Có thể thấy, việc Việt Nam ban hành các văn bản như Luật thuế thu nhập cá nhân cũng như các văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành với các nội dung khá khái quát về thu nhập chịu thuế là c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BÙI THỊ KIM THAO
THU NHẬP CHỊU THUẾ TRONG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BÙI THỊ KIM THAO
THU NHẬP CHỊU THUẾ TRONG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THANH BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thanh Bình Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này và để nghị Khoa Luật Kinh tế xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
TÁC GIẢ
Bùi Thị Kim Thao
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Bảng 2 Biểu thuế thu nhập cổ tức tại Mỹ từ năm 2003 39 Bảng 3 Bảng tỷ suất thuế đánh trên cổ tức của một số
quốc gia
41
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 1
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Câu hỏi nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích 5
7 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu nghiên cứu 5
8 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU NHẬP CHỊU THUẾ TRONG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 7
1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 7
1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 7
1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 8
1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 11
1.2 Thu nhập chịu thuế trong thuế TNCN 14
1.2.1 Khái niệm về thu nhập chịu thuế 15
1.2.2 Đặc điểm của thu nhập chịu thuế 15
1.2.3 Cách xây dựng thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế TNCN tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới 16
1.3 Quản lý thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế TNCN 19
1.3.1 Vai trò của việc xác định thu nhập chịu thuế trong quản lý thuế TNCN và trong pháp luật thuế TNCN 19
1.3.2 Những mục tiêu cơ bản của việc xây dựng các quy định về thu nhập chịu thuế TNCN 20
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập chịu thuế TNCN 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
Trang 7CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THU NHẬP CHỊU THUẾ TRONG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI
VIỆT NAM 24
2.1 Áp dụng qui định về thu nhập chịu thuế là thu nhập từ tiền lương, tiền công 24
2.2 Áp dụng quy định về thu nhập chịu thuế là thu nhập từ kinh doanh 30
2.3 Áp dụng quy định về thu nhập chịu thuế là thu nhập từ đầu tư vốn 33
2.4 Áp dụng quy định về thu nhập chịu thuế là thu nhập từ chuyển nhượng vốn 45
2.5 Áp dụng quy định về thu nhập chịu thuế là thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 53
2.6 Áp dụng quy định về thu nhập chịu thuế là thu nhập từ trúng thưởng 59
2.7 Áp dụng quy định về thu nhập từ nhận thừa kế và thu nhập từ nhận quà tặng là bất động sản 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ THU NHẬP CHỊU THUẾ TRONG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NH N TẠI VIỆT NAM 66
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về thu nhập chịu thuế TNCN ở Việt Nam hiện tại 66
3.2 Các đề xuất cụ thể 67
3.2.1 Sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc xóa bỏ một số quy định cụ thể dẫn đến các bất cập trên thực tế 67
3.2.2 Bổ sung một số loại thu nhập chịu thuế có thể được động viên vào ngân sách 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 70
KẾT LUẬN CHUNG 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Thuế là công cụ không bao giờ lỗi thời trong việc trong điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội và là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho nhà nước So với thuế gián thu đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, thuế trực thu là loại thuế thể hiện rõ ràng hơn các vai trò nêu trên Vì vậy, việc hướng đến một hệ thống pháp luật thuế thu nhập hoàn hảo, giữ vai trò chủ chốt trong việc điều tiết thu nhập, hình thành các quỹ tiền tệ tập trung giúp nhà nước ngày càng thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội của mình là một trong những chốt chặn quan trong không những trong những ngày đầu gia nhập WTO mà còn trong quá trình phát triển kinh tế hiện tại của Việt Nam
Trong thời gian gần đây, nền kinh tế Việt Nam tuy có nhiều tín hiệu lạc quan nhưng vẫn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Năm 2017, “Thu chi ngân sách nhà nước” được xem là một trong năm vấn đề lớn của nền kinh tế cần xử lý nếu Việt Nam không muốn tiếp tục để các vấn đề tiêu cực này ngăn cản sự phát triển kinh tế Theo khảo sáti, thâm hụt ngân sách của nước ta hiện đã lên tới 6% GDP và cao hơn chỉ tiêu của Chính phủ là 5% Do đó, Chính phủ sẽ phải có những cân nh c trong vấn đề thu thuế, hoặc chi thường xuyên Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để vấn
đề thu thuế, một vấn đề phụ thuộc chủ yếu vào công tác quản lý và chính sách của nhà nước phải được xử lý kịp thời, phải được điều chỉnh hợp lý và luôn là nguồn thu chính
và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước
Một trong những nguyên nhân làm xuất hiện vấn đề nêu trên là pháp luật thuế thu nhập trong đó phải kể đến thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện còn quá nhiều bất cập với sự quản lý còn thiếu chặt chẽ, hệ thống pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam hiện nay tuy đã có nhiều thay đổi tích cực so với giai đoạn đầu của nền kinh
tế thị trường, thời kỳ đầu Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO nhưng lại tỏ ra thiếu hợp lý về cách xây dựng nội dung chính sách trong tương quan so sánh
Trang 9với quy định của các nước phát triển trên thế giới, làm cho các quy định của hệ thống thuế tỏ ra không phù hợp, không công bằng cho người nộp thuế
Thu nhập chịu thuế là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất trong việc xây dựng pháp luật thuế thu nhập cá nhân Có thể thấy, việc Việt Nam ban hành các văn bản như Luật thuế thu nhập cá nhân cũng như các văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành với các nội dung khá khái quát về thu nhập chịu thuế là các bước tiến trong nỗ lực cải cách thuế ở Việt Nam từ những buổi đầu đến giai đoạn nền kinh tế phát triển mạnh mẽ như hiện nay nhưng việc thực thi các quy định liên quan đến thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế TNCN như thế nào để vừa phát huy tính hiệu quả vừa đảm bảo tính công bằng, việc quản lý thu thuế như thế nào để không gây thất thu là các vấn đề gây nhiều tranh cãi trong các nhà kinh tế cũng như toàn xã hội
Như vậy, có thể khẳng định rằng các quy định hiện tại của Việt Nam về thu nhập chịu thuế TNCN còn rất nhiều bất cập, việc hoàn thiện pháp luật thuế TNCN nói chung và thu nhập chịu thuế TNCN tại Việt Nam nói riêng là một vấn đề không mới nhưng chưa bao giờ cũ, và tính cấp thiết của nó là điều không cần phải bàn cãi bởi vì việc xây dựng các quy định về thu nhập chịu thuế tốt là tiền đề để hệ thống thuế thu nhập cá nhân ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò của nó trong nền kinh tế và cũng là tiền
đề để nhà nước thực hiện việc quản lý các nguồn thu nhập trong xã hội, hạn chế những khoản thu nhập ngầm, thực hiện tốt vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế Bên cạnh đó, nó còn là yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế quốc dân, làm cho hệ thống thuế của Việt Nam phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho nuớc ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về thu nhập chịu thuế TNCN tại Việt Nam được đặt ra trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay là vấn đề thời sự cấp thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới cơ chế chính sách tài chính quốc gia nói chung và phục vụ thiết thực cho công cuộc cải cách thuế đạt kết quả cao
Trang 10Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu về pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam là vấn đề không hề mới, điển hình là đã có rất nhiều bài nghiên cứu từ luận văn thạc sỹ đến luận
án tiến sỹ cũng như các bài báo khoa học viết về vấn đề này, có thể kể đến:
Đề tài luận án tiến sĩ “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” năm 2014 của tác giả Nguyễn Hoàng tập trung khai thác sự phù hợp, minh bạch, khả thi của việc ban hành các văn bản pháp lý, các chính sách đối với thuế TNCN, việc xây dựng hệ thống quản lý thuế các cấp với cơ chế hành thu và các quy trình nghiệp vụ đã đảm bảo nâng cao năng lực cơ quan thuế, đảm bảo thực thi luật pháp công bằng chưa Luận án tiến sĩ kinh tế “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện HNKTQT” năm 2011 của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương; Luận án tiến sĩ kinh tế
“Quản lý thuế TNCN ở Việt Nam trong điều kiện HNKTQT” năm 2010 của tác giả Lý Phương Duyên; Luận văn thạc sĩ Luật học “Pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp” năm 2013 của tác giả Tạ Minh Hảo; Luận văn thạc sĩ
“So sánh Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới” năm 2014 của tác giả Chung Phương Anh; Luận văn thạc sĩ Luật học “Pháp luật quản lý thuế thu nhập ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” năm
2015 của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh, luận văn tập trung phản ánh các tiêu thức, các quy định pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam trên cơ sở so sánh, phân tích với pháp luật một số nước phát triển trong thời kỳ hội nhập;
Như vậy, có thể thấy chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về yếu tố thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế TNCN Ngoài ra, các đề tài nghiên cứu nêu trên không còn mang tính cập nhật, tính thực tiễn trong các nghiên cứu trên không nhiều do không phản ánh được những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn hiện nay Hệ thống pháp luật
Trang 11về quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng đã có những thay đổi để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN số 26/2012/QH13; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế
số 71/2014/QH13 đã mang đến nhiều điểm mới trong quy định của pháp luật về các chính sách thuế, công tác quản lý thuế cũng như quy định về thu nhập chịu thuế Do
đó, các công trình nghiên cứu trước đây đã không còn “tính thời sự” Chính vì vậy, tôi tin rằng những nghiên cứu của mình trong luận văn này sẽ đáp ứng được tính cập nhật, tính thời sự, tính thực tiễn cũng như có giá trị thời gian, có thể được tham khảo cho hiện tại cũng như trong thời gian s p đến trên cơ sở kế thừa những đóng góp của các công trình nghiên cứu trước về pháp luật thuế thu nhập cá nhân
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu lớn nhất mà luận văn hướng đến là tiếp tục giải quyết những vấn đề về mặt pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở thời điểm hiện tại, từ đó đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân về thu nhập chịu thuế ở Việt Nam cũng như đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng ở Việt Nam trong thời gian s p tới
4 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài luận văn sẽ trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
Thứ nhất, thu nhập chịu thuế trong thuế thu nhập cá nhân là gì ồm những yếu
tố nào Có vai trò như thế nào trong pháp luật tuế TNCN ở nước ta
Thứ hai, thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện tại đang có những bất cập gì, có đáp ứng được tính công bằng cho người nộp thuế
và đảm bảo được tính hiệu quả trong quản lý thu ngân sách cho nhà nước chưa
Trang 12Thứ ba, quy định về thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện tại có phù hợp với tinh thần của sân chơi chung quốc tế, có học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia phát triển trên thế giới không?
Thứ tư, cần phải làm gì để hoàn thiện các quy định về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam hiện nay và trong thời gian s p tới?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân về thu nhập chịu thuế tại Việt Nam và một số nước trên thế giới
Về nội dung, đề tài tập trung phản ảnh các quy định của pháp luật và thực tiễn
áp dụng các quy định đó của pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam trên cơ sở so sánh với quy định trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân của một số quốc gia trên thế giới
Về thời gian, các quy định và thực trạng được phân tích, so sánh là các nội dung quy định hiện hành đang có hiệu lực, bên cạnh đó việc phân tích so sánh các nội dung, quy định được thay đổi trong thời gian gần nhất cũng như dự thảo sửa đổi (nếu có) trong tương lai cũng sẽ được đưa vào giúp luận văn bao quát và có cái nhìn tổng quan, toàn diện hơn về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân được xây dựng từ trước mà vẫn đảm bảo được tính cập nhật hiện tại đồng thời có chiều sâu áp dụng trong tương lai
Về không gian, như đã đề cập, bên cạnh các quy định và thực trạng tại Việt Nam, những quy định, pháp luật tại một số các quốc gia điển hình cũng được đề cập và
so sánh, phân tích dựa trên thời gian nghiên cứu đã nêu ở trên
6 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân, cụ thể là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân Các quy định của các văn bản Luật, dưới Luật cũng như các phân tích bình luận của các bài báo khoa học về các quy định đó là nền tảng của việc đặt vấn đề, phân tích, so sánh của đề tài
7 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu nghiên cứu
Trang 13Để hoàn thành được mục tiêu mà đề tài nghiên cứu đề ra, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là:
Phương pháp tổng hợp, liệt kê: các phương pháp này được sử dụng để khái quát các quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân về thu nhập chịu thuế tại Việt Nam
và một số nước trên thế giới Phương pháp này được sử dụng ở tất cả các chương của Luận văn
Phương pháp phân tích, so sánh: trên cơ sở các quy định về thu nhập chịu thuế của pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam hiện hành, tác giả tiến hành phân tích, so sánh trên cơ sở liên hệ với quy định tại các văn bản liên quan của pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam tại thời điểm trước, s p có hiệu lực (nếu có) cũng như tại một
số nước điển hình trên thế giới Phương pháp này được tìm thấy chủ yếu ở chương 2 của Luận văn
Phương pháp thống kê, dữ liệu: các số liệu, dữ liệu thống kê ở chương 2 của Luận văn cũng được đề cập ở qua đó tăng tính thuyết phục và tính thực tiễn cho đề tài
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận của từng chương, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế TNCN Chương 2: Thực trạng áp dụng các quy định về thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế TNCN tại Việt Nam
Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện các quy định về thu nhập chịu thuế trong pháp luât thuế TNCN tại Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU NHẬP CHỊU THUẾ TRONG PHÁP LUẬT
THUẾ THU NHẬP CÁ NH N 1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân
1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Khái niệm thuế TNCN không được định nghĩa chính thức tại Luật thuế TNCN hoặc các Luật thuế, văn bản liên quan, Luật thuế TNCN chỉ quy định đối tượng nộp thuế cũng như thu nhập chịu thuế, từ đó có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của loại thuế này Tuy nhiên, qua lý luận và thực tiễn, khái niệm về thuế TNCN cũng được đưa ra một cách tổng quan nhất, cụ thể là:
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là sắc thuế trực thu 1 đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế
Thuế TNCN là loại thuế trực thu, thu trực tiếp trên thu nhập nhận được từ nhiều nguồn khác nhau của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm hoặc từng lần phát sinh
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, đầu tư, vv
Nhìn chung, các định nghĩa ở trên đã góp phần bày tỏ một cách khái quát nhất các đặc điểm cơ bản của thuế TNCN Luật thuế TNCN không đưa ra một khái niệm chung thống nhất về thuế TNCN mà chỉ định nghĩa thuế TNCN thông qua đối tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế, có thể nhà làm Luật dựa trên những quan điểm sau:
1Thuế trực thu (direct tax) là thuế do chính phủ đánh vào thu nhập và của cải mà hộ gia đình và doanh nghiệp
nhận được hoặc n m giữ nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách Theo truyền thống, việc phân biệt giữa thuế trực thu và gián thu dựa trên cân nh c là ảnh hưởng của thuế và người chịu thuế có phù hợp với nhau không, nghĩa là,
ai nộp thuế và ai là người chịu gánh thuế khóa (Nguyễn Văn Ngọc, 2006)
Trang 15Thứ nhất, tên loại thuế TNCN dùng để phân biệt thuế TNCN với các loại thuế khác, bản thân “thuế TNCN” đã thể hiện được ý nghĩa của nó rằng đây là một loại thuế, và thuế này được đóng góp vào ngân sách nhà nước bởi cá nhân, để phân biệt với thuế đánh vô đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp Nghĩa là nếu Luật đưa ra khái niệm
“thuế TNCN là loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân” lại trở nên dư thừa, không cần thiết
Thứ hai, việc không đưa ra khái niệm chính thức về thuế TNCN của nhà làm Luật với hàm ý rằng đây là một khái niệm gần gũi với cá nhân, những chủ thể hiện hữu trong xã hội, không cần phải hợp pháp hóa, định nghĩa hóa một khái niệm, định nghĩa quá rõ ràng và gần gũi như vậy Định nghĩa về một sự vật, hiện tượng chỉ nên đưa ra trong trường hợp chúng quá trừu tượng, khó hiểu và phức tạp
Thứ ba, dường như nhà làm Luật cũng muốn nói rằng chỉ cần hiểu được đối tượng chịu thuế và thu nhập chịu thuế, người đọc và chủ thể áp dụng đã gần như hiểu
và n m rõ loại thuế TNCN này
Các quan điểm có thể xảy ra ở trên của nhà làm Luật khi không đưa ra một khái niệm chính thức của thuế TNCN cũng không phải không hợp lý, tuy nhiên, đối với các chủ thể không có cơ hội tiếp cận và suy luận từ câu chữ của pháp luật để hiểu được nội dung chứa đựng của nó, thiết nghĩ Luật thuế TNCN cũng nên đưa ra một định nghĩa cơ bản về thuế TNCN trước khi đi vào định nghĩa các yếu tố cấu thành và các đặc điểm của s c thuế này Các khái niệm không chính thống nêu ở trên về thuế TNCN tuy chưa đầy đủ nhất và khái quát nhất nhưng cũng đã phần nào phản ánh đặc điểm, nội dung cơ bản của thuế TNCN, giúp người đọc phần nào hiểu được, n m được và không bỡ ngỡ với việc tiếp cận một trong những s c thuế quan trọng của pháp luật Việt Nam hiện tại này
1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu do người chịu thuế cũng chính là người nộp thuế và không thể chuyển gánh nặng thuế cho người khác
Trang 16Sở dĩ được gọi là thuế trực thu vì các cá nhân khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác, là loại thuế đánh trực tiếp vào từng cá nhân riêng biệt, nói cách khác người sở hữu thu nhập chịu thuế khiến giảm phần thu nhập của họ, ở đây không xảy ra hiện tượng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác chịu Mặt khác, vì là thuế trực thu nên phần đóng góp về thuế thường phù hợp với khả năng của từng đối tượng, có tính phân loại đối tượng Đó cũng là lý do mà thuế TNCN có tính công bằng hơn các loại thuế gián thu2
Thứ hai, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan hầu hết đến mọi cá nhân trong xã hội
Tính nhạy cảm cũng là một trong những hạn chế của thuế TNCN Vì liên quan
và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế nên hiển nhiên thuế TNCN mang tính nhạy cảm cao, bản thân người nộp thuế sẽ tự động có xu hướng không công khai minh bạch hoàn toàn thu nhập của mình Điều này xuất phát từ lí do
là thu nhập và lợi nhuận càng cao thì phải nộp thuế càng nhiều, thuế TNCN do đó rất
dễ bị phản ứng và cũng hạn chế phần nào sự cố g ng tăng thu nhập của các đối tượng chịu thuế Ngoài ra, các cá nhân trong xã hội không phân biệt giàu nghèo, địa vị, tầng lớp đều có thể thuộc đối tượng chịu thuế TNCN, tính nhạy cảm vì thế phát sinh trên loại thuế này Hay nói cách khác, những gì thuộc về cá nhân, đặc biệt là thu nhập, là nguồn sống của cá nhân là vấn đề hết sức nhạy cảm và dẫn đến việc chia sẻ thông tin
về thu nhập của cá nhân với người khác trở nên hiếm hoi trên thực tế
Thứ ba, thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp
Nó chuyển động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng những dịch vụ Nhà nước cung ứng
2
Thuế gián thu (indirect tax) là khoản thuế mà chính phủ đánh vào hàng hóa và dịch vụ để tạo nguồn thu và sử
dụng làm công cụ cho chính sách tài chính Nhìn chung, mọi người đều cho rằng thuế gián thu là loại thuế có thể chuyển cho người khác, nghĩa là nó không giới hạn phạm vi ảnh hưởng ở người bị đánh thuế Những ví dụ về thuế gián thu là thuế hàng hóa, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu (Nguyễn Văn Ngọc, 2006)
Trang 17Thứ tư, thuế TNCN thường mang tính chất lũy tiến cao Vì thuế thu nhập cá nhânđánh theo nguyên t c khả năng trả thuế và thuế suất của nó thường được thiết kế theo biểu thuế lũy tiến từng phần nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế Cụ thể hơn, đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân
là điều tiết mạnh người với thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội vì vậy, việc sử dụng thuế suất có tính chất lũy tiến sẽ đáp ứng được yêu cầu nêu trên vì thu nhập càng cao thì sẽ buộc phải tính với thuế suất cao tương ứng3
Có thể nói, việc thuế TNCN được xây dựng trên nguyên t c lũy tiến là cả một quá trình đúc kết, kết hợp hài hòa giữa tính khoa học, nghệ thuật và chính trị của mỗi quốc gia Bởi vì rõ ràng, để đảm bảo được tính công bằng, các quốc gia phải xây dựng một biểu thuế hết sức công phu, không ngừng đáp ứng tính cập nhật trong sự phát triển kinh tế thông qua thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội, từ ngưỡng thu nhập chịu thuế đến khoảng cách giữa các mức thu nhập và lựa chọn mức thuế suất thích hợp cho từng khoảng cách thu nhập chịu thuế
Bên cạnh đó, khác hẳn với các loại thuế gián thu và thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế TNCN có tính tất yếu g n liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia cho
dù quốc gia đó có mục tiêu xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế theo mục tiêu trung lập không nhằm vào quá nhiều các mục tiêu khác nhau Điều này được thể hiện cụ thể thông qua việc có chú trọng đến gia cảnh của người chịu thuế, các khoản chi trả bảo hiểm, các khoản đóng góp nhân đạo,…
Thông qua các quy định giảm trừ gia cảnh cho cá nhân người chịu thuế và những người phụ thuộc, giảm trừ các khoản chi phí bảo hiểm đã đóng góp cho các quỹ bảo hiểm b t buộc và các quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện có đủ điều kiện, giảm
của tính luỹ tiến Một số nhà kinh tế học đi theo nguyên bản của thuế lũy tiến hiện đại theo Adam Smith, ông đã viết tác phẩm Sự giàu có của các quốc gia Giải thích theo nghĩa “người nghèo chi phí rất lớn cho các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Người nghèo gặp khó khăn khi mua thực phẩm nhiều hơn so với thu nhập eo hẹp của họ Các nhu cầu xa xỉ và cao cấp được đài thọ từ khoản chi phí cơ bản của người giàu Nó thật sự bất hợp lý khi mà người giàu sẽ đóng góp cho chi tiêu công không tỷ lệ với thu nhập của họ ngoại trừ một số thứ họ đóng góp nhiều hơn so với tỷ lệ đó”””
Trang 18trừ các khoản đóng góp nhân đạo C c quy định giảm trừ thể hiện nguyên t c công bằng theo chiều dọc trong đều tiết thu nhập của người dân mặt khác còn tạo nên sự đồng thuận của xã hội nói chung khi áp dụng Luật thuế Tuy nhiên, chính vì việc tập trung soạn thảo Luật thuế TNCN nhằm quan tâm đếm hoàn cảnh của từng cá nhân nộp thuế đã khiến cho Luật thuế TNCN nhất là Luật thuế tại các nước phát triển trở thành Luật thuế phức tạp nhất trong các Luật thuế
Các khoản giảm trừ, các ngoại lệ và các sự lựa chọn giảm trừ của người nộp thuế xuất hiện dày đặc trong Luật thuế Điều này khiến cho ngay cả những nhà làm Luật cũng không thể tự mình kê khai thuế TNCN cho chính họ mà phải nhờ đến sự hỗ trợ của các chuyện gia tư vấn thuế Một khoản chi phí tư vấn thuế là gần như không thể tránh khỏi đối với các cá nhân nộp thuế TNCN tại các quốc gia phát triển
Tiếp đến, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ Thuế TNCN không cấu thành trong giá bán hàng hóa và dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá
cả hàng hóa và dịch vụ Do đó, xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân mang tính trung lập cao hơn so với những loại thuế khác vì việc nâng cao hay giảm thuế thu nhập
cá nhân hầu như không kéo theo các biến đổi về thị trường và cơ cấu kinh tế
Cuối cùng, thuế thu nhập cá nhân mang diện thu thuế rất rộng Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân có thu nhập chịu thuế không phân biệt cá nhân đó có
tư cách chủ thể hay không, độ tuổi hay năng lực trách nhiệm pháp luật…Tất cả các cá nhân sở hữu thu nhập bao gồm công dân nước sở tại và người nước ngoài trừ cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước ấy và hầu như mọi thu nhập có được của cá nhân đều buộc phải tính thuế bất kể nguồn thu nhập phát sinh trong hay ngoài nước Chính vì thế, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao
1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Với các đặc điểm nêu trên, thuế TNCN có những vai trò quan trọng sau:
Trang 19Một là, điều tiết thu nhập góp phần đảm bảo công bằng xã hội Sự tăng trưởng của nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư Đây cũng chính là một trong những khuyết điểm của kinh tế thị trường Một bộ phận dân cư sẽ có thu nhập cao hơn số người nghèo khó (có thu nhập thấp hơn) và đối tượng này lại không được hưởng một cách trực tiếp những lợi ích do nền kinh tế thị trường mang lại Để đạt đến mục tiêu công bằng xã hội, Nhà nước phải can thiệp bằng cách thu thuế vào thu nhập cá nhân nhằm điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, qua đó điều chỉnh sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội
Thuế TNCN là công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội theo chiều dọc (các bậc thu nhập khác nhau thì chịu mức thuế suất khác nhau) và theo chiều ngang (thu nhập như nhau thì cùng chịu một mức thuế suất) Tuy nhiên, cần lưu ý đến chỉ tiêu của Ngân sách nhà nước, đặc biệt là các khoản chỉ tiêu mang ý nghĩa phúc lợi
xã hội, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các đối tượng có thu nhập thấp Bên cạnh việc tăng chi phúc lợi từ Ngân sách nhà nước cho cộng đồng, cần phải
có sự kết hợp chặt chẽ giữa quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế mang tính chất b t buộc và mạng lưới các quỹ bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm tư nhân trong xã hội để phục
vụ tối ưu cho phúc lợi của cộng đồng dân cư
Hai là, thuế TNCN là một trong những loại thuế trực thu giúp kh c phục tính lũy thoái của thuế gián thu Thuế suất thuế gián thu không tính đến thu nhập của người tiêu dung khi tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, mọi người đều phải chịu thuế suất như nhau Mức chênh lệch về thu nhập càng lớn thì tính lũy thoái của thuế gián thu càng cao Thuế TNCN với thuế suất lũy tiến sẽ góp phần kh c phục được vấn đề này vì người có thu nhập càng cao sẽ nộp thuế càng nhiều và ngược lại, thu nhập thấp nộp thuế ít hơn hoặc không phải nộp thuế4
4
Theo Lê Quang Cường & Nguyễn Kim Quyên (2015)
Trang 20Một vai trò khác và được xem là vai trò chủ yếu của thuế TNCN là góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Tính ổn định và tăng trưởng của nguồn thu phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Khi trình độ phát triển kinh tế càng cao, thu nhập của dân cư được nâng lên thì số thu từ loại thuế này càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng thu ngân sách về thuế Thuế TNCN vì thế được xem là “nữ hoàng của các loại thuế” Ở các nước phát triển tỷ trọng thu ngân sách của thế TNCN chiếm tỷ trọng cao từ 30-40%, có nước trên 50% như Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia, … các nước đang phát triển chiếm từ 15-30% như Thái Lan, Malaysia, Philippine, Tại Việt Nam, thuế TNCN trong những năm gần đây tăng trưởng nhanh chóng và chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu nguồn thu của Ngân sách nhà nước
Bảng 1: Số thuế thu nhập cá nhân
Mặt khác, thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế, loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân, một mặt tác động trực tiếp tới tiết kiệm, mặt khác khiến khả năng thanh toán của cá nhân chịu thuế bị giảm, từ đó, cầu về hàng hoá và dịch vụ giảm, sẽ tác động tới sản xuất và đến nền kinh tế Do đó,
Trang 21việc thực thi nghiêm chỉnh thuế TNCN trong hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật
về thuế nói riêng luôn tạo được mỗi quan tâm lớn đối với mỗi cá nhân trong xã hội Bởi vì hơn ai hết, việc thực thi loại thuế này thể hiện nghĩa vụ của cá nhân đối với đất nước một cách trực tiếp nhất Người dân được hưởng các thành quả của xã hội như cơ
sở hạ tầng, giáo dục cơ bản, y tế cộng đồng, mội trường Luật pháp thể chế, quốc phòng, an ninh, Vì vậy, thuế TNCN có ý nghĩa lớn trong việc hình thành nguồn lực tài chính để nhà nước thực hiện chức năng của mình, cung cấp các dịch vụ công cho người dân ngày càng tốt hơn Thuế TNCN là loại thuế phổ biến trên thế giới, có lịch sử hàng trăm năm nhưng việc áp dụng nó tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia
và tùy theo yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thuế TNCN ở mỗi nước được xây dựng phù hợp.5
1.2 Thu nhập chịu thuế trong thuế TNCN
Trên nguyên t c, có bốn tính chất khác nhau của một hệ thống thuế TNCN mà
nó xác định trách nhiệm nộp thuế: thứ nhất, sự lựa chọn đơn vị nộp thuế, thứ hai, các nguồn thu nhập chịu thuế, thứ ba, các ưu đãi về thuế và thứ tư, khung thuế Các hệ thống thuế có thể kết hợp các nhân tố này theo nhiều kiểu khác nhau để đạt được những mục tiêu cụ thể Do vậy, việc xác định các nguồn thu nhập chịu thuế, cùng với những đặc tính quan trọng khác của hệ thống thuế, có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng một hệ thống thuế bình đẳng, hiệu quả mà vẫn đáp ứng được mục tiêu cao nhất của quản lý thuế TNCN
Theo pháp luật thuế TNCN tại Việt Nam, trong các yếu tố tạo nên s c thuế này thì cơ sở tính thuế quan trọng chính là thu nhập chịu thuế, thu nhập chịu thuế TNCN sẽ
5
Nguyễn Thị Mỹ Linh (chủ biên) & Phạm Thị Phương Loan (2012), cho rằng: “M Keynes là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh đã đề xướng tư tưởng can thiệp của nhà nước vào hoạt động của nền kinh tế để đạt được “cầu hiệu quả” thông qua chính sách thuế, trong đó có thuế TNCN Ông cho rằng, tồn tại một quy Luật tâm lý cơ bản mà theo ông, con người có xu hướng tăng tiêu dùng của mình theo tốc độ tăng của thu nhập, nhưng không phải tăng theo cùng mức tăng của thu nhập Cùng với tốc
độ tăng của thu nhập thì tốc độ tiết kiệm tăng nhanh hơn Đây chính là nguyên nhân làm cho cầu không đạt hiệu quả Bởi vậy, cần thiết phải có chính sách thuế đánh vào thu nhập đưa vào tiết kiệm để kích thích tiêu dùng và tăng đầu tư phát triển kinh doanh Theo ông, khuynh hướng tiêu dùng ở những người có thu nhập thấp sẽ cao hơn ở những người có thu nhập cao Vì vậy, nhà nước phải thu thuế thu nhập theo kiểu thuế suất lũy tiến để phân phối lại thu nhập của những người có thu nhập cao đưa vào tiết kiệm Sự tiết kiệm thừa cần được thu bằng thuế để hướng chúng vào đầu tư phát triển kinh tế”
Trang 22trả lời cho câu hỏi thuế TNCN được tính trên cái gì, dựa vào cái gì để xác định ra số thuế phải nộp với một tỷ lệ thuế (thuế suất) nhất định
1.2.1 Khái niệm về thu nhập chịu thuế
Tương tự như khái niệm “Thuế thu nhập cá nhân”, Luật thuế TNCN không đưa
ra định nghĩa về thu nhập chịu thuế, Luật thuế TNCN hiện hành chỉ liệt kê các loại thu nhập chịu thuế mà thôi Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Luật dựa vào thực tiễn cũng đưa ra một cách tổng quan nhất các định nghĩa về thu nhập chịu thuế như sau:
Thu nhập chịu thuế là tổng số các khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền
công và các khoản thu nhập chịu thuế khác có tính chất tiền lương, tiền công mà cơ quan chi trả đã trả cho cá nhân
Thu nhập chiu thuế TNCN là các khoản thu nhập phát sinh từ kinh doanh, từ lao động và từ các khoản thu nhập khác không từ kinh doanh của các cá nhân mà đây là
cơ sở cho việc đánh thuế thu nhập và được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi đã trừ đi một số khoản thu nhập và chi phí
Hay đơn giản
Thu nhập chịu thuế được định nghĩa là bằng tổng thu nhập trừ đi các khoản giảm thuế
Theo quan điểm của tác giả, thu nhập chịu thuế được hiểu là tổng các khoản thu nhập mà cá nhân phải chịu thuế trên cơ sở tiền công, tiền lương và các khoản tiền ngoài tiền công, tiền lương mà cá nhân có được và về mặt tính thuế, đây cũng là cơ sở
để xác định ra tổng số thuế cuối cùng mà cá nhân phải nộp trong kỳ
Rõ ràng, việc không đưa ra định nghĩa chính thức về thu nhập chịu thuế có lẽ tương tự với quan điểm của nhà làm Luật làm Luật đối định nghĩa thuế TNCN, do đó việc bổ sung khái niệm về Thu nhập chịu thuế có thể không cần thiết và mặt lý luận nhưng lại cần thiết về mặt thực tiễn
1.2.2 Đặc điểm của thu nhập chịu thuế
Trang 23Từ việc liệt kê của Luật thuế TNCN, các văn bản hướng dẫn cũng như các định nghĩa không chính thống ở trên của Thu nhập chịu thuế, có thể rút ra các đặc điểm của Thu nhập chịu thuế TNCN như sau:
Thứ nhất, thu nhập chịu thuế luôn g n với một chủ thể nhất định trong nền kinh
tế, thể hiện tính sở hữu của thu nhập, pháp luật quy định chủ thể nộp thuế TNCN bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam6
Thứ hai, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh của mỗi cá nhân Các loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng đánh vào hành vi tiêu dùng của người chịu thuế trả một phần thu nhập do hành vi tiêu dùng
Thứ ba, thu nhập chịu thuế thường là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực
tế phát sinh, có tính phổ biến và nhà nước có thể kiểm soát được nhằm đảm bảo tính khả thi, tính cồng bằng cho các đối tượng nộp thuế, tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước
Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ việc kiểm soát các nguồn thu nhập chịu thuế của đối tượng nộp thuế ở mức độ như thế nào được xem là hợp lý, được xem là hiệu quả nhất và các quy định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập chịu thuế hiện nay có bao quát tất cả các nguồn thu nhập của đối tượng nộp thuế hay chưa
Thứ tư, như đã đề cập ở trên, thu nhập chịu thuế làm cơ sở cho việc tính thuế thu nhập, các khoản thu nhập chịu thuế ở mỗi quốc gia khác nhau thì không giống nhau, phụ thuộc vào nguồn gốc thu nhập, đặc điểm cư trú của đối tượng nộp thuế hay một số đặc điểm khác,…
1.2.3 Cách xây dựng thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế TNCN tại Việt Nam
và một số quốc gia trên thế giới
điều của Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN
Trang 24Hiện nay, Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng hai cách xác định thu nhập chịu thuế: đó là thu nhập đã nhận (thu nhập gộp) hay thu nhập
đã nhận được trừ một số khoản chi phí để tạo ra thu nhập
Đối với các nước có quan điểm đánh thuế trên số thu nhập đã nhận thì thu nhập tính thuế được xác định là toàn bộ số tiền mà NNT đã nhận, không phân biệt đã phải bỏ
ra ít hay nhiều chi phí để tạo ra thu nhập tính thuế Cách tính thuế này đơn giản nhưng thường không đảm bảo được sự công bằng trong chính sách động viên đối với từng cá nhân, từng gia đình Đây là cách xác định thu nhập chịu thuế mà chúng ta đã áp dụng trong Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong giai đoạn cũ
Hầu hết các nước hiện nay (như: Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, ) đều xác định thu nhập chịu thuế là tổng thu nhập trừ đi tổng các khoản được giảm trừ của đối tượng đó trong kỳ tính thuế Việt Nam cũng tiếp cận cách quy định này kể từ khi Luật thuế TNCN năm 2007 ra đời thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Tổng thu nhập của một đối tượng trong kỳ tính thuế là tổng thu nhập chịu thuế mà đối tượng đó có được trong kỳ tính thuế không bao gồm các khoản được miễn thuế Tổng các khoản được giảm trừ là tổng chi phí phát sinh trong kỳ tính thuế và các khoản được phép trừ khác theo quy định như giảm trừ gia cảnh cho đối tượng nộp thuế
Về cơ bản, đa số các nước đều xác định thu nhập chịu thuế và phân loại chúng dựa theo nguồn hình thành và thường bao gồm các loại chủ yếu sau:
+ Thu nhập từ công việc lao động;
+ Thu nhập từ sản xuất kinh doanh;
+ Thu nhập từ tài sản như thu nhập từ cho thuê tài sản, chuyển nhượng tài sản, thừa kế, quà tặng, quà biếu;
+ Thu nhập từ đầu tư gián tiếp như thu nhập từ tiền lãi, cổ tức, thu nhập được chia từ các hoạt động góp vốn;
+ Thu nhập khác
Trang 25Tại Việt Nam, từ lúc Luật thuế TNCN ra đời, cách phân lọai các loại thu nhập chịu thuế theo nguồn gốc hình thành hầu như không thay đổi Các nhà làm Luật chỉ tiến hành sửa đổi, bổ sung một cách chi tiết hơn về từng loại thu nhập chịu thuế
- Xác định thu nhập không chịu Thuế TNCN
Khác với quy định của pháp luật thuế TNCN tại Việt Nam khi chúng ta đã không còn quy định “thu nhập không chịu thuế”, thay vào đó là quy định về các thu nhập được miễn thuế, điều này có nghĩa là nếu thu nhập không nằm trong diện chịu thuế thì sẽ là thu nhập không chịu thuế, còn cũng là loại thu nhập chịu thuế nhưng nằm trong một số trường hợp đặc biệt sẽ là thu nhập được miễn thuế Qua nghiên cứu cho thấy Luật Thuế TNCN của các nước trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia có phân biệt thu nhập không chịu thuế dựa vào các tiêu thức chủ yếu như không chịu thuế vì lý do xã hội như: các khoản phúc lợi xã hội, học bổng, tiền bồi thường…không chịu thuế theo quy định của các Hiệp định, hiệp ước, thoả thuận quốc
tế đã ký kết giữa các nước, không chịu thuế có thể vì lý do chính trị hoặc lý do quản lý như: các khoản thu nhập bất thường, vì lý do muốn khuyến khích một hoạt động cụ thể nào đó như: thu nhập từ quỹ lương hưu nhằm khuyến khích đóng góp lương hưu, hoặc thu nhập từ cổ phiếu trái phiếu không chịu thuế nhằm khuyến khích các hoạt động đầu
tư gián tiếp, v.v…
- Xác định khoản miễn, giảm Thuế TNCN
Quy định về miễn, giảm thuế có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau nhằm đạt được hiệu quả tối ưu của Luật thuế, nhất là yếu tố chính trị luôn được các nhà lập pháp và hoạch định chính sách cân nh c kỹ lưỡng Trên thế giới hiện nay có các phương pháp miễn, giảm chủ yếu sau:
Phương án 1: Trong Luật thuế có quy định rõ những trường hợp miễn, giảm
thuế cụ thể bằng mức tiền hoặc khung tỷ lệ phần trăm (%) trên số thuế phải nộp, thí dụ: NNT gặp rủi ro bất khả kháng do thiên tai, hoàn cảnh đặc biệt, Ưu điểm của phương
Trang 26án này là sự rõ ràng, minh bạch, NNT thấy được ngay kết quả cụ thể của chính sách Vì vậy trên thế giới có rất nhiều nước áp dụng, nhất là các nước phát triển
Phương án 2: Quy định miễn giảm thuế dưới hình thức tạm thời chưa thu thuế
đối với một số khoản thu nhập Ưu điểm là thu hút nhiều hơn được sự quan tâm của xã hội mà vẫn đạt được mục tiêu lâu dài của chính sách đồng thời mang ý nghĩa chính trị lớn
Phương án 3: Dựa trên cơ sở kết hợp ưu điểm của 2 phương pháp trên Theo đó
vừa quy định miễn giảm thuế cho một số loại thu nhập, vừa cho phép miễn giảm một
số tiền thuế nhất định đối với một số đối tượng trong những hoàn cảnh nhất định
1.3 Quản lý thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế TNCN
1.3.1 Vai trò của việc xác định thu nhập chịu thuế trong quản lý thuế TNCN và trong pháp luật thuế TNCN
Từ trước đến nay, việc quản lý một sự việc nào đó giúp cá nhân hoặc tổ chức đạt được những mục tiêu đã đề ra trong điều kiện có sự biến đổi của môi trường Tùy theo yêu cầu, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu mà ta có thể hiểu chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý ở những chừng mực nhất định Quan hệ quản lý không những mang tính chất kinh tế mà còn có tính chất tổ chức, tính chất tâm lý xã hội, nó thể hiện tính
đa chiều của cả một quy trình mang tính tổng hợp, phối hợp, liên bộ phận, liên ngành Xuất phát từ các yêu cầu khách quan như yêu cầu từ chính sách thuế, yêu cầu từ chủ trương của Nhà nước tiếp tục tinh giảm biên chế theo hướng “Tinh – Giản – Hiệu quả”, yêu cầu từ sự phát triển của nền kinh tế thị trường, yêu cầu từ hội nhập, yêu cầu từ xã hội, yêu cầu từ những biến đổi công nghệ đang mở rộng xã hội và thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, vấn đề quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng được đặt ra và nghiên cứu để hoàn thiện không ngừng
Với một s c thuế nhất định, việc xác định cơ sở để tính thuế và từ đó tiến hành nộp thuế là vấn đề vô cùng quan trọng Như đã phân tích ở trên, việc xác định các nguồn thu nhập chịu thuế đóng vai trò thiết yếu đối với việc xây dựng một hệ thống
Trang 27thuế bình đẳng, hiệu quả Mặt khác, xuất phát từ bản chất của thuế TNCN là đánh trên thu nhập của cá nhân, vậy thì các nguồn thu nhập nào của cá nhân sẽ bị đánh thuế? Nguồn thu nhập đó có đặc điểm gì? Pháp luật hiện hành đã thể hiện tối ưu nhất mục tiêu của mình trong việc quản lý thuế TNCN nói riêng và công tác quản lý thuế nói chung thông qua việc xây dựng các quy định liên quan đến cơ sở chịu thuế, hay nói cách khác, xây dựng các quy định về các nguồn thu nhập chịu thuế hợp lý và hiệu quả chưa
Rõ ràng, việc xác định thu nhâp chịu thuế trong pháp luật thuế TNCN và quản
lý thuế TNCN là hết sức cần thiết, là công việc ưu tiên hàng đầu của người nộp thuế và
cả nhà làm Luật Bởi làm điều này những quy định về Luật thuế TNCN sẽ là những quy định phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo công bằng cho người nộp thuế đồng thời đảm bảo được mục tiêu về nguồn thu ngân sách nhà nước đã đề ra
1.3.2 Những mục tiêu cơ bản của việc xây dựng các quy định về thu nhập chịu thuế TNCN
Mục tiêu chung nhất của việc xây dựng các quy định về thu nhập chịu thuế TNCN là nhằm đảm bảo tính hiệu lực của chính sách thuế TNCN, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế nộp đúng, đủ, kịp thời số tiền thuế vào Ngân sách nhà nước và
cơ quan quản lý thuế kiểm tra thu đúng, đủ số tiền thuế phải nộp Các mục tiêu cụ thể là:
Thứ nhất, tăng cường tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Thuế thu nhập cá nhân chiếm tỉ trọng khá lớn trong số thu ngân sách nhà nước ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế TNCN nói chung và hợp lý hóa các quy định về thu nhập chịu thuế TNCN nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước
Thứ hai, góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh
tế và dân cư
Trang 28Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thông qua công cụ Luật pháp để tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô Ý thức chấp hành Luật pháp của các tổ chức kinh tế
và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động này Qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra việc chấp hành các quy định về thuế thu nhập
cá nhân nói chung và thu nhập chịu thuế nói riêng, cùng với việc tăng cường tính pháp chế của chính sách thuế này, ý thức chấp hành pháp luật thuế sẽ được nâng cao, từ đó tạo thói quen “sống và làm việc theo pháp luật”
Thứ ba, phát huy tốt nhất vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong nền kinh tế Các vai trò của thuế thu nhập cá nhân như đã nêu ở phần 1.1.3 Tuy nhiên việc phát huy những vai trò đó không thể tự nó đạt được mà để có kết quả thì việc thực hiện đó phải thông qua những nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân mà trong đó công tác xây dựng chính sách pháp luật về thu nhập chịu thuế như đã trình bày đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập chịu thuế TNCN
Những quy định hiện hành của Luật thuế TNCN và các văn bản hướng dẫn phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập Việc phân loại như trên sẽ góp phần điều tiết công bằng thu nhập của các tầng lớp dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập rất thấp và một số trường hợp đặc biêt) đều phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Đây là điểm mới của pháp luật hiện hành khi mà các quy định cũ thu nhập chịu thuế được phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Tuy nhiên, lại không có định nghĩa rõ ràng, minh bạch thế nào là thu nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập không thường xuyên Đồng thời, bằng việc phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn thu nhập, Luật thuế TNCN sẽ góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước một cách hợp lí trên cơ sở hạn chế tối đa việc
bỏ sót nguồn thu phát sinh từ các tổ chức, cá nhân của nền kinh tế
Bên cạnh việc phân loại thu nhập chịu thuế TNCN theo nguồn thu nhập, pháp luật hiện hành quy định các trường hợp được miễn thuế, nghĩa là với các nguồn thu
Trang 29nhập thuộc diện chịu thuế TNCN, nếu rơi vào các trường hợp đặc biệt thì sẽ được miễn thuế, ví dụ như thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ
đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha
vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau, phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật, 7
Như vậy, các yếu tố về quan hệ gia đình, về nguồn gốc của thu nhập, ngành nghề lĩnh vực, về điều kiện làm việc, tính chất mục đích của thu nhập sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định thu nhập chịu thuế phải nộp thuế TNCN và nguồn thu nhập chịu thuế được miễn thuế TNCN Việc bổ sung một số khoản thu nhập miễn thuế nêu trên thể hiện sự ưu đãi của nhà nước đối với một số đối tượng được hưởng thu nhập trong những trường hợp gặp khó khăn
Từ đó, có thể thấy, việc xây dựng những quy định về thu nhập chiu thuế TNCN thường dựa trên những nguyên t c sau:
– Thứ nhất, căn cứ vào tính chất của từng loại thu nhập, mỗi loại thu nhập do tính chất khác nhau nên sức chịu đựng thuế cũng khác nhau Đánh thuế theo tính chất của từng loại thu nhập sẽ đảm bảo sự công bằng về nghĩa vụ thuế
– Thứ hai, xem xét đến khả năng động viên đối với từng loại thu nhập, điều đó
có nghĩa là Nhà nước định hướng động viên như thế nào đối với từng loại thu nhập, mức động viên là bao nhiêu để phát huy tác dụng tích cực của thuế
– Thứ ba, căn cứ vào khả năng quản lý của các loại thu nhập, dựa vào tiêu thức này có thể n m b t được nguồn hình thành thu nhập và khả năng có thể động viên được mức độ bao nhiêu từ nguồn thu nhập này
các Luật về thuế số 71/2014/QH13, Điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, Khoản 6 Điều 2 Nghị định
12/2015/NĐ-CP, Điều 3 Thông tư 111/2013/TT-BTC, Điều 12 Thông tư 92/2015/TT-BTC
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Việc luận giải những khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân và thu nhập chịu thuế TNCN thông qua xác định vai trò, đặc điểm, những nguyên t c cơ bản của việc xây dựng các quy định này giúp cho người đọc có một cái nhìn tổng quan hơn, thực chất hơn về thuế TNCN cũng như thu nhập chịu thuế để từ đó có những nhìn nhận về
hệ thống thuế TNCN hiện tại và hệ thống thu nhập chịu thuế TNCN tương ứng Thông qua nội dung nghiên cứu của chương 1, tác giả đã nhìn nhận và tiếp cận vấn đề trong
xu hướng đa dạng hóa các nhãn quan đánh giá để từ đó giúp người đọc có cách nhìn nhiều chiều về thu nhập chịu thuế trong thuế TNCN Nhất là thông qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập chịu thuế trong thuế TNCN sẽ giúp nhà làm Luật, nhà quản lý nhận diện rõ hơn trong xây dựng và thực thi pháp luật về thuế TNCN cũng như điều tiết các khoản thu nhập chịu thuế
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THU NHẬP CHỊU THUẾ TRONG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NH N TẠI VIỆT NAM
Trên cơ sở các nội dung khái quát về thu nhập chịu thuế TNCN được thể hiện ở chương đầu tiên của luận văn, chương tiếp theo sẽ tập trung phân tích thực trạng áp dụng trên cơ sở đi vào chi tiết từng loại thu nhập chịu thuế
Dựa theo nguồn gốc có được thu nhập, hiện tại pháp luật thuế TNCN tại Việt Nam quy định 10 loại thu nhập chịu thuế (Luật thuế TNCN năm 2007 tại Chương 1,
Điều 3) đó là thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ đầu
tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, thu
nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở
kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng,
thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng Tuy nhiên thực tiễn lại phân loại tập trung hai loại thu nhập chịu thuế, đó là thu nhập từ tiền lương tiền công và thu nhập khác Mặt khác, tác giả nhận thấy rằng, trong 9 loại thu nhập chịu thuế kể trên, không phải tất cả đều có có quy định bất cập trên thực tế, ví
dụ thu nhập từ bản quyền, từ nhượng quyền thương mại Do đó, để thuận lợi cho việc phân tích cũng như phù hợp với thực tiễn, tác giả cũng lựa chọn việc phân tích dựa trên cách phân loại thu nhập từ tiền lương, tiền công, và thu nhập không từ tiền lương, tiền công và chỉ tập trung phân tích các điểm không phù hợp trong các quy định của một số loại thu nhập chịu thuế
2.1 Áp dụng qui định về thu nhập chịu thuế là thu nhập từ tiền lương, tiền công
Có thể nói, thu nhập từ tiền công, tiền lương là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Việc quản lý nguồn thu nhập chịu thuế này trong đó công tác nghiên cứu, rà
Trang 32soát có các quy định của pháp luật thuế TNCN liên quan đến thu nhập từ tiền lương tiền công đóng vai trò hết sức cần thiết
Bên cạnh những quy định tiến bộ đáng được ghi nhận của Luật thuế TNCN về tiền lương tiền công, điển hình là quy định khấu trừ tại nguồn, các quy định về c t giảm, tinh gọn thủ tục hành chính như nộp thuế, nộp tờ khai qua chữ ký số của doanh nghiệp, v.v thực tế cho thấy vẫn còn một số quy định hiện hành của pháp luật thuế TNCN về thu nhập từ tiền lương, tiền công có những quy định chưa thực sự phù hợp,
cụ thể như sau:
Thứ nhất, quy định về khoản thu nhập không chịu thuế Trợ cấp một lần đối với
cá nhân khi chuyển công tác đến vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hỗ trợ một lần đối với cán bộ công chức làm công tác về chủ quyền biển đảo theo quy định của pháp luật Trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, người Việt Nam cư trú dài hạn
ở nước ngoài về Việt Nam làm việc 8
, cụ thể là trợ cấp chuyển vùng một lần đối với
người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam
Căn cứ vào hướng dẫn của Tổng cục thuế, trợ cấp chuyển vùng một lần bao gồm các khoản chi liên quan đến chi phí vận chuyển đồ đạc, chi phí đi lại của người lao động và vợ/chồng, con, chi phí mua đồ dùng cá nhân thay thế, trợ cấp bằng tiền Các khoản chi này chỉ được chi trả một lần và phải được quy định cụ thể trong chính sách hỗ trợ của doanh nghiệp điều chuyển hoặc doanh nghiệp tiếp nhận người lao động, được thể hiện trên quyết định bổ nhiệm hoặc hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể khi điều chuyển lao động và có đầy đủ chứng từ chứng minh chi phí
nhập chịu thuế từ tiền công, tiền lương của cá nhân người nước ngoài
Trang 33Trên thực tế, với quy định của Luật thuế TNCN và Thông tư hướng dẫn, sẽ phát sinh các bất cập sau:
Thứ nhất, trợ cấp này được quy định một khoản cố định thể hiện trong chính sách doanh nghiệp và quyết định bổ nhiệm/hợp đồng lao động nhưng được doanh nghiệp trả làm nhiều lần cho cá nhân (trợ cấp bằng tiền) và cho nhà cung cấp dịch vụ,
ví dụ khi cá nhân nước ngoài đến làm việc, các khoản chi vé máy bay được doanh nghiệp trả cho hãng bay một lần, các chi phí vận chuyền đồ đạc được trả một lần, chi phí mua đồ dùng cá nhân thay thế được trả một lần Vậy câu hỏi đặt ra là trường hợp doanh nghiệp trả làm nhiều lần như vậy thì tổng các khoản chi này có được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế hay không?
Dưới góc độ câu chữ của Luật Trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước
ngoài đến cư trú tại Việt Nam cũng như hướng dẫn của Tổng cục thuế thì khoản trợ cấp
này chỉ được trả một lần thì mới không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân, trả lần thứ hai trở lên sẽ phải chịu thuế, tuy nhiên, trên thực tế áp dụng, nhiều doanh nghiệp cho rằng, với việc các chi phí trả cho nhà cung cấp và ghi nhận lên sổ sách khó có thể cùng một lúc nhưng với bản chất vẫn là một khoản chi phí nằm trong gói trợ cấp chuyển vùng của cá nhân người nước ngoài nên tổng các chi phí nãy sẽ không chịu thuế TNCN Một số doanh nghiệp khác, vì không rõ quy định này nên để tránh việc khấu trừ sót thuế TNCN, họ chỉ không cho chịu thuế phần trợ cấp với số tiền cao nhất,
số khác lại không cho chịu thuế đối với lần chi trả đầu tiên, phần còn lại đưa vào tổng thu nhập để chịu thuế TNCN của cá nhân Điều này dẫn đến các cách hiểu và áp dụng khác nhau của người sử dụng lao động trong việc trả trợ cấp một lần cho cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Thứ hai, trên thực tế xảy ra trường hợp cá nhân đã được nhận trợ cấp một lần khi chuyển công tác từ nước của họ đến Việt Nam, sau khi chấm dứt việc bổ nhiệm này, cá nhân này thay vì trở về nước họ ở lại Việt Nam nghỉ ngơi một thời gian (cùng trong 01 năm), sau đó tiếp tục làm việc dưới một quyết định bổ nhiệm khác tại một chi
Trang 34nhánh khác tại Việt Nam của cùng công ty mẹ, câu hỏi đặt ra là trường hợp cá nhân này được hưởng trợ cấp một lần khi b t đầu làm việc cho chi nhánh mới này, họ có được loại trừ phần trợ cấp này ra khỏi thu nhập chịu thuế hay không? Trường hợp họ
về nước và sau đó lại đến Việt Nam thì trợ cấp chuyển vùng thứ hai này có đưa vào thu nhập chịu thuế TNCN hay không?
Xét về bản chất, nhà làm Luật loại trừ phần trợ cấp chuyển vùng một lần khi cá nhân nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam với mục đích giảm gánh nặng về thuế nhằm thu hút lao động nước ngoài đến Việt Nam làm việc Trên thực tế, có những trường hợp người nước ngoài đến Việt Nam nhiều hơn 01 lần với hơn 01 người sử dụng lao động tại Việt Nam trong suốt chu kỳ làm việc/lao động trong đời của họ Do đó, pháp
luật quy định “Trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại
Việt Nam” sẽ đặt ra các vấn đề bất cập liên quan và gây khó khăn trong quá trình áp
dụng nếu như Thông tư hướng dẫn Luật thuế TNCN không quy định rõ vấn đề này:
Một là, trường hợp cá nhân b t đầu một công việc mới với một doanh nghiệp tiếp nhận khác tại Việt Nam nhưng trước đó cá nhân này đã cư trú tại Việt Nam, không phải chuyển vùng theo dạng từ nước ngoài sang Việt Nam, chỉ là chuyển từ một vùng khác sang một vùng khác tại Việt Nam thì trợ cấp được gọi là “chuyển vùng một lần” của cá nhân này tại doanh nghiệp mới tại Việt Nam có được loại trừ ra khỏi chịu thuế TNCN hay không?
Hai là, trợ cấp chuyển vùng được áp dụng cho người lao động nước ngoài bất kể
họ làm việc cho bao nhiêu doanh nghiệp tại Việt Nam, với mỗi doanh nghiệp tiếp nhận tại Việt Nam, cá nhân người nước ngoài này có quyền được hưởng trợ cấp này một lần trong suốt thời gian làm việc cho doanh nghiệp đó và được loại trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế phần trợ cấp đặc thù này Hay cá nhân người nước ngoài có thể được hưởng khoản trợ cấp này tại các doanh nghiệp khác nhau họ làm việc cho tại Việt Nam nhưng chỉ được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế phần trợ cấp được hưởng tại doanh nghiệp mà lần đầu họ đến Việt Nam để cư trú và làm việc từ quốc gia của họ?
Trang 35Tóm lại, với việc quy định không rõ ràng và không phản ánh mục đích thực sự
trong câu chữ của Luật là “trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến
cư trú tại Việt Nam”, người áp dụng pháp luật có nguy cơ nhầm lẫn, hiểu theo nhiều
cách hiểu khác nhau, gây ra cách áp dụng không nhất quán trên thực tế
Thứ hai, quy định về các khoản phụ cấp, trợ cấp được trừ không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công
Hiện tại, pháp luật thuế TNCN quy định các khoản trợ cấp, phụ cấp Trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hàng tháng và trợ cấp một lần theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; Trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần đối với các đối tượng tham gia kháng chiến, bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ; Phụ cấp quốc phòng, an ninh; các khoản trợ cấp đối với lực lượng vũ trang; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; Phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực, Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, mức hưởng chế độ thai sản, mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ Luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội; rợ cấp đối với các đối tượng được bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật.; Phụ cấp phục vụ đối với lãnh đạo cấp cao; Trợ cấp một lần đối với cá nhân khi chuyển công tác đến vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hỗ trợ một lần đối với cán bộ công chức làm công tác về chủ quyền biển đảo theo quy định của pháp luật Trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, người Việt Nam cư trú dài hạn ở nước ngoài về Việt
Trang 36và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo
sẽ được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế TNCN
Việc quy định cụ thể các khoản phụ cấp, trợ cấp như nêu trên đã tạo thuận lợi trong thực hiện, tuy nhiên trong thực tế vẫn tiếp tục phát sinh các khoản phụ cấp, trợ cấp mới phát sinh theo quy định của các văn bản pháp luật về lao động, về BHXH, vv ban hành sau này, do đó, việc Thông tư 92/2015/TT-BTC bổ sung thêm câu từ “và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ”cũng đã phần nào giải quyết được nhược điểm của việc liệt kê các loại
cũng như thay đổi tên, nội dung, bản chất của từng loại trợ cấp, phụ cấp theo quy định của các văn bản Luật liên quan là điều không thể tránh khỏi Trên thực tế, việc từng tên gọi và từng nội dung của các loại trợ cấp, phụ cấp được quy định riêng lẻ và rải rác trong các văn bản Luật khác nhau như Luật BHXH, Bộ Luật Lao động, Luật an toàn,
vệ sinh lao động, các văn bản của Bộ văn hóa thông tin, vv đã khiến cho việc hiểu nội dung các loại trợ cấp, phụ cấp và áp dụng nhanh chóng, chính xác theo quy định của pháp luật thuế TNCN trở nên khó khăn hơn Hay nói cách khác, pháp luật thuế TNCN đang liệt kê nhưng liệt kê chưa tới Mặt khác, việc các doanh nghiệp tự đặt tên cho các loại trợ cấp không xuất phát từ bản chất và nhầm lẫn trong nội dụng của từng loại trợ cấp để loại trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế của cá nhân cũng là một trong những vấn đề bất cập hiện nay Do đó, thiết nghĩ pháp luật cần bổ sung thêm quy định về nội dung và đặc điểm cơ bản của từng loại phụ cấp, trợ cấp trên cở sở áp dụng các quy định của các văn bản Luật liên quan để kiểm soát được việc thực hiện và áp dụng của người lao động và người sử dụng lao động trên thực tế
Bên cạnh đó, qua rà soát cho thấy Luật hiện hành có quy định một số khoản phụ cấp mang bản chất tiền lương, tiền công (như phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực) nhưng
2012, Điểm b, Khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/213/TT-BTC, Khoản 1, Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC
Trang 37hiện đang được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế là chưa phù hợp Phụ cấp thu hút là chế
độ ưu đãi áp dụng đối với công nhân, cán bộ, công chức làm việc và thực hiện các công việc tại những vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế, những khu vực xa xôi như khu vực biên giới, phần đảo xa đất liền, chưa được đầu tư và các chế độ của nhà nước, chưa có cơ sở
hạ tầng vật chất kỹ thuật đáp ứng được nhu cầu và sinh hoạt của những người lao động
và đội ngũ nhân viên, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của người lao động Phụ cấp khu vực nhằm bù đ p cho công nhân viên chức, công chức làm việc ở những vùng khí hậu xấu, xa xôi, hẻo lánh, đi lại, sinh hoạt khó khăn và nhằm góp phần
ổn định lao động những vùng có địa lý tự nhiên không thuận lợi Về bản chất, đây là các loại phụ cấp mang bản chất tiền lương, tiền công và khác với các loại trợ cấp, phụ cấp có tính chất đặc biệt, riêng biệt khác, người lao động trong trường hợp này quyết định công tác ở những môi trường như vậy cũng là nhằm mục đích có một mức thu nhập cao hơn Do đó, việc không đưa hai loại phụ cấp này vào thu nhập chịu thuế TNCN trở nên không hợp lý và cần được xem xét lại
2.2 Áp dụng quy định về thu nhập chịu thuế là thu nhập từ kinh doanh
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thu nhập từ kinh doanh, bao gồm11
:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
Thu nhập từ kinh doanh quy định tại khoản này không bao gồm thu nhập của cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống.”
Thêm vào đó, thuế suất từng ngành nghề, lĩnh vực được khoán cụ thể là:
a) Phân phối, cung cấp hàng hóa: 0,5%
b) Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2% Riêng hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp: 5%
các Luật về thuế số 71/2014/QH13.
Trang 38c) Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 1,5%
d) Hoạt động kinh doanh khác: 1%
Theo quy định trên, cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật như sản xuất, kinh doanh hàng hóa; xây dựng; vận tải; kinh doanh ăn uống (gọi t t là cá nhân kinh doanh) và phát sinh thu nhập, thì thu nhập đó là thu nhập chịu thuế TNCN Bên cạnh hoạt động hành nghề độc lập trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật, cá nhân kinh doanh làm đại lý bán đúng giá đối với đại lý xổ số, đại
lý bảo hiểm, bán hàng đa cấp của cá nhân trực tiếp ký hợp đồng với công ty xổ số kiến thiết, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp bán hàng đa cấp; cá nhân hợp tác kinh doanh với tổ chức; cá nhân kinh doanh sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh b t thủy sản không đáp ứng điều kiện được miễn thuế mà phát sinh thu nhập thì thu nhập đó là thu nhập chịu thuế TNCN
Nhìn chung, các quy định về thu nhập chịu thuế TNCN phát sinh từ kinh doanh của pháp luật hiện hành quy định tương đối cụ thể và có những thay đổi tích cực so với các quy định cũ có liên quan Pháp luật hiện hành quy định về phương pháp tính thuế (cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, theo từng lần phát sinh,…) về quản lý thuế bao gồm việc khai thuế (nguyên t c khai thuế, hồ sơ khai thuế, thời hạn nộp, xác định doanh thu và mức thuế khoán, ủy nhiệm thu thuế, niêm yết công khai mức doanh thu dự kiến và chính thức, công khai rộng rãi cả về nội dung, phương pháp, địa điểm công khai để tạo điều kiện thuận lợi cho sự giám sát của người dân, HKD và các cơ quan, ban ngành tại địa phương, , ), v.v
Tuy nhiên, có một vài vấn đề mà trong suốt thời gian ra đời của Luật thuế thu nhập cá nhân và Thông tư hướng dẫn hiện hành (Thông tư 92/2015/TT-BTC) về thực hiện thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh vẫn có
Trang 39những quan điểm không hài lòng về các quy định liên quan đến việc nộp thuế theo phương pháp khoán khi có mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở lên của cá nhân kinh doanh
Theo quy định này, ngay trong năm 2015, hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm sẽ nộp thuế theo tỷ lệ doanh thu, tùy theo ngành nghề kinh doanh (lấy doanh thu nhân với tỷ lệ % thuế thu nhập cá nhân phải nộp) Các hộ chỉ khai thuế 1 lần/năm, nộp thuế 4 lần/năm và không phải quyết toán thuế cuối năm thay vì phải nộp thuế theo phương pháp doanh thu trừ đi chi phí, các khoản giảm trừ và phải quyết toán thuế cuối năm (nếu có nhiều nguồn thu nhập hoặc được hoàn thuế) như trước đây Đây chính là điểm mới của Luật mà các chủ thể
th c m c và có nhiều ý kiến trái chiều
Theo đó, họ cho rằng việc thu thuế như vậy đồng nghĩa với việc dù có kinh doanh thua lỗ, thậm chí chi phí bỏ ra để kinh doanh như chi trả tiền thuê nhà, điện, nước, điện thoại, tiền lương nhân công lớn hơn cả doanh thu, thì mỗi năm cá nhân kinh doanh đều phải nộp thuế TNCN tối thiểu là 500.000 đồng; 1 triệu đồng; 1,5 triệu đồng; 2 triệu đồng hoặc 5 triệu đồng tùy thuộc vào lĩnh vực kinh doanh Điều này cũng không khuyến khích cá nhân tham gia vào hoạt động sản xuất - kinh doanh; tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người nộp thuế TNCN do cá nhân kinh doanh không được giảm trừ gia cảnh như đối với cá nhân có thu nhập thường xuyên từ tiền lương, tiền công Đặc biệt, cách tính thuế TNCN theo phương pháp khoán đối với cá nhân kinh doanh này không khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm
xã hội tự nguyện theo Luật bảo hiểm y tế (sửa đổi) và Luật bảo hiểm xã hội (sửa đổi) với mục tiêu đặt ra là đến năm 2020 có 100% người dân tham gia bảo hiểm y tế và 50% người dân trong độ tuổi lao động tham gia bảo hiểm xã hội Trong khi đó, đây là hai chính sách vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm an sinh xã hội bền vững
Xét về mặt chính sách, những quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân và văn bản hướng dẫn hiện hành tỏ ra đơn giản giảm thiểu được thủ tục hành chính khi mà các
Trang 40hộ kinh doanh bao gồm cá nhân kinh doanh còn chưa tiếp cận sâu đến việc kê khai và nộp thuế theo quy định cũ nghĩa là sử dụng cách tính theo biểu thuế lũy tiến có tính đến giảm trừ gia cảnh, khác với các cá nhân làm công nhân viên khi việc kê khai và nộp thuế TNCN được hỗ trợ bởi người sử dụng lao động hoặc các chuyên gia lương và phúc lợi được người sử dụng lao động thuê hỗ trợ kê khai nộp thuế Việc quy định phương pháp thu thuế khoán trên doanh thu như vậy góp phần kh c phục được hạn chế này Tuy nhiên, phương pháp thuế khoán tính trên cơ sở doanh thu bao gồm toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tỏ ra bất cập khi mà các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoạt động thua lỗ vẫn phải đóng thuế TNCN cho nhà nước Đứng trên nguyên t c, thuế TNCN đánh vào thu nhập của cá nhân trên
cơ sở xem xét gia cảnh người nộp thuế và nguyên t c thu nhập phải là “có thể chịu thuế”, tức cao hơn mức thu nhập bình quân của mọi người trong xã hội, do đó, trong trường hợp quá trình kinh doanh không thuận lợi, bị thua lỗ và không tính đến gia cảnh người nộp thuế vẫn phải đóng thuế TNCN là một gánh nặng không hề nhỏ đối với họ Như vậy, việc thu thuế theo phương pháp này tỏ ra thiếu công bằng giữa những người kinh doanh có hoàn cảnh và kết quả kinh doanh khác nhau
Thiết nghĩ, những quy định của văn bản hướng dẫn Luật thuế TNCN, cụ thể là Thông tư 92/2015TT-BTC cần sửa đổi, bổ sung một số điều khoản có thể giải quyết được bất cập trên trong thực tiễn áp dụng
2.3 Áp dụng quy định về thu nhập chịu thuế là thu nhập từ đầu tư vốn
Thu nhập từ đầu tư vốn là khoản thu nhập cá nhân nhận được dưới các hình thức 12 :
- Tiền lãi nhận được từ việc cho các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, nhóm cá nhân kinh doanh vay theo hợp đồng vay hoặc thỏa thuận
12
Quy định tại khoản 3 điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế TNCN; khoản 6 điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC hướng dẫn thuế GTGT thuế TNCN