1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thẩm định pháp lý tài sản trong hoạt động mua bán và sát nhập doanh nghiệp tại việt nam

70 40 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên cuốn sách chỉ mới dừng lại ở việc cung cấp một cái nhìn sơ bộ về hình thức của quá trình thẩm định cũng như các kỹ năng của người tham gia thẩm định, hướng dẫn dành cho Bên bán

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT



HOÀNG MINH TUẤN

THẨM ĐỊNH PHÁP LÝ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP H CH MINH NĂM - 2018

Trang 3

tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được người khác công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được tác giả ghi rõ nguồn gốc tham khảo một cách đầy đủ và chính xác

TÁC GIẢ

Hoàng Min Tuấn

Trang 4

- IMAA: (Institude for Mergers, Acquisition and Alliances) Viện hợp nhất,

mua lại và liên kết

- MAF: (Vietnam M&A Forum) Diễn đàn mua bán và sáp nhập Việt Nam

- M&A: (Mergers and Acquisition) Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

- NXB: Nhà xuất bản

- USD: ( nited States Dollar) ô-la Mỹ

Trang 5

- Đồ thị 1: Tổng giá trị giao dịch M&A tại Việt Nam từ năm 1999 – 2015

(Nguồn: IMMA)

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng biểu, hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU 1

C ương 1 NHỮNG VẤN Ề CHUNG VỀ THẨM ỊN P ÁP LÝ SẢN TRONG HO ỘN M BÁN V SÁP N ẬP DOANH NGHIỆP 8

1.1 Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 8

1.1.1 Khái niệm 8

1.1.2 Phân loại giao dịch mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 10

1.1.2.1 Theo quan hệ trong dây chuyền sản xuất, kinh doanh 10

1.1.2.2 Theo phạm vi lãnh thổ 12

1.1.2.3 heo động cơ 12

1.1.2.4 heo phương thức thực hiện 12

1.1.3 ộng lực của mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 13

1.1.4 ác giai đoạn của giao dịch mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 15

1.1.4.1 ìm kiếm, lựa chọn đối tác 15

1.1.4.2 Thẩm định đầu tư 16

1.1.4.3 àm phán, ký kết hợp đồng 17

1.1.4.4 Thực hiện hợp đồng 18

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 18

1.2 Thẩm định pháp lý tài sản trong hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 20

Trang 7

1.2.3 Quy trình thẩm định pháp lý tài sản 25

1.2.3.1 hành lập nhóm thẩm định pháp lý 26

1.2.3.2 Chuẩn bị các nội dung, câu hỏi quan trọng cần được giải đáp 26

1.2.3.3 Tiến hành thu thập thông tin, làm việc trực tiếp để giải đáp các thắc mắc, làm rõ các vấn đề 27

1.2.3.4 ưa ra báo cáo thẩm định pháp lý 28

1.2.4 Vai trò, ý nghĩa của thẩm định pháp lý tài sản đối với hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 29

C ương 2 THẨM ỊN P ÁP LÝ Á LO SẢN TRONG HO ỘN M BÁN V SÁP N ẬP DOANH NGHIỆP T I VIỆT NAM 31

2.1 Bất động sản 32

2.1.1 ất đai 35

2.1.2 Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai 37

2.2 Giấy tờ có giá 41

2.3 ài sản trí tuệ 43

2.3.1 Quyền tác giả 45

2.3.2 Quyền sở hữu công nghiệp 47

2.3.3 Quyền đối với giống cây trồng 48

2.4 Quyền đòi nợ 49

2.5 ác thỏa thuận, hợp đồng 51

2.6 ộng sản 55

ẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM HẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

Mua bán, sáp nhập hay còn gọi là M&A (Mergers and Acquisition),

trong đó mua lại doanh nghiệp được hiểu là hoạt động nhằm sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp khác với mục đích dành quyền chi phối doanh nghiệp ở một mức độ nhất định, còn sáp nhập doanh nghiệp được hiểu

là việc một hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình sang doanh nghiệp khác để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp cũ

Tại Việt Nam, khoảng thời gian từ năm 2003 - 2013 từng được xem là

“làn sóng M&A thứ nhất” khi ghi nhận một quá trình hình thành và phát triển mạnh mẽ của hoạt động M&A Một thị trường M&A đang hoàn thiện và phát triển cộng với các cơ hội từ dòng vốn ngoại, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, hoàn thiện hơn về hành lang pháp lý,… khiến giai đoạn 2014 – 2018 được kỳ vọng sẽ là “làn sóng M&A thứ hai” của Việt Nam1

Theo số liệu của Stoxplus, trong năm 2014 tại Việt Nam đã ghi nhận 265 giao dịch mua bán, sáp nhập được thực hiện thành công với tổng giá trị 4.66 tỷ USD, trong đó nổi bật là các thương vụ như Metro Cash & Carry Việt Nam được nhượng lại cho Tập đoàn Berli Jucker (BJC), chuỗi siêu thị OceanMart được sang tay cho VinGroup, hay gần đây nhất là Kinh Đô bán lại 80% cổ phần mảng kinh doanh bánh kẹo cho Tập đoàn Mondelez International,… Tổng giá trị M&A tăng 33.1% so với năm 2013 và được dự báo sẽ còn tăng nhanh trong các năm tiếp theo

“Nhìn chung, trong nền kinh tế thị trường, hoạt động hợp nhất, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp là hoạt động bình thường diễn ra giữa các chủ thể

1 Diễn đàn M&A Việt Nam (2014), “Báo cáo hoạt động M&A Việt Nam 2013 và triển vọng 2014 - 2018”, Hà Nội.

Trang 9

cả trong và ngoài nước ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Đứng trước

cơ hội thương mại lớn từ những Hiệp định kinh tế và thương mại như TPP và các FTA, doanh nghiệp càng có thêm động lực để đẩy nhanh các hoạt động hợp nhất, sáp nhập hoặc mua lại để tăng sức mạnh cạnh tranh của mình.”2

Bảng 1: Một số thương vụ M&A tiêu biểu năm 2014 (Nguồn IMAA) 3

Bên cạnh sự tăng trưởng khá nhanh về mặt số lượng, một hiện tượng đáng lo ngại là sự xuất hiện các thương vụ M&A không thành công mà nổi

2

Trương Đình Tuyển, Andras Lakatos, Đinh Văn Thành, Phạm Nguyên Minh, Trần Thị Thu Phương (2015), “Báo cáo phát triển thương mại trên thị trường trong nước năm 2014”, Hà Nội.

3

Thành Long (2015), “Nhìn lại hoạt động M&A 2014 và xu hướng 2015”, [http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/nhin-lai-hoat-dong-ma-2014-va-xu-huong- 2015-20150128160356231.chn], (Truy cập ngày 23/5/2016).

Trang 10

bật là các thương vụ như: FPT mua cổ phần của EVN Telecom, Bibica – Lotte, Deutsche Bank trở thành đối tác chiến lược nước ngoài của Habubank, Vietnam Airlines tiếp nhận Jetstar Pacific và là đại diện vốn Nhà nước thay thế cho SCIC,…4 Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của một giao dịch M&A như: Thiếu sự tìm hiểu kỹ càng về đối tác; chưa vạch ra được chiến lược, mục tiêu cụ thể trước khi tiến hành giao dịch; không phân phối rủi

ro hợp lý hoặc vì một số lý do nào đó, quá khó để kết hợp hai Công ty sau khi thực hiện giao dịch,… trong đó thiếu sự tìm hiểu và chuẩn bị kỹ càng là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất Sự thất bại của một giao dịch M&A có thể dẫn đến hệ quả là không tạo ra được các giá trị mong muốn cho

cổ đông, hay dẫn đến kiện tụng kéo dài gây tổn thất cho cả hai bên

Để hạn chế một cách tối đa những nguyên nhân nói trên, các bên tham gia giao dịch M&A đặc biệt là Bên mua cần nắm rõ những thông tin về đối tác của mình nhằm dự liệu các rủi ro có thể xảy ra, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp cho giao dịch Đó là lý do mà các bên cần chuẩn bị kỹ lưỡng cho quá trình thẩm định đầu tư (Due Diligence) nhằm xem xét, đánh giá một cách toàn diện về pháp lý, tài chính và chiến lược tất cả những thông tin về đối tác trước khi bắt tay vào thực hiện giao dịch Đây có thể xem là một cuộc kiểm tra thực tế về những giá trị cũng như những yếu tố nền tảng của giao dịch nhằm lường trước và loại bỏ một cách tối đa những rủi ro tiềm ẩn có thể mắc phải, dẫn đến việc giao dịch không thành công

Quá trình thẩm định đầu tư thường được tiến hành theo hai hướng: Thẩm định tài chính và chiến lược (hay còn gọi là thẩm định thương mại –

4

Diễn đàn M&A Việt Nam, (2013), “10 thương vụ M&A không thành công”,

[http://maf.vn/10-thuong-vu-ma-khong-thanh-cong.html], (Truy cập ngày 25/5/2016)

Trang 11

Commercial Due Dilligence), thường do đội ngũ nhân sự về tài chính, thương mại của doanh nghiệp phụ trách; và thẩm định pháp lý (Legal Due Diligence), thường do đội ngũ cố vấn pháp lý thực hiện Đối với thẩm định pháp lý, nội dung thẩm định thường bao gồm: thẩm định pháp lý các vấn đề về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp; các vấn đề về lao động, việc làm; tài sản và quyền sở hữu; các vấn đề về tài chính và các nội dung khác Trong đó thẩm định pháp lý các vấn đề liên quan đến tài sản của doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng bởi nội dung này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị giao dịch mà còn liên quan đến khả năng đạt được những mục đích mà Bên mua mong muốn khi thực hiện giao dịch M&A Đây là một nội dung thẩm định tương đối phức tạp bởi nhiều loại tài sản là đối tượng chuyển giao trong giao dịch M&A là các loại tài sản đặc thù, chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung phân tích về quá trình thẩm định pháp lý đối với tài sản để làm rõ các vấn đề, khía cạnh cần quan tâm về mặt pháp lý nhằm đảm bảo cho sự thành công của giao dịch M&A, đặc biệt là những vấn đề pháp lý tiềm ẩn và các vấn

đề có thể cản trở giao dịch có liên quan đến tài sản Nắm được những nội dung này, các doanh nghiệp sẽ có được cái nhìn bao quát hơn về đối tượng là tài sản hướng đến trong giao dịch, xác định được một cách cụ thể các rủi ro pháp lý, từ đó đưa ra quyết định đầu tư một cách hợp lý nhằm đạt được mục đích của giao dịch

Tình hình nghiên cứu và lý do nghiên cứu:

Theo tìm hiểu của tác giả, các đề tài nghiên cứu có liên quan đến mua bán & sáp nhập doanh nghiệp được thực hiện tương đối nhiều, tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở khía cạnh kinh tế của hoạt động mua bán & sáp nhập, hoặc nghiên cứu ở góc độ pháp lý nhưng có phạm vi nghiên cứu

Trang 12

tương đối rộng và chưa có nhiều đề tài đi sâu phân tích về hoạt động thẩm định pháp lý tài sản trong hoạt động mua bán & sáp nhập doanh nghiệp Các nghiên cứu nổi bật có liên quan đến thẩm định pháp lý trong hoạt động sáp nhập doanh nghiệp mà tác giả có thể tiếp cận ở trong nước như:

- Sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam – Phạm Trí Hùng &

Đặng Thế Đức – NXB Lao Động – Xã Hội: Đây là công trình nghiên cứu cung cấp những kiến thức cơ bản về Mua bán & sáp nhập, trong đó cũng có

đề cập đến quá trình chuẩn bị cho việc thẩm định doanh nghiệp Tuy nhiên cuốn sách chỉ mới dừng lại ở việc cung cấp một cái nhìn sơ bộ về hình thức của quá trình thẩm định cũng như các kỹ năng của người tham gia thẩm định, hướng dẫn dành cho Bên bán mà thiếu đi sự nghiên cứu một cách tường tận, sâu sắc về bản chất pháp lý của quá trình này cũng như những lưu ý đặc biệt liên quan đến việc thẩm định pháp lý tài sản;

- Mua lại và sáp nhập từ A – Z – Andrew J.Sherman & Milledge A.Hart – NXB Tri Thức (Bản dịch): Công trình nghiên cứu cung cấp những kiến thức

cơ bản đến những kỹ thuật nâng cao được sử dụng trong giao dịch Mua bán & sáp nhập, trong đó có quá trình thẩm định pháp lý Tuy nhiên việc nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở những vấn đề về hình thức của quá trình thẩm định mà chưa đi vào phân tích, làm rõ bản chất của quá trình này, đặc biệt là quá trình thẩm định pháp lý đối với tài sản

Ngoài ra còn một số các nghiên cứu khác có liên quan như cuốn “M&A căn bản” của Michael E S Frankel (2005), các bài viết của các tác giả trong nước có thể tìm kiếm qua diễn đàn Mua bán và sáp nhập Việt Nam - Vietnam M&A forum (MAF) và các phương tiện truyền thông,… tuy nhiên nội dung vẫn chưa đi sâu vào phân tích quá trình thẩm định pháp lý tài sản trong giao dịch mua bán & sáp nhập doanh nghiệp

Trang 13

Để khắc phục những hạn chế và tiếp tục phát triển những nghiên cứu trên, tác giả sẽ có những tìm tòi, nghiên cứu sâu sắc hơn không những về hình thức của quá trình thẩm định pháp lý đối với tài sản trong giao dịch M&A mà còn phân tích, đánh giá bản chất của các bước trong quá trình thẩm định nhằm làm rõ vấn đề, giúp người đọc hiểu được tầm quan trọng của quá trình này, đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của quá trình thẩm định

Tính cấp thiết của đề tài:

Với số lượng giao dịch tăng và thị trường giao dịch M&A diễn biến cực kỳ sôi động trong thời gian gần đây, thẩm định pháp lý nói chung và thẩm định pháp lý tài sản nói riêng trở thành một bước rất quan trọng đối với các doanh nghiệp khi quyết định thực hiện giao dịch Không trải qua một quy trình thẩm định pháp lý tài sản đầy đủ, doanh nghiệp có thể phải gánh chịu những rủi ro và thiệt hại rất lớn phát sinh từ các loại tài sản là đối tượng của giao dịch sau khi tiến hành tiếp nhận Có thể khẳng định rằng thẩm định pháp

lý tài sản là một giai đoạn không thể thiếu trong thương vụ M&A Chính vì vậy mà việc nghiên cứu về quá trình thẩm định này có tính cấp thiết nhằm tăng cường hiểu biết của doanh nghiệp và đảm bảo cho thị trường giao dịch M&A hoạt động một cách hiệu quả, cũng như hạn chế số lượng giao dịch đổ

vỡ do thiếu thông tin trong thời gian tới

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề liên quan đến quá trình thẩm định pháp lý với đối tượng là tài sản của doanh nghiệp khi thực hiện giao dịch M&A đặc biệt là quá trình thẩm định được tiến hành bởi Bên

Trang 14

mua, với phạm vi tập trung nghiên cứu giới hạn trong các giao dịch diễn ra tại Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam

Mục đích nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện nhằm mục đích cung cấp kiến thức, mở ra cái nhìn cụ thể hơn cho người đọc về quá trình thẩm định pháp lý tài sản trong giao dịch mua bán và sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam Giúp người đọc không chỉ biết về hình thức mà còn thấu hiểu bản chất, hiểu rõ các lý do, tầm quan trọng của việc thẩm định pháp lý đối với tài sản của doanh nghiệp trước khi tiến hành giao dịch M&A, qua đó có sự chuẩn bị tốt nhất để đảm bảo cho

sự thành công của giao dịch

Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài, tác giả tiến hành nghiên cứu dựa trên tổng hợp, phân tích các nội dung về lý thuyết kết hợp tìm tòi, nghiên cứu thực tiễn hoạt động thẩm định pháp lý tài sản trong giao dịch M&A để làm rõ vấn đề Bên cạnh việc giúp người đọc tiếp cận các lý thuyết cơ bản về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp, lý thuyết về quá trình thẩm định pháp lý nói chung và thẩm định pháp lý tài sản nói riêng trong hoạt động mua bán và sáp nhập, luận văn còn làm sáng tỏ các vấn đề mấu chốt liên quan đến quá trình thẩm định tài sản trong giao dịch M&A thông qua việc phân tích mối liên hệ giữa các bước thực hiện thẩm định với các quy định hiện hành của pháp luật nhằm thực hiện tốt mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 15

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH PHÁP LÝ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP

1.1 Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm

“Mua bán và sáp nhập” (hay còn gọi là “mua lại và sáp nhập” hoặc

“thâu tóm và hợp nhất”) viết tắt là M&A, là một hoạt động đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của các nền kinh tế trên thế giới, là con đường chính để các Công ty mang lại lợi ích cho các chủ sở hữu và nhà đầu tư Mặc

dù hai khái niệm sáp nhập và mua lại doanh nghiệp có phần mơ hồ và thường được sử dụng để thay thế cho nhau, tuy nhiên để hiểu rõ về bản chất của M&A thì việc phân biệt hai khái niệm này là rất quan trọng Theo định nghĩa

mà Andrew J Sherman và Milledge A Hart đưa ra trong cuốn “Mua lại và sáp nhập từ A đến Z” thì sáp nhập “là sự kết hợp của hai hay nhiều Công ty, trong đó có tài sản và trách nhiệm pháp lý của (những) Công ty được Công ty khác tiếp nhận Mặc dù, hãng mua lại có thể làm một tổ chức khác đi rất nhiều sau quá trình mua lại, nhưng nó vẫn là thực thể ban đầu.”5 Mua lại được định nghĩa “là quá trình mua lại tài sản như máy móc, một bộ phận hay thậm chí toàn bộ Công ty.”6

Nếu chỉ nhìn bề nổi thì hai khái niệm này không mang nhiều ý nghĩa vì kết quả cuối cùng thường là sự thống nhất, kết hợp giữa hai hay nhiều doanh nghiệp về mục tiêu, chiến lược, tài chính,… Tuy nhiên về bản chất vẫn có những sự khác nhau nhất định, đặc biệt là về vị thế của các bên tham gia giao

Trang 16

dịch M&A sau khi hoàn thành thương vụ Nếu vị thế của các bên sau khi thực hiện sáp nhập thường tương đối ngang hàng thì vị thế của các bên khi hoàn thành một giao dịch mua lại thường có sự chênh lệch rõ rệt, trong đó ưu thế thường thuộc về Bên mua lại Ngoài ra trong một giao dịch mua lại, có thể không có sự kết hợp giữa Công ty bán và Công ty mua mà hai Công ty này vẫn có thể tồn tại độc lập (giao dịch mua cổ phần), Công ty bán lúc này có thể được Bên mua sử dụng như một đại lý hoặc một bộ phận mới

Pháp luật Việt Nam hiện chưa có những quy định thống nhất về hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp năm 2014 không có quy định cụ thể về mua, bán doanh nghiệp mà chỉ quy định về “sáp

nhập doanh nghiệp” như sau: “Một hoặc một số Công ty (sau đây gọi là Công

ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một Công ty khác (sau đây gọi là Công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang Công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của Công ty bị sáp nhập.”7

Một khái niệm liên quan khác là “hợp nhất doanh nghiệp” được Luật

Doanh nghiệp quy định: “Hai hoặc một số Công ty (sau đây gọi là Công ty bị

hợp nhất) có thể hợp nhất thành một Công ty mới (sau đây gọi là Công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các Công ty bị hợp nhất.”8

Có cách tiếp cận tương đồng với Luật Doanh nghiệp về các khái niệm

có liên quan đến M&A, tuy nhiên đối tượng điều chỉnh của luật Cạnh tranh lại

là “doanh nghiệp” thay vì “Công ty” Theo Luật Cạnh tranh năm 2004, M&A được nhìn nhận dưới góc độ là hành vi tập trung kinh tế Các hành vi M&A được xem là tập trung kinh tế bao gồm: Sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất

7 Khoản 1, Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2014.

8 Khoản 1, Điều 194 Luật Doanh nghiệp 2014.

Trang 17

doanh nghiệp và mua lại doanh nghiệp, lần được được quy định cụ thể như

sau:

“1 Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập

2 Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp

bị hợp nhất.”

3 Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại.”9

Như vậy, khái niệm “mua bán và sáp nhập doanh nghiệp” theo các quy định của pháp luật Việt Nam được chia tách thành những khái niệm riêng biệt, chỉ mới dừng lại ở việc xác lập hình thức mà hầu như chưa đề cập đến nội dung của hoạt động M&A

1.1.2 Phân loại giao dịch mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

Có nhiều cách để phân loại các giao dịch M&A, trong đó thông dụng nhất là phân loại theo quan hệ trong dây chuyền sản xuất kinh doanh, theo phạm vi lãnh thổ, theo động cơ và theo phương thức thực hiện:

1.1.2.1 Theo quan hệ trong dây chuyền sản xuất, kinh doanh:

9 Điều 17 Luật Cạnh tranh năm 2004.

Trang 18

- M&A theo chiều ngang (Horizontal Merger): là hình thức M&A

giữa các doanh nghiệp cùng kinh doanh và cạnh tranh trực tiếp trên cùng dòng sản phẩm/dịch vụ trên cùng một thị trường (ví dụ như một ngân hàng mua lại một ngân hàng khác) Kết quả từ việc mua bán, sáp nhập theo hình thức này sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích như cơ hội mở rộng thị trường, giảm đối thủ cạnh tranh, tăng hiệu quả trong việc kết hợp thương hiệu, mở rộng hệ thống phân phối, tận dụng các nguồn lực,…

- M&A theo chiều dọc (Vertical Merger): là hình thức M&A giữa

các doanh nghiệp tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất

và tiếp cận thị trường Sự sáp nhập này tạo ra giá trị thông qua việc tận dụng kinh nghiệm và khả năng của các Công ty trong một chuỗi nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng Hoạt động sáp nhập theo chiều dọc thường đem lại cho doanh nghiệp tiến hành sáp nhập nhiều lợi ích như đảm bảo và kiểm soát được chất lượng nguyên vật liệu hoặc đầu ra của sản phẩm, giảm chi phí trung gian, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa,… M&A theo chiều dọc được phân chia thành hai hướng: M&A tiến (forward) khi một doanh nghiệp mua lại doanh nghiệp là khách hàng của mình (ví dụ một Công ty sản xuất giày dép mua lại doanh nghiệp phân phối giày dép của mình); và M&A lùi (backward) khi một doanh nghiệp mua lại doanh nghiệp là nhà cung ứng của mình (ví dụ doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản mua lại doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản)

- M&A theo kiểu kết hợp (Conglomerate Merger): là hình thức

M&A diễn ra giữa các Công ty khác nhau về lĩnh vực kinh doanh từ đó hình thành các tập đoàn lớn, hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau và không làm ảnh hưởng đến mức độ tập trung theo ngành nghề của thị trường M&A theo kiểu tập đoàn giúp giảm thiểu rủi ro kinh doanh nhờ đa dạng hóa và phân bổ

Trang 19

rủi ro vào các lĩnh vực kinh doanh, tiết kiệm chi phí gia nhập thị trường, đạt được lợi nhuận nhờ có nhiều sản phẩm dịch vụ,…

1.1.2.2 Theo phạm vi lãnh thổ

- M&A nội địa (Domestic M&A): là hình thức M&A được thực hiện

giữa các doanh nghiệp trên cùng một lãnh thổ quốc gia, không có sự trao đổi hoặc kết hợp tài sản bên ngoài lãnh thổ

- M&A xuyên biên giới (Outbound M&A): là hình thức M&A được

thực hiện giữa các doanh nghiệp trên nhiều lãnh thổ quốc gia, có sự trao đổi hoặc kết hợp tài sản giữa các doanh nghiệp trên các lãnh thổ quốc gia khác nhau Đây là hình thức phức tạp hơn so với M&A nội địa bởi có sự khác nhau giữa pháp luật, thông lệ, môi trường kinh tế, chính trị,… giữa các quốc gia

1.1.2.3 Theo động cơ

- M&A thân thiện (Friendly Takeover): là hình thức M&A trong đó

các doanh nghiệp tham gia sáp nhập đạt được sự đồng thuận và ủng hộ việc thực hiện giao dịch Đây là loại giao dịch thường xuất phát từ lợi ích chung của các Bên

- M&A thù nghịch (Hostile Takeover): là hình thức M&A trong đó

doanh nghiệp mục tiêu không có sự đồng thuận trong việc thực hiện giao dịch

và tiến hành các hoạt động nhằm chống lại việc thâu tóm, mua lại từ doanh nghiệp đi mua, bởi việc thực hiện giao dịch có thể đem lại các tác động tiêu cực cho Công ty mục tiêu

1.1.2.4 Theo phương thức thực hiện:

- M&A thông qua mua lại cổ phần (hay thu gom cổ phiếu): là hình

thức M&A trong đó doanh nghiệp có ý định sáp nhập và mua lại sẽ tìm cách

Trang 20

mua lại các cổ phiếu của doanh nghiệp mục tiêu thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, hoặc mua lại cổ phiếu của các cổ đông hiện hữu nhằm trở thành cổ đông lớn và dành quyền chi phối doanh nghiệp đó

- M&A thông qua mua lại tài sản: là hình thức M&A trong đó doanh

nghiệp tiến hành mua lại toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp mục tiêu Phương thức này thường áp dụng để mua lại các doanh nghiệp nhỏ, thực chất là nhắm đến các tài sản như cơ sở sản xuất, nhà xưởng máy móc, dây chuyền công nghệ, hệ thống cửa hàng phân phối,… đang thuộc sở hữu của doanh nghiệp mục tiêu

Ngoài ra còn có thể phân loại giao dịch M&A thông qua các phương thức thực hiện giao dịch khác như phương thức chào thầu, lôi kéo cổ đông bất mãn, thương lượng giữa các Ban quản trị,…

1.1.3 Động lực của mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

Rất khó có thể hiểu và thực hiện một giao dịch M&A mà không có sự thấu hiểu về động lực thúc đẩy các bên thực hiện giao dịch Các bên tham gia thực hiện giao dịch M&A thường có những động cơ nhất định Đó có thể là việc hướng tới những lợi ích về kinh tế, tái cơ cấu tổ chức, cạnh tranh hay đơn giản là tăng cường sự hiện diện của mình trên thị trường,…

Đối với Bên mua, việc quyết định thực hiện một giao dịch M&A có thể được thúc đẩy bởi các động lực sau đây:

- Nhu cầu giành chỗ đứng trên một thị trường mới (thị trường mới ở đây có thể là mới về mặt địa lý hoặc mới về lĩnh vực ngành nghề kinh doanh): M&A là cách hiệu quả và nhanh chóng nhất để một doanh nghiệp có thể xâm nhập vào một thị trường mới, mở rộng phạm vi kinh doanh hoặc dây chuyền sản xuất, cung ứng hàng hóa của mình;

Trang 21

- Nhu cầu tiếp cận các nguồn lực từ Công ty bán: Các nguồn lực ở đây

có thể là nguồn lực về nguồn nhân lực, về quy mô của dây chuyền sản xuất, thừa hưởng các công nghệ sẵn có,… của doanh nghiệp Việc tiếp cận các nguồn lực này thông qua hoạt động M&A thường tốn ít thời gian và công sức hơn so với việc khởi tạo lại từ đầu;

- Mong muốn tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: Việc thực hiện thành công một giao dịch M&A có thể giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô, đa dạng hóa và cải thiện chất lượng sản phẩm, chiếm thêm thị phần,… tất cả những lợi ích này đều góp phần tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường;

- Tăng doanh thu, giảm chi phí: Việc có được một doanh nghiệp thông qua một giao dịch M&A hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận nhanh chóng, đồng thời cũng ít tốn kém hơn so với việc tự mở rộng quy mô theo cách thông thường, đạt được hiệu quả kinh tế mong muốn;

- Các động lực khác như áp lực phát triển từ phía cổ đông, nhà đầu tư hoặc phải tận dụng tối đa được các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp

Còn đối với Bên bán, quyết định bán doanh nghiệp thường xuất phát bởi các động lực:

- Sự từ bỏ của chủ sở hữu: Khi chủ sở hữu không còn mong muốn sở hữu doanh nghiệp của mình hoặc muốn từ bỏ vì một lý do nào đó thì việc bán doanh nghiệp là một sự lựa chọn;

- Sự suy yếu của doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng như thiếu vốn, không thể đa dạng hóa sản phẩm hay mở rộng thị trường, không có khả năng cạnh tranh hoặc gặp phải các vấn đề dẫn đến thất bại trong kinh doanh,… chủ sở hữu có thể nghĩ đến việc bán doanh nghiệp như một cách để thu hồi vốn;

Trang 22

- Cắt giảm chi phí: Việc tối ưu hóa nguồn lực thông qua giao dịch M&A sẽ giúp Bên bán có thể cắt giảm các chi phí không cần thiết, chưa phù hợp với quy mô của mình;

- Tiếp cận các nguồn lực của Công ty mua: Các nguồn lực này thường

là nguồn lực lớn hơn về công nghệ, khả năng quản trị, lao động chất lượng cao, tài chính vững mạnh,…

1.1.4 Các giai đoạn của giao dịch mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

Việc thực hiện một giao dịch M&A thông thường phải trải qua các giai đoạn cơ bản như sau:

1.1.4.1 Tìm kiếm, lựa chọn đối tác:

Đây là giai đoạn gắn liền với mục tiêu của doanh nghiệp khi thực hiện giao dịch M&A Việc xác định đối tác có thể thực hiện thông qua một kế hoạch mua lại, trong đó xác định rõ những đối tượng cần giao dịch và những tiêu chuẩn cần áp dụng trong việc phân tích các mục tiêu tiềm năng, khả năng tận dụng các lợi thế để đạt được mục tiêu,…

Một vài lợi thế mang tính chiến lược mà doanh nghiệp có thể được cân nhắc để lựa chọn được đối tác phù hợp như:

- Mở rộng được thị trường mới (việc mua lại một doanh nghiệp với thị phần có sẵn có thể sẽ tiết kiệm chi phí hơn nhiều so với việc xâm nhập thị trường từ đầu);

- Có thêm nguồn lực về nhân lực, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, marketing và phân phân phối sản phẩm để có thể hiệp trợ với hoạt động của doanh nghiệp;

Trang 23

- Có thêm được máy móc, dây chuyền sản xuất mới hay quy mô sản xuất hoặc tận dụng khai thác các tài sản không được sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả của đối tác nhằm phát triển sản xuất;

- Ổn định doanh thu và giảm rủi ro kinh doanh bằng việc đa dạng hóa sản phẩm;…

Để có được một danh sách những đối tác tiềm năng, Bên mua có thể tiến hành tìm hiểu thông qua môi giới đầu tư hoặc thu thập thông tin bằng chính đội ngũ của mình

1.1.4.2 Thẩm định đầu tư:

Mặc dù chưa có một định nghĩa cụ thể nào về quá trình thẩm định đầu

tư (hay còn gọi là “rà soát đặc biệt”, “thẩm định chi tiết”,…), tuy nhiên quá trình này thường bao gồm việc đặt ra những câu hỏi, các vấn đề chưa rõ ràng, tiến hành điều tra và đánh giá các yếu tố khác nhau của một Công ty (thông thường được thực hiện bởi Bên mua trong giao dịch M&A) Quá trình này cho phép Bên mua tìm kiếm rõ hơn về mục tiêu mà họ đang hướng tới cũng như những điều chưa chắc chắn xung quanh một giao dịch

“Thẩm định chi tiết giống như việc kiểm tra bản in cuối của một hợp đồng, hay là việc kiểm tra một chiếc máy tính để chắc chắn nó vẫn hoạt động tốt trước khi mua nó.” 10

Thẩm định đầu tư giúp đánh giá một cách toàn diện về pháp lý, tài chính và chiến lược tất cả những thông tin về đối tác đồng thời đưa ra những khuyến nghị cần thiết trước khi bắt tay vào thực hiện giao dịch Đây có thể xem là một cuộc kiểm tra thực tế về những giá trị cũng như những yếu tố nền

10 Michael E S Frankel (2005), “M&A căn bản”, Minh Khôi – Xuyến Chi dịch, NXB Tri thức, Hà Nội, tr 221.

Trang 24

tảng của giao dịch nhằm lường trước và loại bỏ một cách tối đa những rủi ro tiềm ẩn có thể mắc phải, dẫn đến việc giao dịch không thành công

Quá trình thẩm định đầu tư thường được tiến hành theo hai hướng: Thẩm định tài chính – kinh doanh, thường do đội ngũ nhân sự về tài chính, thương mại của doanh nghiệp phụ trách; và thẩm định Pháp lý, thường do đội ngũ Luật sư, chuyên gia, cố vấn pháp lý thực hiện

1.1.4.3 Đàm phán, ký kết hợp đồng:

Các thông tin thu thập được trong giai đoạn thẩm định đầu tư doanh nghiệp sẽ được xử lý để các bên quyết định có thực hiện giao dịch M&A hay không Nếu quyết định thực hiện, bước tiếp theo là đàm phán giá và các điều khoản của hợp đồng M&A

Đàm phán hợp đồng có thể thực hiện tại bất cứ giai đoạn nào, thông thường các bên chỉ chính thức tiến hành đàm phán khi đã có được một lượng thông tin nhất định về đối tác cũng như hiểu được mục đích của nhau Khi tiến hành đàm phán, việc tìm hiểu mục đích, động lực của các bên tham gia có

ý nghĩa rất quan trọng, đôi khi quyết định thành công của thương vụ M&A Một xu hướng chung có thể nhận thấy là các bên đều muốn gia tăng tối đa các lợi ích và hạn chế tối đa những yếu tố bất lợi như những tác động tiêu cực của

sự phát triển, các khó khăn nội bộ của doanh nghiệp, những rủi ro chung, Thông thường, người mua luôn cố gắng tìm hiểu động lực nào để người bán muốn bán doanh nghiệp của mình Việc hiểu rõ động lực của người bán sẽ giúp cho người mua có kế hoạch đàm phán hợp lý, tận dụng được các cơ hội

và phát hiện được các rủi ro cũng như điểm yếu cần khắc phục

Quá trình đàm phán dẫn đến kết quả đó chính là thỏa thuận và hợp đồng giao dịch M&A được giao kết giữa các bên Quá trình này rất quan

Trang 25

trọng đối với giao dịch M&A, nếu hợp đồng M&A không phản ánh đầy đủ và chính xác kết quả của những công việc trước đó mà các bên đã tiến hành, những mong muốn và kỳ vọng của các bên hay hạn chế được tối đa các rủi ro

có thể gặp phải thì những công việc đã thực hiện sẽ không có giá trị hoặc giảm giá trị đi rất nhiều, ngoài ra thì mục đích ban đầu của các bên có thể sẽ không đạt được

Giao kết hợp đồng là giai đoạn cuối cùng của quá trình giao dịch M&A Khi đó, các Bên tham gia vào giao dịch đã có được những hiểu biết cũng như lượng thông tin tương đối đầy đủ về đối tác, đồng thời đã có thể đánh giá được một cách tổng quan về các rủi ro, lợi ích mà mình có thể đạt được nếu quyết định tiến hành giao dịch Xuất phát từ sự thấu hiểu đó, hợp đồng sẽ là sự thể hiện và ghi nhận một cách đầy đủ những cam kết của các bên đối với giao dịch

1.1.4.4 Thực hiện hợp đồng:

Thực hiện hợp đồng bao gồm việc triển khai các cam kết, nghĩa vụ của các bên đã được giao kết trong hợp đồng như thanh toán tiền, thực hiện các giao dịch, triển khai các hoạt động hỗ trợ đối tác,… Tùy vào mức độ phức tạp của giao dịch cũng như các giao kết của các bên trong hợp đồng, giai đoạn thực hiện hợp đồng có thể diễn ra nhanh chóng hoặc kéo dài tùy vào từng trường hợp Các Bên cần phải có những dự liệu chính xác về các vướng mắc

và rủi ro có thể gặp phải trong quá trình thực hiện hợp đồng để tránh dẫn tới

sự vi phạm hợp đồng của một hoặc hai bên, dẫn đến kéo dài hoặc làm giao dịch thất bại

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

Trang 26

Theo số liệu từ Viện hợp nhất, mua lại và liên kết (IMMA) có trụ sở tại

Áo và chi nhánh tại Thụy Sỹ, Việt Nam, số lượng các thương vụ M&A tại Việt Nam trong năm 2015 đạt mức 4,3 tỷ USD, cao hơn 40% so với năm

2014 và vượt mốc kỷ lục vào thời điểm năm 2012 là 4,2 tỷ USD11

(đồ thị 1), đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng của nền kinh tế

Đồ thị 1: Tổng giá trị giao dịch M&A tại Việt Nam từ năm 1999 – 2015

11 IMAA, “Vietnam may see record number of M&A deals in 2016”, institute.org/vietnam-may-see-record-number-of-m-and-a-deals-in-2016], (Truy cập ngày 23/5/2016)

Trang 27

[https://imaa-“Mua lại và sáp nhập đóng rất nhiều vai trò trong tiến trình lịch sử của các tập đoàn, từ những tập đoàn với phương châm “tham lam là tốt”, mua lại các Công ty với một phương thức thù địch rồi đập tan nó, đến khuynh hướng của ngày nay là sử dụng sáp nhập và mua lại nhằm mục đích tăng trưởng ngoại ứng và thống nhất nền công nghiệp.” 12

Đối với Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, M&A cũng được xem là con đường ngắn nhất để thu hút vốn nước ngoài của các doanh nghiệp Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và thị trường M&A có mối quan hệ mật thiết với nhau: việc thiết lập và vận hành, phát triển một thị trường M&A tốt sẽ là cơ sở để thu hút FDI, tạo điều kiện cho các nguồn vốn này có thể tiếp cận nhanh nhất với thị trường thông qua các giao dịch

1.2 Thẩm định pháp lý tài sản trong hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

1.2.1 Tài sản trong giao dịch mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, khái niệm “tài sản” được hiểu bao gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”13 Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung khái niệm này như sau: “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”14 Theo đó, tài sản được phân chia thành nhiều loại như: bất động sản và động sản; vật chính và vật phụ; vật chia được và không chia được; hoa lợi, lợi tức; quyền tài sản;…

12 Andrew J Sherman và Milledge A Hart (2006), “Mua lại và sáp nhập từ A đến Z”, Trần Thạch Vũ dịch, NXB Tri thức, Hà Nội, tr 14.

13 Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005.

14 Khoản 2, Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trang 28

Trong giao dịch M&A, đối tượng là tài sản mà doanh nghiệp hướng đến trong quá trình thực hiện giao dịch thường là các tài sản mà doanh nghiệp mục tiêu đang sở hữu hoặc quản lý Các tài sản đó có thể là các tài sản hữu hình như đất đai, nhà cửa, xe hơi, dây chuyền sản xuất, máy móc,… đến các tài sản vô hình như tài sản trí tuệ, các quyền khác có thể định giá được bằng tiền,… Nhiều loại tài sản có thể là đối tượng của giao dịch M&A, tuy nhiên các loại tài sản quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, tính chất giao dịch thường rơi vào các nhóm sau đây:

- Bất động sản:

Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng và tài sản khác theo quy định của pháp luật15

- Giấy tờ có giá:

Theo quy định của Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2016, giấy

tờ có giá được định nghĩa là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác16

Căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành thì giấy tờ có giá bao gồm các loại giấy tờ như sau17:

“a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;

15

Khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015.

16 Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010

17 Hướng dẫn bởi Công văn 141/TANDTC-KHXX năm 2011.

Trang 29

b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;

c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật quản lý nợ công năm 2009;

d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010);

đ) Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp” 18 …”

- Tài sản trí tuệ:

Tài sản trí tuệ được hiểu một cách thông dụng là toàn bộ các tài sản được hình thành từ hoạt động trí tuệ của con người Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam phân chia các loại tài sản trí tuệ thành các đối tượng bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Các quyền này thường được gắn liền với các chủ thể như các tác phẩm văn học, nghệ thuật, nghiên cứu khoa học; các sáng chế; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu; thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; tên thương mại; bí mật kinh doanh; giống cây trồng;… “Ngoài

18 Đã được thay thế bới Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp”.

Trang 30

các đặc tính chung như các dạng tài sản vô hình khác, các tài sản trí tuệ lại có các đặc tính riêng, đó là tính sáng tạo và đổi mới (là một đối tượng mới được tạo ra hoặc là một đối tượng đã có nhưng được bổ sung cái mới)”19

- Các quyền tài sản, bao gồm:

+ Quyền tài sản phát sinh từ thoả thuận, hợp đồng:

Bộ luật Dân sự năm 2015 định nghĩa quyền tài sản là “quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”20

Trong giao dịch M&A, hầu hết các đối tượng là quyền tài sản nêu trên đều có thể trở thành đối tượng hướng đến của giao dịch Bên cạnh quyền sử dụng đất và quyền sở hữu trí tuệ, những quyền tài sản khác như quyền tài sản phát sinh từ các hợp đồng cũng là loại tài sản có giá trị cao và thông thường gắn liền với các vấn đề pháp lý phức tạp cần được tìm hiểu kỹ càng trước khi thực hiện giao dịch Hợp đồng là một phần không thể thiếu gắn liền với hoạt động và các giao dịch của doanh nghiệp Thông qua các hợp đồng, doanh nghiệp có những quyền và lợi ích bên cạnh các nghĩa vụ phải tuân thủ Các hợp đồng kinh tế mà doanh nghiệp có được đồng thời là sản phẩm của quá trình nỗ lực kinh doanh, khẳng định vị trí trên thương trường, chính vì vậy có thể xem đây là một phần tài sản quan trọng cấu thành khối tài sản của doanh nghiệp trong giao dịch M&A

Trang 31

Đây là quyền tài sản gắn liền với các thoả thuận có thể làm phát sinh quyền truy đòi một hoặc nhiều khoản nợ của doanh nghiệp Chính vì vậy mà việc chuyển giao quyền đòi nợ có thể xem là việc chuyển giao các văn bản thỏa thuận, hợp đồng chứa đựng các thoả thuận nêu trên giữa các doanh nghiệp tham gia giao dịch Quyền đòi nợ có thể có hiệu lực ngay khi doanh nghiệp Bên mua nhận chuyển nhượng hoặc phát sinh trong tương lai tuỳ thuộc vào điều kiện liên quan của các thoả thuận, hợp đồng

- Các tài sản là động sản

1.2.2 Khái niệm thẩm định pháp lý tài sản

Trong quá trình chuẩn bị cho một giao dịch M&A, sau khi tìm hiểu lẫn nhau và thu hẹp phạm vi đối tượng, các bên tham gia vào giao dịch cần chuẩn

bị để bước vào một giai đoạn quan trọng, đó là thẩm định pháp lý (hay còn gọi là “rà soát pháp lý” – Legal Due Dilligence) Thẩm định pháp lý tài sản là một phần của quá trình thẩm định pháp lý, đồng thời là một hoạt động nhằm xem xét, đánh giá một cách toàn diện tất cả những giấy tờ chứng minh quyền

sở hữu, hợp đồng, các thỏa thuận mua bán,… với mục đích cung cấp cho doanh nghiệp cái nhìn cụ thể về tài sản của doanh nghiệp mục tiêu, giúp bên tiến hành thẩm định có đầy đủ thông tin cần thiết về các khía cạnh pháp lý liên quan đến tài sản để đưa ra quyết định cần thiết cho giao dịch Qua thẩm định pháp lý tài sản, Bên mua có thể nắm rõ các thông tin về đặc tính tài sản cũng như những triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp, và quan trọng nhất

là đánh giá được những rủi ro pháp lý tiềm ẩn của giao dịch gắn với từng loại tài sản của doanh nghiệp mục tiêu Mặt khác trong giao dịch M&A, đối với giao dịch mua bán cổ phần, Bên mua sẽ “ngồi chung thuyền” và tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ pháp lý của Bên bán, do đó thẩm định pháp lý tài sản “không chỉ xác định rõ triển vọng tăng trưởng xét về mặt quyền pháp lý có giá trị mà

Trang 32

cả khả năng tiềm ẩn về mặt nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý sẽ được chuyển nhượng.”21

Nếu thương vụ M&A được cấu trúc như là một vụ mua lại, quá trình thẩm định pháp lý đối với tài sản sẽ diễn ra theo cách Bên bán sẽ chuẩn bị các chứng từ, thông tin cần thiết để cung cấp và Bên mua sẽ tiến hành các hoạt động nhằm thẩm định, phân tích các chứng từ, thông tin về tài sản đó Trong trường hợp giao dịch được cấu trúc là một vụ sáp nhập, việc thẩm định pháp

lý tài sản sẽ được tiến hành theo hai chiều, tức là các bên sẽ thẩm định, thu thập thông tin về tài sản của nhau

Cùng với thẩm định tài chính – kinh doanh, thẩm định pháp lý tài sản là một phần của quá trình thẩm định đầu tư trong hoạt động M&A, có thể được xem là nội dung quan trọng nhất của quá trình thẩm định pháp lý và có mối quan hệ mật thiết, tương tác và bổ trợ cho nhau với thẩm định tài chính – kinh doanh Do đó quá trình này cũng “không đơn giản chỉ là một quá trình, nó là một cuộc kiểm tra thực tế - một cuộc kiểm tra xem các nhân tố định hướng giao dịch và việc làm cho chúng trông hấp dẫn là thật hay giả”22 Quá trình thẩm định pháp lý tài sản không phải nhằm tìm ra các nhân tố liên quan đến tài sản có thể làm cho giao dịch thất bại, mà là một cuộc kiểm tra những nhân

tố đề xuất về tài sản trong giao dịch nhằm đảm bảo các nhân tố đề xuất đó là chính xác và có cơ sở vững chắc về mặt pháp lý

Trang 33

Quá trình thẩm định pháp lý đối với tài sản trong giao dịch M&A là một quá trình tương đối phức tạp, tốn kém thời gian, công sức và chi phí của các bên nếu được tiến hành một cách bài bản Đây là giai đoạn có thể dẫn đến tâm lý nản lòng, nhất là đối với Bên bán do buộc phải để cho Bên mua xem xét các hồ sơ pháp lý liên quan đến tài sản của mình trong một thời gian dài Tuy nhiên Bên mua không phải vì vậy mà e ngại, dẫn đến tiến hành một cách

sơ sài quá trình thẩm định pháp lý tài sản mà vẫn phải đảm bảo những nội dung cần thiết phải thẩm định

Việc thẩm định pháp lý tài sản là một phần không tách rời của quá trình thẩm định pháp lý, do đó có thể được tiến hành theo quy trình như sau:

1.2.3.1 Thành lập nhóm thẩm định pháp lý

Do đây là quy trình đòi hỏi một đội ngũ có kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp lý nên thành phần của nhóm thẩm định này nên là các Luật sư kinh tế hoặc cố vấn pháp lý của Bên mua Đây là đội ngũ cần có kinh nghiệm và những hiểu biết sâu sắc về M&A, đồng thời phải nắm bắt được mục đích, yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp khi tiến hành giao dịch nhằm có những định hướng rõ ràng trước khi bắt tay vào quá trình thẩm định tài sản, tập trung vào những nội dung quan trọng Trong các trường hợp cần thiết cần

có sự phối hợp đánh giá chuyên sâu về các lĩnh vực có liên quan, nhóm thẩm định cũng có thể bao gồm các chuyên gia về tài chính, bất động sản, môi trường,…

1.2.3.2 Chuẩn bị các nội dung, câu hỏi quan trọng cần được giải đáp

Thường thì mỗi thương vụ M&A lại có những đặc điểm riêng nhất định, vì vậy mà Bên mua cần căn cứ vào tình hình, đặc điểm cụ thể của

Trang 34

thương vụ cũng như bám sát mục đích để có thể chuẩn bị tốt những nội dung cần giải đáp Nhóm thẩm định pháp lý cần chỉ ra được những câu hỏi pháp lý quan trọng liên quan đến giao dịch, từ đó tiến hành thu thập dữ liệu, thông tin bằng nhiều cách để có câu trả lời

Đối với thẩm định pháp lý tài sản, các câu hỏi pháp lý quan trọng mà Bên mua cần thu thập dữ liệu để trả lời bao gồm:

- Những rủi ro, nghĩa vụ pháp lý mà Bên mua có thể phải gánh chịu liên quan đến các loại tài sản sau khi thực hiện giao dịch và mức độ có thể chấp nhận? Những giải pháp cần phải thực hiện để giảm thiểu, loại bỏ tối đa các rủi

ro đó?

- Các rào cản pháp lý mà Bên mua phải đối mặt để có được các tài sản của Bên bán như bất động sản (nhà xưởng, đất đai,…), máy móc thiết bị, tài sản thuộc về sở hữu trí tuệ,…?

Ngoài ra, các yêu cầu để làm cho giao dịch có hiệu lực và có thể thực hiện được là gì cũng là câu hỏi quan trọng cần được đặt ra Đây là điều kiện tiên quyết trước khi Bên mua quyết định tiếp tục thực hiện việc thẩm định pháp lý đối với tài sản (Ví dụ như thẩm quyền quyết định giao dịch, giới hạn chuyển giao cổ phần, giới hạn về tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh,…)

1.2.3.3 Tiến hành thu thập thông tin, làm việc trực tiếp để giải đáp các thắc mắc, làm rõ các vấn đề

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các câu hỏi cần đặt ra cho Bên bán cũng như các nội dung chưa rõ cần tìm hiểu, nhóm thẩm định pháp lý cần sắp xếp các buổi gặp gỡ trực tiếp hoặc trao đổi bằng nhiều cách để được giải đáp các vấn đề pháp lý cần làm rõ về tài sản của doanh nghiệp Trong suốt quá trình này, Bên bán cần cung cấp một cách đầy đủ các tài liệu, giấy tờ cần thiết và

Trang 35

trả lời các câu hỏi, tạo điều kiện tối đa cho nhóm thẩm định của Bên mua tiếp cận các thông tin để việc thẩm định được tiến hành hiệu quả và nhanh chóng Nhóm thẩm định pháp lý của Bên mua phải tiếp nhận, phân tích và xử lý các thông tin được cung cấp, đồng thời cũng phải tự mình tìm kiếm thông tin từ các nguồn thông tin độc lập khác như thông qua các phương tiện truyền thông, các cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin doanh nghiệp,…

Tuy nhiên trong một số trường hợp, bên tiến hành thẩm định pháp lý có thể vấp phải sự thiếu hợp tác của bên được thẩm định do nhiều nguyên nhân, một trong số đó là bởi hầu hết các nhà quản lý doanh nghiệp đều không thích việc các chính sách, quyết định kinh doanh của mình bị đối tác xem xét hoặc

e ngại các thông tin xấu liên quan đến tài sản của mình có thể làm giảm giá trị giao dịch và gây bất lợi cho họ Bên cạnh đó quá trình thẩm định pháp lý kéo dài có thể dẫn đến tốn kém thời gian và chi phí, gây tâm lý nản lòng Chính vì vậy mà nhóm thẩm định cần có sự chuẩn bị kỹ càng để tiến hành làm rõ những vấn đề pháp lý trọng tâm cần thiết, đẩy nhanh thời gian thẩm định, đồng thời bên được thẩm định cũng cần có sự kiên nhẫn, bày tỏ thiện chí và hợp tác tối đa với Bên mua nhằm đạt được mục đích của giao dịch

1.2.3.4 Đưa ra báo cáo thẩm định pháp lý

Một báo cáo thẩm định sẽ được nhóm thẩm định pháp lý đưa ra sau khi tiến hành đầy đủ các quá trình nhằm thu thập thông tin, làm rõ các vấn đề cũng như đã có được câu trả lời của Bên bán về các vấn đề còn thắc mắc Báo cáo thẩm định có thể được soạn thảo với các nội dung khác nhau, tùy thuộc vào các đặc điểm của đối tượng thẩm định mà báo cáo có thể tập trung vào một số nội dung, hoặc thêm bớt các nội dung thẩm định nhằm phù hợp với mục đích thẩm định Nội dung của một báo cáo thẩm định pháp lý đầy đủ thông thường bao gồm các phần như sau: Giới thiệu; Quá trình thành lập của

Ngày đăng: 22/01/2021, 11:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm