phí phải được ghi chép theo giá trị thích hợp theo các nguyên tắc kế toán, các chuẩn mực kế toán hiện hành hoặc được phổ biến chấp nhận
- Quyền và nghĩa vụ:
Tài sản là quyền lợi, còn công nợ, nguồn vốn là nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp Hầu hết các tài sản trên BCTC thuộc quyền sở hữu của đơn vị Những tài sản không thuộc quyền sở hữu của đơn vị chỉ được phản ánh trên BCTC khi đơn vị có quyền kiểm soát lâu dài và phải đáp ứng các quy định của chuẩn mực
kế toán có liên quan Đối với những khoản công nợ được phản ánh trên BCTC thể hiện đơn vị đang có nghĩa vụ thực tế phải thanh toán, phải trang trải, những khoản
nợ phải trả Nhà quản lý phải đảm bảo quyền và nghĩa vụ phải được ghi nhận đúng thời điểm phát sinh
- Tính chính xác:
Các nghiệp vụ và các sự kiện kinh tế khi ghi nhận phải theo đúng giá trị hoặc trị giá thực của nó Các thông tin, số liệu đã tính toán phải đảm bảo chính xác về mặt toán học và tuyệt đối không được sai sót
Trang 19- Trình bày và công bố: trình bày đúng biểu mẫu và chỉ tiêu theo quy định
cho các báo cáo, sổ kế toán
Hệ thống kiểm soát nội bộ càng có ý nghĩa quan trọng khi quy mô của đơn vị ngày càng mở rộng, quyền hạn trách nhiệm được phân chia thành nhiều cấp, mối quan hệ giữa các cấp trở nên phức tạp, quá trình truyền đạt và thu thập thông tin trở nên khó khăn, tài sản phân tán ở nhiều địa điểm Khi đó hệ thống KSNB càng phải được xây dựng một cách chặt chẽ và ngày càng hoàn thiện
1.1.4 Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống COSO 2013 có tiền thân xuất phát từ hệ thống COSO 1992 Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống Theo báo cáo COSO 1992 hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 5 bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau đó là:
Kế thừa 5 nguyên tắc trên, hệ thống COSO 2013 đã mở rộng và cho ra 17 nguyên tắc diễn giải cho những khái niệm cơ bản liên quan đến mỗi yếu tố cấu thành đó Tất cả 17 nguyên tắc áp dụng cho mỗi phạm trù mục tiêu chung và cho cả những mục tiêu riêng rẽ bên trong mỗi 1 phạm trù Bởi vì 17 nguyên tắc này được lấy trực tiếp ra từ những yếu tố cấu thành Hệ thống kiểm soát nội bộ được cấu thành từ 5 thành phần cơ bản sau và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau:
1.1.4.1 Môi trường kiểm soát:
Là nền tảng ý thức, là văn hóa của tổ chức tác động đến ý thức kiểm soát của toàn bộ thành viên trong tổ chức Môi trường kiểm soát là nền tảng cho bốn bộ phận
Hệ thống kiểm soát nội bộ
Môi trường kiểm soát
Đánh giá rủi ro
Hoạt động kiểm soát
Thông tin
và truyền thông
Hoạt động giám sát
Trang 20còn lại của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp Môi trường kiểm soát được thể hiện thông qua tính kỷ luật, cơ cấu tổ chức, giá trị đạo đức, tính trung thực, triết lý quản lý, phong cách điều hành Môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của một tổ chức, đến các mục tiêu được thiết lập, đến các bộ phận còn lại của hệ thống KSNB Điều này không chỉ đúng trong giai đoạn thiết kế mà cả trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp Các nhân tố trong môi trường kiểm soát nêu trên đều quan trọng, nhưng mức độ quan trọng của mỗi nhân tố tùy thuộc vào từng doanh nghiệp Theo COSO
2013, Môi trường kiểm soát gồm các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 1: Đơn vị chứng minh các cam kết về tính trung thực và giá trị đạo đức Điều này thể hiện rằng người quản lý phải chứng tỏ đơn vị quan tâm đến tính trung thực và giá trị đạo đức
- Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị phải chứng tỏ sự độc lập với người quản lý
và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ
- Nguyên tắc 3: Nhà quản lý dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị cần thiết lập cơ cấu tổ chức, các loại báo cáo, phân định trách nhiệm và quyền hạn nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị
- Nguyên tắc 4: Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về việc sử dụng nhân viên
có năng lực thông qua tuyển dụng, duy trì và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu của đơn vị
- Nguyên tắc 5: Đơn vị cần yêu cầu các cá nhân chịu trách nhiệm báo cáo về trách nhiệm của họ trong việc đáp ứng các mục tiêu của tổ chức
* Tính trung thực và giá trị đạo đức: Là nhân tố quan trọng trong môi
trường kiểm soát, nó tác động đến việc thiết kế, thực hiện và giám sát các nhân tố khác của kiểm soát nội bộ Thái độ và sự quan tâm của nhà quản lý cao cấp đối với kiểm soát nội bộ hữu hiệu phải được lan tỏa đến toàn doanh nghiệp Ứng xử có đạo đức và tính trung thực của toàn thể nhân viên chính là văn hóa của tổ chức Văn hóa của tổ chức bao gồm các chuẩn mực về cách thức ứng xử và các giá trị đạo đức, cách thức truyền đạt và thực hiện trong thực tiễn Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trước tiên phụ thuộc vào tính trung thực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của
Trang 21những người có liên quan đến quá trình kiểm soát Tuy nhiên sự hữu hiệu của kiểm soát nội bộ không chỉ tạo bởi tính trung thực và các giá trị đạo đức của người sáng lập, người quản lý mà là của toàn thể nhân viên trong đơn vị Xây dựng giá trị đạo đức thường rất khó khăn bởi vì cần dung hòa lợi ích của các bên như: lợi ích của nhà quản lý cấp cao với lợi ích của doanh nghiệp, của nhân viên, của nhà cung cấp, khách hàng Khi xây dựng giá trị đạo đức cần chú ý vấn đề sau:
- Áp lực và cơ hội: Cần giảm thiểu cơ hội và áp lực dẫn tới phát sinh các gian lận điều này giúp hạn chế những áp lực và cơ hội kèm theo các biện pháp kiểm soát thích hợp có thể giúp giảm các hành vi gian lận
- Xây dựng và truyền đạt các hướng dẫn về đạo đức: Ngoài áp lực và cơ hội thì nguyên nhân dẫn tới sai phạm là do thiếu hiểu biết Trong rất nhiều doanh nghiệp có phát sinh sai phạm trong lập báo cáo tài chính, nhưng người thực hiện không ý thức được sai phạm của họ Vì thế phải thiết lập quy tắc ứng xử đúng đắn
và các vấn đề khác nhau đồng thời truyền đạt quy tắc này tới toàn thể nhân viên trong đơn vị họ biết được cái gì đúng, cái gì sai
* Cam kết về năng lực: Nhà quản lý cần xác định rõ yêu cầu về năng lực cho
một công việc nhất định và cụ thể hóa nó thành các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng Nhà quản lý chỉ nên tuyển dụng các nhân viên có kiến thức và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao Bên cạnh đó người quản lý cũng cần cân nhắc giữa việc giám sát và yêu cầu năng lực của các nhân viên đồng thời cân nhắc giữa năng lực và chi phí để đảm bảo tốt nhất lợi ích cho doanh nghiệp
* Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát: Đây là một nhân tố có ảnh hưởng
đáng kể đến môi trường kiểm soát Tính hữu hiệu của môi trường kiểm soát phụ thuộc vào sự độc lập của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát với Ban điều hành Hệ thống KSNB sẽ trở nên hữu hiệu khi:
- Hội đồng quản trị năng động và tận tâm, hướng dẫn và giám sát việc thực hiện của người quản lý
- Hội đồng quản trị cần có thêm những người nằm ngoài Ban điều hành vì Hội đồng quản trị phải chất vấn, giám sát các hoạt động quản lý, đưa ra quan điểm
Trang 22phản biện và có dũng khí đấu tranh với những hành vi sai trái nghiêm trọng của người quản lý
* Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý: Triết lý quản
lý và phong cách điều hành tác động đến cách thức doanh nghiệp được điều hành Triết lý quản lý thể hiện qua quan điểm và nhận thức của người quản lý, phong cách điều hành lại thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ của họ khi điều hành đơn vị Triết lý quản lý và phong cách điều hành được phản ánh trong cách thức quản lý, sử dụng các kênh thông tin và quan hệ với cấp dưới Ngoài ra, triết lý quản lý và phong cách điều hành còn thể hiện thông qua thái độ, quan điểm của người quản lý về việc lập và trình bày báo cáo tài chính, việc lựa chọn chính sách kế toán, các ước tính kế toán và về việc phân nhiệm kế toán viên trong đơn vị
* Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức cung cấp khuôn khổ mà trong đó các hoạt
động của doanh nghiệp được lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát và giám sát Một cơ cấu tổ chức tốt đảm bảo cho các thủ tục kiểm soát hiệu quả Ngược lại, khi thiết kế không đúng, cơ cấu tổ chức có thể làm cho các thủ tục kiểm soát mất tác dụng Cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô và bản chất hoạt động của doanh nghiệp Chính
vì vậy, không có khuôn mẫu chung duy nhất Tuy nhiên, dù tổ chức như thế nào, nó cũng phải giúp doanh nghiệp thực hiện chiến lược đã hoạch định để đạt được mục tiêu đề ra
* Phân định quyền hạn và trách nhiệm: Phân định quyền hạn và trách
nhiệm là việc xác định mức độ tự chủ, quyền hạn của từng cá nhân hay từng nhóm trong việc đề xuất và giải quyết vấn đề, trách nhiệm báo cáo đối với các cấp có liên quan Ý thức về trách nhiệm của mỗi cá nhân trong đơn vị quyết định tính chất của trường kiểm soát Do đó, cần phải xác lập quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, xác lập các mối quan hệ báo cáo và xây dựng các phương pháp ủy quyền thông qua các văn bản và triển khai cho toàn đơn vị nhằm giúp từng thành viên hiểu
rõ mục tiêu của tổ chức và từng hành động, mức độ đóng góp của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến người khác cũng như mục tiêu chung của đơn vị
* Chính sách nhân sự và việc áp dụng vào thực tế: Chính sách nhân sự biểu
hiện trong thực tế thông qua việc tuyển dụng, hướng nghiệp, đào tạo, đánh giá, tư
Trang 23vấn, động viên, khen thưởng và kỷ luật Khi đơn vị mong muốn đội ngũ nhân viên
đủ năng lực và trung thực thì tiêu chuẩn tuyển dụng sẽ nhấn mạnh về đạo đức, kinh nghiệm công việc, kết quả công việc đã đạt được
1.1.4.2 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là quá trình nhận dạng và phân tích những rủi ro ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu, từ đó có thể quản trị được rủi ro Mỗi đơn vị luôn phải đối phó với hàng loạt rủi ro từ bên trong lẫn bên ngoài Điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro là thiết lập mục tiêu Mục tiêu phải được thiết lập ở các mức độ khác nhau
và phải nhất quán Do điều kiện kinh tế, đặc điểm và hoạt động kinh doanh, những quy định luôn thay đổi, nên cơ chế nhận dạng và đối phó rủi ro phải liên kết với sự thay đổi này Tất cả các đơn vị, bất kể quy mô, cấu trúc đều phát sinh rủi ro ở tất
cả các mức độ Rủi ro ảnh hưởng đến sự tồn tại của mỗi đơn vị, đến sự thành công, tình hình tài chính, hình ảnh của đơn vị Không có cách nào để triệt tiêu rủi ro vì vậy nhà quản lý phải quyết định một cách thận trọng mức rủi ro như thế nào là có thể chấp nhận được và cố gắng duy trì rủi ro ở mức cho phép Theo COSO 2013, đánh giá rủi ro gồm các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 6: Đơn vị phải thiết lập mục tiêu rõ ràng và đầy đủ để nhận diện và đánh giá rủi ro phát sinh trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị Các mục tiêu đơn vị thường thiết lập bao gồm: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo tài chính và phi tài chính cho người bên ngoài và bên trong doanh nghiệp, mục tiêu tuân thủ
- Nguyên tắc 7: Đơn vị phải nhận diện rủi ro trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị, tiến hành phân tích rủi ro để xác định rủi ro cần được quản trị
- Nguyên tắc 8: Đơn vị cần xem xét các loại gian lận tiềm tàng khi đánh giá rủi ro không đạt được mục tiêu của đơn vị
- Nguyên tắc 9: Đơn vị cần xác định và đánh giá những thay đổi của môi trường ảnh hưởng đến hệ thống KSNB Các thay đổi bao gồm thay đổi từ môi trường bên ngoài (kinh tế, chính trị ), thay đổi từ cách thức kinh doanh (loại hình kinh doanh mới, kỹ thuật mới ), thay đổi từ cách thức quản lý, từ thái độ và triết lý của người quản lý về hệ thống KSNB
Trang 24+ Các phương pháp đánh giá rủi ro:
Đánh giá hoạt động đã qua thông qua các bằng chứng có giá trị (chứng
Tránh rủi ro bằng cách không tiến hành một số hoạt động
Chuyển giao các rủi ro như mua bảo hiểm, góp vốn liên doanh…
Giảm rủi ro bằng cách thiết lập hoặc tăng cường các hoạt động kiểm soát nội bộ
1.1.4.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là tập hợp các chính sách và thủ tục đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện, là các hành động cần thiết thực hiện để đối phó với rủi ro đe dọa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức Hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận và mọi cấp độ tổ chức trong một đơn vị Mọi hoạt động kiểm soát đều bao gồm hai yếu tố là:
- Chính sách kiểm soát: Là những nguyên tắc cần làm, là cơ sở cho việc thực hiện các thủ tục kiểm soát Chính sách kiểm soát có thể được tài liệu hóa đầy đủ và
có hệ thống hoặc được lưu hành theo kiểu truyền miệng
- Thủ tục kiểm soát: Là những quy định cụ thể để thực thi chính sách kiểm soát Một thủ tục sẽ không có tác dụng nếu áp dụng một cách máy móc mà không tập trung vào những yêu cầu nhà quản lý đã đề ra thông qua các chính sách Việc thiết lập các thủ tục kiểm soát cần phải cân đối mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí, cân đối giữa hoạt động kiểm soát và rủi ro phát sinh Theo COSO 2013, Hoạt động kiểm soát gồm những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 10: Đơn vị phải lựa chọn, thiết lập các hoạt động kiểm soát để góp phần hạn chế các rủi ro giúp đơn vị đạt mục tiêu trong giới hạn chấp nhận được
Trang 25- Nguyên tắc 11: Đơn vị lựa chọn và phát triển hoạt động kiểm soát chung với công nghệ hiện đại để hỗ trợ sự thành công cho việc đạt được các mục tiêu của đơn vị
- Nguyên tắc 12: Đơn vị triển khai hoạt động kiểm soát thông qua nội dung các chính sách đã được thiết lập và triển khai thành các thủ tục
1.1.4.4 Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm
cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Mọi bộ phận và cá nhân trong doanh nghiệp đều phải có những thông tin cần thiết giúp thực hiện trách nhiệm của mình
Vì vậy những thông tin cần thiết cần phải được xác định, thu thập và truyền đạt tới những cá nhân, bộ phận có liên quan một cách kịp thời và thích hợp Hệ thống thông tin của doanh nghiệp tạo ra các báo cáo, trong đó chứa đựng những thông tin
về tài chính, hoạt động hay tuân thủ, giúp cho nhà quản lý điều hành và kiểm soát doanh nghiệp Các thông tin dù có nguồn gốc bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp, các thông tin tài chính hay phi tài chính đều cần thiết cho cả ba mục tiêu của doanh nghiệp Thông tin phải được truyền đạt, phổ biến trong toàn tổ chức, thông điệp từ quản lý phải được cung cấp một cách kịp thời tới mọi nhân viên Truyền thông là một phần của hệ thống thông tin nhưng được nêu ra để nhấn mạnh vai trò của việc truyền đạt thông tin Liên quan đến vấn đề này cần lưu ý những khía cạnh sau:
- Trách nhiệm của mỗi cá nhân rõ ràng, tiếp nhận đầy đủ và chính xác chỉ thị của cấp trên Truyền thông giúp cho mỗi cá nhân trong doanh nghiệp hiểu rõ công việc của mình cũng như ảnh hưởng của nó đến cá nhân khác
- Các thông tin từ bên ngoài (khách hàng, nhà cung cấp, ) cũng phải được ghi nhận một cách trung thực và đầy đủ nhờ đó đơn vị mới có thể phản ứng kịp thời Các thông tin bên ngoài (nhà nước, cổ đông) cũng cần được truyền đạt kịp thời, đảm bảo thực hiện đúng yêu cầu của pháp luật Trong hệ thống thông tin, hệ thống thông tin kế toán là một phân hệ rất quan trọng, đầu vào của hệ thống là các
sự kiện kinh tế được biểu hiện dưới dạng nghiệp vụ kế toán, đầu ra của hệ thống là
Trang 26các báo cáo kế toán, những báo cáo này có tính chất quan trọng trong việc tuân thủ quy định của pháp luật cũng như việc ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp Nhằm đáp ứng yêu cầu của các đối tượng sử dụng, các mục tiêu của hệ thống thông tin cần đạt được như sau:
- Xác định và ghi chép tất cả các nghiệp vụ có thật
- Diễn giải nghiệp vụ một cách chi tiết, đầy đủ để cho phép phân loại đúng đắn nghiệp vụ
- Đo lường giá trị của các nghiệp vụ để ghi chép đúng giá trị
- Xác định đúng thời gian của nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra để ghi chép đúng kỳ
- Trình bày đúng đắn và cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết trên báo cáo tài chính
Theo COSO 2013, Thông tin và truyền thông gồm các nguyên tắc sau
- Nguyên tắc 13: Đơn vị thu thập, truyền đạt và sử dụng thông tin thích hợp,
1.1.4.5 Hoạt động giám sát:
Giám sát là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ theo thời gian Giám sát bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ Thông thường, cần kết hợp cả giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ mới đảm bảo tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Việc giám sát thường xuyên được thực hiện đồng thời trong các hoạt động hàng ngày của đơn vị, bao gồm các hoạt động giám sát, quản lý thường nhật và các hoạt động khác Phạm vi và mức độ thường xuyên của việc giám sát định kỳ phụ thuộc chủ yếu vào việc đánh giá rủi ro và sự hữu hiệu của các hoạt động giám sát thường xuyên Qua giám sát, các khiếm khuyết của hệ thống KSNB cần được báo cáo lên cấp trên và nếu là những vấn đề quan trọng hơn sẽ báo cáo cho ban giám đốc hay hội đồng quản trị Mục tiêu chính của
Trang 27việc giám sát là nhằm đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ luôn hoạt động hữu hiệu
do vậy cần giám sát tất cả các hoạt động trong đơn vị và đôi khi còn áp dụng cho các đối tượng bên ngoài đơn vị như nhà cung cấp, khách hàng Nếu hoạt động giám sát thường xuyên càng hữu hiệu thì giám sát định kỳ sẽ giảm đi Việc tổ chức giám sát định kỳ hoàn toàn là do xét đoán của người quản lý dựa trên các nhân tố: bản chất và mức độ của các thay đổi và những rủi ro, năng lực và kinh nghiệm của người thực hiện kiểm soát, kết quả của các hoạt động giám sát thường xuyên
Giám sát thường xuyên được thực hiện ngay trong các hoạt động thường ngày và được lặp đi lặp lại, do vậy sẽ hiệu quả hơn so với giám sát định kỳ Giám sát thường xuyên, định kỳ hoặc kết hợp cả hai được sử dụng để xác định xem mỗi thành phần trong năm thành phần của kiểm soát nội bộ có được thực hiện đầy đủ không
Giám sát định kỳ được tiến hành định kỳ, sẽ thay đổi trong phạm vi và tần số phụ thuộc vào đánh giá rủi ro, hiệu quả của việc đánh giá liên tục và sự cân nhắc trong quản lý Kết quả phát hiện được đánh giá theo tiêu chuẩn của nhà quản lý, và những thiếu sót sẽ được truyền đạt đến Ban quản lý và Ban giám đốc Theo COSO
2013, Giám sát gồm những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 16: Đơn vị phải lựa chọn, triển khai và thực hiện việc đánh giá liên tục hoặc định kỳ để biết chắc rằng liệu những bộ phận của hệ thống KSNB có hiện hữu và đang vận hành đúng
- Nguyên tắc 17: Đơn vị phải đánh giá và thông báo những yếu kém của hệ thống KSNB kịp thời cho các đối tượng có trách nhiệm bao gồm nhà quản lý và Hội đồng quản trị để có những biện pháp khắc phục
Tóm lại, trên đây là 5 thành phần cơ bản và 17 nguyên tắc và thuộc tính của các thành phần cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ không phải
là một chuỗi quá trình nối tiếp, mà là một thành phần chỉ ảnh hưởng đến thành phần tiếp theo Đó là một quá trình lặp đi lặp lại, đa chiều mà mỗi thành phần có thể tác động qua lại lẫn nhau
1.1.5 Những hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ
Bất kể một hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành tốt đến đâu
đi nữa thì nó cũng chỉ cung cấp đảm bảo hợp lý việc đạt được các mục tiêu về hoạt
Trang 28động, báo cáo tài chính đáng tin cậy và sự tuân thủ các qui định pháp luật Hạn chế này xuất phát từ các nguyên nhân sau:
a Hệ thống kiểm soát nội bộ được tiến hành bởi con người: Sự xét đoán của
con người có thể đúng mà cũng có thể sai Tổn thất vẫn có thể xảy ra do sự thiếu thận trọng, xao lãng, sai lầm trong sét đoán hoặc hiểu sai các hướng dẫn của cấp trên Ngoài ra, hệ thống kiểm soát nội bộ do cấp quản lý thiết kế, do đó nó không ngăn ngừa được những hành vi cố ý sai phạm của cấp quản lý và thông đồng giữa các nhân viên trong doanh nghiệp với nhau hoặc với bên ngoài
b Quan hệ giữa lợi ích và chi phí: Không phải mọi rủi ro đều có những thủ
tục kiểm soát tương ứng vì chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để ngăn ngừa những rủi
ro đó là không hợp lý, vượt quá mức tổn thất do sai phạm nếu có xảy ra
c Hệ thống kiểm soát nội bộ không bao quát được những rủi ro không lường trước: Hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng trên cơ sở dự tính trước các
rủi ro do gian lận, sai sót có thể xảy ra, vì thế khó có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm đột xuất, hay bất thường Do đó, kiểm soát nội bộ cần phải thường xuyên được hoàn thiện
1.2 Kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền của doanh nghiệp dịch vụ
1.2.1 Đặc điểm của chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền
1.2.1.1 Khái niệm cung cấp dịch vụ và thu tiền
Cung cấp dịch vụ và thu tiền là quá trình chuyển quyền sở hữu dịch vụ cho khách hàng để đổi lấy tiền hoặc quyền thu tiền từ khách hàng Chu kỳ bắt đầu bằng yêu cầu mua của khách hàng (đơn đặt hàng, hợp đồng mua hàng) và kết thúc bằng
sự chuyển đổi dịch vụ thành một khoản phải thu và cuối cùng thành tiền mặt Trong
đó, hàng hóa và tiền tệ được hiểu theo bản chất kinh tế của chúng: hàng hóa là những sản phẩm hay dịch vụ chứa đựng giá trị và có thể bán được
Bán hàng, cung cấp dịch vụ là quá trình có mục đích, phương thức thực hiện mục đích đó rất đa dạng Theo phương thức trao đổi và thanh toán có thể bán hàng, cung cấp dịch vụ thu tiền mặt trực tiếp hoặc thu qua ngân hàng, bán hàng theo
Trang 29phương thức gửi hàng Với mỗi phương thức khác nhau các thủ tục giao nhận cũng khác nhau nên tổ chức kiểm soát cũng khác nhau
Theo cách thức cụ thể của quá trình trao đổi, hàng hóa sản xuất ra, dịch vụ hoàn thành có thể bán, cung cấp trực tiếp cho người tiêu dùng theo phương thức bán
lẻ hoặc gián tiếp qua phương thức bán buôn, bán hàng qua đại lý Với mỗi phương thức này, trình tự bán hàng, quá trình bán hàng khác nhau, tổ chức công tác kế toán, kiểm soát cũng khác nhau
Kiểm soát quá trình bán hàng, cung cấp dịch vụ có ý nghĩa quan trọng liên quan đến nhiều chỉ tiêu trọng yếu trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh Tính đúng đắn của chỉ tiêu doanh thu liên quan đến chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán, kết quả (lãi, lỗ) của doanh nghiệp trên Báo cáo kết quả kinh doanh Đối với nhà nước, xác định đúng đắn chỉ tiêu doanh thu làm cơ sở để xác định đúng số thuế (Thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt) cũng như thuế thu nhập doanh nghiệp mà công ty phải nộp cho nhà nước
1.2.1.2 Phân loại cung cấp dịch vụ và thu tiền
Chu trình cung cấp dịch vụ thu tiền thường được phân chia thành 2 loại nghiệp vụ cơ bản là:
Nghiệp vụ thu tiền
Những khoản mục có liên quan trong chu trình này thường bao gồm:
dịch vụ, các khoản mục thể hiện giảm trừ doanh thu như giảm giá, doanh thu hàng bán
bị trả lại, Chiết khấu thương mại Trên bảng cân đối kế toán: Phải thu khách hàng (bao gồm cả dự phòng phải thu khó đòi), tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng)
vốn hàng bán, hàng tồn kho, chi phí bán hàng,…
1.2.1.3 Đặc điểm và yêu cầu quản lý cung cấp dịch vụ và thu tiền
Cung cấp dịch vụ và thu tiền là quá trình chuyển quyền sở hữu sản phẩm dịch vụ qua quá trình trao đổi dịch vụ – tiền giữa doanh nghiệp với khách hàng Chu trình này là quy trình bắt đầu từ yêu cầu dịch vụ của khách hàng thông qua yêu cầu
Trang 30dịch vụ, hợp đồng cung cấp dịch vụ, xét duyệt bán chịu, cung cấp dịch vụ, lập hóa đơn, cuối cùng là theo dõi công nợ phải thu và thu tiền Chu trình cung cấp dịch vụ
và thu tiền là giai đoạn cuối của hoạt động SXKD, nó đánh giá hiệu quả của giai đoạn trước đó và hiệu quả của toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp
1.2.1.4 Tổ chức công tác kế toán cung cấp dịch vụ và thu tiền
Công tác kế toán là một bộ phận quan trọng không thể thiếu cho việc thực hiện các mục tiêu kiểm soát Mục tiêu cuối cùng trong kiểm soát chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền là phải đảm bảo doanh thu được tính chính xác, tiền thu đúng, thu đủ Do đó, để đáp ứng được mục tiêu này đòi hỏi phải tổ chức hệ thống chứng
từ kế toán và hệ thống sổ kế toán một cách khoa học, đầy đủ, phù hợp với yêu cầu thông tin trên báo cáo về doanh thu, tiền thu dịch vụ và nợ phải thu của khách hàng, đồng thời phải qui định rõ phương pháp lập, qui trình luân chuyển, ký duyệt chứng
từ nhằm đảm bảo tính pháp lý của chứng từ Các chứng từ và sổ kế toán phải thực hiện theo đúng nội dung, phương pháp lập, ký chứng từ theo đúng quy định của Luật kế toán và các văn bản quy phạm hiện hành bao gồm: Hợp đồng dịch vụ của khách hàng; Hóa đơn bán hàng (Hóa đơn GTGT) ; Phiếu thu, giấy báo có của ngân hàng; Sổ nhật ký bán hàng; Sổ nhật ký thu tiền mặt; Sổ nhật ký doanh thu bị trả lại hoặc giảm giá; Sổ quỹ tiền mặt, tiền gửi ngân hàng; Nhật ký theo dõi các khoản CKTM, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại ; Sổ chi tiết các khoản phải thu khách hàng ; Sổ chi tiết thuế GTGT đầu ra; Bảng kê nghiệp vụ ; Các báo cáo hay bảng kê công nợ khách hàng; Báo cáo chi tiết thanh toán hay bảng kê thanh toán; Báo cáo doanh thu …
1.2.2 Các gian lận và sai sót thường gặp trong chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền
Trong chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền, ta thường thấy xảy ra các gian lận và sai sót sau đây:
- Nhận yêu cầu dịch vụ của khách hàng không có khả năng thanh toán
- Nhận yêu cầu dịch vụ những dịch vụ doanh nghiệp không có sẵn hoặc không dủ khả năng cung cấp
Trang 31- Đội ngũ nhân viên bán hàng có thể làm cho công ty cam kết một lịch cung cấp dịch vụ mà công ty không thể đáp ứng
- Đơn đặt hàng có thể được chấp nhận mà có những điều khoản hoặc điều kiện không chính xác
- Nhân viên bán hàng có thể cấp quá nhiều hạn mức bán chịu cho khách hàng
để đẩy mạnh doanh số bán hàng và do đó làm cho công ty phải chịu rủi ro tín dụng quá mức
- Không ghi hoặc ghi chậm số tiền khách hàng thanh toán
- Nhân viên lập hóa đơn có thể quên lập một số hóa đơn cho hàng hóa, dịch
vụ đã cung cấp, lập sai hóa đơn hoặc lập hóa đơn thành hai lần hoặc lập hóa đơn khống trong khi thực tế không cung cấp hàng hóa, dịch vụ
- Nhân viên không nộp tiền thu được từ nghiệp vụ bán hàng
1.2.3 Kiểm soát nội bộ đối với chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền
1.2.3.1 Các mục tiêu kiểm soát chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền
Các đơn đặt hàng phải được xử lý kịp thời, không bỏ sót ; các nghiệp vụ phải được phê chuẩn đúng đắn; các nghiệp vụ phải được ghi sổ đầy đủ và được đánh giá đúng đắn; các nghiệp vụ ghi sổ phải có căn cứ hợp lý; các nghiệp vụ kinh tế phải được phản ánh đúng lúc; các nghiệp vụ kinh tế phải được ghi đúng đắn vào sổ phụ
và được tổng hợp chính xác
* Đối với doanh thu bán hàng: Doanh thu bán hàng được ghi sổ là phải có
căn cứ hợp lý; doanh thu đó được tính toán đúng và ghi sổ chính xác (sự đánh giá), doanh thu được ghi sổ đúng lúc
* Đối với tiền thu bán hàng: Đảm bảo cho các khoản tiền được ghi sổ là đúng
thực tế nhận được; Các khoản tiền thu được ghi sổ và đã nộp đều đúng với giá bán; Các khoản tiền đều được phân loại đúng; Các khoản thu tiền ghi đúng thời hạn…
1.2.3.2 Thủ tục kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền
Có rất nhiều thủ tục kiểm soát khác nhau có thể được thực hiện ở đơn vị Tuy nhiên, chúng thường được chia thành hai loại: kiểm soát trực tiếp và kiểm soát gián tiếp
a) Kiểm soát trực tiếp
Trang 32Kiểm soát trực tiếp là các thủ tục, quy chế, quá trình kiểm soát được thiết lập nhằm trực tiếp đáp ứng các mục tiêu chi tiết của kiểm soát Bao gồm:
- Kiểm soát bảo vệ tài sản, thông tin: là các biện pháp, quy chế kiểm soát nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thông tin trong đơn vị Các điểm trọng yếu nhằm vào mục đích này bao gồm:
thông tin của người không có trách nhiệm
kiểm soát tài sản, sổ sách, thông tin
Thiết lập các quy chế về kiểm kê hiện vật, lấy xác nhận của bên thứ 3…
- Kiểm soát xử lý: là loại kiểm soát được đặt ra để trong quá trình xử lý, ghi
sổ các nghiệp vụ kinh tế đảm bảo rằng nghiệp vụ đó đã xảy ra và việc ghi chúng vào
và đánh giá công việc thực hiện của họ Ngoài ra, những sai phạm vô tình hay cố ý đều có thể xảy ra, bất luận chất lượng của quá trình kiểm soát là như thế nào Kiểm soát quản lý là biện pháp hiệu quả, giảm thiểu tối đa những gian lận và sai sót đó
Trang 331.3 Phương pháp và kỹ thuật đánh giá kiểm soát nội bộ chu trình cung cấp dịch vụ và thu tiền
Là phương pháp kiểm toán trong đó có các thủ tục, kỹ thuật kiểm toán được thiết lập để thu thập các bằng chứng về tính hiệu quả và thích hợp của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán
1.3.1 Giai đoạn 1: Khảo sát và mô tả hệ thống:
Xem xét hệ thống KSNB của đơn vị được kiểm toán căn cứ vào các văn bản quy định về quy trình nghiệp vụ của đơn vị, quan sát tận mắt các quy trình nghiệp
vụ, thông qua trao đổi, phỏng vấn các nhân viên Mô tả hệ thống là sử dụng lưu đồ hoặc bảng tường thuật để phác thảo hệ thống KSNB của đơn vị
Mô tả hệ thống bao gồm 4 nội dung sau đây:
- Nắm vững và mô tả rõ ràng, chi tiết quy trình nghiệp vụ hiện hành được quy định (bằng văn bản)
- Kết quả quan sát quy trình nghiệp vụ đang được vận hành
- So sánh giữa quy trình nghiệp vụ đã được quy định với quy trình diễn ra trong thực tế
- Chỉ ra những khác biệt và phân tích những nguyên nhân của sự khác biệt
1.3.2 Giai đoạn 2: Xác nhận hệ thống:
Lấy ý kiến xác nhận của những người quản lý về hệ thống KSNB mà KTV
đã mô tả sau khi kiểm tra đánh giá tính hiệu lực của hệ thống KSNB trong thực tế: kiểm tra tính tuân thủ trong thực tế
- Những điểm thống nhất và chưa thống nhất
- Khảo sát bổ sung về những vấn đề chưa thống nhất
- Ý kiến của người quản lý đơn vị về những vấn đề chưa thống nhất
- Lập biên bản làm việc giữa kiểm toán viên với người quản lý
1.3.3 Giai đoạn 3: Phân tích hệ thống
Đánh giá hiệu quả (thích hợp) của hệ thống KSNB của đơn vị được kiểm toán thông qua việc phân tích những ưu, nhược điểm của hệ thống KSNB Chỉ ra những chốt kiểm soát còn thiếu, yếu, nhưng rủi ro tiềm ẩn chưa được kiểm soát phát hiện
Trang 34Có 4 bước trong phân tích hệ thống
- Hình dung quy trình nghiệp vụ lý tưởng (tốt nhất) về nghiệp vụ đang được kiểm toán (Tính lý tưởng phụ thuộc kiến thức, trình độ, am hiểu và kinh nghiệm của KTV)
- Xem xét quy trình nghiệp vụ hiện tại của đơn vị được kiểm toán (Quy trình nghiệp vụ hiện tại được thể hiện bằng văn bản là các chế độ và thực tế quy trình xử lý nghiệp vụ của đơn vị)
- So sánh quy trình nghiệp vụ hiện tại với quy trình nghiệp vụ lý tưởng
- Tiến hành các thử nghiệm kiểm soát, trên cơ sở đó tìm ra điểm mạnh, yếu của đơn vị được kiểm toan, vùng tiềm ẩn rủi ro trong quy trình
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến KSNB chu trình bán hàng – thu tiền
- Con người: Con người đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc kiểm
soát nói chung và của chu trình nói riêng, bởi vì họ là người trực tiếp thực hiện chu trình Những quy định được thiết lập hay các phần mềm phục vụ cho nghiệp
vụ đều do con người đảm nhiệm Và cũng vì thế nên các gian lận hay sai sót thường xảy ra đều xuất phát từ nhân tố con người Vậy nên yếu tố môi trường kiểm soát đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các cá thể trong doanh nghiệp, tạo sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các phòng ban trong công ty,
có chế độ rõ ràng để nhân viên trong công ty không có điều kiện cũng như động
cơ để tạo ra gian lận, rủi ro
- Công nghệ thông tin: Ngày nay, công nghệ thông tin đóng vai trò quan
trọng trong không chỉ một mà tất cả các chu trình phát sinh trong doanh nghiệp Việc xuất các chứng từ, ghi sổ, hạch toán đều do máy đảm nhiệm Vì vậy nên các yếu tố dữ liệu đầu vào là cực kỳ quan trọng để máy móc có thể làm việc một cách hiệu quả nhất Nếu như không kiểm soát dữ liệu đầu vào thì quá trình xử lý
dữ liệu cũng như đầu ra của dữ liệu sẽ không được đảm bảo
- Cơ chế, chính sách của Nhà nước: Các cơ chế, chính sách của Nhà nước
đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một môi trường kiểm soát hiệu quả của doanh nghiệp Các quy định, chính sách, chuẩn mực ban hành trong nội bộ công
ty đều phải phù hợp với cơ chế do bộ Tài chính quy định.Vì vậy nên nắm rõ các
Trang 35cơ chế chính sách, rồi từ đó mới thiết lập các hoạt động kiểm soát để tạo ra môi trường kiểm soát phù hợp với đặc điểm và ngành nghề kinh doanh là khá phức tạp nhưng rất cần thiết Các cơ chế chính sách càng chi tiết, chặt chẽ từng phần hành thì sẽ giúp cho môi trường kiểm soát trở nên hiệu quả hơn
- Đặc điểm sản xuất kinh doanh: Mỗi doanh nghiệp có những đặc thù khác nhau sẽ có những đặc điểm kiểm soát khác nhau, tuy nhiên chu trình bán hàng – thu tiền là chu trình duy nhất tạo ra lợi nhuận cũng như doanh thu và làm tăng tài sản hữu hình của doanh nghiệp Điều này tác động không nhỏ tới việc kiểm soát chu trình này, phải làm thế nào để doanh thu được ghi nhận một cách đúng đắn, giảm thiểu rủi ro mất mát hao hụt, cũng như các khoản nợ khó đòi làm giảm tài sản của công ty Tuy vậy đặc thù cũng ảnh hưởng đến việc kiểm soát, như các doanh nghiệp xây lắp ghi nhận doanh thu theo thời gian hoàn thành công trình vì vậy việc ghi nhận doanh thu phải được kiểm soát cụ thể, hoặc đối với các doanh nghiệp sản xuất phải xác định rõ giá vốn hợp lý từ đó quyết định được ra giá bán phù hợp
1.5 Kinh nghiệm kiểm soát nội bộ tại một số doanh nghiệp dịch vụ trong và ngoài nước
- Tập đoàn năng lượng Úc: Tập đoàn năng lượng Úc là nhà cung cấp điện
lớn nhất trong thị trường điện quốc gia của Úc, sở hữu sản lượng chiếm tới 11,4% tổng công suất phát điện của nước Úc Mô hình hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại TĐ được áp dụng theo COSO, có đủ 5 thành tố, tuy nhiên TĐ chú trọng nhất vào
hệ thống đánh giá rủi ro.TĐ có một cơ cấu quản lý rủi ro mạnh mẽ và toàn diện Các chính sách quản lý rủi ro chi tiết được thiết lập nhằm đảm bảo rằng các rủi ro được phát hiện, quản lý và báo cáo theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản trị phê duyệt Các chính sách quản lý rủi ro của TĐ đòi hỏi các đơn vị kinh doanh phát triển và duy trì “hồ sơ rủi ro” Hồ sơ rủi ro của TĐ năng lượng Úc có trình bày rõ ràng về các sự kiện có thể xảy ra, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu về mặt chiến lược của họ Hồ sơ này được chuẩn bị và cập nhật một cách thường xuyên và nó có tác động rất lớn trong việc ra các quyết định liên quan đến quản trị DN và đầu tư của nhà quản lý Trong năm 2012, TĐ cũng sử dụng hệ thống này để xếp hạng và
Trang 36ưu tiên thứ tự xử lý các rủi ro trong quá trình thiết lập các mục tiêu hoạt động của mình TĐ cũng có một bộ quy trình xử lý rủi ro, trong đó có mô tả rất rõ quy trình
xử lý từng loại rủi ro riêng biệt Quy trình này hoàn toàn nhất quán với Tiêu chuẩn quản lý rủi ro quốc tế ISO 31000 Các loại rủi ro được xem xét bao gồm: Rủi ro về
sự an toàn của con người; Rủi ro về các quy định pháp lý; Rủi ro về môi trường; rủi
ro mang tính chất hoạt động và hệ thống; Rủi ro tài chính; rủi ro về chiến lược; Rủi
ro về đối tác kinh doanh và các nhà cung cấp; Rủi ro về tài sản; Rủi ro về thị trường bán buôn và chuỗi cung ứng năng lượng, TĐ sử dụng một nhóm kiểm toán nội bộ
để hỗ trợ cho hoạt động KSNB bằng cách, cung cấp các đánh giá độc lập về mức độ tuân thủ các chính sách và thủ tục quy định liên quan đến quản trị DN và đưa ra đánh giá về tính hiệu quả của tất cả các thủ tục kiểm soát có liên quan đến tài chính Nhóm kiểm toán này được yêu cầu, đánh giá tất cả các kết quả kiểm toán nội bộ và đưa ra các đề xuất thích hợp để khắc phục các điểm yếu của hệ thống KSNB, qua
đó giúp ban lãnh đạo quản lý tài chính một cách hiệu quả hơn
- Tập đoàn điện lực Tokyo: Gần đây đã có rất nhiều bài viết bàn về
nguyên nhân và hậu quả của thảm họa nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima Tuy nhiên, phần lớn cái bài viết này đều coi thảm họa ở Fukushima là hậu quả của các hiện tượng tự nhiên là động đất và sóng thần tại Nhật Bản mà rất ít chú ý đến việc quản trị DN tại các nhà máy ở Fukushima.TĐ Điện lực Tokyo (TEPCO) đã có một
số cam kết về mặt quản trị DN Trên thực tế, việc xử lý khá mờ nhạt của TĐ trước tình hình trên đã bị dư luận lên án mạnh mẽ Mức độ nguy hiểm được giảm thiểu ở mức tối đa nhưng độ lớn của các thiệt hại đã dần dần trở nên khá rõ ràng Mức độ rủi ro tại các nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima có nguy cơ tăng dần và được sánh ngang với thảm họa Chernobyl - tai nạn hạt nhân nghiêm trọng nhất trong lịch sử
TĐ Điện lực Tokyo đã tiến hành xử lý các sai sót trong hệ thống quản lý rủi ro của mình TĐ đã thống kê lại các hành vi vi phạm an toàn đã xảy ra trong lịch sử Ví dụ, năm 2002, một số cá nhân trong TĐ đã làm sai lệch hồ sơ an toàn của TĐ Trong năm 2007, sau một trận động đất, nhà máy hạt nhân Niigata đã bị cháy và rò rỉ nước phóng xạ nhưng sự việc này đã bị che dấu Do vậy, hệ thống quản lý rủi ro của công
ty và các luồng thông tin cung cấp cho hệ thống KSNB có hoạt động hiệu quả hay
Trang 37không, đến nay vẫn là một câu hỏi cần lời giải đáp Ảnh hưởng của các thất bại nêu trên là các ví dụ điển hình cho thấy rằng, cho dù một hệ thống KSNB được thiếp lập
và duy trì hoạt động một cách thường xuyên nhưng không phải lúc nào nó cũng hoạt động hiệu quả như sự mong đợi của các chủ sở hữu và đôi khi, các thảm họa lớn xảy ra có thể bắt nguồn từ những sự việc hết sức thông thường ví dụ như thiếu thông tin Điều đó có nghĩa là, không thể có một hệ thống KSNB hoàn hảo nhưng
hệ thống KSNB bắt buộc phải tồn tại để giảm thiểu tới mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra Bài học kinh nghiệm khi xây dựng và hoàn thiện hệ thống KSNB cho các TĐKT tại Việt Nam Qua nghiên cứu kinh nghiệm về việc xây dựng hệ thống KSNB của TĐKT tại một số nước, chúng ta có thể tổng kết một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống KSNB tại
các TĐKT tại Việt Nam như sau:
- Một là, mặc dù có sự khác biệt nhất định trong cách thức trình bày nhưng
các nhân tố cơ bản của hệ thống KSNB bao giờ cũng bao gồm: Môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin và truyền thông, hệ thống quản lý rủi ro, các thủ tục kiểm soát và hệ thống giám sát Trong môi trường kiểm soát cần có ủy ban kiểm toán trực thuộc HĐQT, ủy ban kiểm toán chịu trách nhiệm của mình trước các chủ sở hữu về các vấn đề liên quan đến kế toán, kiểm toán và KSNB ủy ban kiểm toán có quyền lựa chọn, thiết lập và quản lý bộ phận KSNB, có trách nhiệm đánh giá định kỳ đối với việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Kiểm toán nội bộ Hệ thống KSNB
cần hướng tới việc tuân thủ chế độ pháp lý và thực hiện các giá trị đạo đức
- Hai là, rủi ro và việc phân tích, đánh giá rủi ro có ảnh hưởng trực tiếp
đến việc đạt được các mục tiêu của DN và việc phân tích, đánh giá rủi ro là cơ sở quan trọng để thiết lập hệ thống KSNB Do vậy, để đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả của quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống KSNB, phải dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro Đánh giá rủi ro là một nội dung không thể thiếu được, trong
quy trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống KSNB
- Ba là, cần bố trí cơ cấu HĐQT hợp lý với những thành viên độc lập bên
ngoài không tham gia điều hành, để tạo lập một cơ chế kiểm soát khách quan và công bằng, nên thành lập đầy đủ các ban tư vấn, giúp việc cho HĐQT của công ty
Trang 38mẹ, trong đó nên có các ban kiểm toán và ban quản lý rủi ro, những ban này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của hệ thống KSNB trong DN Hiệu quả hoạt động của HĐQT công ty mẹ có ý nghĩa quyết định trong việc định hướng chiến lược,
quyết định các vấn đề lớn của TĐ
- Bốn là, TĐKT Nhà nước cần phải phân định và tách biệt rõ ràng, chức
năng quản lý kinh doanh và chức năng quản lý hành chính, giữa mục tiêu hiệu quả kinh doanh và mục tiêu quản lý điều tiết nền kinh tế của Nhà nước Mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty thành viên được thiết lập trên cơ sở nắm giữ cổ phần, tuân thủ các quy luật kinh tế, cạnh tranh bình đẳng với các DN khác trên thị trường Để kiểm soát vốn tại các công ty thành viên, công ty mẹ trực tiếp cử người đại diện của công ty vào bộ máy quản lý của công ty thành viên tương ứng với
quyền chi phối và quyền điều phối
- Năm là, chính sách nhân sự tại TĐ cần phải linh hoạt, áp dụng phương
thức quản lý “Chế độ làm việc suốt đời” như ở Nhật Bản, trả lương dựa trên thâm niên công tác, tạo ra cho mọi người trong TĐ động lực để phấn đấu hết mình cho sự sinh tồn và phát triển của TĐ Tuy nhiên, cũng cần phải sửa đổi lại cho phù hợp với điều kiện phát triển của TĐ trong từng thời kỳ Tùy theo điều kiện cụ thể có thể tham khảo chính sách nhân sự mở của các DN Mỹ, tuyển dụng những nhân viên có bằng cấp và chuyên môn làm việc được ngay cho vị trí yêu cầu, giảm thiểu chi phí đào tạo Cần phải trẻ hóa đội ngũ nhân sự có trình độ, chuyên môn và đào thải những nhân viên không đủ năng lực Thực hiện đào tạo lại nhân sự khi có những biến động của thị trường và khuyến khích phát huy tối đa năng lực sáng tạo của nhân viên Luôn thúc đẩy mọi thành viên phải phấn đấu để đạt kết quả cao trong vị
trí của mình
Trang 39TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Kiểm soát nội bộ là một hệ thống được thực hiện chính bởi mỗi thành viên cá nhân trong đơn vị, đứng đầu là nhà lãnh đạo đơn vị điều hành kiểm soát, kế đến là nhà quản lý chịu trách nhiệm giám sát và cuối cùng là nhân viên các phòng ban phối hợp thực hiện đúng theo những quy định, chuẩn mực, quy tắc chung đã được đề ra
Hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ vững mạnh sẽ giảm thiểu được các hành vi gian lận, tránh được các rủi ro sai sót, quản lý tốt tài sản và điều quan trọng là đảm bảo được các mục tiêu sau :
Sự tin cậy của báo cáo tài chính
Sự tuân thủ pháp luật và các quy định
Kiểm soát chu trình cung cấp dịch vụ – thu tiền là một khâu quan trọng của
hệ thống kiểm soát nội bộ Vì chu trình bán hàng, cung cấp dịch vụ – thu tiền liên quan trực tiếp đến tài sản là hàng hóa và tiền có khả năng gian lận và tham ô cao cần được kiểm soát chặt chẽ hơn Kiểm soát bắt đầu từ giai đoạn xử lý đơn hàng (hợp đồng), xét duyệt bán chịu, theo dõi nợ phải thu và cuối cùng là thu tiền Mỗi giai đoạn điều phải được kiểm soát theo từng chức năng và mục tiêu riêng và được kết hợp lại thành một hệ thống xuyên suốt vẫn đảm bảo được ba mục tiêu nói trên
Trang 40CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ – THU TIỀN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN HÌNH CÁP HÀ NỘI
2.1 Tổng quan chung về Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần truyền hình Cáp
Hà Nội
2.1.1.1 Thông tin chung về Công ty Cổ phần truyền hình Cáp Hà Nội
Tên gọi đầy đủ: Công ty Cổ phần Truyền hình cáp Hà Nội
Tên giao dịch quốc tế: Hanoi Cable Television Joint stock Company
Tên viết tắt : HanoiCab
Địa chỉ : 30 Phố Trung Liệt, Phường Trung Liệt, Quận Đống Đa, Hà Nội