Theo đó, ĐHQG-HCM sẽ đảm nhận 5 vai trò cốt yếu gồm: 1 Định hướng và tạo điều kiện về cơ chế chính sách để các đơn vị phát huy thế mạnh của mình; 2 Khai thác lợi thế là hệ thống đại học
Trang 1
LÊ THANH HOÀNG LAN
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG THÀNH VIÊN CỦA ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2018
Trang 2
LÊ THANH HOÀNG LAN
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG THÀNH VIÊN CỦA ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn này là những thông tin xác thực,
nguồn gốc trích dẫn rõ ràng và đề tài “Nghiên cứu mô hình tự chủ tài chính tại
các trường thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” được
trình bày là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện
TP Hồ Chí Minh, 2018 Tác giả luận văn
Lê Thanh Hoàng Lan
Trang 4MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt i
Danh mục Bảng, Biểu ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 8
1.1 Một số vấn đề chung về cơ sở giáo dục đại học công lập 8
1.1.1 Khái niệm cơ sở giáo dục đại học công lập 8
1.1.2 Vai trò của cơ sở giáo dục đại học công lập 8
1.2 Cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập 9
1.2.1 Một số vấn đề về tự chủ đại học 9
1.2.1.1 Các quan điểm khác nhau về tự chủ đại học 9
1.2.1.2 TCĐH của một số quốc gia trên thế giới 11
1.2.1.3 Cơ chế tự chủ đại học tại Việt Nam 15
1.2.2 Tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập 18
1.2.2.1 Các quan điểm khác nhau về tự chủ tài chính 18
1.2.2.2 Vai trò của TCTC đối với sự phát triển của các cơ sở GDĐH 20
1.2.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến TCTC tại các cơ sở GDĐH 21
1.2.2.3 Nội dung thực hiện cơ chế TCTC tại các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG THÀNH VIÊN CỦA ĐHQG-HCM 30
2.1 Giới thiệu khái quát về ĐHQG-HCM 30
2.2 Mô hình tự chủ tại Đại học Quốc gia 31
2.3 Phân tích thực trạng thực hiện TCTC tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM 33
2.3.1 Trường Đại học Quốc tế 33
2.3.2 Trường Đại học Công nghệ Thông tin 47
2.3.3 Trường Đại học Kinh tế - Luật 57
Trang 52.4 Đánh giá tình hình thực hiện TCTC tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM 70
2.4.1 So sánh kết quả thực hiện TCTC tại các trường đại học thành viên của ĐHQG-HCM 70
2.4.2 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện TCTC 72
2.4.3 Những hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện TCTC 73
2.4.4 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện TCTC 74
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN TỐT MÔ HÌNH TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG THÀNH VIÊN CỦA ĐHQG-HCM 78
3.1 Cơ sở để xây dựng giải pháp thực hiện tốt mô hình TCTC 78
3.1.1 Cơ sở dựa trên chủ trương, chính sách của Nhà nước 78
3.1.2 Cơ sở dựa trên những xu hướng tác động tích cực đến TCTC 81
3.1.3 Cơ sở về vị thế của ĐHQG-HCM 82
3.1.4 Cơ sở dựa trên quan điểm và mục tiêu về TCTC của ĐHQG-HCM 84
3.2 Các giải pháp để các trường thành viên của ĐHQG-HCM thực hiện tốt mô hình TCTC 85
3.2.1 Giải pháp đổi mới cơ chế TCTC đối với cơ quan nhà nước 85
3.2.2 Giải pháp đổi mới cơ chế TCTC đối với các trường thành viên của ĐHQG-HCM 88
KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ABET Accreditation Board for Engineering and
Technology
3 AUN-QA ASEAN University Network - Quality Assurance
4 ASEAN Association of South East Asian Nations
7 CNTT-TT Công nghệ Thông tin – Truyền thông
12 ĐHQG-HCM Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
16 ISI Institute for Scientific Information
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 2.1: Thu nhập bình quân của người lao động của Trường ĐH Quốc tế giai
đoạn 2011-2016 (đồng) 36
Bảng 2.2: Số lượng CNV của Trường ĐH Quốc tế (người) 37
Bảng 2.3: Phụ cấp theo chức danh – học vị của Trường ĐH Quốc tế 37
Biểu đồ 2.4: Tổng kinh phí NSNN cấp cho hoạt động NCKH của Trường ĐH Quốc tế giai đoạn 2011-2016 (triệu đồng) 41
Bảng 2.5: Tổng nguồn kinh phí của Trường ĐH Quốc tế giai đoạn 2011-2016 (triệu đồng) 43
Bảng 2.6: Tỷ lệ nguồn kinh phí của Trường ĐH Quốc tế giai đoạn 2011-2016 43
Bảng 2.7: Tổng chi của Trường ĐH Quốc tế giai đoạn 2011-2016 (triệu đồng) 44
Bảng 2.8: Tỷ lệ chi của Trường ĐH Quốc tế giai đoạn 2011-2016 45
Bảng 2.9: Số lượng CNV của Trường ĐH CNTT (người) 48
Biểu đồ 2.10: Thu nhập bình quân của người lao động của Trường ĐH CNTT giai đoạn 2011-2016 (đồng) 49
Biểu đồ 2.11: Tổng kinh phí cho hoạt động NCKH của Trường ĐH CNTT giai đoạn 2011-2016 (triệu đồng) 51
Bảng 2.12: Số liệu Đào tạo Đại học của Trường ĐH CNTT (sinh viên) 53
Bảng 2.13: Tổng nguồn kinh phí của Trường ĐH CNTT giai đoạn 2011-2016 (triệu đồng) 53
Bảng 2.14: Tỷ lệ nguồn kinh phí của Trường ĐH CNTT giai đoạn 2011-2016 54
Bảng 2.15: Tổng chi của Trường ĐH CNTT giai đoạn 2011-2016 (triệu đồng) 54
Bảng 2.16: Tỷ lệ chi của Trường ĐH CNTT giai đoạn 2011-2016 55
Bảng 2.17: Đánh giá mức độ TCTC của Trường ĐH CNTT giai đoạn 2011-2016 56
Bảng 2.18: Số lượng CNV của Trường ĐH KTL (người) 58
Biểu đồ 2.19: Thu nhập bình quân của người lao động của Trường ĐH KTL giai đoạn 2011-2016 (đồng) 59
Bảng 2.20: Hoạt động NCKH dành cho sinh viên của Trường ĐH KTL giai đoạn 2008-2014 60
Trang 8Biểu đồ 2.21: Tổng kinh phí cho hoạt động NCKH của Trường ĐH KTL giai đoạn 2011-2016 (triệu đồng) 62 Biểu đồ 2.22: Quy mô đào tạo của Trường ĐH KTL giai đoạn 2011-2016 (sinh viên) 63 Bảng 2.23: Tổng kinh phí của Trường ĐH KTL giai đoạn 2011-2016 (triệu đồng) 65 Bảng 2.24: Tỷ lệ nguồn thu của Trường ĐH KTL giai đoạn 2011-2016 65 Bảng 2.25: Tổng chi của Trường ĐH KTL giai đoạn 2011-2016 (triệu đồng) 67 Bảng 2.26: Tỷ lệ chi của Trường ĐH KTL giai đoạn 2011-2016 68 Bảng 2.27: Đánh giá mức độ tự chủ tài chính của Trường ĐH KTL giai đoạn 2011-
2016 69
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tài chính là một nguồn lực rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục, trong đó GDĐH đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn, có nguồn lực tài chính các trường đại học mới có cơ sở để phát triển các nguồn lực khác như con người, cơ sở vật chất,…, đây là những yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững của nhà trường Hiện nay, cơ chế TCTC của các trường đại học đã có nhiều đổi mới, quyền tự chủ được trao nhiều hơn Nguồn kinh phí hoạt động của các trường đại học hiện nay gồm: nguồn NSNN cấp, nguồn thu học phí, nguồn thu dịch vụ sản xuất kinh doanh và các nguồn thu hợp pháp khác Trong đó nguồn NSNN cấp có xu hướng giảm và cơ chế phân bổ NSNN còn mang tính bình quân; nguồn thu học phí
bị hạn chế do nhà nước quy định mức thu thấp chưa phù hợp chi phí đào tạo và cơ chế hoạt động dịch vụ chưa thông thoáng Một số khoản chi, mức chi còn thấp chưa phù hợp với thực tế, chưa thu hút được nhân tài và thủ tục chi trả của một số hoạt động còn chậm đổi mới
Bối cảnh GDĐH trên thế giới hiện nay đang phát triển trong xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế tri thức Sự phát triển của GDĐH thế giới hiện nay cho thấy ngày càng theo hướng tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở GDĐH Việt Nam đang thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện GDĐH Cơ chế TCTC đối với các trường đại học đang được Chính phủ thực hiện đổi mới tự chủ toàn diện tại một số trường đại học
ĐHQG-HCM được thành lập ngày 27/01/1995 theo Nghị định 16/CP của Chính phủ Đến năm 2001, ĐHQG-HCM được tổ chức lại theo Quyết định số 15/2001/QĐ-TTg ngày 12/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, ĐHQG-HCM là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học - công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nòng cốt cho
hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ĐHQG-HCM được quản trị, điều hành, quản lý theo mô hình hệ thống đại học mẫu mực với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao trước xã hội; đồng thời tự kiểm soát và xây
Trang 10dựng môi trường sáng tạo khoa học, tự do học thuật trong khu đô thị đại học kiểu mẫu Hiện nay, ĐHQG-HCM có 7 đơn vị thành viên: Trường ĐH Bách khoa, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường
ĐH Quốc tế, Trường ĐH Công nghệ Thông tin, Trường ĐH Kinh tế - Luật và Viện Môi trường và Tài nguyên Bên cạnh đó, ĐHQG-HCM còn có 28 đơn vị trực thuộc được tổ chức và hoạt động theo các chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục
vụ công tác quản lý, đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ… ; đồng thời tương tác, hỗ trợ lẫn nhau tạo nên sức mạnh hệ thống Mục tiêu trọng tâm của ĐHQG-HCM trong giai đoạn 2016 – 2020 là “Phát triển hệ thống và hoàn thiện
mô hình tổ hợp (hệ thống) ĐHQG-HCM trên cơ sở của tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình (Accountability) và trách nhiệm tương ứng (Corresponding Responsibility)” Mô hình ĐHQG-HCM đã và đang là mô hình tự chủ ở một mức
độ nhất định, điều này thể hiện từ lúc thành lập ĐHQG-HCM và các Nghị định, Quy chế tổ chức và hoạt động của ĐHQG-HCM Xu hướng tự chủ đại học và đổi mới cơ chế hoạt động để phát triển mạnh mẽ các trường đại học là xu hướng tất yếu
và bằng chứng là một số trường đại học áp dụng thí điểm cơ chế đổi mới đã có những bước phát triển đáng ghi nhận Xu hướng này tác động mạnh mẽ đến yêu cầu đổi mới cơ chế hoạt động đối với các trường thành viên của ĐHQG-HCM Trước
xu hướng trên và tiếp tục phát huy mô hình tự chủ của mình, ĐHQG-HCM đẩy nhanh quá trình tự chủ của các trường thành viên là yêu cầu bức thiết hiện nay Theo đó, ĐHQG-HCM sẽ đảm nhận 5 vai trò cốt yếu gồm: (1) Định hướng và tạo điều kiện về cơ chế chính sách để các đơn vị phát huy thế mạnh của mình; (2) Khai thác lợi thế là hệ thống đại học lớn trong cả nước được Nhà nước ưu tiên phát triển
để tăng cường các hoạt động đầu tư chiều sâu và đầu tư xây dựng cơ bản; (3) Hỗ trợ các đơn vị đảm bảo tuân thủ quy định trong lĩnh vực hoạt động, tăng cường tính tự chủ, tự do học thuật và gia tăng trách nhiệm giải trình; (4) Kết nối, chia sẻ, cùng khai thác hiệu quả nguồn lực của hệ thống nhằm tạo ra những kết quả đột phá; (5) Tận dụng sức mạnh hệ thống để gia tăng sức mạnh thương hiệu, tăng cường khả năng cạnh tranh với các trường đại học trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên,
Trang 11khi các đơn vị thực hiện tự chủ, ĐHQG-HCM cần giải quyết thấu đáo một số vấn đề đặt ra về tính hệ thống và tính cạnh tranh giữa các đơn vị thành viên, vấn đề về tài chính,… Chẳng hạn, mối quan hệ giữa ĐHQG-HCM và các đơn vị trong hệ thống
sẽ thay đổi ra sao trong môi trường tự chủ; cơ chế chính sách nào giúp các đơn vị đảm bảo tài chính để vận hành trong khi vẫn đảm bảo chất lượng đào tạo và NCKH; sinh viên có hoàn cảnh khó khăn sẽ được hỗ trợ thế nào khi học phí buộc phải điều chỉnh tăng dần, tiệm cận với chi phí đào tạo thực tế,…
Xuất phát từ các nội dung trên cho thấy đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu mô
hình tự chủ tài chính tại các trường thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh” là cấp thiết, đặc biệt trong xu thế thực hiện cơ chế tự chủ hiện nay,
từ đó đưa ra các giải pháp để thực hiện tốt mô hình tự chủ tài chính tại các trường thành viên
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài
2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
2.1.1 Nghiên cứu về tài chính công trong lĩnh vực giáo dục
Milton Friedman (1955) đã đưa ra nguyên tắc về vai trò của Nhà nước trong quản lý giáo dục là: để cho nhà trường được tự chủ và người giám sát sẽ là những quy luật của thị trường, nhà nước không cần can thiệp Theodore W Schultz (1961) cho rằng đầu tư nguồn nhân lực đã mang lại hiệu quả vốn nhân lực lớn hơn các nguồn vốn khác và càng ngày người ta càng đầu tư nhiều hơn cho giáo dục so với các loại hình đầu tư khác Alan, R (1979), đã cho tái bản lần thứ sáu cuốn sách của mình về tài chính công “Tài chính công - Lý thuyết và thực tiễn” Holley, U (2007) cũng cho tái bản lần thứ hai cuốn sách cùng tên là “Tài chính công - Lý thuyết và thực tiễn” của mình
2.1.2 Nghiên cứu về tài chính trong các trường đại học
Tsang, MC (1997), tiếp cận theo cách phân tích chi phí lợi nhuận để đưa ra chính sách hoặc đánh giá chính sách trong lĩnh vực giáo dục Marianne và Lesley (2000) nghiên cứu theo hướng mang tính ứng dụng, tác nghiệp, đôi khi cũng lồng ghép lý thuyết tài chính công Malcolm Prowle và Eric Morgan (2005), một công
Trang 12trình nghiên cứu được coi là cẩm nang nghề nghiệp của những người quản lý tài chính trong các trường đại học ở Mỹ
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
(1) Nguyễn Thị Cành (2016), đề án “Nghiên cứu áp dụng các loại hình tự chủ đại học trong các trường thành viên trong ĐHQG-HCM và những tác động đến nguồn tài chính”, đề án nghiên cứu khoa học, ĐHQG-HCM Đề án nghiên cứu, tìm hiểu mô hình tự chủ đại học trên thế giới và các loại hình tự chủ đại học công lập tại Việt Nam Đánh giá năng lực tự chủ đại học của các trường thành viên trong ĐHQG-HCM, từ đó đưa ra kiến nghị về thực hiện loại hình tự chủ đại học phù hợp
Số liệu phân tích trong giai đoạn 2011 – 2015 tại các trường thành viên trong ĐHQG-HCM
(2) Phan Huy Hùng (2009), đề tài “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự
tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học ở Việt Nam”, luận án Tiến sỹ Quản
lý hành chính công, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong giai đoạn từ năm 1986 đến 2009 Đây là giai đoạn thực hiện Nghị định 10/2002/NĐ-CP và bước đầu thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP
(3) Trần Đức Cân (2012), đề tài “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam”, luận án Tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2011
(4) Mai Thanh Thủy (2006), đề tài “Hoàn thiện quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia TP.HCM” Đề tài mô tả công tác quản lý tài chính tại ĐHQG-HCM trên góc nhìn từ đơn vị chủ quản giai đoạn 2002 – 2005 Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý tài chính nói chung, chưa phân tích khía cạnh tự chủ tài chính của ĐHQG-HCM
Trên cơ sở kế thừa ý tưởng từ những nghiên cứu trên, tác giả mong muốn cung cấp cái nhìn cụ thể về cơ chế TCTC của ĐHQG-HCM giai đoạn 2011 – 2016,
Trang 13đây là giai đoạn thực hiện cơ chế TCTC theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP, đồng thời bước đầu áp dụng cơ chế theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP Với những bài học kinh nghiệm và mô hình tự chủ đang áp dụng cũng như chuẩn bị triển khai áp dụng tại ĐHQG-HCM, tác giả cố gắng phân tích và xây dựng các giải pháp để thực hiện tốt
mô hình TCTC tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu mô hình TCTC tại ĐHQG-HCM và tình hình thực hiện TCTC tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM, từ đó đề xuất các giải pháp để các trường thực hiện tốt mô hình TCTC
3.2 Mục tiêu cụ thể
Một là, làm rõ cơ sở khoa học về mô hình TCTC tại các trường đại học và
các đại học công lập hiện nay
Hai là, mô hình tự chủ của ĐHQG-HCM và các cơ sở pháp lý thực hiện TCTC ở Việt Nam hiện nay
Ba là, đánh giá tình hình thực hiện TCTC tại các trường thành viên của
ĐHQG-HCM
Bốn là, đề xuất các giải pháp khoa học để phát huy hiệu quả TCTC tại các
trường thành viên của ĐHQG-HCM trong thời gian tới
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, nghiên cứu các vấn đề lý thuyết về tài chính trong lĩnh vực giáo dục
Đồng thời nhận diện các mô hình TCTC đại học, các đặc trưng của cơ chế TCTC đại học
Hai là, nghiên cứu thực trạng TCTC tại các trường thành viên của
ĐHQG-HCM Chỉ ra những kết quả đạt được, những khó khăn hạn chế và nguyên nhân
Ba là, đề xuất giải pháp để các trường thành viên của ĐHQG-HCM thực
hiện tốt mô hình TCTC
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về TCTC tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: nghiên cứu tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM, trong đó tập trung nghiên cứu điển hình tại ba trường Trường ĐH Công nghệ Thông tin, Trường ĐH Quốc tế và Trường ĐH Kinh tế - Luật
- Về thời gian: nghiên cứu cơ chế TCTC tập trung vào thời kỳ từ năm 2006 đến 2016
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất, sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh các nghiên cứu
của các đề tài có liên quan để có cái nhìn tổng quát về vấn đề cần nghiên cứu, từ đó đưa ra được phần cơ sở lý thuyết, nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Thứ hai, sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh các số
liệu tổng hợp tài chính của các trường thành viên, cùng với sử dụng phương pháp chuyên gia để đánh giá thực trạng TCTC hiện nay của các trường thành viên và đưa
ra các giải pháp để thực hiện tốt mô hình TCTC
5.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu
Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp từ các tài liệu tham khảo về tự chủ tài chính, quy định pháp luật về chế độ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập, các báo cáo, số liệu thống kê của Bộ GDĐT, Vụ Kế hoạch – Tài chính, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Báo cáo thường niên của ĐHQG-HCM, Báo cáo Hội nghị
Kế hoạch Tài chính của ĐHQG-HCM, các báo và tạp chí có liên quan Số liệu sơ cấp có được thông qua việc tham khảo ý kiến chuyên gia là các giảng viên, cán bộ quản lý đã và đang làm việc tại ĐHQG-HCM và các trường thành viên
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập
Trang 15Chương 2: Thực trạng tình hình thực hiện tự chủ tài chính tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM
Chương 3: Các giải pháp để thực hiện tốt mô hình tự chủ tài chính tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ
SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1.1 Một số vấn đề chung về cơ sở giáo dục đại học công lập
1.1.1 Khái niệm cơ sở giáo dục đại học công lập
Theo định nghĩa trên thế giới, trường đại học (tiếng Anh: University) là một
cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao và cấp các bằng cấp khoa học trong nhiều các lĩnh vực ngành nghề Các trường đại học có thể cung cấp các chương trình bậc đại học và sau đại học
Luật Giáo dục Đại học năm 2012 có quy định “cơ sở giáo dục đại học công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm chi thường xuyên” [30] Khái niệm, mô hình và địa vị pháp lý của trường đại học công có sự khác nhau trong hệ thống GDĐH ở mỗi quốc gia Tuy nhiên khái niệm về trường ĐHCL có thể được hiểu như sau: Trường ĐHCL là trường do chính quyền thành lập
và quản lý Nguồn kinh phí đảm bảo cho các trường ĐHCL hoạt động phụ thuộc vào chính sách đầu tư tài chính và mức độ xã hội hóa nguồn lực dành cho GDĐH của mỗi quốc gia
Về cơ cấu tổ chức bộ máy của trường ĐHCL gồm: Hội đồng trường; Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng; Phòng, Ban chức năng; Khoa, Bộ môn, Tổ chức khoa học
và công nghệ; Tổ chức phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ; Cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ; Phân hiệu (nếu có); Hội đồng khoa học và đào tạo, các Hội đồng tư vấn [30]
1.1.2 Vai trò của cơ sở giáo dục đại học công lập
Trường ĐHCL đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, thể hiện khái quát qua các mặt sau: (i) Sự ra đời và hoạt động của các trường ĐHCL thể hiện vai trò của Nhà nước đối với GDĐH Nhà nước thông qua các hoạt động của trường ĐHCL để điều tiết các nguồn lực xã hội sao cho có hiệu quả nhất, từ đó điều tiết cơ cấu đào tạo nhân lực hợp lý, duy trì và phát triển giáo dục đào tạo; (ii) Là nơi triển khai các chính sách đầu tư phát triển GDĐH của
Trang 17mỗi quốc gia; (iii) Giữ vai trò định hướng cho hoạt động và sự phát triển của hệ thống GDĐH của quốc gia; (iv) Có sứ mạng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, NCKH và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước
1.2 Cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập
1.2.1 Một số vấn đề về tự chủ đại học
1.2.1.1 Các quan điểm khác nhau về tự chủ đại học
Tự chủ đại học là một khái niệm không mới đối với GDĐH trên thế giới cũng như ở Việt Nam Khái niệm tự chủ đã có từ thời cổ đại với nhận thức trường đại học sẽ phát triển tốt hơn nếu các nhà học thuật có được tự chủ đầy đủ Nội hàm của TCĐH xuất phát từ triết lý về GDĐH của quốc gia tùy theo nhận thức về vai trò của Nhà nước đối với giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng mà trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tự chủ đại học
Ở các nước châu Âu, TCĐH được nhìn nhận từ hai khía cạnh: (i) thoát ra khỏi sự kiểm soát, hạn chế của cơ quan quản lý nhà nước, của thị trường lao động, nhà cung cấp dịch vụ và các ảnh hưởng chính trị; (ii) là quyền tự do đưa ra các quyết định về cách thức tổ chức hoạt động cũng như mục tiêu sứ mạng của trường
Theo Hiệp hội Quốc tế các trường đại học (IAU) thì TCĐH được định nghĩa như là một mức độ độc lập cần thiết đối với các tác nhân can thiệp bên ngoài mà nhà trường cần có để có thể thực hiện được việc quản trị và tổ chức nội bộ, việc phân bổ các nguồn lực tài chính trong phạm vi nhà trường, việc tạo ra và sử dụng các nguồn tài chính ngoài ngân sách công, việc tuyển dụng nhân sự, việc xây dựng các tiêu chuẩn cho học tập và nghiên cứu, và cuối cùng, là quyền tự do trong việc tổ chức thực hiện nghiên cứu và giảng dạy [19]
Theo khung phân tích tự chủ của Hiệp hội các trường đại học Châu Âu European University Association (EUA, 2012) thì TCĐH bao gồm bốn nội dung chính như sau: (i) Tự chủ về tổ chức là quyền tự chủ của trường đại học trong việc quyết định cơ cấu tổ chức và cơ chế ra quyết định, (ii) Tự chủ về tài chính là quyền
tự chủ của trường trong việc quản lý và phân bổ nguồn tài chính, cho phép trường
Trang 18có điều kiện huy động các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra, (iii) Tự chủ về học thuật là quyền tự chủ của trường trong việc đưa ra các quyết định về mặt học thuật trong nội bộ trường một cách độc lập nhằm đạt được những mục tiêu đề ra một cách linh hoạt, (iv) tự chủ về nhân sự là quyền tự chủ của trường trong việc tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực một cách phù hợp nhất theo yêu cầu của trường [10]
Theo Don Anderson và Richard Johnson tại Trung tâm đào tạo thường xuyên thuộc Đại học Quốc gia Úc (1998), các thành tố trong TCĐH bao gồm: (i) Tự chủ nguồn nhân lực: Với quyền tự chủ này, trường được quyền quyết định về các vấn đề liên quan đến điều kiện tuyển dụng, lương bổng, sử dụng nguồn nhân lực, bổ nhiệm, miễn nhiệm các vị trí trong khu vực học thuật và khu vực hành chính,…; (ii) Tự chủ trong các vấn đề liên quan đến tuyển sinh và quản lý sinh viên; (iii) Tự chủ trong các hoạt động học thuật và chương trình giáo dục như phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, nội dung chương trình và giáo trình học liệu,…; (iv) Tự chủ trong các chuẩn mực học thuật, như các tiêu chuẩn của văn bằng, các vấn đề liên quan đến kiểm tra và kiểm định chất lượng; (v) Tự chủ trong nghiên cứu và xuất bản, giảng dạy và hướng dẫn học viên cao học, các ưu tiên trong nghiên cứu và quyền tự do xuất bản; (vi) Tự chủ trong các vấn đề liên quan đến quản lý hành chính và tài chính, quản lý và sử dụng ngân sách, các nguồn tài chính của trường [10]
Chính phủ Hoa Kỳ đặc biệt nhấn mạnh đến TCĐH, và xem đây là vấn đề rất lớn, đảm bảo sự năng động, sáng tạo và duy trì vị thế dẫn đầu giáo dục toàn cầu của Hoa Kỳ Quan điểm của Hoa Kỳ về tự chủ được Turcan, Reilly và Bugaian (2016) tổng hợp thành bốn điểm: (i) TCĐH phải đi đôi với tự chịu trách nhiệm; (ii) TCĐH phải theo quy định của pháp luật; (iii) TCĐH phải thỏa mãn yêu cầu công khai và minh bạch; (iv) TCĐH phải được kiểm tra, kiểm soát bởi nhiều đại diện cơ quan của cả chính phủ và xã hội [23]
Trên thế giới, TCĐH là yếu tố cơ bản trong quản trị đại học Các nghiên cứu
về các mô hình quản trị đại học trên thế giới thường tập trung vào mối quan hệ giữa
Trang 19Nhà nước và cơ sở GDĐH cho thấy mức độ tự chủ - thể hiện ở mức độ kiểm soát của Nhà nước đối với cơ sở GDĐH - ở các quốc gia rất khác nhau, chịu ảnh hưởng của thể chế chính trị, hình thái lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau Báo cáo tổng quan
về xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank 2008, khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn (state control) như Malaysia, đến mô hình bán tự chủ (semi-autonomous) như ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi-independent)
ở Singapore, và mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc [10]
Quyền tự chủ của các trường đại học ở Việt Nam được Quốc hội quy định rõ tại Khoản 1, Điều 32 của Luật Giáo dục đại học năm 2012, với nội dung như sau: (i)
Cơ sở GDĐH tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, KHCN, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng GDĐH Cơ sở GDĐH thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục; (ii) Cơ sở GDĐH không còn đủ năng lực thực hiện quyền tự chủ hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện quyền tự chủ, tùy thuộc mức độ, bị xử lý theo quy định của pháp luật [30]
1.2.1.2 TCĐH tại một số quốc gia trên thế giới [10]
Thứ nhất, tự chủ đại học tại Hàn Quốc
Các cơ sở GDĐH Hàn Quốc được phân chia thành ba nhóm: (i) đại học công lập quốc gia là các trường chịu sự quản lý của Chính phủ, (ii) đại học công lập chịu
sự quản lý của Chính quyền địa phương và (iii) đại học tư (Điều 3 Luật giáo dục đại học) Một tổ chức đóng vai trò quan trọng trong quản lý các trường đại học của Hàn Quốc nhằm đảm bảo trách nhiệm xã hội của các trường khi được giao toàn quyền tự chủ Một là gắn đánh giá chất lượng giáo dục (bằng một cơ quan kiểm định độc lập) với hỗ trợ tài chính từ Chính phủ; Hai là quy định rõ việc thành lập Hội đồng trường
và điều lệ trường nhằm giám sát hoạt động của các trường
Về tự chủ chuyên môn Chương trình đào tạo, phát triển và phổ biến chương
trình giảng dạy tiên tiến cùng các vấn đề khác về chuyên môn được thực hiện bởi
Trang 20một tổ chức độc lập với Chính phủ là Hội đồng giáo dục đại học Hàn quốc đánh giá Hội đồng này chịu trách nhiệm tư vấn chính sách chuyên môn và cả chính sách cung cấp hỗ trợ tài chính
Về tuyển sinh Sau cải cách GDĐH năm 1995, Chính phủ cho phép các
trường được tự do tuyển sinh, tự do đặt ra các tiêu chí để tuyển sinh cũng như xác định số lượng thí sinh được tuyển Tuy nhiên, để kiểm soát, Chính phủ cũng đặt ra những tiêu chí cơ bản trong tuyển sinh Dù sao cũng cần khẳng định rằng có sự tự chủ rất lớn trong việc tuyển sinh ở các trường đại học
Về tài chính Tại Hàn Quốc, theo Luật khung giáo dục 2008 việc đào tạo sư
phạm và đào tạo ở nước ngoài những ngành nghề đặc biệt theo yêu cầu của Chính phủ sẽ được Chính phủ thanh toán tiền học phí và các khoản phí khác theo yêu cầu (Điều 28 Luật khung)
Theo quy định tại Điều 7 Luật GDĐH thì (i) Chính phủ trung ương và Chính quyền địa phương có thể hỗ trợ hoặc trợ cấp kinh phí cần thiết để thực hiện các mục tiêu của trường công; (ii) các trường phải công khai ngân sách và báo cáo tài chính theo quy định tại các Nghị định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Bộ Khoa học và Công nghệ Ngoài ra, nhà nước sẽ tài trợ cho các hoạt động giáo dục bao gồm việc thanh toán các khoản chi phí thực tế thử nghiệm, chi phí nghiên cứu hoặc học bổng để thúc đẩy NCKH và khuyến khích nghiên cứu, phát triển giáo dục (Điều 8 Luật giáo dục đại học 2009)
Thứ hai, tự chủ đại học tại Pháp
Tự chủ đại học ở Pháp chính thức bắt đầu được ghi nhận bằng sự ra đời của Luật số 2007 – 1199 ngày 10/8/2007 về tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học tại Pháp Ý tưởng về tự chủ đại học từ đạo luật này được xây dựng trên ba nhóm vấn đề chính: (i) tự chủ trong quản trị trường đại học, (ii) phạm vi của quyền tự chủ, (iii) các phương thức cải cách giáo dục theo hướng tự chủ mới này
Luật mới này dành cho các trường đại học một cơ cấu tổ chức mới trong vòng một năm và các thẩm quyền mới trong thời hạn tối đa là 5 năm Nó cũng cho phép sự thay đổi hệ thống quản trị đại học (liên quan đến vai trò của Hội đồng giáo
Trang 21dục và Hiệu trưởng trường đại học) Tự chủ về quản trị đại học, Đạo luật 2007 đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Hội đồng quản trị trong trường đại học (Conseild’ Administration) Theo quy định của luật này thì Hội đồng quản trị gồm 20 đến 30 thành viên bao gồm cả người bên trong và ngoài trường đại học, đặc biệt phải có đại diện của chính quyền địa phương Hội đồng tập trung các thành viên đại diện cho nhiều nhóm chủ thể bao gồm giảng viên – nghiên cứu viên, sinh viên, doanh nghiệp,… Hiệu trưởng trường đại học được bầu trong số và bởi các thành viên của Hội đồng quản trị trường đại học theo nguyên tắc đa số Hiệu trưởng có nhiệm kỳ tương ứng với nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị, là 4 năm và được phép giữ tối đa hai nhiệm kỳ liên tục
Về quản trị tài chính và ngân sách trường đại học Các trường đại học có thể
được trao những thẩm quyền và trách nhiệm mới theo xu hướng tăng cường hơn nữa quyền tự chủ và trách nhiệm bằng cách yêu cầu hoặc tự động trao trong thời hạn 5 năm Các quyền và trách nhiệm tập trung chủ yếu về ngân sách (tự chủ ngân sách) và tự chủ về nguồn nhân lực (tuyển dụng nhân viên và quản lý hợp đồng, quyết định tiền thưởng, phúc lợi bởi Hiệu trưởng, phân công công việc và phân chia trách nhiệm…) Luật 2007 củng cố và tăng cường tự chủ về tài chính ở trường đại học Theo quy định của Đạo luật Faure 1968 thì trường đại học chỉ có quyền tự quyết định với 25% ngân sách, nhưng với Luật 2007 thì sự tự chủ là 100% khoản thu và ngân sách giao cho trường Điều này có nghĩa là trường ĐHCL được toàn quyền quyết định chi tiêu cho toàn bộ khoản thu của mình trên cơ sở các quy tắc quản lý được ban hành bởi pháp luật
Một điểm nhấn đặc biệt của đạo luật này là nó cho phép các trường lựa chọn chuyển đổi mô hình sang TCTC sẽ nhận những khoản trợ cấp từ Chính phủ Trợ cấp này trị giá 250.000 euro, trong đó có 200.000 euro cho công tác đào tạo và 50.000 euro chi cho thu nhập của giảng viên và các khoản chi cho tự chủ khác Luật này cho phép Chính phủ sau khi xây dựng cơ sở vật chất chuyển giao quyền sở hữu cơ
sở vật chất này sang cho trường đại học tự chủ Các trường tự chủ cũng có thể cho
Trang 22thuê cơ sở vật chất cho chủ thể khác nếu muốn với điều kiện là được sự cho phép của cơ quan quản lý có thẩm quyền
Sự tồn tại của Ủy ban giám sát trong thực hiện cơ chế tự chủ Cơ chế TCĐH
trao quyền nhiều cho các trường đại học công lập như quyền tự do tuyển dụng, tự cân đối thu – chi, đầu tư tài chính tự do định đoạt tài sản của trường (cho thuê, bán)
Đi đôi với quyền là trách nhiệm, tuy nhiên để đảm bảo sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm được thực hiện hiệu quả thì cần có cơ chế giám sát tốt Luật TCĐH 2007 quy định về Ủy ban giám sát có thành phần được xác định theo Nghị định số 2008 – 72 ngày 23/1/2008 bao gồm 4 nghị sĩ quốc hội và 12 người đủ tiêu chuẩn do Bộ trưởng
Bộ Giáo dục đại học bổ nhiệm Theo thống kê, đến năm 2012, có 83 trên tổng số 85 trường đại học công lập ở Pháp được trao quyền tự chủ Tiến trình tự chủ hóa các trường đại học diễn ra khá nhanh chóng
Thứ ba, tự chủ đại học tại Mỹ
Tại Mỹ hiện có khoảng 3.360 trường đại học và cao đẳng cộng đồng Hệ thống giáo dục đại học Mỹ không thuộc sự quản lý trực tiếp của Chính quyền liên bang mà quyền quản lý giáo dục được giao về cho từng bang Hệ thống đại học Mỹ,
kể cả trường công và trường tư đều hoạt động theo nguyên tắc tự quản và tự do về học thuật (tự chủ đại học) Nhà nước đóng vai trò không lớn trong việc quản lý các trường đại học, trừ việc phân bổ kinh phí Các trường đại học công lập lớn ở Mỹ, hay còn gọi là đại học tiểu bang, gắn bó chặt chẽ với tiểu bang và được tiểu bang hỗ trợ tài chính Các loại hình trường đại học ở Mỹ chia làm 2 loại, trường công và trường tư, một số trường tư thuộc về các tôn giáo Khoảng 30% tổng số sinh viên theo học ở các trường tư Sự khác biệt giữa các loại hình trường này nằm ở việc cấp kinh phí Các trường tư cũng nhận được những hỗ trợ tài chính từ Chính quyền bang (chủ yếu là cho nghiên cứu) nhưng rất ít so với khoản hỗ trợ của Chính quyền cho các trường đại học công
Vì hoạt động theo một cơ chế tự chủ, các trường đại học ở Mỹ được kiểm soát theo một cơ chế thoáng, phù hợp với bối cảnh giáo dục Trên cơ sở yêu cầu thực tiễn này Chính quyền thiết lập hệ thống kiểm định giáo dục với mô hình tương
Trang 23đối đa dạng và hiệu quả Theo thống kê, hiện tại ở Mỹ có 6 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập ở các vùng bởi chính các trường đại học Sáu tổ chức này chịu trách nhiệm trong việc giám sát và công nhận chất lượng giáo dục ở các trường trong vùng Bên cạnh đó cũng có khoảng 50 tổ chức kiểm định quốc gia làm công tác kiểm định chất lượng giáo dục Các tổ chức này lập ra trong các lĩnh vực chuyên môn đặc thù, có trách nhiệm thiết lập các tiêu chí nghề nghiệp riêng để công nhận chất lượng giáo dục trong lĩnh vực nghề nghiệp tại các trường đại học Sự tồn tại một cách đa dạng và phong phú các loại hình trường cũng như loại hình kiểm định đặt ra yêu cầu cạnh tranh thực tế là các trường phải được kiểm định với kết quả tốt thì mới thu hút được người giỏi vào học Nói cách khác, kiểm định chất lượng giáo dục thiết lập trong thực tiễn một cơ chế giám sát hữu hiệu trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục
1.2.1.3 Cơ chế tự chủ đại học tại Việt Nam
Không nằm ngoài sự vận hành chung của thế giới, giáo dục đại học tại Việt Nam từ thực tế chịu sự quản lý nhà nước chặt chẽ về mọi mặt thông qua cơ quan chủ quản là Bộ GDĐT đã dần dần có được sự thông thoáng trong cơ chế quản lý, vận hành Quyền TCĐH tại Việt Nam được bắt đầu đề cập đến trong Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có quy định
“Trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và Điều lệ này về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động đào tạo, KHCN, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự”
Tiếp đến, Luật Giáo dục năm 2005 đã quy định về việc thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục Cũng trong năm 2005, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006 –
2020 thể hiện các nội dung theo hướng đảm bảo quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở GDĐH, sự quản lý của Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với GDĐH Theo đó, đổi mới cơ chế quản lý cần chuyển các cơ sở GDĐH công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền quyết định và
Trang 24chịu trách nhiệm về đào tạo, nghiên cứu, tổ chức, nhân sự và tài chính; xây dựng cơ chế đại diện sở hữu nhà nước đối với các cơ sở GDĐH công lập;…Nhằm thể chế hóa các nhiệm vụ đặt ra tại Nghị quyết, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành như: Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ; Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
tổ chức KHCN công lập; Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 15/4/2009 của Bộ GDĐT và Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo
Sau một thời gian triển khai thực hiện tạo ra những chuyển biến tích cực đầu tiên, các văn bản trên đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, do đó, sự
ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực hiện nay là yêu cầu cấp thiết Luật GDĐH số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực ngày 01/01/2013 Sự ra đời của Luật GDĐH với việc ghi nhận quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH không chỉ tạo hành lang pháp lý cụ thể cho TCĐH mà còn
là cơ hội thúc đẩy các trường nâng cao hiệu quả quản lý để xây dựng thương hiệu chất lượng, đảm bảo sự phát triển lâu dài, góp phần thay đổi bộ mặt chung của GDĐH thời gian qua (Điều 32 quy định: “Cơ sở GDĐH tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng GDĐH Cơ sở GDĐH thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục”) [30]
Không chỉ dừng lại ở việc quy định quyền tự chủ nói chung của các cơ sở GDĐH, Điều lệ trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/12/2014 đã cụ thể hóa quyền này, giúp các cơ sở
Trang 25GDĐH có được hướng phát triển rõ ràng dựa trên những quy định chi tiết Theo đó, các trường đại học tự chủ có thể thực hiện: (i) Quyết định mục tiêu, chiến lược và
kế hoạch phát triển của nhà trường; (ii) Quyết định thành lập bộ máy tổ chức, phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý trên cơ sở chiến lược và quy hoạch phát triển nhà trường; (iii) Thu, chi tài chính, đầu tư phát triển các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo theo quy định của pháp luật; quyết định mức thu học phí tương ứng với điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đối với chương trình đào tạo chất lượng cao và các quy định về TCTC đối với các trường đại học; (iv) Tuyển sinh và phát triển chương trình đào tạo; tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn giáo trình giảng dạy phù hợp với mục tiêu đào tạo của từng chương trình đào tạo; in phôi văn bằng, quản lý và cấp văn bằng, chứng chỉ cho người học theo quy định của pháp luật; (v)
Tổ chức triển khai các hoạt động KHCN, hợp tác quốc tế theo chiến lược và kế hoạch phát triển của nhà trường; đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường; lựa chọn tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục để đăng ký kiểm định; (vi) Trường đại học tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo [9]
Ngày 24/10/2014, Chính phủ ra Nghị quyết số 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014 – 2017, tiếp tục khẳng định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GDĐH trong giai đoạn này Theo đó, các cơ sở GDĐH trong chương trình thí điểm khi cam kết tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện, được chủ động khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực, chủ động hơn về tài chính, đầu tư mua sắm, tổ chức bộ máy nhân sự, đặc biệt là về học thuật (đào tạo và NCKH),… để nâng cao chất lượng đào tạo
Ngày 14/02/2015, một quy chế về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập được Chính phủ ban hành tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho tất cả các trường ĐHCL có đủ điều kiện, cam kết
tự đảm bảo kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về nhiệm vụ đào tạo, NCKH, tổ chức bộ máy,
Trang 26nhân sự và tài chính Việc ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP có những bước đổi mới mạnh mẽ về cơ chế, chính sách tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung cũng như các cơ sở GDĐH công lập nói riêng, kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của GDĐH trong khuynh hướng hội nhập, toàn cầu hóa
1.2.2 Tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập
1.2.2.1 Các quan điểm khác nhau về tự chủ tài chính
“Cơ chế tự chủ tài chính” là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, nâng cao tính tự chịu trách nhiệm cho các trường ĐHCL về mặt hoạt động tài chính,
tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ của các trường ĐHCL “Cơ chế quản lý tài chính” đó là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ quản lý về tài chính giữa các trường ĐHCL dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước
“Tự chủ tài chính” là một cơ chế quản lý tài chính mà ở đó thủ trưởng của đơn vị được trao quyền tự chủ phát triển và mở rộng cung ứng các hoạt động dịch vụ; đồng thời là quyền của các trường ĐHCL được tự chủ trong việc xác định và xây dựng nguồn thu, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính theo chiến lược phát triển của từng trường sao cho hiệu quả; huy động và đa dạng hóa các nguồn thu; giảm tỷ lệ thu từ học phí; gia tăng tỷ lệ thu từ hoạt động NCKH, tư vấn chính sách, chuyển giao công nghệ; tăng nguồn thu từ các hoạt động đào tạo khác, dịch vụ đào tạo; tìm kiếm nguồn thu từ tài trợ của các tổ chức, cá nhân, cựu sinh viên,… nhằm chia sẻ gánh nặng với NSNN, tạo động lực cạnh tranh, khẳng định uy tín, thương hiệu của nhà trường về chất lượng đào tạo, NCKH,…
Theo Hiệp hội Đại học Châu Âu (EUA), “Tự chủ về tài chính đề cập đến khả năng tự quyết định về các vấn đề tài chính nội bộ của một cơ sở GDĐH, khả năng quản lý quỹ một cách độc lập cho phép cơ sở GDĐH thiết lập và thực hiện các mục tiêu chiến lược” [16]
Theo Hiệp hội ĐH Châu Âu (EUA), quyền tự chủ về tài chính cho phép trường có điều kiện huy động các nguồn lực và phân bổ nguồn tài chính để hiện thực hóa những mục tiêu đặt ra Tự chủ về tài chính thể hiện ở các nội dung cụ thể
Trang 27sau: (i) Quyết định mức học phí; (ii) Trả lương cho giảng viên (theo thành tích nghiên cứu và giảng dạy); (iii) Phân bổ ngân sách một cách độc lập; (iv) Sở hữu bất động sản, tài sản tài chính; (v) Vay vốn, đầu tư ở thị trường tài chính [16]
Ở Việt Nam, từ năm 2006 đến nay, cơ chế tài chính đối với các cơ sở GDĐH công lập từng bước đổi mới, theo hướng nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm về tài chính Đặc biệt, ngày 24/10/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 77/NQ-CP về “Thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014 – 2017” nhằm cụ thể hóa các nội dung về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học trong khuôn khổ pháp lý được quy định, đồng thời để thúc đẩy hoạt động TCĐH tại Việt Nam Theo Nghị quyết số 77/NQ-CP, các cơ sở GDĐH công lập khi cam kết tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về các mặt: thực hiện nhiệm vụ đào tạo và NCKH; tổ chức bộ máy và nhân sự; tài chính; chính sách học bổng, học phí đối với đối tượng chính sách; đầu
tư, mua sắm Trong đó, cơ sở GDĐH được tự chủ về tài chính ở các nội dung:
(i) Học phí: quyết định mức học phí bình quân (của chương trình đại trà) tối
đa bằng mức trần học phí do Nhà nước quy định cộng với khoản chi thường xuyên NSNN cấp bình quân cho mỗi sinh viên công lập trong cả nước; quyết định mức học phí cụ thể (cao hoặc thấp hơn mức học phí bình quân) đối với từng ngành, nghề, chương trình đào tạo theo nhu cầu người học và chất lượng đào tạo, bảo đảm mức học phí bình quân trong nhà trường không vượt quá giới hạn mức học phí bình quân tối đa nêu trên; thực hiện công khai mức học phí cho người học trước khi tuyển sinh;
(ii) Thu sự nghiệp: quy định cụ thể và công khai những khoản thu sự nghiệp
ngoài học phí theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và tích lũy hợp lý;
(iii) Tiền lương và thu nhập: quyết định thu nhập tăng thêm của người lao
động theo quy chế chi tiêu nội bộ, ngoài tiền lương ngạch, bậc theo quy định của Nhà nước;
Trang 28(iv) Sử dụng nguồn thu: quyết định việc sử dụng nguồn thu của đơn vị để chi
cho các hoạt động thường xuyên, bảo đảm đạt chuẩn chất lượng đầu ra theo đúng cam kết; Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại được trích lập các quỹ sau: Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập và các quỹ hỗ trợ sinh viên Trong đó, trích tối thiểu 25% chênh lệch thu chi cho Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Mức trích lập các quỹ còn lại và mức trả thu nhập tăng thêm do Hiệu trưởng quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; Khoản thu học phí và các khoản thu sự nghiệp khác được gửi ở ngân hàng thương mại [16]
1.2.2.2 Vai trò của TCTC đối với sự phát triển của các cơ sở GDĐH [16]
Trên thế giới, mô hình đại học tự chủ được nhìn nhận là phương thức quản trị đại học tiên tiến nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo (Sursock và Amidt, 2010); và là xu thế tất yếu của xã hội phát triển và các cơ sở GDĐH (đặc biệt là các trường đại học công lập) buộc phải thích nghi và cần nhìn nhận những lợi ích, cơ hội mà TCTC đem lại cho sự phát triển của nhà trường Cụ thể:
Thứ nhất, TCTC là cơ hội để các cơ sở GDĐH chủ động trong việc huy động
các nguồn lực từ xã hội cho phát triển GDĐH, đồng thời giúp các trường có cơ sở
để thực hiện chế độ giao, khoán mức chi cho các đơn vị nhằm sử dụng hiệu quả và tiết kiệm chi phí để từ đó góp phần vào việc tăng thu nhập cho giảng viên và cán bộ công nhân viên (John Fielden, 2008)
Thứ hai, TCTC tạo cơ hội đối với các cơ sở GDĐH tận dụng tối đa nguồn
lực sẵn có, giúp đa dạng hóa các nguồn thu đồng thời giúp đảm bảo hoạt động, tăng tích lũy, giảm bớt gánh nặng cho NSNN Trên thế giới, nguồn thu của các cơ sở GDĐH khá đa dạng, như nguồn thu từ (i) kinh phí nhà nước phân bổ cho hoạt động, đặc biệt là giảng dạy và NCKH; (ii) kinh phí phân bổ cho nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu từ các nguồn khác nhau (từ các Bộ); (iii) học phí và các loại phí khác thu được từ sinh viên trong nước và sinh viên nước ngoài; (iv) nguồn thu từ các hợp đồng NCKH, chuyển giao công nghệ, hợp đồng đào tạo, dịch vụ tư vấn, bản quyền,…; (v) nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ trong khuôn viên nhà
Trang 29trường phục vụ giảng viên, sinh viên và cộng đồng; (vi) nguồn thu từ hiến tặng, tài trợ, quà biếu, đầu tư Vì vậy, khi được trao quyền tự chủ về tài chính sẽ góp phần giúp các cơ sở GDĐH nâng cao tính năng động, sáng tạo của các trường đại học trong việc tìm kiếm các nguồn thu, giảm bớt sự bao cấp của nhà nước Khi nguồn thu tăng lên, các trường đại học sẽ có những nguồn lực tài chính để tăng đầu tư cho
cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực,… để từ đó nâng cao chất lượng GDĐH
Thứ ba, TCTC giúp cơ sở GDĐH có đủ điều kiện pháp lý để từng bước cải
thiện thu nhập cho người lao động; đồng thời tạo cơ chế để các trường chủ động trong tìm kiếm, thu hút các giảng viên có trình độ cao bằng các chính sách ưu đãi về điều kiện và môi trường làm việc, lương, thưởng và các chính sách hỗ trợ khác trong NCKH, đào tạo và bồi dưỡng,… và qua đó giúp các trường nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH
1.2.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến TCTC tại các cơ sở GDĐH
Thứ nhất, Các chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô, cho nên đường lối, chính sách của Nhà nước đều ảnh hưởng tới các cơ sở GDĐH Bởi vì:
- Nhà nước là người xây dựng hệ thống luật pháp, định hướng phát triển các trường và kiểm tra, giám sát những việc được làm trong khuôn khổ pháp luật
- Hệ thống chính sách và công cụ chính sách tài chính, đầu tư, tiền lương, thu nhập, chi tiêu của Nhà nước có tác động rất lớn đến cơ chế TCTC của các cơ sở GDĐH Hệ thống chính sách này phải phù hợp với cơ chế thị trường, có tính cạnh tranh thì mới tăng cường sự chủ động cho các cơ sở GDĐH Nói cách khác, cơ chế TCTC mới phát huy tác dụng, góp phần thúc đẩy các cơ sở GDĐH phát triển
- Cơ chế tự chịu trách nhiệm đi kèm với quyền TCTC do nhà nước quy định
là rất quan trọng để các cơ sở GDĐH cũng như CBVC thực sự tham gia quản lý công việc, tham gia vào cơ chế TCTC Khung pháp lý của Nhà nước đưa ra là nhân
tố giới hạn hoặc thúc đẩy sự năng động sáng tạo của các cơ sở GDĐH trong quản lý thu chi tài chính
Trang 30Thứ hai, Hệ thống pháp luật của nhà nước
Hệ thống pháp luật của nhà nước có tác động rất lớn tới hoạt động đào tạo, NCKH của các cơ sở GDĐH Bởi vì, nó chính là cơ sở pháp lý để các cơ sở GDĐH
có thể tăng cường huy động các nguồn lực tài chính từ nhà nước, từ XH…
Ở góc độ quản lý, các cơ sở GDĐH chịu ảnh hưởng của Luật Giáo dục; GDĐH; Luật Ngân sách; Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; Luật Doanh nghiệp; Luật KHCN; Luật Công chức, Viên chức
Thứ ba, Sự phát triển của thị trường lao động
Trong kinh tế thị trường, sự phát triển của thị trường sức lao động có vai trò rất quan trọng, nó có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một cơ sở GDĐH Bởi vì, nó liên quan tới nhu cầu xã hội hóa GDĐH, thị trường lao động càng phát triển thì càng có tác động lớn tới TCTC của các cơ sở GDĐH, nguyên nhân là do:
- Thị trường là nơi sử dụng sản phẩm đào tạo, NCKH Nó là nơi cuối cùng thẩm định chất lượng của một cơ sở GDĐH Nếu sản phẩm đào tạo, NCKH của cơ
sở GDĐH được các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước sử dụng thì cơ sở GDĐH đó mới tồn tại, phát triển được
- Người sử dụng sản phẩm đào tạo là xã hội Cho nên sự ủng hộ của xã hội là điều kiện quan trọng để các cơ sở GDĐH thực hiện quyền TCTC
- Trong kinh tế thị trường, sản phẩm đào tạo là một loại hàng hóa đầu vào của quá trình sản xuất Cho nên, quá trình đào tạo và sử dụng sản phẩm cũng phải vận dụng quan hệ thị trường Nghĩa là người học, người sử dụng sản phẩm phải trả chi phí đào tạo Tùy theo mức độ thị trường hóa mà mức chi phí đào tạo được xác lập khác nhau Tuy nhiên, chi phí này cần đảm bảo cho các cơ sở GDĐH có thể tái sản xuất mở rộng quá trình đào tạo
Thứ tư, Năng lực quản lý của cơ quan chủ quản
Là nhân tố tạo môi trường thúc đẩy sự chuyển biến về công tác đào tạo, NCKH, hoạt động dịch vụ của các cơ sở GDĐH Bởi vì, nó vừa là cơ sở để thực
Trang 31hóa, vừa là rào cản cho mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực GDĐH
Thứ năm, Năng lực nội sinh của các cơ sở GDĐH
Năng lực nội sinh của các cơ sở GDĐH chính là nguồn tài chính, nguồn nhân lực, vật lực, môi trường, thông tin,… cần thiết cho công tác giảng dạy, học tập, NCKH Cụ thể như:
- Đội ngũ giảng viên là nhân tố then chốt tạo nên sự phát triển cho một cơ sở GDĐH Chất lượng giảng viên được đánh giá qua học hàm, học vị (thạc sĩ, tiến sỹ, PGS, GS), ảnh hưởng tới hệ thống chương trình, giáo trình, tài liệu giảng dạy mà họ biên soạn phục vụ cho quá trình đào tạo cũng như kết quả về số lượng, chất lượng của các chương trình, đề tài mà xã hội trao cho họ
- Đội ngũ cán bộ quản lý, phục vụ giảng dạy có chất lượng thì các cơ sở GDĐH sẽ vận hành tốt Đội ngũ này có vai trò rất to lớn để chuyển quản lý nhà trường từ cách quản lý hành chính sang quản lý chất lượng, hiệu quả
- Thư viện là kho tàng tri thức của các cơ sở GDĐH Nó cung cấp đầy đủ tài liệu học tập cho sinh viên, bao gồm hệ thống giáo trình, tài liệu giảng dạy, sách chuyên khảo, tham khảo, tạp chí khoa học… Ngoài ra, đối với các trường khoa học
kỹ thuật, khoa học cơ bản thì cần phải có một hệ thống phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, thực tập được đầu tư theo kịp với sự phát triển xã hội trong nước và quốc
tế
- Phòng học, ký túc xá, các phương tiện, máy tính là điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện tốt công tác đào tạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong môi trường cách mạng khoa học kỹ thuật và hiện đại hóa
1.2.2.4 Nội dung thực hiện cơ chế TCTC tại các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam [5]
Thứ nhất, cơ chế TCTC ở các cơ sở GDĐH công lập tự chủ về chi thường
xuyên và chi đầu tư
Về nguồn tài chính của đơn vị: Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp tự
chủ về chi thường xuyên và chi đầu tư được hình thành từ các nguồn sau: (i) Nguồn
Trang 32thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn NSNN đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí; (ii) Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi thường xuyên
và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí); (iii) Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có); (iv) Nguồn NSNN cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có) (gồm: kinh phí thực hiện nhiệm vụ KHCN (tổ chức KHCN); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án Đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao); (v) Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật
Về tự chủ trong chi đầu tư từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn vốn vay và các nguồn tài chính hợp pháp khác Căn cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân
đối các nguồn tài chính, đơn vị chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư đã được phê duyệt, đơn vị quyết định dự án đầu tư, bao gồm các nội dung về quy mô, phương án xây dựng, tổng mức vốn, nguồn vốn, phân kỳ thời gian triển khai theo quy định của pháp luật về đầu tư Đơn vị sự nghiệp công được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định Căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đầu tư đang triển khai, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền
Về chi thường xuyên (chi tiền lương, chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định) Đối với các nội dung chi đã có định
mức cho theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào khả năng tài chính, đơn vị được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị Đối với các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ
Trang 33quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình
Đối với việc chi tiền lương, đơn vị chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị (NSNN không cấp bổ sung)
Về phân phối kết quả tài chính trong năm Hàng năm, sau khi hạch toán đầy
đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp NSNN khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng
để trích lập các Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ bổ sung thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi
Đơn vị trích tối thiểu 25% chênh lệch thu lớn hơn chi để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Đơn vị được tự quyết định mức trích Quỹ bổ sung thu nhập (không khống chế mức trích)
Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị
Về việc sử dụng các Quỹ Mặc dù là một đơn vị tự chủ hoàn toàn về chi
thường xuyên và chi đầu tư nhưng việc sử dụng các khoản trích lập quỹ của mình vẫn phải theo quy định của nhà nước Cụ thể như sau:
- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao nghiệp
vụ chuyên môn cho người lao động trong đơn vị; góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn vị được giao vốn theo quy định) để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác (nếu có)
Trang 34- Quỹ bổ sung thu nhập: Để chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong năm và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau trong trường hợp nguồn thu nhập bị giảm
Việc chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ
số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị
- Quỹ khen thưởng: Để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong
và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn
vị
- Quỹ phúc lợi: Để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động thực hiện tinh giản biên chế
Thứ hai, cơ chế TCTC ở các cơ sở GDĐH công lập tự bảo đảm chi thường
xuyên, tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên
Về nguồn tài chính của đơn vị: Về cơ bản, nguồn tài chính của 3 loại hình
đơn vị này là giống nhau, bao gồm: (i) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn NSNN đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí; (ii) Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định; (iii) Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật; (iv) Nguồn NSNN cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên theo quy định; (v) Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật
Điểm khác biệt trong nguồn tài chính của 3 loại hình đơn vị tự chủ này là:
- Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên có thêm “Nguồn NSNN hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu giá, phí dịch vụ sự nghiệp công”
Trang 35- Đối với đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp) thì nguồn tài chính không có nguồn thu từ phí, lệ phí,
Về phân phối kết quả tài chính trong năm: Hàng năm, sau khi hạch toán đầy
đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp NSNN khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi hoạt động thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng để trích lập các Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ bổ sung thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi Ngoài ra, Chính phủ còn cho phép các đơn
vị được trích lập các quỹ khác theo quy định của pháp luật sao cho phù hợp với tình hình thực tế Mức trích lập các quỹ được trích theo mức độ tự chủ tài chính của 3 loại hình đơn vị như sau:
- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: (i) Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên trích tối thiểu 25%; (ii) Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên trích tối thiểu 15%; (iii) Đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, nếu có phần kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên và số tiết kiệm chi lớn hơn một lần quỹ tiền lương thực hiện trong năm thì trích tối thiểu 5%
- Quỹ bổ sung thu nhập: (i) Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên trích tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định; (ii) Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên trích tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định; (iii) Đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên trích tối đa không quá 1 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định
- Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi: (i) Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm; (ii) Đơn vị
tự bảo đảm một phần chi thường xuyên trích tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm; (iii) Đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên trích tối đa không quá 1 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm
Trang 36Về tự chủ trong chi thường xuyên: Tùy từng loại hình tự chủ mà quyền tự
chủ trong chi thường xuyên của các cơ sở GDĐH công lập là khác nhau Cụ thể như sau:
- Đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên: Đơn vị được chủ động sử dụng nguồn thu hoạt động dịch vụ sự nghiệp, nguồn thu phí, lệ phí và các nguồn thu khác theo quy định của nhà nước trong việc chi thường xuyên Tuy nhiên, đơn vị không được tự chủ hoàn toàn mà phải thực hiện theo đúng quy định của nhà nước
về mua sắm tài sản, đấu thầu,…
- Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên: Đơn vị cũng được chủ động sử dụng các nguồn thu tương tự như trường hợp của đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên Tuy nhiên, với loại hình tự chủ này nên các đơn vị bị giới hạn một số quyền cụ thể như: (i) Đơn vị chi trả tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công; (ii) Căn cứ nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
- Đối với đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: Đơn vị được sử dụng nguồn NSNN cấp chi thường xuyên trên cơ sở số lượng người làm việc và định mức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các nguồn thu hợp pháp khác Đơn vị được quyết định mức chi cho chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Riêng đối với các khoản chi không thường xuyên thì các cơ sở GDĐH công lập thuộc 3 loại hình tự chủ trên đều phải thực hiện theo quy định của Luật NSNN
và pháp luật hiện hành đối với từng nguồn kinh phí
Thứ ba, cách xác định để phân loại đơn vị sự nghiệp
Để xác định đơn vị sự nghiệp được phân loại theo loại hình tự chủ nào, ta dựa vào mức tự bảm đảm chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị
Trang 37Mức tự bảo đảm chi phí
hoạt động thường xuyên
của đơn vị (%)
=
Trong đó:
- Tổng số nguồn thu sự nghiệp bao gồm: Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của nhà nước; Thu từ dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị; Thu khác (nếu có); Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng từ các hoạt động dịch vụ
- Tổng số chi hoạt động thường xuyên bao gồm: Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí; Chi cho các hoạt động dịch
vụ
Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định
Tóm tắt chương 1
Chương 1 đã trình bày tổng quan về các khái niệm, đặc điểm, vai trò của các
cơ sở GDĐH công lập, vấn đề về TCĐH, TCTC và nội dung thực hiện cơ chế TCTC tại các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam Đây là phần cơ sở lý luận quan trọng làm tiền đề cho việc phân tích thực trạng tình hình thực hiện TCTC tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM ở chương 2 và đưa ra các giải pháp để thực hiện tốt mô hình TCTC tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM ở chương 3
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG THÀNH VIÊN CỦA ĐHQG-HCM
2.1 Giới thiệu khái quát về ĐHQG-HCM
ĐHQG-HCM được thành lập ngày 27/01/1995 theo Nghị định số 16/CP của Chính phủ trên cơ sở sắp xếp 9 trường đại học lại thành 8 trường đại học thành viên
và chính thức ra mắt vào ngày 06/02/1996 Năm 2001, ĐHQG-HCM được tổ chức lại theo Quyết định số 15/2001/QĐ-TTg ngày 12/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ ĐHQG-HCM cũng như ĐHQG Hà Nội có Quy chế tổ chức và hoạt động riêng Theo đó, ĐHQG-HCM là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học – công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nòng cốt cho hệ thống GDĐH, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
ĐHQG-HCM đang được xây dựng trên diện tích 643,7 hecta tại khu quy hoạch Thủ Đức – Dĩ An theo mô hình một đô thị khoa học hiện đại ĐHQG-HCM
là nơi tập trung giảng viên, sinh viên tài năng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo ra những công trình NCKH quan trọng; nơi đi đầu trong đổi mới, đóng góp quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước, thúc đẩy tiến bộ xã hội ĐHQG-HCM được quản trị, điều hành, quản lý theo mô hình hệ thống đại học mẫu mực với
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao trước xã hội đồng thời tự kiểm soát và xây dựng môi trường sáng tạo khoa học, tự do học thuật trong khu đô thị đại học kiểu mẫu ĐHQG-HCM đang nỗ lực để hình thành một đại học quốc gia mang bản sắc
và văn hóa riêng biệt, lấy những giá trị cơ bản của con người làm nền tảng cho sự phát triển bền vững; đồng thời là nơi nuôi dưỡng những ước mơ, hoài bão được tự
do trao đổi, khám phá, sáng tạo khoa học và học tập suốt đời Dựa trên triết lý giáo dục đó, ĐHQG-HCM hướng tới các giá trị: (i) Vì sự phát triển toàn diện của con người, lấy người học làm trung tâm; (ii) Chất lượng giáo dục luôn là yếu tố quan tâm hàng đầu cho mọi hoạt động; (iii) Đề cao tính độc lập, sáng tạo trong nghiên cứu, sáng tạo khoa học; (iv) Sự liên thông, hợp tác quốc tế là nòng cốt cho sự phát triển; (v) Đề cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong công tác quản lý; (vi) Gắn kết và phục vụ cộng đồng
Trang 392.2 Mô hình tự chủ tại Đại học Quốc gia
Theo quy định của Luật giáo dục, ĐHQG được ưu tiên cao nhất về tính tự chủ so với các loại hình khác ĐHQG nhận kinh phí trực tiếp từ Chính phủ, cụ thể là
Bộ Tài chính, Bộ KHCN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, được tự chủ về đối ngoại, hợp tác quốc tế, các chương trình đào tạo Các quy định về quyền tự chủ của các ĐHQG ở Việt Nam được khẳng định bởi Quy chế về tổ chức và hoạt động của ĐHQG ban hành kèm theo Quyết định số 26/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/3/2014 về Quyết định ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của ĐHQG và các
cơ sở GDĐH thành viên, theo đó “ĐHQG được quyền tự chủ cao trong các hoạt động về tài chính theo Quy chế này và cơ chế tài chính đặc thù do Thủ tướng Chính phủ quy định Trong phạm vi nguồn kinh phí thường xuyên đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo dự toán hàng năm, ĐHQG được quy định nội dung, mức thu chi trên cơ sở cân đối các nguồn thu chi phù hợp khả năng của ĐHQG và quy định của nhà nước ĐHQG là chủ đầu tư đối với các dự án đầu tư sử dụng chung cho nhiều đơn vị trong ĐHQG; được quy định mức học phí phù hợp với chất lượng đào tạo đối với các chương trình đào tạo chất lượng cao Cơ cấu tổ chức của ĐHQG gồm (i) Hội đồng ĐHQG; (ii) Giám đốc, Phó Giám đốc; (iii) Văn phòng và các ban chức năng được tổ chức theo nguyên tắc tinh gọn, hiệu quả; (iv) Các trường đại học thành viên, các viện NCKH thành viên (sau đây gọi chung là các đơn vị thành viên); (v) Các khoa trực thuộc, các trung tâm nghiên cứu KHCN, phân hiệu (nếu có), các
tổ chức phục vụ đào tạo, NCKH và triển khai ứng dụng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, bệnh viện, nhà xuất bản, tạp chí khoa học (sau đây gọi chung là các đơn vị trực thuộc); (vi) Hội đồng khoa học và đào tạo, một số hội đồng tư vấn khác
Trên cơ sở các quyền tự chủ này, có thể thấy rằng, pháp luật Việt Nam hiện hành cho phép ĐHQG có cơ chế tài chính đặc thù riêng của mình trong khuôn khổ quy định của pháp luật Cơ chế tài chính đặc thù này cho phép phát huy hết mức quyền tự chủ của pháp luật dành cho mô hình đại học đặc thù của ĐHQG Tuy nhiên, nét đặc thù này vẫn phải tiến hành trong khuôn khổ những giới hạn pháp lý chung, ví dụ giới hạn về việc thu học phí, các khoản phí khác theo quy định của
Trang 40Nghị định số 86/CP (2015) Giới hạn này áp dụng chung đối với các trường ĐHCL, trong đó có các trường đại học thành viên của ĐHQG Riêng đối với học phí của chương trình đào tạo chất lượng cao, Quy chế về tổ chức và hoạt động của ĐHQG cho phép các ĐHQG được tự mình xác định mức học phí Đây là một sự ghi nhận quyền tự chủ cao, tuy nhiên quyền tự chủ này cũng được ghi nhận đối với các trường đại học không phải là thành viên của ĐHQG theo quy định tại Điều 3 khoản
3 Nghị định số 86/CP “Cơ sở giáo dục công lập thực hiện chương trình chất lượng cao được thu học phí tương xứng để bù đắp chi phí đào tạo”
Tuy nhiên, so với Nghị quyết số 77/NQ-CP, thì các quyền tự chủ của các trường thành viên ĐHQG-HCM còn bị hạn chế rất nhiều về tuyển sinh (khống chế chỉ tiêu), trừ trường ĐH Quốc tế, còn lại chưa có trường nào thực hiện tự chủ về tài chính, và các quyền tự chủ khác theo NQ 77/NQ-CP Mặt khác, mặc dù pháp luật (Điều 8 – Luật GDĐH 2012, Quyết định số 26/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (26/3/2014)), cho phép ĐHQG có quyền chủ động cao trong các hoạt động về đào tạo, NCKH, tài chính, quan hệ quốc tế và tổ chức bộ máy, nhưng trên thực tế ĐHQG vẫn chịu sự quản lý, can thiệp của Bộ GDĐT trong điều hành các hoạt động đào tạo Cụ thể, một số thông tư của Bộ yêu cầu ĐHQG phải thực hiện các chương trình đào tạo theo quy định của Bộ GDĐT (chương trình đào tạo cao học, phôi bằng,…)
Trên cơ sở quyền tự chủ của ĐHQG, quyền tự chủ của các đơn vị thành viên của ĐHQG được xác định cụ thể như sau: (i) Các đơn vị thành viên được tự chủ theo quy định hiện hành trong phạm vi nguồn kinh phí thường xuyên được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo dự toán hàng năm của ĐHQG; (ii) Tự chủ quyết định mức thu chi đối với các hoạt động do đơn vị thực hiện; (iii) Tự chủ trong đầu tư xây dựng, quản lý và điều hành cơ sở vật chất kỹ thuật của đơn vị được giao quản lý theo quy định của ĐHQG
Ngày 05/4/2010, ĐHQG-HCM có ban hành Quyết định số TCCB quy định thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các trường đại