LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn “Một số giải pháp bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV, nhà giáo dạy nghề cho nhóm trường nghề chất lượng cao thuộc Tổng cục Dạy nghề” là công t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
ĐẶNG THỊ MAI PHƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN, NHÀ GIÁO DẠY NGHỀ CHO NHÓM
TRƯỜNG NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO
THUỘC TỔNG CỤC DẠY NGHỀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN NGHIẾN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
ĐẶNG THỊ MAI PHƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN , NHÀ GIÁO
DẠY NGHỀ CHO NHÓM TRƯỜNG NGHỀ
CHẤT LƯỢNG CAO THUỘC TỔNG CỤC DẠY NGHỀ
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo, cán bộ và nhân viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện Kinh tế và quản lý đã tạo điều kiện, giúp đỡ nhiệt tình tác giả trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài này Tác giả xin cảm ơn các lãnh đạo, chuyên viên Vụ Nhà giáo và Cán bộ quản lý dạy nghề, Tổng cục Dạy nghề, các cán bộ quản lý đào tạo nghề ở một số Bộ, ngành, Ban giám hiệu, cán bộ và một số trường Cao đẳng nghề khác thuộc diện khảo sát của đề tài đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu, đánh giá thực trạng để hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những người thân trong gia đình, đối với bạn bè đã kịp thời cổ vũ, động viên, giúp đỡ mọi mặt để tác giả chuyên tâm học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Văn Nghiến đã hướng dẫn
và chỉ bảo để tác giả hoàn thành bản luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy giáo, cô giáo và các bạn./
Hà Nội, tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Thị Mai Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Một số giải pháp bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV, nhà giáo dạy nghề cho nhóm trường nghề chất lượng cao thuộc Tổng cục Dạy nghề” là công trình nghiên cứu độc lập do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Nghiến và giảng viên khác trong Viện Kinh tế
và quản lý - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Các nội dung và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và khách quan
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Thị Mai Phương
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 6
1.1 Một số khái niệm công cụ 6
1.1.1 Giáo dục nghề nghiệp 6
1.1.2 Cơ sở giáo dục nghề nghiệp 7
1.1.3 Nhà giáo giáo dục nghề nghiệp 7
1.1.4 Bồi dưỡng 8
1.1.5 Trường chất lượng cao 10
1.2 Quy trình bồi dưỡng nhà giáo giáo dục nghề nghiệp 16
1.2.1 Xác định nhu cầu bồi dưỡng 16
1.2.2 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng 17
1.2.3 Xác định nội dung bồi dưỡng 18
1.2.4 Xây dựng chương trình bồi dưỡng 19
1.2.5 Hình thức và phương pháp bồi dưỡng 20
1.2.6 Đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng 21
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 22
1.3.1 Nhân tố bên trong hệ thống 22
1.3.2 Nhân tố bên ngoài 25
1.4 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở một số nước 26
1.4.1 Cộng hòa liên bang Đức 26
1.4.2 Úc 26
Trang 61.4.4 Cộng hòa Séc 28
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA 45 TRƯỜNG CHẤT LƯỢNG CAO 30
2.1 Khái quát về 45 trường chất lượng cao 30
2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên của 45 trường chất lượng cao 31
2.2.1 Thực trạng về số lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên của 45 trường chất lượng cao 31
2.2.2 Thực trạng về chất lượng đội ngũ giảng viên của 45 trường chất lượng cao 33
2.3 Thực trạng công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của 45 trường chất lượng cao 37
2.3.1 Kết quả bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của 45 trường chất lượng cao giai đoạn 2012-2015 37
2.3.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của 45 trường chất lượng cao qua kết quả điều tra, khảo sát 39
Tiểu kết chương 2 56
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA 45 TRƯỜNG ĐƯỢC ĐẦU TƯ TRỞ THÀNH TRƯỜNG NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO 57
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển đội ngũ nhà giáo giai đoạn 2011-2020 57
3.2 Một số giải pháp bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại 45 trường đáp ứng tiêu chí trường nghề chất lượng cao đến năm 2020 59
3.2.1 Những nguyên tắc đề xuất giải pháp 59
3.2.1.1 Tính cấn thiết 59
3.2.1.2 Tính phù hợp 60
3.2.1.3 Tính đồng bộ 60
3.2.1.5 Tính kế thừa 60
3.2.1.6 Tính hiệu quả 60
Trang 73.2.2 Những giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 45 trường chất lượng cao 60
3.2.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 70
3.3 Kết quả khảo cứu về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp 71
Tiểu kết chương 3 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 81
Trang 8BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa CLC Chất lượng cao
CBQL Cán bộ quản lý GDNN Giáo dục nghề nghiệp ĐNGV Đội ngũ giảng viên
KT Kỹ thuật LĐTB&XH LĐTB&XH TC-HC Tổ chức - hành chính
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Điều tra công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 39
Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả đánh giá về công tác xác định nhu cầu bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 42
Bảng 2.3 Đánh giá của giảng viên về sự phù hợp của kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 44
Bảng 2.4 Đánh giá của CBQLDN về sự phù hợp giữa nội dung bồi dưỡng với hình thức bồi dưỡng 50
Bảng 2.5 Các phương pháp bồi dưỡng giảng viên đã được tham gia trong giai đoạn 2013-2015 51
Bảng 2.6 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá sau khóa bồi dưỡng 53
Bảng 3.1 Đánh giá năng lực giảng viên sau bồi dưỡng 68
Bảng 3.2 Kết quả khảo cứu về tính cần thiết của các giải pháp 71
Bảng 3.3 Kết quả khảo cứu tính khả thi của các giải pháp 72
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cơ cấu độ tuổi của nhà giáo 32 Hình 2.2 Cơ cấu nhà giáo chia theo giới tính, dân tộc, cơ hữu/thỉnh giảng 33 Hình 2.3 Cơ cấu trình độ đào tạo của giảng viên 33 Hình 2.4 So sánh trình độ chuyên môn của giảng viên tại 45 trường CLC với toàn
bộ nhà giáo trên cả nước 34 Hình 2.5 Cơ cấu giảng viên dạy trình độ cao đẳng có chứng chỉ kỹ năng nghề 35 Hình 2.6 So sánh trình độ kỹ năng nghề của ĐNGV của 45 trường CLC với nhà giáo trên cả nước 36 Hình 2.7 Kết quả đánh giá tiếng Anh bằng bài thi TOEIC đối với 37 Hình 2.8 Đánh giá của giảng viên về sự quan tâm của lãnh đạo trường đối với công tác bồi dưỡng ĐNGV 40 Hình 2.9 Đánh giá của giảng viên về công tác xác định nhu cầu bồi dưỡng ĐNGV 43 Hình 2.10 Số khóa bồi dưỡng mà giảng viên đã tham gia trong giai đoạn 2013-2015 46 Hình 2.11 Đánh giá của giảng viên về mức độ phù hợp của chương trình bồi dưỡng 47 Hình 2.13 Các hình thức bồi dưỡng giảng viên giai đoạn 2013-2015 49
Hình 2.13 Tổng hợp ý kiến đánh giá của CBQLDN về sự phù hợp 50
Hình 2.14 Các phương pháp bồi dưỡng giảng viên đã được tham gia 52
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Có thể khẳng định rằng không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển
nào đối với con người nói riêng và xã hội nói chung Do vậy, trong chiến lược phát triển đất nước Đảng ta luôn khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã định hướng với mục tiêu tổng quát là “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đề đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [1]; Đại hội lần thứ X Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh, coi con người “vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển” và Đại hội lần thứ XI thì Đảng ta đã coi trọng việc “nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện” [2]
Trong những năm qua, hoạt động đào tạo - dạy nghề bước đầu đáp ứng được nhu cầu về lao động có tay nghề ở các cấp trình độ phục vụ cho các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; đã từng bước đào tạo được đội ngũ lao động kỹ thuật ở một
số nghề đạt đẳng cấp quốc tế, một số lao động Việt Nam đã thực hiện được các nhiệm vụ phức tạp ở nhiều vị trí, công việc trong các tổ chức, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng đào tạo nghề còn thấp, nhất là đào tạo nhân lực có tay nghề cao theo yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và sự phát triển của khoa học công nghệ thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Vẫn còn sự thiếu hụt đáng kể về lao động qua đào tạo trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề đạt chuẩn các cấp trình độ quốc gia, khu vực và quốc tế cho thị trường lao động, nhất là các ngành kinh tế mũi nhọn, ngành công nghiệp hỗ trợ, các khu công nghiệp, khu chế xuất và xuất khẩu lao động Năng lực nghề nghiệp và năng suất của lao động Việt Nam còn thấp so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới; năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang bị suy giảm dẫn đến chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế chưa bền vững… Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là nước
ta chưa phát triển được các trường nghề chất lượng cao (CLC) để đào tạo những nghề trọng điểm được đánh giá và công nhận ở cấp độ khu vực, quốc tế
Trang 12Yêu cầu xây dựng một số trường dạy nghề chất lượng cao , đạt chuẩn khu vực
và quốc tế, tăng nhanh quy mô đào tạo công nhân và cán bộ kỹ thuật lành nghề ở những lĩnh vực công nghệ cao, tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, đào tạo nhân lực có tay nghề cao… đã được thể hiện ở nhiều văn bản như Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng "Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000", Thông báo kết luận số 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị khóa X về phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ
2011-2020, Chiến lược phát triển Dạy nghề giai đoạn 2011-2020
Thực hiện nhiệm vụ được phân công trong Chương trình hành động thực hiện Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ; để khắc phục những tồn tại, hạn chế về đào tạo nghề chất lượng cao thời gian qua và hình thành các trường nghề chất lượng cao nhằm góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) và hội nhập quốc tế của đất nước, ngày 23/05/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 761/QĐ-TTg phê duyệt "Đề án phát triển trường nghề CLC đến năm 2020", theo đó, có 45 trường nghề được đầu tư thành trường CLC (sau đây gọi chung là 45 trường CLC)
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên (sau đây gọi chung là đội ngũ giảng viên - ĐNGV), trong đó có ĐNGV trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) được quan tâm, chú trọng Vai trò của nhà giáo trong việc quyết định chất lượng, hiệu quả đào tạo ngày càng được khẳng định Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác
Trang 13định: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập quốc tế”; “Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm đạo đức và năng lực nghề nghiệp” là một trong những nhiệm vụ, giải để thực hiện Nghị quyết
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển thành trường nghề chất lượng cao và đòi hỏi phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và hội nhập quốc tế của đất nước, 45 trường chất lượng cao đang có những hạn chế, bất cập về nhiều mặt Công tác phát triển ĐNGV của các trường còn thiếu về số lượng
và hạn chế về chất lượng; Kỹ năng sư phạm của một số nhà giáo còn hạn chế, nhà giáo dạy thực hành nghề còn thiếu kinh nghiệm thực tế sản xuất, khả năng tiếp cận
và cập nhật những kỹ thuật tiên tiến, công nghệ mới còn nhiều hạn chế Năng lực bổ trợ (ngoại ngữ, tin học ) của nhà giáo chưa đáp ứng tốt nhu cầu đổi mới và phát triển dạy nghề tại cơ sở Giáo dục nghề nghiệp Sự hạn chế này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân là do công tác bồi dưỡng ĐNGV Giáo dục nghề nghiệp của các trường còn nhiều bất cập
Để thực hiện được các mục tiêu phát triển thành trường dạy nghề chất lượng cao, bên cạnh những giải pháp đổi mới mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo và đánh giá kết quả đào tạo; tăng cường cơ sở vật chất, thiết
bị đào tạo; cần phải đổi mới công tác bồi dưỡng ĐNGV nhà trường đảm bảo đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chất lượng đáp ứng tiêu chí về nhà giáo của trường nghề chất lượng cao và yêu cầu đổi mới đào tạo của nhà trường, góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 - 2020 và Chiến lược phát
Giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài: "Một số giải
pháp bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, nhà giáo dạy nghề cho nhóm trường nghề chất lượng cao thuộc Tổng cục Dạy nghề" để nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Nhiệm vụ:
Trang 14+ Vận dụng những kiến thức đã được học trong chương trình thạc sỹ Quản trị kinh doanh vào thực tiễn công tác bồi dưỡng ĐNGV của 45 trường chất lượng cao
+ Hệ thống cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng ĐNGV Giáo dục nghề nghiệp + Phân tích đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên (ĐNGV) của 45 trường chất lượng cao
- Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng ĐNGV của 45 trường chất lượng cao, đề xuất một số giải pháp bồi dưỡng và kiến nghị đối với Bộ, ngành, địa phương nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV của 45 trường chất lượng cao, tiến tới đạt chuẩn trường nghề chất lượng cao đến năm 2020, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng mà đề tài tập trung nghiên cứu công tác bồi dưỡng ĐNGV của 45 trường chất lượng cao bao gồm cả giảng viên kiêm chức và giảng viên thỉnh giảng
có vai trò nhất định trong công tác giảng dạy của trường
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng ĐNGV của 45 trường chất lượng cao, của Tổng cục Dạy nghề và Sở LĐTB&XH các tỉnh, thành phố + Về thời gian: Năm 2013-2015 và những đề xuất kế hoạch giai đoạn 2017-2020
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Nguồn thông tin
+ Dữ liệu thứ cấp: các văn bản liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng cho ĐNGV của các trường; các báo cáo về tình hình tuyển sinh, thực trạng ĐNGV, kết quả kiểm định 45 trường chất lượng cao, của Tổng cục Dạy nghề
+ Dữ liệu sơ cấp: số liệu thống kê, khảo sát về ĐNGV của 45 trường chất lượng cao
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp bảng hỏi:
Trang 15Bảng hỏi sẽ được xây dựng riêng cho 2 nhóm đối tượng: Nhóm đối tượng cán
bộ quản lý (CBQL) và nhóm đối tượng là các giảng viên công tác tại 45 trườn chất lượng cao
Mỗi bảng hỏi bao gồm 2 dạng câu hỏi: câu hỏi đóng và câu hỏi mở xoay quanh vấn đề về thực trạng công tác bồi dưỡng giảng viên của từng trường trong số
45 trường chất lượng cao và giải pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng ĐNGV của 45 trường chất lượng cao
+ Phương pháp phân tích số liệu:
Các số liệu được cung cấp bởi nguồn thông tin sơ cấp sẽ được thống kê lại và phân tích Công cụ sử dụng để phân tích số liệu là Excel
+ Phương pháp so sánh:
So sánh các số liệu được cung cấp bởi nguồn thông tin thứ cấp để thấy được chất lượng của ĐNGV của 45 trường chất lượng cao so với mặt bằng chung của cả
nước
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV của 45 trường chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng Giáo dục nghề nghiệp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm công cụ
1.1.1 Giáo dục nghề nghiệp
Thuật ngữ “Giáo dục nghề nghiệp” được nhiều nước trên thế giới sử dụng Tại
Úc, Giáo dục nghề nghiệp có tên tiếng Anh là Vocational education and training (viết tắt là VET) Giáo dục nghề nghiệp ở đây nhấn mạnh đến 4 thành tố: kiến thức,
kỹ năng, thái độ, và việc làm sau khi tốt nghiệp (employability), họ chú trọng đến khía cạnh tạo sự “thành thạo” (competence) cho người học và sự thành thạo này phải được đánh giá (assessment) bằng nhiều giải pháp linh hoạt
Tại điểm c khoản 1 Điều 4 Luật Giáo dục 2005, thuật ngữ “Giáo dục nghề nghiệp” cũng được nhắc đến và được coi như là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân gồm có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Dạy nghề bao gồm ba trình
độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề Như vậy, trong hệ thống giáo dục
có hai trình độ trung cấp (trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề), hai trình độ cao đẳng (cao đẳng nghề và cao đẳng) Điều này đã tạo bất cập lớn trong cơ cấu trình độ nghề nghiệp ở Việt Nam những năm qua và nhất là không tương đồng với khung trình độ giáo dục ở các quốc gia trên khu vực và thế giới
Luật Giáo dục nghề nghiệp được thông qua tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã đưa ra khái niệm Giáo dục nghề nghiệp như sau: “Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên.”
Luận văn sử dụng khái niệm Giáo dục nghề nghiệp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp
Trang 171.1.2 Cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Cơ sở Giáo dục nghề nghiệp theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp gồm: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp, trường cao đẳng
Cơ sở Giáo dục nghề nghiệp được tổ chức theo các loại hình sau đây:
- Cơ sở Giáo dục nghề nghiệp công lập là cơ sở Giáo dục nghề nghiệp thuộc
sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất;
- Cơ sở Giáo dục nghề nghiệp tư thục là cơ sở Giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất;
- Cơ sở Giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm cơ sở Giáo dục nghề nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; cơ sở Giáo dục nghề nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
1.1.3 Nhà giáo giáo dục nghề nghiệp
a) Nhà giáo:
Điều 70 Luật Giáo dục năm 2015 quy định:
“Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác; Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, Giáo dục nghề nghiệp gọi là nhà giáo; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên.”
b) Nhà giáo giáo dục nghề nghiệp:
Điều 53 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 quy định:
“Nhà giáo trong cơ sở hoạt động Giáo dục nghề nghiệp bao gồm nhà giáo dạy
lý thuyết, nhà giáo dạy thực hành hoặc nhà giáo vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành
Nhà giáo trong trung tâm Giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp được gọi là nhà giáo; nhà giáo trong trường cao đẳng được gọi là giảng viên”
Để thống nhất thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu, phù hợp với phạm vi nghiên cứu, luận văn sử dụng khái niệm "giảng viên" khi đề cập đến đội ngũ nhà giáo trong 45 trường chất lượng cao
Trang 181.1.4 Bồi dưỡng
1.1.4.1 Phân biệt khái niệm "bồi dưỡng" và "đào tạo"
Theo Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên (Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010), “bồi dưỡng ” được hiểu theo hai nghĩa: 1) làm tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ; 2) tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất; còn đào tạo được hiểu là “làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” Theo Đại từ điển do GS Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb Văn hóa - Thông tin,
Hà Nội, 1998), “bồi dưỡng ” cũng được hiểu theo hai nghĩa đó là: 1) làm cho khỏe thêm, mạnh thêm; 2) tốt hơn, giỏi hơn còn "đào tạo" được hiểu là "dạy dỗ, rèn luyện
để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp”;
Theo khoản 1, 2 Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính Phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức thì: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”; “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có
hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”
Như vậy:
- Bồi dưỡng có thể được hiểu là quá trình cập nhật những kiến thức mới, bổ sung những kiến thức còn thiếu, lạc hậu để nâng cao trình độ, năng lực hoặc phẩm chất, củng cố kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên môn, nghề nghiệp có sẵn để lao động nghề nghiệp
có hiệu quả hơn
- Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho một cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách
có năng suất và hiệu quả Hay nói một cách chung nhất, đào tạo được xem là một quá trình làm cho người ta trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân văn và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo ngành nghề cụ thể
Trang 19Phân tích những nét nghĩa chính của hai khái niệm đào tạo và bồi dưỡng được ghi nhận trong các Từ điển giải thích có uy tín nhất của Việt Nam nói trên cho thấy, đây là hai khái niệm, mặc dù có những nét nghĩa tương đồng nhất định (như đều có nét nghĩa chỉ quá trình làm tốt hơn, lành mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho khách thể), song đây là hai khái niệm không đồng nghĩa, khu biệt nhau bằng những nội hàm nghĩa rất cụ thể - mà trước hết, đó là sự khu biệt cơ bản về chất của cả một quá trình giáo dục Nếu như đối với đào tạo, thì đây là một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị và xây dựng cho khách thể các tố chất mà trước đó khách thể đó không có; còn đối với bồi dưỡng thì đây chỉ là một giai đoạn ngắn, bổ trợ, nhằm bồi bổ thêm, làm tốt thêm và nâng cao hơn các tố chất vốn đã có sẵn của khách thể
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng thường được tiến hành tại các trường lớp, các trung tâm đào tạo bồi dưỡng và được xác nhận bằng văn bằng, chứng chỉ
Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động của các cơ quan quản lý giáo viên, giảng viên, của cơ sở đào tạo bồi dưỡng nhằm trang bị và nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc, phẩm chất đạo đức… cho giáo viên, giảng viên theo tiêu chuẩn quy định
1.1.4.2 Vai trò của công tác bồi dưỡng trong việc nâng cao chất lượng của đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp
Bồi dưỡng là phương thức có vai trò tích cực và quan trọng trong phát triển ĐNGV Giáo dục nghề nghiệp về mặt chất lượng, nhất là trong điều kiện ngày nay, khoa học công nghệ tiến bộ phát triển như vũ bão, tiến trình đổi mới, CNH-HĐH và hội nhập đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao và như vậy có nghĩa là
sự đòi hỏi về kiến thức, kỹ năng của người học cũng đòi hỏi ngày càng cao… nếu chất lượng của người Thầy không được đào tạo, bồi dưỡng , cập nhật thường xuyên thì không thể đáp ứng được yêu cầu của người học, của xã hội
Bồi dưỡng ĐNGV Giáo dục nghề nghiệp sẽ đem lại tác dụng kép, nó không chỉ nhằm mục đích giáo dục, nâng cao kỹ năng chuyên môn, năng lực giảng dạy cho ĐNGV mà trên một nghĩa nào đó còn đem lại kiến thức, kỹ năng, cho người học mà người nhà giáo đảm nhiệm Việc bồi dưỡng cho ĐNGV Giáo dục nghề
Trang 20nghiệp có thể sử dụng các hình thức thích hợp với từng nhà giáo như: Bồi dưỡng tập trung, tại chức, từ xa, dài hạn, ngắn hạn hoặc hỗ trợ tự học tập nghiên cứu Công tác bồi dưỡng nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp hiện nay cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:
- Bồi dưỡng kiến thức chuyên môn đáp ứng nhu cầu giảng dạy, nhất là chú ý đến các chuẩn nghề nghiệp quy định về năng lực chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp
- Bồi dưỡng nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và hiều biết pháp luật của nhà nước
- Bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức và các kỹ năng ứng xử của nhà giáo, đặc biệt trên các mặt: Đạo đức nghề nghiệp, lối sống tác phong, sự trung thành với chủ nghĩa xã hội
- Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực tổng kết thực tiễn, năng lực tham gia các hoạt động xã hội
1.1.5 Trường chất lượng cao
a) Nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, quá trình quốc tế hoá sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng, chất lượng nguồn nhân lực được coi là yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Việc mở ra khả năng di chuyển lao động giữa các nước đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng nghề cao, có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế với những tiêu chuẩn, tiêu chí do thị trường lao động xác định Đào tạo theo hướng cầu đang và sẽ được thực hiện ở tất cả các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới nhằm tạo việc làm bền vững
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là nước
ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 (tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP; tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 30% trong lao động xã hội) Để thực hiện được mục tiêu trên, cần có đội ngũ lao động kỹ thuật đủ về số lượng, có kiến thức, kỹ năng nghề với cơ cấu ngành nghề và trình độ phù hợp Đây là thách thức lớn, đòi hỏi Giáo dục nghề nghiệp phải
Trang 21đổi mới, phát triển và có bước đột phá về chất lượng, đặc biệt là chất lượng đào tạo nhân lực có tay nghề cao để đáp ứng yêu cầu về nhân lực cho đất nước trong giai đoạn này Nhận thức được rằng, giai đoạn 2011 - 2020 nền kinh tế nước ta phải đương đầu với cạnh tranh quyết liệt trong bối cảnh hội nhập; với yêu cầu của một đất nước công nghiệp, nền kinh tế nước ta cần có đội ngũ lao động kỹ thuật đủ về số lượng, có kiến thức, kỹ năng nghề với cơ cấu và trình độ phù hợp Đó là cũng là thách thức to lớn đối với Giáo dục nghề nghiệp và đòi hỏi Giáo dục nghề nghiệp phải đi trước một bước để chuẩn bị nhân lực cho đất nước trong giai đoạn mới Do vậy, vấn đề chất lượng nhân lực, đặc biệt là đào tạo nhân lực có tay nghề cao được coi là vấn đề trọng tâm của giai đoạn này
Theo Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam và Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011- 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 40%, tương đương 23,5 triệu người vào năm 2015 và 55% vào năm 2020, tương đương 34,4 triệu người
- Giai đoạn 2011 - 2015 đào tạo mới trình độ cao đẳng, trung cấp nghề khoảng 2,1 triệu người (trong đó khoảng 60.000 - 65.000 người đạt cấp độ quốc gia, khu vực ASEAN và quốc tế)
- Giai đoạn 2016 - 2020 đào tạo mới trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề khoảng 2,9 triệu người (trong đó 290.000 người đạt cấp độ quốc gia, khu vực ASEAN
và quốc tế)
- Nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, trung cấp nghề giai đoạn 2011 - 2020 được chia theo lĩnh vực: khối ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 3.090.000 người; khối ngành công nghiệp - xây dựng là 4.400.000 người; khối ngành dịch vụ là 2.500.000 người
- Nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề đến năm 2020 của một số ngành mũi nhọn và tập đoàn, tổng công ty lớn khoảng 834.000 người (Dệt May: 530.000 người; Điện lực: 151.000 người; Công nghiệp tàu thủy: 50.000 người; Cao su: 80.000 người; Than khoáng sản: 8.000 người; Lắp máy: 15.000 người;…) Nhu cầu nhân lực trình độ tay nghề cao cho một số tập đoàn kinh tế khi mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài sẽ ngày càng tăng lên
Trang 22- Nhu cầu lao động qua đào tạo để đi làm việc ở nước ngoài thời kỳ 2011 -
2015 khoảng 450.000 người và thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 670.000 người với bậc đào tạo khác nhau, trong đó 50% trung cấp nghề trở lên
Như vậy, chỉ riêng mục tiêu về số lượng người tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp nghề đến năm 2020 cũng là thách thức lớn so với năng lực đào tạo nhân lực có tay nghề cao của các trường nghề hiện nay Nếu đạt mục tiêu về chất lượng, cơ cấu đào tạo phù hợp, một số nghề đạt cấp độ quốc gia, khu vực, quốc tế thì thách thức sẽ lớn hơn nhiều Trong khi đó, việc đào tạo nhân lực có tay nghề cao là một đột phá chiến lược để thực hiện thành công việc đưa nước ta thành nước công nghiệp vào năm
2020 Tuy nhiên, nếu các cấp ủy đảng, các ngành, các cấp vẫn chưa thực sự quan tâm và tập trung quyết liệt vào vấn đề này thì mục tiêu đào tạo nhân lực có tay nghề cao khó có thể thực hiện Vì vậy, việc đầu tư, xây dựng trường nghề chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao là việc làm cần thiết
b) Trường nghề chất lượng cao
Theo quy định tại Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020”,
có 45 cơ sở Giáo dục nghề nghiệp công lập (trong đó có 44 trường cao đẳng nghề - nay gọi là trường cao đẳng, 01 trường trung cấp nghề - nay gọi là trường trung cấp) được lựa chọn được quy hoạch ưu tiên tập trung đầu tư để trở thành trường nghề
CLCvào năm 2020 (Phụ lục 01 Danh sách 45 trường được ưu tiên, đầu tư thành
trường chất lượng cao đến năm 2020)
Tại Điều 1 Mục III Quyết định số 761/QĐ-TTg quy định Tiêu chí của trường nghề CLC, cụ thể như sau:
“Trường được công nhận là trường nghề chất lượng cao khi được cơ quan kiểm định chất lượng dạy nghề đánh giá đáp ứng đủ các tiêu chí sau đây:
1 Về quy mô đào tạo: Quy mô đào tạo tối thiểu là 2.000 học sinh, sinh viên hệ trung cấp nghề, cao đẳng nghề (tính theo số học sinh, sinh viên quy đổi), trong đó
có ít nhất 30% học sinh, sinh viên học các nghề trọng điểm
Trang 232 Về việc làm sau đào tạo: Có ít nhất 80% số học sinh, sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng nghề được đào tạo trong vòng 6 tháng kể từ khi tốt nghiệp, trong đó các nghề trọng điểm đạt ít nhất là 90%
3 Về trình độ học sinh, sinh viên sau đào tạo: 100% học sinh, sinh viên tốt nghiệp hệ trung cấp nghề đạt bậc 2/5, hệ cao đẳng nghề đạt bậc 3/5 của tiêu chuẩn
kỹ năng nghề quốc gia và có trình độ tin học đạt tiêu chuẩn IC3 hoặc tương đương trở lên, trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 300 điểm TOEIC hoặc tương đương trở lên Trong đó, học sinh, sinh viên tốt nghiệp các nghề trọng điểm theo chương trình đào tạo được chuyển giao từ nước ngoài có trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 450 điểm TOEIC hoặc tương đương trở lên và được các tổ chức giáo dục, đào tạo có uy tín của khu vực ASEAN hoặc quốc tế công nhận văn bằng, chứng chỉ
- Môi trường học tập thân thiện, có chất lượng và các dịch vụ hỗ trợ học sinh, sinh viên hoạt động hiệu quả
4 Về đào tạo gắn với nhu cầu người sử dụng lao động:
- 80% học sinh, sinh viên trọng vòng 1 năm sau tốt nghiệp có việc làm phù hợp với nghề/chuyên ngành được đào tạo; trong đó: nghề trọng điểm quốc gia, khu vực, quốc tế đạt ít nhất 90%
- Ít nhất 75 % doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động khảng định trình độ của học sinh, sinh viên tốt nghiệp từ trường hiện đong làm việc tại doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu công việc
- Tỷ lệ thời gian đào tạo thực hành cao (ít nhất 60% tổng thời gian đào tạo), nội dung thực hành gắn với môi trường làm việc thực tế
- Thường xuyên hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp, Hiệp hội ngành nghề để thúc đẩy đào tạo hợp tác, bao gồm cả hoạt động kết hợp đào tạo tại trường với đào tạo tại doanh nghiệp
- Cung cấp, tổ chức các khóa đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cho người lao động của doanh nghiệp trong và ngoài nước; các khóa đòa tạo, bồi dưỡng cho nhà giáo, cán bộ quản lý của các trường về kỹ năng nghề, tổ chức đào tạo
Trang 245 Về kiểm định chất lượng: Trường đạt cấp độ 3 tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề; 100% nghề đào tạo đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo
6 Về nhà giáo, giảng viên: 100% nhà giáo đạt chuẩn quy định:
- Đội ngũ nhà giáo đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin nâng cao theo quy định của Bộ Thông tin Truyền thông hoặc tương đương; nhà giáo dạy nghề trọng điểm quốc tế đạt chuẩn trình độ tin học quốc tế (MÓ, IC3,…) hoặc đạt chuẩn theo chương trình chuyển giao
- Đội ngũ nhà giáo đạt trình độ ngoại ngữ B1 trở lên theo khung tham chiếu chung Châu Âu (bậc 3 theo khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam) hoặc tương đương Nhà giáo dạy các nghề trọng điểm đạt trình độ ngoại ngữ B2 trở lên theo Khung tham chiếu chung Châu Âu ( bậc 4 theo khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam) hoặc tương đương
- Đội ngũ nhà giáo có kinh nghiệm làm việc thực tế tại các doanh nghiệp/khu vực kinh tế, kỹ thuật ở các lĩnh vực nghề lien quan và thường xuyên cập nhật kiến thức /kỹ năng/ công nghệ tiên tiến trong thực tiễn
- Nhà giáo dạy thực hành có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 3 trở lên; nhà giáo dạy các nghề trọng điểm quốc tế có chứng chỉ kỹ năng nghề/ chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng do tổ chức quốc tế cấp
- Tỷ lệ nhà giáo có trình độ thạc sỹ trở lên ít nhất là 70% Một số bộ phận nhà giáo có chứng chỉ/bằng sư phạm quốc tế, là đánh giá viên kỹ năng nghề quốc gia hoặc đánh giá viên kỹ năng nghề quốc tế
7 Về quản trị nhà trường và hội nhập quốc tế :
- 100% cán bộ quản lý của trường được cấp chứng chỉ đào tạo về nghiệp vụ quản lý dạy nghề Các hoạt động quản lý của trường và chương trình đào tạo các nghề trọng điểm được số hóa và mô phỏng hóa theo các công nghệ phần mềm tiên tiến trên thế giới.”
8 Về chương trình đào tạo và cơ sở vật chất, trang thiết bị
- Chương trình đào tạo:
Trang 25+ 100% chương trình đào tạo của trường được xây dựng chuẩn đầu ra;
+ Chương trình đào tạo nghề trọng điểm quốc tế áp dụng tiêu chuẩn của chương trình chuyển giao từ các nước khu vực ASEAN – 4 và các nước phát triển thuộc hóm G20
+ Chương trình đào tạo các nghề trọng điểm được số hóa, mô phỏng hóa
- Diện tích đất sử dụng tối thiểu 50.000 m2, trong đó bảo đảm diện tích phòng học, xưởng dung cho học tập, giảng dạy đảm bảo ở mức bình quân ít nhất là 7,5 m2/chỗ học; diện tích phòng làm việc, khu hành chính và khu hiệu bộ bảo đảm ít nhất bình quân 8m2/người
- Cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu đào tạo để hình thành 3 kỹ năng : Kỹ năng
cơ bản chung của lĩnh vực nghề, kỹ năng chuyên môn nghề, kỹ năng tổng thể trong điều kiện làm việc thực tế
- Thiết bị đào tạo các nghề trọng điểm phù hợp với công nghệ hiện đại áp dụng tại doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động Các trang thiết bị đào tạo được quản lý, bảo trì, bảo dưỡng theo quy định
- Có chiến lược phát triển trường và kế hoạch trong 5 năm với các nguồn tài chính dự kiến đủ để triển khai các hoạt động, bù đắp cho các chi phí hiện tại cũng như dự phòng để tái đầu tư;
- Nhà trường thiết lập và thực hiện các hoạt động đảm bảo chất lượng nội bộ;
có tối thiểu 05 kiểm định viên chất lượng giáo dục nghề nghiệp
- Các hoạt động quản lý nhà trường được tin học hóa;
- Đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường có chứng chỉ/bằng về nghiệp vụ quản lý giáo dục nghề nghiệp/quản lý trường học hoặc có kinh nghiệp làm việc tại vị trí tương đương;
- Thường xuyên triển khai các hoạt động đổi mới đào tạo và nghiên cứu khoa học ứng dụng phục vụ đào tạo
- Thường xuyên hợp tác/trao đổi nội dung lien quan đến đào tạo với các cơ sở đào tạo giáo dục nghề nghiệp khác tổ chức đào tạo quốc tế; là thành viên của mạng lưới nghề nghiệp/hiệp hội nghề nghiệp quốc tế”
Trang 26Như vậy, các tiêu chí về nhà giáo để công nhận trường nghề chất lượng cao vẫn tập trung vào chuẩn nhà giáo theo quy định, ngoài ra có bổ sung thêm tiêu chí
về trình độ ngoại ngữ tiếng Anh và trình độ tin học Do đó, việc phát triển ĐNGV đạt các tiêu chí trường nghề chất lượng cao còn đòi hỏi thêm việc đạt chuẩn về ngoại ngữ tiếng Anh và tin học
c) Sự cần thiết nâng cao chất lượng ĐNGV của 45 trường chất lượng cao
Kinh nghiệm của các nước cho thấy sự phát triển của nền kinh tế thị trường, song song với những thành tựu đáng khích lệ về phương diện kinh tế là sự phát triển phức tạp, mạnh mẽ của những vấn đề khoa học công nghệ và cả những vấn đề xã hội… Thực tế đó đặt ra những thách thức mới về chuyên môn và đặc biệt là bản lĩnh chính trị trong nghề nghiệp: Những nhà giáo không những phải đạt được trình
độ chuyên môn cao hơn trước mà còn phải có độ sâu sắc, nhuần nhuyễn… đến nghệ thuật trong xử lý các vấn đề về khoa học công nghệ về con người để truyền thụ cho học sinh mà còn phải là tấm gương sáng cho người học
So với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội của 45 trường cả hiện tại
và tương lại, có thể nói: Cả số lượng và chất lượng ĐNGV của 45 trường CLC đang
có những hạn chế, bất cập Giải pháp đúng đắn để khắc phục sự bất cập giữa năng lực hiện tại của ĐNGV 45 trường CLC với yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ, chính là đổi mới công tác bồi dưỡng ĐNGV của các trường cả về nội dung, hình thức, phương thức tổ chức bồi dưỡng
1.2 Quy trình bồi dưỡng nhà giáo giáo dục nghề nghiệp
1.2.1 Xác định nhu cầu bồi dưỡng
Để thực hiện bồi dưỡng nguồn nhân lực trong tổ chức, nhà trường đạt hiệu quả thì việc xác định nhu cầu bồi dưỡng là rất quan trọng Công tác tổ chức bồi dưỡng ĐNGV trước hết cũng bắt đầu từ việc xác định nhu cầu bồi dưỡng
Xác định nhu cầu bồi dưỡng là xác định khi nào, ở bộ phận nào cần được bồi dưỡng; nội dung nào cần bồi dưỡng; xác định số người cần bồi dưỡng Để xác định được nhu cầu bồi dưỡng thì người làm công tác đào tạo, bồi dưỡng phải dựa trên các cơ sở sau:
Trang 27- Phân tích mục tiêu của nhà trường, gồm các vấn đề như: phân tích các mục tiêu liên quan đến chuẩn hóa đội ngũ, nâng cao chất lượng đội ngũ, chi phí, quy mô đào tạo…
- Phân tích công việc: là sự phân tích những yêu cầu để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của nhà giáo: nhà giáo có nhiệm vụ dạy lý thuyết hay dạy thực hành hay cả hai nhiệm vụ dạy lý thuyết và thực hành trong nhà trường Khi phân tích cần chú trọng đến những nhiệm vụ có tính chất quan trọng và trọng tâm Nhiệm vụ được phân tích phải chỉ ra những kỹ năng và kiến thức gì mà đội ngũ hiện tại chưa biết, chưa làm được từ đó phải bồi dưỡng để họ có thể làm được theo yêu cầu của nhà trường
- Phân tích chất lượng ĐNGV: sau khi phân tích công việc thì phải phân tích chất lượng hiện có của ĐNGV về kiến thức, kỹ năng cần có để thực hiện nhiệm vụ đang làm hoặc có thể làm trong tương lai Từ đó xác định số nhà giáo đã đạt chuẩn, nhà giáo chưa đạt chuẩn, cần chú trọng những kỹ năng và kiến thức nào trong quá trình làm việc Bên cạnh đó, nhà trường cũng cần tìm hiểu nhu cầu cá nhân nhà giáo bằng cách xem xét hồ sơ, cũng có thể lập phiếu điều tra để tìm hiểu Khi các tiêu chuẩn cho nghề nghiệp (phân tích công việc) rất khác so với kết quả thực hiện của nhà giáo (phân tích cá nhân), thì điều đó có nghĩa là đang tồn tại khoảng cách về kết quả thực hiện công việc Trong trường hợp này, cần trả lời một số câu hỏi: có phải
do nhà giáo thiếu kiến thức, kỹ năng, thái độ hay do chế độ lương thưởng của nhà trường chưa hợp lý? Khi trả lời được những câu hỏi đó, ta sẽ xác định được đối tượng thực sự cần bồi dưỡng để từ đó xác định phương pháp, nội dung bồi dưỡng
1.2.2 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng
Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là việc làm quan trọng đối với công tác bồi dưỡng nhà giáo, nó có ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình thực hiện các chương trình bồi dưỡng
Xây dựng kế hoạch thực chất là xác định trước phải làm gì, làm như thế nào, khi nào và ai sẽ làm Nếu kế hoạch được xây dựng phù hợp với thực tế thì nó sẽ là động lực thúc đẩy quá trình bồi dưỡng đạt được mục tiêu đã định Ngược lại, nếu kế
Trang 28hoạch không sát thực, thiếu khả thi sẽ ảnh hưởng xấu tới kết quả bồi dưỡng , gây ra
sự mất cân đối giữa bồi dưỡng và sử dụng
Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phải dựa trên kết quả nghiên cứu, xác định nhu cầu bồi dưỡng Căn cứ vào bảng tổng hợp nhu cầu bồi dưỡng lên dự thảo kế hoạch bao gồm: tổ chức bao nhiêu lớp; bồi dưỡng những gì; số lượng học viên tham gia một lớp; địa điểm, thời gian tổ chức; dự trù kinh phí; phân công nhà giáo, cán bộ quản lý lớp… Tuy nhiên, bản dự thảo kế hoạch còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân
tố, trong đó quan trọng là kinh phí bồi dưỡng và yêu cầu cấp thiết từ thực tế công tác Sự tác động của các nhân tố này buộc cơ sở bồi dưỡng phải lựa chọn nội dung bồi dưỡng hợp lý, tránh lãng phí, đảm bảo tính khả thi và đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn Bản dự thảo kế hoạch cuối cùng được họp thống nhất giữa các bên liên quan
về nội dung và cách thức thực hiện Sau đó, cơ sở bồi dưỡng có trách nhiệm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Bản kế hoạch được phê duyệt là căn cứ để thực hiện các chương trình bồi dưỡng trong năm của cơ sở bồi dưỡng
1.2.3 Xác định nội dung bồi dưỡng
Sau khi xác định nhu cầu bồi dưỡng và lên kế hoạch bồi dưỡng thì cần xác định nội dung bồi dưỡng là gì Theo quy định tại Thông tư số 06/2017/TT-BLĐTBXH ngày 08/3/2017 của Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH quy định về tuyển dụng,
sử dụng, bồi dưỡng đối với nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp, có 3 loại hình bồi dưỡng nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp:
“(1) Bồi dưỡng chuẩn hóa là loại hình bồi dưỡng cho nhà giáo đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ; tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và những nội dung khác theo quy định của pháp luật
(2) Bồi dưỡng nâng cao là loại hình bồi dưỡng cho nhà giáo để nâng cao về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề, nghiệp vụ sư phạm, ngoại ngữ, tin học, tiến bộ khoa học, công nghệ và những nội dung khác nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nghề nghiệp
(3) Thực tập tại doanh nghiệp hoặc cơ quan chuyên môn đối với nhà giáo là loại hình bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, công nghệ, phương pháp tổ chức quản lý sản xuất và rèn luyện kỹ năng trong thực tiễn, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.”
Trang 29Việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng xuất phát từ đòi hỏi khách quan, dựa trên nhu cầu phát triển đội ngũ và công tác giảng dạy, giáo dục, quản lí, vừa đảm bảo kế hoạch chung, đảm bảo kế hoạch riêng, quyền lợi, nghĩa vụ của nhà trường và mỗi cá nhân
1.2.4 Xây dựng chương trình bồi dưỡng
Xây dựng chương trình bồi dưỡng là việc xác định một cách hệ thống các môn học, mô-đun phù hợp với chuyên môn cần được bồi dưỡng; các kỹ năng, kiến thức cần được dạy và phân bổ thời gian hợp lý cho từng nội dung Tùy từng đối tượng bồi dưỡng để lựa chọn chương trình bồi dưỡng cho phù hợp; cùng một nội dung, sử dụng cho các nhóm đối tượng khác nhau thì thời lượng giảng dạy và mức độ kiến thức là khác nhau
Chương trình bồi dưỡng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Thể hiện được mục tiêu bồi dưỡng; quy định kiến thức, kỹ năng của người học sau khi hoàn thành khóa học; phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng; cách thức đánh giá kết quả học tập sau khi hoàn thành khóa học
- Tên ngành, nghề bồi dưỡng phải tuân thủ theo Danh mục ngành, nghề bồi dưỡng do cơ quan có thẩm quyền ban hành
- Đảm bảo tính khoa học, hiện đại, hệ thống, thực tiễn, linh hoạt đáp ứng sự thay đổi của thị trường lao động; đảm bảo việc liên thông giữa các chương trình bồi dưỡng
- Được định kỳ rà soát cập nhật, bổ sung cho phù hợp với kỹ thuật công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ
Chương trình bồi dưỡng nhà giáo cần phân bổ thời gian giữa các mô-đun phù hợp với yêu cầu, nội dung bồi dưỡng
Cấu trúc chương trình bồi dưỡng gồm:
(1) Mục tiêu bồi dưỡng;
(2) Chương trình tổng quát và phân bổ thời gian bồi dưỡng;
(3) Chương trình bồi dưỡng chi tiết;
(4) Hướng dẫn sử dụng chương trình bồi dưỡng;
(5) Tài liệu tham khảo
Hiện nay, các khóa bồi dưỡng nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp thường áp dụng một số chương trình như:
Trang 30- Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề cho giáo viên dạy trình
độ trung cấp nghề, giảng viên dạy trình độ cao đẳng nghề (ban hành kèm theo Thông
tư số 19/2011/TT-BLĐTBXH ngày 21/7/2011 của Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH)
- Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề cho nhà giáo dạy trình
độ sơ cấp nghề (ban hành kèm theo Quyết định số 647/QĐ-TCDN ngày 25 tháng 11 năm 2011 của Tổng Cục Trưởng Tổng cục Dạy nghề)
- Chương trình bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho người dạy nghề để tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”
- Một số chương trình bồi dưỡng kỹ năng nghề cho giảng viên dạy nghề Cắt gọt kim loại, Hàn, Điện công nghiệp, Điện tử công nghiệp, Kỹ thuật chế biến món ăn,
do Bộ LĐTB&XH ban hành Sau khi học xong chương trình này, nhà giáo được cấp chứng chỉ kỹ năng để dạy thực hành trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề
- Chương trình bồi dưỡng đào tạo theo tín chỉ, biên soạn giáo án và tổ chức giảng dạy tích hợp, tổ chức đào tạo và đánh giá theo năng lực thực hiện
- Chương trình bồi dưỡng kiến thức kinh doanh và khởi sự doanh nghiệp (SIYB) cho nhà giáo tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn
1.2.5 Hình thức và phương pháp bồi dưỡng
- Bồi dưỡng bán tập trung là hình thức bồi dưỡng mà nhà giáo được dành một phần thời gian làm việc khác, nhưng tổng thời gian dành cho học tập và nghiên cứu tập trung tại cơ sở bồi dưỡng phải bằng thời gian bồi dưỡng theo hình thức tập trung Khối lượng, nội dung chương trình học tập và yêu cầu bồi dưỡng của hai hình thức bồi dưỡng tập trung và bán tập trung là như nhau
Trang 31- Bồi dưỡng từ xa là hình thức bồi dưỡng trong đó quá trình giảng dạy phần lớn không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và học viên Một học phần, môn học, chương trình được gọi là bồi dưỡng từ xa khi quá trình giảng dạy và học tập được thực hiện chủ yếu theo phương thức bồi dưỡng từ xa với tổng số giờ giảng viên lên lớp giảng dạy tiếp xúc trực tiếp với học viên không được vượt quá 50% tổng số giờ yêu cầu giảng viên lên lớp của học phần, môn học, chương trình đó theo hình thức giáo dục chính quy
1.2.5.2 Phương pháp bồi dưỡng
Phương pháp bồi dưỡng là cách thức để tiến hành đào tạo, để truyền đạt những nội dung, kiến thức cần bồi dưỡng đến người được bồi dưỡng để đạt được những
mục tiêu đã đề ra
Hiện nay có nhiều phương pháp tổ chức bồi dưỡng giảng viên như: Hội thảo; tập huấn; bồi dưỡng chuyên đề; nghiên cứu, khảo sát thực tế; tham quan học tập; thực tập nâng cao và tự nghiên cứu nâng cao trình độ Tuỳ từng điều kiện, hoàn cảnh yêu cầu công việc, đối tượng bồi dưỡng mà các khóa bồi dưỡng áp dụng theo
phương pháp và hình thức nào cho phù hợp
1.2.6 Đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng
Đánh giá kết quả bồi dưỡng là giai đoạn cuối cùng của công tác bồi dưỡng Qua đánh giá sẽ cho chúng ta biết mục tiêu bồi dưỡng đặt ra đã đạt được đến đâu, đạt ở mức độ nào để từ đó có những điều chỉnh cần thiết cho các chương trình đào tạo sau Thông thường đánh giá kết quả bồi dưỡng thường được thực hiện bởi cả cơ
sở tổ chức bồi dưỡng qua đánh giá của học viên và của cán bộ cơ quan chức năng quản lý công tác bồi dưỡng
Đánh giá bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi chính như: bồi dưỡng có đạt mục tiêu không? Nội dung có phù hợp không? Chương trình có phù hợp không? Giảng viên có đáp ứng được yêu cầu của chương trình đào tạo không? Học viên có tham gia vào quá trình đào tạo không? Công tác tổ chức có tốt không? Học viên học được những gì và họ áp dụng được những điều đã học vào thực tế công việc không? Hiệu quả của chương trình bồi dưỡng?
Theo các nhà nghiên cứu, có 4 cấp độ đánh giá chương trình bồi dưỡng như sau:
Trang 32- Đánh giá phản ứng của người học: Họ đánh giá như thế nào về khóa bồi dưỡng vào các thời điểm trước, trong, cuối khoá bồi dưỡng và vào những thời điểm sau bồi dưỡng
- Đánh giá kết quả học tập: Đánh giá học viên đã tiếp thu những gì từ khóa bồi dưỡng Kiểm tra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra
- Đánh giá những thay đổi trong công việc: xem người học áp dụng những điều
đã học vào công việc như thế nào Những thay đổi đối với việc thực hiện công việc
- Đánh giá tác động, hiệu quả của tổ chức: Việc bồi dưỡng có tác động, ảnh hưởng tới kết quả của tổ chức, hiệu quả của bồi dưỡng như thế nào?
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
1.3.1 Nhân tố bên trong hệ thống
1.3.1.1 Chương trình và nội dung bồi dưỡng
Chương trình và nội dung bồi dưỡng có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả của công tác bồi dưỡng Đặc trưng lớn nhất của nội dung bồi dưỡng hay giáo trình, tài liệu bồi dưỡng giảng viên là tính không ổn định và luôn đòi hỏi cập nhật Đây cũng là điểm khó khăn cho hoạt động bồi dưỡng vì đòi hỏi nội dung phải luôn được đổi mới, việc biên soạn lại tài liệu kéo theo là sự gia tăng chi phí bồi dưỡng Ngoài ra, các tài liệu chưa theo hệ thống thống nhất, chưa đồng bộ cũng gây khó khăn cho giảng viên và học viên khi tham gia các khóa bồi dưỡng Ngược lại, một cơ sở đào tạo giải quyết được vấn đề về nội dung và chương trình bồi dưỡng sẽ thúc đẩy quá trình bồi dưỡng diễn ra suôn sẻ hơn, giảm thiểu được chi phí và góp phần nâng cao
chất lượng bồi dưỡng
1.3.1.2 Cơ sở vật chất, nguồn kinh phí của cơ sở bồi dưỡng
Điều kiện cơ sở vật chất là yếu tố cần thiết có tác động tích cực hoặc hạn chế tới công tác bồi dưỡng Cơ sở vật chất tốt là điều kiện thuận lợi cho hoạt động bồi dưỡng nếu cơ sở vật chất không tốt, hoặc thiếu thốn sẽ hạn chế rất lớn đến các hoạt động bồi dưỡng; thậm chí có thể không thực hiện được các hoạt động bồi dưỡng Nguồn kinh phí bồi dưỡng là yếu tố quyết định đến số lớp và số lượng giảng viên được tham gia bồi dưỡng Có nhiều nguồn kinh phí như: Kinh phí do Nhà nước
Trang 33cấp (thường dành cho giảng viên 45 trường CLC); kinh phí của nhà trường nơi giảng viên được cử đi bồi dưỡng; nguồn hỗ trợ của các chương trình, dự án…
1.3.1.3 Đặc điểm của đội ngũ giảng viên
Đặc điểm của ĐNGV cũng là một trong những yếu tố liên quan đến bồi dưỡng như: trình độ chuyên môn, trình độ kỹ năng nghề, năng lực sư phạm, trình độ tin học, ngoại ngữ, độ tuổi công tác, giới tính… Tất cả những đặc điểm ấy đều ảnh hưởng lớn đến công tác bồi dưỡng Đối với mỗi nhà giáo chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, trình độ kỹ năng nghề hay năng lực sư phạm thì họ đều phải tham gia bồi dưỡng để đạt chuẩn theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật Đối với những nhà giáo đã đạt chuẩn, có nhu cầu được tham gia bồi dưỡng thì sẽ được tham gia vào các khóa bồi dưỡng nâng cao
Độ tuổi công tác cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến công tác bồi dưỡng Trên thực tế, có những nhà giáo độ tuổi công tác đã cao thì thường ít có nhu cầu tham gia bồi dưỡng hơn là những nhà giáo trẻ Nhà giáo trẻ là những người năng động, dễ dàng cập nhật kiến thức mới, nhanh nhẹn trong việc nắm bắt kỹ năng, là điều kiện thuận lợi cho công tác bồi dưỡng
Vấn đề giới tính cũng có ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng Những giảng viên nam thường gặp nhiều thuận lợi hơn để tham gia bồi dưỡng Trên thực tế, chúng tôi đã gặp rất nhiều trường hợp có những giảng viên nữ đã đăng ký tham gia bồi dưỡng nhưng đến khóa bồi dưỡng khai giảng thì không thể tham gia vì lý do sức khỏe, gia đình hoặc nghỉ thai sản Bởi vậy, yếu tố giới cũng ảnh hưởng ít nhiều đến khâu tổ chức công tác bồi dưỡng và quá trình bồi dưỡng
1.3.1.4 Nhận thức của nhà giáo đối với việc bồi dưỡng
Nhận thức của nhà giáo đối với công tác bồi dưỡng là yếu tố cơ bản, có tính chất quyết định tới các kết quả của hoạt động bồi dưỡng Nhận thức đúng là tiền đề,
là kim chỉ nam cho những hành động, việc làm đúng đắn, khoa học và ngược lại Nếu mỗi giảng viên đều nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của việc bồi dưỡng
có tác dụng nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc của bản thân; nếu họ hiểu học tập là để phục vụ chính họ trong việc nâng cao chất lượng
Trang 34giảng dạy, họ sẽ có ý thức trong việc tự rèn luyện, trau dồi kiến thức, học hỏi, tham gia các khóa bồi dưỡng một cách tích cực, ham mê và có hiệu quả Khi nhận thức đúng đắn, giảng viên sẽ có thái độ tích cực khi tham gia các khóa bồi dưỡng; công tác bồi dưỡng qua đó đạt được kết quả tốt, hoạt động bồi dưỡng của tổ chức đạt được mục tiêu và kế hoạch đề ra Ngược lại, nhận thức sai lệch sẽ khiến giảng viên
có thái độ thờ ơ khi tham gia các khóa bồi dưỡng gây nên tình trạng lãng phí trong bồi dưỡng Phải tốn nhiều thời gian, kinh phí để cử nhà giáo tham gia bồi dưỡng nhưng kết quả là sau khóa học năng lực và thái độ làm việc của họ không được cải thiện Mục tiêu và kết quả của hoạt động bồi dưỡng sẽ không đạt được
1.3.1.5 Quan điểm của nhà trường đối với công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
Quan điểm của nhà trường nơi giảng viên tham gia giảng dạy có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bồi dưỡng Vai trò này thể hiện ở những quan điểm về chính sách, chế độ đãi ngộ, tính phối hợp trong thực hiện công tác bồi dưỡng… của đơn vị, từ đó ảnh hưởng đến nguồn lực mà nhà trường dành cho công tác bồi dưỡng ĐNGV của trường mình Nhà trường quan tâm đến công tác bồi dưỡng sẽ có những chế độ, chính sách bồi dưỡng giảng viên phù hợp Các chính sách ưu tiên, động viên, khuyến khích giúp thúc đẩy các hoạt động bồi dưỡng, qua đó thúc đẩy nhà giáo tích cực tham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác
và ngược lại Chúng ta đều biết con người với tư cách là một thực thể tự nhiên và xã hội nên mọi hoạt động đều có mục đích và bao giờ cũng có một động lực tương ứng nhằm thúc đẩy hoạt động để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần Vì vậy, thường xuyên chăm lo tới lợi ích vật chất (hỗ trợ tiền ăn ở, tiền đi lại, tiền học phí ) và lợi ích tinh thần (biểu dương, khen thưởng khi đạt được kết quả cao trong quá trình bồi dưỡng ), có chính sách đãi ngộ phù hợp là các công cụ rất hữu ích trong việc thúc đẩy hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng Đối với những nhà trường hạn chế về tài chính, không đủ các quỹ cho việc khuyến khích bằng vật chất thì hình thức khen, tuyên dương, công nhận bằng tinh thần cũng phát huy giá trị rất lớn Sử dụng đồng bộ các giải pháp khuyến khích chính là tạo động lực để nhà giáo tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác Đó là một trong những nhân
Trang 35tố góp phần nâng cao chất lượng của các hoạt động bồi dưỡng Bên cạnh đó, sự phối kết hợp của nhà trường nơi nhà giáo tham gia giảng dạy với cơ sở bồi dưỡng cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình bồi dưỡng
1.3.1.6 Yếu tố con người trong cơ sở tổ chức bồi dưỡng
Con người là nhân tố có tính chất quyết định trong mọi hoạt động Trong công tác bồi dưỡng, yếu tố con người bao gồm đội ngũ lãnh đạo, giảng viên và người làm công tác hỗ trợ, quản lý bồi dưỡng
Đội ngũ lãnh đạo với những chính sách cụ thể giúp cho công tác bồi dưỡng được hiện thực hóa Công tác này có mang lại hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm, chính sách của nhà lãnh đạo, quản lý
Giảng viên - người trực tiếp giảng dạy các khóa bồi dưỡng là yếu tố rất quan trọng trong quá trình bồi dưỡng Một ĐNGV có trình độ cao, phẩm chất và năng lực tốt là yếu tố tích cực tác động tốt tới hiệu quả của công tác bồi dưỡng
Người làm công tác hỗ trợ, quản lý hoạt động bồi dưỡng là những người trực tiếp thực hiện từng phần việc, gắn kết các bước thành một quy trình bồi dưỡng hoàn chỉnh Chất lượng bồi dưỡng cũng phụ thuộc nhiều vào năng lực và cách thức làm việc của đội ngũ này
1.3.2 Nhân tố bên ngoài
1.3.2.1 Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước
Vấn đề giáo dục nói chung, phát triển ĐNGV trong đó có công tác bồi dưỡng ĐNGV phụ thuộc nhiều vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Có sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và cơ quan quản lý Giáo dục nghề nghiệp ở Trung ương thì công tác bồi dưỡng giảng viên tại các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp mới có thể thực hiện được Cũng trên cơ sở những quan điểm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, các cơ sở giáo dục nói chung, cơ sở Giáo dục nghề nghiệp nói riêng mới có định hướng cho công tác bồi dưỡng ĐNGV
1.3.2.2 Nhận thức xã hội về vị trí của giảng viên
Nhận thức xã hội về vị trí của giảng viên cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng bởi nếu người giảng viên được coi trọng thì bản thân
họ sẽ tự giác học tập, trau dồi nghề nghiệp Xã hội nhận thức được vai trò của giảng
Trang 36viên thì sẽ có những chính sách dành cho họ, giúp giảng viên có cơ hội được phát triển bản thân và phát triển nghề nghiệp của mình
1.3.2.3 Yếu tố cung cầu trên thị trường lao động
Yếu tố cung cầu trên thị trường lao động cũng là một trong những yếu tố khách quan tác động đến công tác bồi dưỡng Nếu thị trường lao động cần nguồn nhân lực có chất lượng và tay nghề cao thì đòi hỏi đào tạo nghề nghiệp cần phát triển song song cả về số lượng lẫn chất lượng, trong đó đặc biệt chú ý đến nâng cao chất lượng của các điều kiện đảm bảo hoạt động đào tạo nghề nghiệp như: ĐNGV,
cơ sở vật chất, trang thiết bị, người học,…Trong đó, việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng ĐNGV có vai trò quyết định đến chất lượng đào tạo nghề nghiệp
1.4 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở một số nước
1.4.1 Cộng hòa liên bang Đức
CHLB Đức là một trong số ít nước có truyền thống và nhiều kinh nghiệm trong việc bồi dưỡng giáo viên, giảng viên kỹ thuật một cách bài bản với chất lượng cao Công tác phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề và bồi dưỡng giáo viên, giảng viên dạy nghề nói riêng ở CHLB Đức rất được chú trọng Đây là một trong các yếu
tố đảm bảo cho mô hình đào tạo nghề kép được thành công Việc đào tạo giáo viên, giảng viên kỹ thuật cho các trường dạy nghề ở CHLB Đức theo một mô hình thống nhất Toàn bộ giáo viên, giảng viên dạy lý thuyết nghề đều được đào tạo ở trình độ đại học theo qui chế đào tạo và thi lấy bằng giáo viên, giảng viên dạy nghề quốc gia Thời gian đào tạo ở trường đại học là 4,5 năm Sau kỳ thi quốc gia lần 1, giáo sinh phải đi tập sự hai năm ở một cơ sở Giáo dục nghề nghiệp Khi kết thúc hai năm tập sự, giáo sinh phải thi quốc gia lần 2 mới được công nhận danh hiệu giáo viên, giảng viên dạy nghề ở trình độ đại học
1.4.2 Úc
Ở Úc, việc đào tạo chính quy bài bản giáo viên, giảng viên kỹ thuật đã và đang được quan tâm thực hiện một cách rộng rãi, đa dạng Về mặt học vấn, có sự khác biệt nhất định giữa các tiểu bang, nhưng hầu hết đã chuyển sang yêu cầu giáo viên, giảng viên có tối thiểu trình độ đại học 4 năm Cũng có các chương trình liên thông mang tính linh hoạt đối với học vấn của giáo viên, giảng viên
Trang 37Chương trình đào tạo Giáo dục nghề nghiệp bao gồm: (a) các môn chính (kiến thức và kỹ năng của nghề sẽ dạy); (b) các môn về chương trình giảng dạy (kiến thức chuyên ngành và kỹ năng sư phạm); (c) thực tập sư phạm (giảng dạy thử có hướng dẫn); (d) các môn tự chọn GVDN và các đánh giá viên tại doanh nghiệp thường là những người giàu kinh nghiệm trong nghề mà họ dạy/đánh giá Họ được đào tạo để dạy nghề và đánh giá năng lực học viên theo khung đào tạo quốc gia tại các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp khác nhau Họ cũng được đào tạo về lý thuyết dạy học cho người lớn, hành vi nhóm và hành vi tổ chức, công tác xây dựng chương trình đào tạo và xây dựng tài liệu giảng dạy, các kỹ năng giao tiếp, các chiến lược quản lý, đánh giá và công nghệ dạy học
Các trình độ chính quy có liên quan của GVDN là: cử nhân ngành giáo dục và đào tạo nghề; cử nhân ngành giáo dục nghề cho người lớn; cử nhân (sư phạm) ngành giáo dục và đào tạo nghề; chứng chỉ sau đại học ngành giáo dục và đào tạo nghề (giao tiếp); văn bằng sau đại học ngành giáo dục và đào tạo nghề, ví dụ như:
- Khoa sư phạm trường Đại học Melbourne với Mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật chủ yếu cho trường dạy nghề khác, đó là khóa đào tạo hai năm lấy bằng Diploma giáo dục và đào tạo (Diploma of Education and Traning) và khóa đào tạo 3 năm lấy bằng cử nhân giáo dục và đào tạo (Bachelor of Education and Training), trình độ tuyển sinh là hoàn thành 12 năm giáo dục phổ thông hoặc tương đương cộng thêm tối thiểu 1 năm làm việc thực tế trong ngành nghề
- Khoa sư phạm trường Đại học kỹ thuật Sydney lại có một mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật dạy nghề khác hẳn, đó là khóa đào tạo lấy bằng cử nhân giáo dục trong giáo dục người lớn (Bachelor of Education in Adult Education), thông thường thời gian đào tạo là 3 năm, nhưng chuyên môn hóa vào nhánh dạy nghề chỉ đòi hỏi 2 năm, điều kiện tuyển sinh là đã có trình độ nghề nghiệp phù hợp và 5 năm làm việc trong ngành công nghiệp Tuy nhiên, phần lớn giáo viên và giáo viên kỹ thuật ở các trường kỹ thuật nghề nghiệp được lấy từ các lĩnh vực công nghiệp do họ có trình độ nghề và kinh nghiệm sản xuất Những người chưa qua đào tạo thành giáo viên và giáo viên kỹ thuật trước đó đều phải học tại chức một khóa đào tạo giáo viên và giáo viên kỹ thuật (chuẩn hóa) Thông thường khóa học kéo dài 2 năm, nhưng nếu học tập trung trong thời gian tương đương 22 giờ/tuần thì khóa học chỉ kéo dài trong 1 năm
Trang 38Trong các cơ sở tham gia đào tạo giáo viên và giáo viên kỹ thuật ở tất cả các Bang và toàn quốc có các trường giáo dục nâng cao (College of Advance Education) Các cơ sở đào tạo giáo viên và giáo viên kỹ thuật đó thường có 2 loại hình đào tạo: 1/ Khóa học kéo dài tương đương 3 năm học tập trung để đạt được bằng giảng dạy (Diploma of Teaching); 2/ Sau khi có bằng giảng dạy, GV có thể học khóa đào tạo một năm để đạt bằng cử nhân giáo dục (Bachelor of Education)
1.4.3 Phần Lan
Bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX, Phần Lan đã thay đổi hoàn toàn hệ thống giáo dục của mình Nhà nước đã có những chính sách tiến hành đổi mới việc tuyển chọn và đào tạo những giáo viên tương lai của họ Đây là một bước căn bản trong quá trình cải cách giáo dục bởi vì nó đã cho phép họ có được mức độ chuyên nghiệp cao hơn giữa các giáo viên Tất cả giáo viên đều phải có bằng thạc sĩ và tất cả phải được đào tạo trong cùng một chương trình đào tạo chất lượng cao trừ giáo viên mẫu giáo cần bằng cử nhân Và cũng kể từ đó, dạy học trở thành một nghề được tôn trọng nhất trong xã hội - không được trả lương cao nhất nhưng cao quý nhất
1.4.4 Cộng hòa Séc
Cộng hòa Séc sau khi gia nhập liên minh Châu Âu đã xây dựng và thực hiện hàng loạt các chiến lược, trong đó nổi trội lên là chiến lược phát triển nguồn nhân lực (tháng 02/2000) nằm trong chương trình thị trường lao động và phát triển nguồn nhân lực Trong các chiến lược thành phần, đáng chú ý là chương trình phổ cập tiếng Anh, chương trình cải thiện nhân lực hành chính công, chương trình giáo dục đại học, cao đẳng liên kết với hoạt động nghiên cứu, chiến lược phát triển đội ngũ giáo viên, chiến lược học tập suốt đời
Trang 39Tiểu kết chương 1
Để đề xuất các giải pháp bồi dưỡng giảng viên tại 45 trường chất lượng cao, trước hết ta phải nắm vững được cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng giảng viên Chương 1 luận văn đã trình bày cơ sở lý luận chung về các vấn đề sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác bồi dưỡng ĐNGV: Phân tích và làm rõ một số khái niệm công cụ liên quan như: Giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng ,… ; quy trình tổ chức bồi dưỡng nhà giáo (lập kế hoạch, xây dựng chương trình, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá); phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng ĐNGV trong các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp; phân tích kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong công tác phát triển đội ngũ nhà giáo, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và 45 trường chất lượng cao nói riêng
Những vấn đề đã được nêu ra trong chương này được rút ra từ những tài liệu có giá trị khoa học, những văn bản quy phạm pháp luật đã và đang có hiệu lực; từ thực tiễn tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề của Tổng cục Dạy nghề Đây là những vấn đề cơ bản về phát triển ĐNGV Giáo dục nghề nghiệp Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ về mặt lý luận làm cơ sở khoa học cho việc giải quyết các chương tiếp theo
Trang 40CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN CỦA 45 TRƯỜNG CHẤT LƯỢNG CAO
2.1 Khái quát về 45 trường chất lượng cao
Thực hiện Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020”, trong
đó lựa chọn 45 trường nghề công lập được quy hoạch ưu tiên tập trung đầu tư để trở thành trường nghề chất lượng cao vào năm 2020 Những trường được lựa chọn là những trường có năng lực đào tạo tốt, gần với các tiêu chí của trường nghề chất lượng cao được ưu tiên hỗ trợ đầu tư tập trung, đồng bộ
Mạng lưới các trường được lựa chọn đầu tư thành trường nghề chất lượng cao phát triển rộng khắp cả nước Có 26/63 tỉnh/thành phố có trường chất lượng cao chiếm 41,3% trải dài cả 3 vùng Bắc, Trung, Nam Nếu tính theo 6 vùng kinh tế, vùng đồng bằng sông Hồng có 7/11 tỉnh thành phố có trường nghề chất lượng cao với tổng 16/45 trường cao đẳng nghề chiếm 35,6%, tiếp đến là vùng Bắc trung bộ
và Duyên hải miền trung có 6/14 tỉnh/thành phố
Theo lộ trình đầu tư xây dựng trường nghề chất lượng cao, đến năm 2020 Việt Nam có khoảng 40 trường nghề (trong số 45 trường được lựa chọn để đầu tư) đủ năng lực đào tạo một số nghề được các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN hoặc quốc tế công nhận, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện đào tạo nghề ở Việt Nam
và đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Phát triển trường nghề chất lượng cao để đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp cao, nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của người lao động và của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Phát triển trường nghề chất lượng cao trên cơ sở kế thừa, phát huy thành tựu
và những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm về đào tạo nghề của thế giới; bảo đảm tính hệ thống, dài hạn với các giải pháp đồng bộ, khả thi, có lộ trình, bước đi phù hợp