Căn cứ theo phương thức hoàn trả: ODA có 3 loại: Viện trợ không hoàn lại: Bên nước ngoài cung cấp viện trợ mà bên nhận không phải hoàn lại để bên nhận thực hiện các chương trình, d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
LÝ XUÂN MINH
GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO TIẾN ĐỘ TRIỂN KHAI CÁC
DỰ ÁN ODA TẠI SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ LÀO CAI
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
TS ĐẶNG VŨ TÙNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện, dưới
sự hướng dẫn của TS Đặng Vũ Tùng
Các tài liệu tham khảo dùng trong luận văn được trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng và được phép sử dụng trong các trường học và viện nghiên cứu ở Việt Nam và thế giới
Các nội dung, số liệu nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình đề tài nào trước đây
Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2017
Người thực hiện
Lý Xuân Minh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại nghiên cứu tại Viện kinh tế và quản lý thuộc trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, dưới sự giúp đỡ của các thầy cô và bạn bè cùng lớp, đồng nghiệp, bài luận văn cao học của tôi đến nay đã hoàn thành Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, xin phép cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Thầy giáo TS Đặng Vũ Tùng - Giảng viên bộ môn Quản lý công nghiệp, Viện
kinh tế và quản lý - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội;
Các thầy, cô giáo Viện kinh tế và quản lý - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội; Lãnh đạo Ban QLDA ODA - sở Kế hoạch và Đầu tư Lào và các đồng nghiệp hiện đang công tác tại Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai;
Tất cả thầy cô, anh chị đã thật sự quan tâm tạo điều kiện, nhiệt tình cổ vũ cho tôi trong thời gian thực hiện cũng như hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2017
Người thực hiện
Lý Xuân Minh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 6
1 Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu 6
2 Mục tiêu nghiên cứu 7
2.1 Mục đích nghiên cứu đề tài 7
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7
3 Đối tượng và phạm nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
4.1 Nguồn số liệu thứ cấp 8
4.2 Nguồn số liệu sơ cấp 8
5 Kết cấu luận văn 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỰ ÁN ODA 9
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC ODA 9
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm nguồn vốn ODA 9
1.1.2 Phân loại nguồn vốn ODA 14
1.1.3 Vai trò của ODA đối với các nước đang phát triển 17
1.2 QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA 20
1.2.1 Khái niệm quản lý dự án ODA 20
1.1.2 Đặc điểm của quản lý dự án ODA 20
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý dự án ODA 21
1.1.4 Nội dung quản lý dự án ODA 23
1.1.5 Cơ sở pháp lý về quản lý dự án ODA tại Việt Nam 26
1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẢM BẢO TIẾN ĐỘ CÁC DỰ ÁN ODA 28
1.3.1 Từ phía các nhà tài trợ 28
1.3.2 Từ phía nước tiếp nhận tài trợ 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI TIẾN ĐỘ CÁC DỰ ÁN ODA TẠI SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ LÀO CAI 32
Trang 52.2 Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai 33
2.2.1 Chức năng nhiệm vụ 33
2.2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai 36
2.2.3 Trình độ - Năng lực cán bộ quản lý của Ban QLDA ODA 39
2.2.4 Tổ chức thực hiện dự án 40
2.2.5 Các dự án đã và đang được Ban QLDA ODA triển khai thực hiện 41
2.3 Giám sát, đánh giá tiến độ thực hiện một số dự án ODA tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai 52
2.3.1 Tổng quan 52
2.3.2 Dự án phát triển các đô thị loại vừa Việt Nam – Tiểu dự án thành phố Lào Cai 54
2.3.3 Dự án Phát triển các đô thị hành lang tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) lần thứ 2 - Tiểu dự án đô thị Sa Pa, tỉnh Lào Cai 63
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tiến độ các dự án ODA tại sở Kế hoạch Đầu tư Lào Cai 73 2.4.1 Thuận lợi 73
2.4.2 Khó khăn 73
2.4.3 Nguyên nhân 74
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO TIẾN ĐỘ TRIỂN KHAI CÁC DỰ ÁN ODA TẠI SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ LÀO CAI 75
3.1 Triển vọng thu hút vốn ODA 75
3.1.1 Tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA của Việt Nam 75
3.1.2 Định hướng phát triển các dự án ODA tỉnh Lào Cai 79
3.2 Đề xuất các giải pháp đảm bảo tiến độ các dự án ODA 81
3.2.1 Giải pháp đối với cơ chế quản lý Ban QLDA 81
3.2.2 Nâng cao công tác chuyên môn của các phòng thuộc Ban QLDA 83
3.2.3 Áp dụng các công cụ quản lý tiến độ dự án: 85
KẾT LUẬN 89
1 Nội dung thực hiện 89
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 89
2.1 Ý nghĩa khoa học 89
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 89
3 Những vấn đề mới 89
4 Những tồn tại 90
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ban QLDA Ban Quản lý Dự án ODA tỉnh Lào Cai EIA Báo cáo đánh giá tác động môi trường
IBRD Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế
LCS Tuyển chọn tư vấn có chi phí thấp nhất MCDP Dự án Phát triển đô thị loại vừa
NCB Đấu thầu cạnh tranh trong nước
QCBS Tuyển chọn tư vấn trên cơ sở chất lượng và
chi phí
Sở KH&ĐT Sở Kế hoạch và Đầu tư
SSS Tuyển chọn tư vấn từ một nguồn duy nhất
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, bên cạnh đó chúng ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì vậy nhu cầu về vốn đầu tư là rất lớn Tuy nhiên, do trình độ khoa học công nghệ lạc hậu, thu nhập quốc dân bình quân đầu người thấp, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế gần như không đáng kể nên vốn đầu tư là một trong những khó khăn lớn đặt ra cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã
hội hiện nay
Trong khi khẳng định nguồn vốn trong nước có vai trò quyết định, Việt Nam đã coi nguồn vốn nước ngoài có vị trí quan trọng Cùng với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nguồn vốn quý Quý bởi thời gian vay thường kéo dài hàng chục năm, thời gian ân hạn dài, lãi suất thường thấp hơn nhiều so với vay thương mại và có khoảng 10% tổng số là viện trợ không hoàn lại Nguồn vốn ODA có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của toàn
bộ nền kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay, thông qua nguồn viện trợ này mà chúng
ta có thể xây dựng, cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ nguồn nhân lực, hỗ trợ cải cách chính sách kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, xoá đói giảm nghèo… còn các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, tiếp thu trình độ quản lý tiên tiến Tuy nhiên, báo cáo kết quả giám sát lĩnh vực ODA của
Uỷ ban Đối ngoại cũng như đánh giá của Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội cùng thống nhất quan điểm: Việc sử dụng vốn ODA về cơ bản là có hiệu quả nhưng cơ chế quản lý, giám sát, sử dụng nguồn vốn này còn nhiều vướng mắc làm hạn chế hiệu quả của việc sử dụng nguồn tài trợ từ bên ngoài Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội đã nêu lên nhiều nhược
điểm trong công tác quản lý nguồn vốn ODA cần sớm khắc phục
Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý các nguồn vốn ODA trên địa bàn, tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định số 1488/QĐ-UBND ngày 21/6/2012 của UBND tỉnh Lào Cai thành lập Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai nhằm đảm bảo việc
tổ chức quản lý đạt hiệu quả cao nhất Từ thời điểm được thành lập tháng 6/2012
và hoạt động cho đến nay Ban QLDA đã được UBND tỉnh, các nhà tài trợ đánh ra rất cao về tính chuyện nghiệp và hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án Song đây là một mô hình quản lý vốn ODA đầu tiên trên cả nước nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức bộ máy hoạt động từ công tác tham mưu, chuẩn bị đầu tư, đảm bảo tiến độ các công trình, đặc biệt là sự phối hợp giữa các bộ phận chưa thật
sự hiệu quả, nhiều gói thầu còn bị chậm tiến độ ảnh hưởng đến công tác giải ngân
và hoàn thành của cả dự án
Qua việc nghiên cứu về lý luận và căn cứ vào tình hình thực tế đang triển khai tại đơn vị nhằm đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo tiến độ thực hiện các dự
Trang 8ODA, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp đảm bảo tiến độ triển khai các dự án
ODA tại sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai ” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề xuất một số giải pháp đảm bảo tiến độ triển khai các dự án ODA tại sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về nguồn vốn ODA và vấn đề quản lý tiến
độ dự án ODA
- Đánh giá công tác quản lý tiến độ dự án ODA tại sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai trên cơ sở phân tích thực trạng, từ đó chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó
- Đề xuất các giải pháp nhằm giải pháp đảm bảo tiến độ triển khai các dự án ODA tại sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai
3 Đối tượng và phạm nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là hoạt động quản lý tiến độ các dự án ODA tại sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Lào Cai trong đó tập trung vào hai dự án chính:
Dự án phát triển các đô thị loại vừa Việt Nam – Tiểu dự án thành phố Lào Cai; Dự án phát triển các đô thị dọc hành lang tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) - Tiểu dự án
đô thị Sa Pa, thành phố Lào Cai - Vốn vay Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), giai đoạn 2014 - 2019
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề chỉ nghiên cứu trong phạm vi sau:
- Về không gian: Chỉ nghiên cứu các dự án ODA do sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai làm chủ đầu tư
- Về thời gian: Từ năm 2000 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Luận văn được thực hiện dựa trên phân tích từ các nguồn có sẵn ( Số liệu thứ cấp) và thu thập trực tiếp từ các bên có liên quan ( Số liệu sơ cấp)
4.1 Nguồn số liệu thứ cấp
Nguồn số liệu thứ cấp bao gồm báo cáo, giáo trình, quy định, văn bản pháp lý, thông tin trên internet để tổng hợp các vấn đề liên quan đến cơ sở lý luận về quản lý
dự án
Các báo cáo về việc thực hiện các dự án ODA do Ban QLDA quản lý để làm cơ sở
cho việc phân tích
Các số liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu và các luận văn có liên quan đến
quản lý thực hiện dự án, đảm bảo tiến độ dự án
4.2 Nguồn số liệu sơ cấp
Thực hiện phỏng vấn đối với lãnh đạo, những người có liên quan đến dự án bằng bảng câu hỏi mở bao gồm: Trưởng ban QLDA, Trưởng phòng Quản lý đấu thầu, Trưởng phòng Giám sát kỹ thuật, Trưởng phòng Kế toán hành chính, trưởng phòngMôi trường xã hội; Các đơn vị tư vấn thiết kế, tư vấn hỗ trợ dự án, tư vấn giám sát,
nhà thầu thi công…
Nội dung phỏng vấn liên quan đến các yêu cầu về quản lý thực hiện dự án, thực
trạng công tác quản lý thực hiện các dự án và các phương án đảm bảo tiến độ dự án
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu thu thập được tập hợp và xử lý trên excel, sử dụng các công cụ như sơ đồ,
bảng biểu để phân tích dữ liệu
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, kết cấu luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dự án ODA
Chương 2: Thực trạng triển khai tiến độ các dự án ODA tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai
Chương 3: Giải pháp đảm bảo tiến độ triển khai các dự án ODA tại sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỰ ÁN ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) là một trong những nguồn lực từ bên ngoài có những ưu việt nổi trội (viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi) rất phù hợp để hỗ trợ các nước đang phát triển, nhất là các nước nghèo xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội Từ giữa thế kỷ 20 việc tranh thủ thu hút và sử dụng nguồn lực ODA đã góp phần tích cực vào việc giảm hố ngăn cách giàu nghèo giữa các quốc gia và nâng cao đời sống cho người dân ở các
nước nghèo và nước đang phát triển
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC ODA
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm nguồn vốn ODA
1.1.1.1 Khái niệm
Lịch sử hình thành nguồn vốn ODA: Viện trợ phát triển chính thức đã có từ rất
lâu đời, nhưng sau chiến tranh thế giới thứ II, loại hình viện trợ này mới thực sự phổ biến và được quốc tế hoá
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều nước bị tàn phá nặng nề về kinh tế (chủ yếu là các nước Châu Âu), trong khi đó Mỹ không những không bị suy sụp bởi chiến tranh mà còn giàu lên trông thấy Với sức mạnh về mọi mặt của mình, nổi bật nhất là về kinh tế, Mỹ đã đưa ra kế hoạch Marshall, vừa để trợ giúp các nước Tây
Âu phục hồi kinh tế, vừa để chi phối, kiểm soát các nước này và ngăn chặn việc mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô Trong thời kỳ từ năm 1947 đến 1951 Mỹ đã rót khoảng 2,5% tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của mình vào công cuộc tái thiết Tây
Âu Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước châu Âu đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế và thành lập Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Âu, về sau trở thành Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)
Được thúc đẩy bởi những tính toán lợi ích về mặt kinh tế và chính trị, Mỹ tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình thông qua việc tăng cường viện trợ ODA cho các nước đang phát triển, những quốc gia ở Thế giới thứ ba trong thập niên 1950
Trang 11Đồng thời, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRC), tiền thân của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng bắt đầu chuyển trọng tâm từ công cuộc tái thiết châu Âu sang quá trình phát triển ở Thế giới thứ ba Các tổ chức chuyên biệt của Liên hợp quốc, ví dụ như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng lớn mạnh cả về số lượng và quy mô trong các thập niên 1950 và 1960 Cùng với sự hình thành đông đảo các tổ chức đa phương là sự ra đời của rất nhiều tổ chức viện trợ tại các nước phát triển Tây Âu cũng như ở các nơi khác Trong vòng 20 năm tiếp theo, chương trình viện trợ song phương từ các nước cung cấp viện trợ khác còn tăng hơn rất nhiều so với của Mỹ Trong khuôn khổ hợp tác
và phát triển, các nước OECD đã lập ra những uỷ ban chuyên môn, trong đó có Uỷ ban Viện trợ Phát triển (DAC), nhằm giúp các nước đang phát triển đẩy nhanh phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư
Thập niên 1970 còn chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của viện trợ nước ngoài
từ các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC mới nổi lên Trong thập niên 1980, Nhật Bản tăng nhanh viện trợ nước ngoài, vượt qua Mỹ trở thành nước cung cấp viện trợ lớn nhất thế giới vào cuối thập niên này Đầu thập nhiên 1990, viện trợ cho các nước đang phát triển tăng rất nhanh, tuy nhiên, đến những năm đầu thế kỷ 21 này, hầu hết các quốc gia phát triển đều liên tục cắt giảm viện trợ do những khó khăn về kinh tế trên toàn cầu, và thế giới phải liên tục xử lý, đương đầu với những tình huống cấp bách như viện trợ chống thiên tai (động đất, sóng thần, sâu bệnh, hạn hán…) Gần đây chủ nghĩa khủng bố đã làm cho thế giới phải chi tiêu ngày càng nhiều tiền của hơn vào lĩnh vực này
Hiện nay đồng thời với việc cung cấp ODA song phương (trực tiếp), các nước còn chuyển giao ODA cho các nước đang phát triển thông qua các tổ chức viện trợ
đa phương Các tổ chức đó bao gồm: Các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc như: Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Chương trình lương thực thế giới (WFP), Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO); Liên minh Châu Âu (EU); Các tổ chức Phi Chính phủ (NGOs); Các tổ
Trang 12chức tài chính quốc tế, gồm: Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Phát triển Châu Phi (AfDB), Quỹ Viện trợ của OPEC; Quỹ Côoét…
Các khái niệm ODA:
Theo DAC: “Viện trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi; ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển (và các tổ chức nhiều bên), được các cơ quan thừa hành của Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành - được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một Hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế”
Theo WB: “ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức (ODF) trong
đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA”
ODF là tài trợ phát triển chính thức, là tất cả các nguồn tài chính mà Chỉnh phủ các nước phát triển và tổ chức đa phương dành cho các nước đang và kém phát triển, loại vốn vay này gồm có ODA và các hình thức ODF khác, trong đó ODA chiếm tỷ trọng lớn
Theo định nghĩa của UNDP: “ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay đối với các nước đang phát triển, cụ thể là: Do khu vực chính thức thực hiện, chủ yếu nhằm thúc đẩy kinh tế và phúc lợi, cung cấp với các điều khoản ưu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại ít nhất là 25%)”
Theo Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16 tháng 03 năm 2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài định nghĩa: “Vốn ODA, vốn vay ưu đãi là nguồn vốn
Trang 13của nhà tài trợ nước ngoài cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ phát triển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội”
Như vậy, có rất nhiều cách định nghĩa về ODA, song tóm lại ta có thể định nghĩa ODA như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn từ các cơ quan chính thức bên ngoài cung cấp (hỗ trợ) cho các nước đang và kém phát triển hoặc các nước đang gặp khó khăn về tài chính (thông qua các cơ quan chính thức) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của các nước này”
1.1.1.2 Đặc điểm
Có thể tổng quát ODA có 5 đặc điểm chính sau:
ODA do Chính phủ của một nước hoặc các tổ chức quốc tế cấp cho các cơ quan chính thức của một nước
ODA không cấp cho những dự án mang tính chất thương mại, mà chỉ nhằm
mục đích nhân đạo, giúp phát triển kinh tế, khắc phục khó khăn về tài chính hoặc nâng cao lợi ích kinh tế - xã hội của nước nhận viện trợ
ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi Tính ưu đãi thể hiện ở: Thời gian vay
thường kéo dài 40 năm, thời gian ân hạn ( thời gian bên đi vay không phải trả gốc
và lãi) lên tới 10 năm mới phải trả lãi, lãi suất thường thấp hơn nhiều so với vay thương mại (chỉ khoảng 1,5%/năm) và có khoảng 10% tổng số là viện trợ không hoàn lại
Như vậy, bản chất của viện trợ ODA mang tính nhân đạo, thể hiện nghĩa vụ đồng thời là sự quan tâm giúp đỡ của các nước đối với nhau, tăng cường thúc đẩy mối quan hệ đối ngoại tốt đẹp giữa các quốc gia hoặc giữa các tổ chức quốc tế với các quốc gia
Tuy nhiên, ODA không chỉ đơn thuần là việc giúp đỡ hữu nghị mà còn mang
tính ràng buộc, là một công cụ có hiệu quả để thiết lập và duy trì lợi ích kinh tế và
vị thế chính trị cho nước tài trợ Trung bình viện trợ có điều kiện làm giảm khoảng 20% giá trị của nó Hơn nữa, các công ty của các nước tài trợ được hưởng lợi từ việc viện trợ có điều kiện lại là những nhóm lợi ích luôn vận động hành lang cho
Trang 14cho các dự án viện trợ cần nhiều đầu vào từ các nước tài trợ cho dù các dự án này không phải là thích hợp nhất theo quan điểm của nước nhận viện trợ
Các nước viện trợ sử dụng ODA để khuyến khích sự phát triển kinh tế - xã hội
ở các nước đang phát triển theo hình mẫu mà họ mong muốn Ví dụ, khuyến khích phát triển kinh tế thị trường, tự dó hoá thương mại, mở cửa đầu tư… Bên cạnh đó, việc “ràng buộc” viện trợ song phương với việc mua trang thiết bị từ nước cung cấp viện trợ đã làm giảm bớt giá trị thực sự của những khoản viện trợ này cho các nước đang phát triển Mục đích của viện trợ có điều kiện là cho phép các nhà sản xuất ở nước tài trợ giành được những hợp đồng trong khoản mua sắm bằng viện trợ nước ngoài Thông thường, các nhà tài trợ thường yêu cầu các nước nhận viện trợ phải dùng 50% viện trợ để mua hàng hoá và dịch vụ của họ Viện trợ có điều kiện còn
mở ra cơ hội đặt hàng trong tương lai cho các nhà xuất khẩu ở nước cung cấp ODA Một khi nước tiếp nhận viện trợ lắp đặt máy móc thiết bị từ một nhà cung cấp nhất định, họ chắc chắn sẽ quay lại nhà cung cấp này để mua linh kiện, phụ tùng thay thế
ODA còn như một công cụ để thực hiện ý đồ chính trị đối ngoại, xác định vai trò và ảnh hưởng chính trị của các nước phát triển tại các quốc gia và khu vực tiếp nhận Như Mỹ là một trong các quốc gia thường xuyên sử dụng các điều kiện chính trị để “mặc cả” với các quốc gia tiếp nhận viện trợ Nhật Bản dùng ODA để bình thường hoá quan hệ với các nước Đông Nam Á, mở rộng giao lưu chính trị - văn hoá với các nước này nhằm tìm kiếm sự ủng hộ cho tham vọng trở thành trung tâm văn hoá - chính trị của thế giới
Ngoài ý đồ chính trị, các quốc gia phát triển còn gắn viện trợ với việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo
ODA có khả năng tạo thành gánh nợ Do tính chất ưu đãi của ODA nên khi sử
dụng nó người ta không ý thức ngay được gánh nặng nợ nần trong tương lai Nhiều
dự án ODA thường không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh, nhất là cho xuất khẩu Chính vì thế, những nước sử dụng ODA không có hiệu quả có thể có sự
Trang 15tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian sẽ rơi vào cảnh nợ nần hết sức nặng
nề
1.1.2 Phân loại nguồn vốn ODA
Có nhiều cách để phân loại nguồn vốn ODA, song dựa vào các căn cứ cụ thể,
ta có cách phân loại như sau:
Căn cứ theo tính chất của khoản viện trợ: Có 2 loại:
Viện trợ thông thường: Viện trợ cho các nước cần vốn cho mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội hoặc có nhu cầu cải thiện tình hình tài chính quốc gia; được thực hiện tại Hội nghị thường niên các nhà tài trợ Với loại hình viện trợ này, vai trò của các nhà tài trợ thể hiện ở 2 mặt: Tư vấn và phân tích kỹ thuật; và tài trợ cho các chương trình, dự án cụ thể
Viện trợ khẩn cấp: Viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế cho các
trường hợp nền kinh tế của một nước bị đe doạ nghiêm trọng do thiên tai, địch hoạ… hoặc do khủng hoảng đột xuất về kinh tế
Căn cứ theo phương thức hoàn trả: ODA có 3 loại:
Viện trợ không hoàn lại: Bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên nhận
không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo sự thoả thuận giữa các bên; có thể coi viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu của Ngân sách Nhà nước, được sử dụng theo hình thức Nhà nước cấp phát lại cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Viện trợ không hoàn lại được sử dụng ưu tiên cho những chương trình và dự án thuộc các lĩnh vực kinh tế - xã hội như: Y tế; giáo dục; các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, phát triển nông thôn và miền núi, cấp nước sinh hoạt… hoặc hỗ trợ cho các chương trình, dự án phát triển và tăng cường năng lực thể chế; bảo vệ môi trường môi sinh, quản lý đô thị; nghiên cứu khoa học và công nghệ; hỗ trợ ngân sách; thực hiện các chương trình nghiên cứu tổng hợp nhằm hỗ trợ Chính phủ sở tại hoạch định các chính sách hoặc cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư bằng các hoạt động thanh tra khảo sát, đánh giá tài nguyên, hiện trạng xã hội kinh tế kỹ thuật các ngành, các vùng lãnh thổ
Trang 16Ngoài ra ODA không hoàn lại còn hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất trong một số trường hợp cá biệt, trước hết là các dự án góp phần tạo việc làm; giải quyết các vấn đề xã hội ở nước nhận viện trợ…
Viện trợ không hoàn lại được thực hiện dưới 2 dạng: Hỗ trợ kỹ thuật (các tổ chức tài trợ thực hiện việc chuyển giao công nghệ, hoặc truyền đạt những kinh nghiệm xử lý, bí quyết kỹ thuật… cho nước nhận ODA) và Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật (các nước tiếp nhận ODA dưới hình thức hiện vật)
Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi), chiếm tỷ trọng cao trong
tổng số vốn ODA trên thế giới: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tuỳ theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp Tín dụng ưu đãi là nguồn thu phụ thêm để bù đắp thâm hụt Ngân sách Nhà nước, vì vậy nó được sử dụng dưới hình thức tín dụng ưu đãi đầu tư cho các dự án có khả năng thu hồi vốn, hoàn trả lại cho Nhà nước cả vốn và lãi để trả nợ nước ngoài
Tín dụng ưu đãi thường để ưu tiên đầu tư cho các chương trình quốc gia, đặc biệt là các dự án và chương trình xây dựng hoặc cải tạo cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thuộc các lĩnh vực: năng lượng, giao thông vận tải, nông nghiệp, thuỷ lợi, thông tin liên lạc, thúc đẩy đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước; bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế… hoặc hỗ trợ để Chính phủ nước tiếp nhận quản lý tốt hơn ngân sách trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính hay chuyển đổi hệ thống kinh tế (điều chỉnh cơ cấu) hoặc dùng để xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện thuận lợi cho nước nhận ODA phát triển mạnh hơn cả về kinh tế và đời sống kinh tế - xã hội Những điều kiện ưu đãi thường là: Lãi suất thấp, thời hạn vay nợ dài (từ 20 – 30 năm), có thời gian không trả lãi hoặc hoãn trả nợ (thời gian ân hạn) từ 10 – 12 năm
ODA cho vay hỗn hợp: Kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín
dụng ưu đãi theo các điều kiện của bên cung cấp; hoặc kết hợp tới 3 loại hình gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần vốn vay ưu đãi và một phần tín dụng thương mại
Căn cứ theo mục tiêu sử dụng: Có 4 loại:
Trang 17Hỗ trợ cán cân thanh toán (thường là viện trợ nhân đạo bằng hiện vật – còn gọi là viện trợ hàng hoá): Gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ Ngân sách của
Chính phủ, thường được thực hiện qua các dạng: Chuyển giao tiền tệ trực tiếp cho nước nhận ODA (ít gặp) và hỗ trợ nhập khẩu (Chính phủ nước nhận ODA tiếp nhận một lượng hàng hoá có giá trị tương đương với các khoản cam kết, bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ)
Tín dụng thương mại: Thông thường nước cung cấp yêu cầu bên tiếp nhận
phải dùng phần lớn hoặc hầu hết vốn vay chỉ để mua hàng ở nước cung cấp
Viện trợ chương trình (viện trợ phi dự án): Nước cung cấp và nước nhận viện
trợ ký Hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định khoản viện trợ
sẽ được sử dụng như thế nào; chẳng hạn viện trợ cho sự phát triển chung của giáo dục, phát triển khoa học
Viện trợ dự án: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA Điều
kiện để được nhận viện trợ dự án là “phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục
sẽ sử dụng ODA”
Có 2 loại: Viện trợ cơ bản (cấp cho những dự án xây dựng đường xá, cầu cống, đê đập hoặc kết cấu hạ tầng… thường có kèm thêm một phần của viện trợ kỹ thuật dưới dạng chuyên gia nước ngoài đến kiểm tra những hoạt động nào đó hoặc soạn thảo xác nhận các báo cáo cho các tổ chức viện trợ); Viện trợ kỹ thuật (gồm: Viện trợ cho hoạt động chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật, lập kế hoạch cố vấn cho các chương trình, hỗ trợ các lớp đào tạo tham quan, khảo sát ở nước ngoài…)
Căn cứ vào nhà tài trợ: ODA có 2 loại:
ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia
(nước phát triển viện trợ cho nước đang và kém phát triển) thông qua hiệp định được ký kết giữa hai hay nhiều Chính phủ Tuy nhiên, viện trợ song phương thường
có những ràng buộc về điều kiện cho vay, chẳng hạn bên viện trợ sẽ đảm nhận việc đào tạo chuyên gia, cố vấn về các vấn đề có liên quan đến việc tiếp nhận và sử dụng vốn vay cho các nước nhận, ngược lại nước nhận viện trợ phải mua máy móc, hàng
Trang 18hoá của các nước viện trợ; theo các nhà phân tích kinh tế những người hưởng lợi từ những khoản viện trợ này là những nhà sản xuất của nước viện trợ mà các sản phẩm của họ đang mất địa vị cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Xu hướng hiện nay là loại hình ODA có ràng buộc đang tăng lên, thường có 3 loại ràng buộc: Ràng buộc về chính trị (nước cung cấp muốn nước tiếp nhận đi theo đường lối đối nội, đối ngoại mà nước cung cấp đặt ra); Ràng buộc về điều kiện kinh
tế (những điều kiện ràng buộc được đưa ra nhằm mục đích đảm bảo lợi ích kinh tế của nước cung cấp như: Bên nhận phải ưu tiên cho các công ty bên cấp ODA trong việc nhận thầu các công trình sử dụng vốn ODA hoặc nước nhận ODA phải dành phần lớn hoặc hầu hết vốn viện trợ để chi tiêu cho các khoản ở nước cung cấp như mua hàng hoá, dịch vụ, thiết bị…; Ràng buộc về điều kiện kinh tế - chính trị (nước cấp ODA đưa ra những điều kiện nhằm mục đích tác động đến chính sách kinh tế - xã hội của nước nhận theo chiều hướng mà bên cung cấp mong muốn)
ODA đa phương: Là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF,
WB, ADB…) hay tổ chức khu vực (KFAED - Quỹ phát triển kinh tế Ảrập của Côoet – Kuwait Fund for Arab an Economic Development, EU…) hoặc của Chính phủ một nước dành cho Chính phủ một nước nào đó, nhưng thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP, UNICEF… Có thể các khoản viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế được chuyển trực tiếp cho bên nhận viện trợ
Nguồn ODA đa phương chiếm khoảng 20% trong tổng số ODA trên thế giới, nhưng được hình thành từ sự đóng góp của các nước thành viện của mỗi tổ chức Vì vậy, điều kiện mà các tổ chức đa phương đặt ra chủ yếu có lợi cho các nước đóng góp (đặc biệt cho những nước có mức đóng góp cao); hầu như các nhà tài trợ đều dựa vào tỷ lệ đóng góp của mình trong quỹ đa phương để gây áp lực buộc bên nhận phải thực hiện những đòi hỏi của mình
1.1.3 Vai trò của ODA đối với các nước đang phát triển
ODA là nguồn vốn rất quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển, đó là công cụ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thể hiện ở những tác động sau:
Trang 19ODA bù đắp sự thiếu hụt vốn trong nước, qua đó tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển với tốc độ cao và bền vững Các nước đang phát triển luôn ở tình trạng thiếu vốn trầm trọng nên ODA là nguồn vốn bổ sung cho quá trình phát triển kinh tế
- xã hội ODA đã trở thành một nguồn vốn quan trọng đáp ứng những nhu cầu cấp bách về cân đối ngân sách và cán cân xuất nhập khẩu Tình trạng thiếu vốn đầu tư được ODA bù đắp để Chính phủ thực hiện những kế hoạch phát triển Theo các nhà kinh tế, việc sử dụng viện trợ ở các nước đang phát triển nhằm loại bỏ sự thiếu vốn
và ngoại tệ, tăng đầu tư đến điểm mà ở đó sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho các nước này đạt được đến quá trình tự duy trì và phát triển
Đối với những dự án phát triển hạ tầng cơ sở, ODA giúp các quốc gia đang phát triển có điều kiện tốt hơn để xây dựng những công trình đòi hỏi vốn lớn, mức sinh lời thấp như đường xá, cầu, cảng, sân bay… nhưng lại là những dự án mang lại lợi ích kinh tế - xã hội lớn, đặt nền móng cho sự phát triển về lâu dài thông qua lĩnh vực đầu tư chính là xây dựng - nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế, tạo ra sức hấp dẫn mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nhằm thu hút cùng một lúc cả 2 nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và ODA cho công cuộc phát triển kinh tế
Đồng thời nguồn ODA cũng góp phần tích cực trong việc phát triển nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo… Những công trình cơ sở hạ tầng về giao thông nông thôn, điện khí hoá nông thôn, mở rộng mạng điện thoại về nông thôn… là những dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế nhưng lại mang ý nghĩa phát triển xã hội một cách sâu sắc nếu chúng được hỗ trợ từ nguồn ODA Thông qua ODA, nước tiếp nhận có thể giải quyết rất nhiều việc làm cho người lao động, một trong những vấn
đề xã hội rất nhạy cảm đối với hầu hết các nước đang phát triển Đó là do số lượng việc làm được hình thành từ chính quá trình triển khai các dự án ODA, và nhiều dự án đầu tư trong nước hoặc FDI kèm theo được triển khai và điều đó dẫn đến nhu cầu tuyển dụng lực lượng lao động của nước sở tại
Thông qua các dự án ODA, các nước đang phát triển có điều kiện trang bị, tiếp nhận những công nghệ cao ở nhiều lĩnh vực, trong đó có cả những lĩnh vực mũi nhọn phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình, làm tiền đề cho
Trang 20việc phát triển các ngành công nghiệp chế tạo khác Đây thực sự là cơ hội lớn cho các quốc gia đang phát triển, bởi lẽ có nhiều loại công nghệ mà các nước này không thể có được qua phương thức thương mại thuần tuý do các rào cản bảo vệ công nghệ của các nước phát triển Đồng thời, hàng loạt bí quyết công nghệ cũng được chuyển giao
ODA hỗ trợ các nước tiếp nhận hoàn thiện các thể chế và chính sách từ khâu hoạch định đến các biện pháp thực thi ODA giúp các nước nghèo cải cách hành chính kinh tế thông qua các chương trình viện trợ dự án, làm cho cơ chế quản lý kinh tế ở những nước này tiếp cận với những chuẩn mực chung quốc tế
ODA tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương và vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn: Nguồn vốn này trực tiếp giúp cải thiện điều kiện về vệ sinh, y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường… ODA giúp các nước đang phát triển đảm bảo một môi trường đầu tư tốt (cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật ổn định… ) từ đó tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước Các nhà đầu tư khi đầu tư vào các nước đang và chậm phát triển thường e ngại đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, các dự án cải cách chính sách kinh tế… do các dự án này đòi hỏi vốn lớn, yêu cầu theo dõi và quản lý trong thời gian dài, lãi suất thấp và thu hồi vốn chậm; mà họ thường đầu tư vào các lĩnh vực, dự án có quy mô vừa phải, dễ quản lý, lãi suất cao và thu hồi vốn đầu tư nhanh Do có nguồn vốn ODA mà môi trường đầu tư tại các nước đang phát triển được cải thiện, đảm bảo tính ổn định của dự án đầu tư, chi phí đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao nên đây sẽ là sức hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài theo tỷ lệ xấp xỉ 2USD/1USD viện trợ phát triển chính thức, đồng thời cũng tạo động lực cho các nhà đầu tư trong nước
Thông qua bên cung cấp ODA, nước nhận viện trợ có thêm cơ hội tham gia vào các tổ chức tài chính thế giới, đạt được sự giúp đỡ lớn hơn về vốn từ các tổ chức này Nước viện trợ ODA đóng vai trò là chiếc cầu nối giữa nước cần vốn với các tổ chức quốc tế
Trang 211.2 QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA
1.2.1 Khái niệm quản lý dự án ODA
Khái niệm dự án: Có nhiều cách định nghĩa dự án Tuỳ theo mục đích mà nhấn
mạnh một khía cạnh nào đó Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: Cách hiểu “tĩnh” và cách hiểu “động” Theo cách hiểu “tĩnh” thì dự án là hình tượng
về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới Theo cách hiểu thứ hai
“động” có thể định nghĩa dự án như sau: “Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới” Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau: “Dự án là những
nỗ lực có thời gian nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịnh vụ duy nhất”
Khái niệm quản lý dự án: “Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối
thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho
dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép”
Khái niệm quản lý dự án ODA: “Quản lý ODA là quá trình lập kế hoạch, tổ
chức, lãnh đạo, kiểm tra việc thu hút và sử dụng ODA nhằm đạt được mục tiêu của bên tài trợ và bên nhận tài trợ”
1.1.2 Đặc điểm của quản lý dự án ODA
1.1.2.1 Đặc điểm của quản lý dự án nói chung
Quản lý dự án có một số đặc điểm chủ yếu sau:
Tổ chức quản lý dự án là một tổ chức tạm thời Tổ chức quản lý dự án được hình thành để phục vụ dự án trong một thời gian hữu hạn Trong thời gian tồn tại dự án, nhà quản lý dự án thường hoạt động độc lập với các phòng ban chức năng Sau khi kết thúc dự án, cần phải tiến hành phân công lại lao động, bố trí lại máy móc thiết bị
Công việc của dự án đòi hỏi có sự tham gia của nhiều phòng chức năng Người đứng đầu dự án và những người tham gia quản lý dự án là những người có
Trang 22trách nhiệm phối hợp mọi nguồn lực, mọi người từ các phòng chuyên môn nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của dự án Tuy nhiên, giữa họ thường nảy sinh mâu thuẫn về vấn đề nhân sự, chi phí, thời gian và mức độ thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật
1.1.2.2 Đặc điểm riêng của quản lý dự án ODA
Có sự tham gia của 2 bên trong quá trình quản lý: Bên tài trợ và bên nhận tài trợ Trong đó, bên tài trợ là những quốc gia phát triển với tiềm lực về vốn, công nghệ mạnh, còn bên nhận tài trợ là những nước đang và kém phát triển
Hoạt động của dự án ODA phải tuân thủ các quy định của 2 bên Mỗi bên đều
có những quy định riêng về việc thu hút, cung cấp, giải ngân và sử dụng ODA, bên cạnh đó còn có những Hiệp định quốc tế quy định về tài trợ ODA, Hiệp định được ký kết giữa 2 bên chi phối quá trình quản lý các dự án ODA
Các bên liên quan trong vấn đề quản lý dự án ODA thường là những chủ thể khác nhau về quốc tịch do đó ngôn ngữ, văn hoá, trình độ quản lý cũng khác nhau
Từ đó dẫn đến những xung đột trong quá trình quản lý
Quản lý dự án ODA phải đáp ứng những yêu cầu của chủ đầu tư và nhà tài trợ, bao gồm:
Mục tiêu của chủ đầu tư và nhà tài trợ
Thời gian, chi phí và chất lượng của dự án
Những yêu cầu xác định (nhu cầu) và những yêu cầu không xác định (mong muốn)
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý dự án ODA
Trang 23mục tiêu này thay đổi thì sẽ ảnh hưởng đến quốc gia tiếp nhận về cả các dự án đang được triển khai và chưa được triển khai Nó có thể ảnh hưởng để tỷ lệ giải ngân, làm chậm tiến độ dự án và tác động rất nhiều đến quản lý dự án
Môi trường thực hiện dự án: Môi trường tự nhiên, văn hoá xã hội, môi trường chính sách và quốc tế Các yếu tố này ảnh hưởng đến cấu trúc tổ chức dự án, do đó
nó cũng ảnh hưởng tới quản lý dự án
Hệ thống chính sách, pháp luật của các bên tham gia và các Hiệp định được ký kết Nếu hệ thống chính sách, pháp luật của các bên có nhiều điểm tương đồng và Hiệp định ký kết cuối cùng đạt được sự nhất trí cao giữa các bên thì sẽ giúp cho việc quản dễ dàng hơn, ít có xung đột Tuy nhiên, nếu hệ thống pháp luật giữa các bên có điểm mâu thuẫn thì dễ dấn đến việc dự án bị tạm ngừng, treo dự án nếu không tìm được cách giải quyết thoả đáng
Mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội giữa các bên Nếu mối quan hệ này tốt đẹp, ổn định thì sẽ góp phần thúc đẩy công tác quản lý tốt các dự án ODA và ngược lại, sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lý theo chiều hướng không tốt
Quá trình quản lý cần phải tính đến mức độ hấp thụ vốn của nước nhận viện trợ Mức độ hấp thụ vốn ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ thời gian của dự án, giải ngân nhanh hay chậm là phụ thuộc vào yếu tố này
Trang 24Năng lực và trình độ quản lý của cán bộ dự án Đây là một yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng của quản lý Các cán bộ quản lý cần phải nhận thức đầy
đủ tầm quan trọng và tính chất của ODA để thực sự làm chủ việc khai thác và sử dụng nguồn vốn ODA
Công tác quản trị rất cần sự hỗ trợ của công nghệ thông tin để có thể ra các quyết định kịp thời và chính xác nhằm đốc thúc thực hiện công việc, xử lý các vướng mắc, điều chỉnh những sai lệch Có một hệ thống thông tin liền mạch, thông suốt giữa các bộ phận, các cấp quản lý của các bên hay của các bên lẫn nhau sẽ giúp cho việc quản lý chính xác và ít xung đột Do đó cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ được sử dụng để giúp cho quá trình quản lý ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng quản lý
1.1.4 Nội dung quản lý dự án ODA
Dự án là một thực thể thống nhất, thời gian thực hiện dài và có độ bất định nhất định nên các tổ chức, đơn vị thường chia dự án thành một số giai đoạn để quản lý thực hiện Mỗi giai đoạn được đánh dấu bởi việc thực hiện một hoặc nhiều công việc Tổng hợp các giai đoạn này được gọi là chu kỳ của dự án Chu kỳ dự án xác định thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và thời hạn thực hiện dự án Chu kỳ dự án xác định những công việc nào sẽ được thực hiện trong từng pha và ai sẽ tham gia thực hiện Nó cũng chỉ ra những công việc nào còn lại ở giai đoạn cuối sẽ thuộc về
và không thuộc về phạm vi dự án
Quản lý dự án ODA bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án ODA hình thành một chu trình năng động từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án như trình bày ở hình 2.4 sau:
Trang 25Hình 1.1: Chu trình quản lý dự án ODA
Thẩm định dự án: Quá trình thẩm định dự án có khi do phía nhận viện trợ thực hiện, nhưng cũng có khi cả 2 bên cung cấp và tiếp nhận cùng phối hợp thẩm định
Đàm phán và ký kết các Hiệp định cấp Chính phủ về viện trợ
Thoả thuận và ký kết Hiệp định khung về chi tiết (nguồn cung cấp, hình thức viện trợ, vốn đối ứng trong nước…)
Lập dự án: Có thể bên nhận viện trợ lập dự án; nhưng thường các nhà tài trợ muốn quản lý nguồn vốn cho vay nên sẽ tự lập dự án hoặc tư vấn cho bên nhận viện
Trang 26trợ lập dự án Lập dự án bao gồm các công việc: Thành lập nhóm dự án, xác định cấu trúc tổ chức của nhóm dự án; phân tích công việc của dự án; lập kế hoạch tiến độ thời gian; lập kế hoạch ngân sách; lập kế hoạch thực hiện dự án; lập kế hoạch nguồn lực cần thiết; lập kế hoạch chi phí và dự báo dòng tiền thu
Kết thúc giai đoạn này, tiến trình thực hiện dự án có thể được bắt đầu Thành công của dự án phụ thuộc vào chất lượng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của các kế hoạch trong giai đoạn này
1.1.4.2 Thực hiện dự án
Giai đoạn thực hiện là giai đoạn quản lý dự án bao gồm các công việc cần thực hiện như giải phóng mặt bằng, xét thầu xây lắp và mua sắm trang thiết bị, báo cáo tiến độ thực hiện dự án và rút vốn Đây là giai đoạn chiếm nhiều thời gian và nỗ lực nhất Những vấn đề cần xem xét trong giai đoạn này là những yêu cầu kỹ thuật cụ thể, vấn đề so sánh, đánh giá lựa chọn nhà thầu thực hiện từng gói công việc của dự
án
Quản lý trong giai đoạn này chính là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Giai đoạn này chi tiết hoá thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp
Quản lý thời gian và tiến độ dự án là quá trình quản lý bao gồm việc thiết lập mạng công việc, xác định thời gian thực hiện từng công việc cũng như toàn bộ dự án và quản lý tiến trình thực hiện các công việc dự án trên cơ sở các nguồn lực cho phép và những yêu cầu về chất lượng đã định Mục đích của quản lý thời gian là làm sao để dự án hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách và nguồn lực cho phép, đáp ứng những yêu cầu đã định về chất lượng Quản lý thời gian là cơ sở
để giám sát chi phí cũng như các nguồn lực khác cần cho công việc dự án
Nguồn lực sử dụng cho dự án bao gồm tiền vốn, lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… và trong quản lý dự án, yếu tố thời gian được xem là một loại nguồn lực rất quan trọng, đặc biệt, khi xem xét mối quan hệ của thời gian với các
Trang 27yếu tố nguồn lực khác Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của quản lý dự án
là đúng tiến độ, tiến độ thời gian sẽ được thực hiện đúng nếu có đủ quy mô nguồn lực cần thiết
Ngân sách dự án trình bày kế hoạch chi và thu của dự án Nó được chi tiết theo các khoản mục và từng công việc của dự án Bằng việc lập ngân sách, cán bộ quản lý
dự án có thể cụ thể hoá mục tiêu dài hạn, các kế hoạch để thực hiện mục tiêu đó và phân phối các nguồn lực cần thiết Trên cơ sở so sánh giữa chi phí và kết quả có thể kiểm soát và điều phối các hoạt động dự án Đồng thời, cán bộ quản lý dự án có thể điều chỉnh ngân sách cho phù hợp mục tiêu và nguồn lực
Kết thúc giai đoạn này, các hệ thống được xây dựng và kiểm định, dự án được vận hành
1.1.4.3 Giám sát, đánh giá dự án
Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án
Quản lý dự án trong giai đoạn này là việc đo lường, thu thập, ghi chép, so sánh đối chiếu và phân tích thông tin về tiến độ thời gian, chi phí và tiến trình thực hiện nhằm đánh giá thường xuyên mức độ hoàn thành và đề xuất những biện pháp và hành động cần thiết để thực hiện thành công dự án Giám sát được thực hiện ở cấp
độ điều hành và thực hiện liên tục
Đánh giá dự án là quá trình xác định, phân tích một cách hệ thống và khách quan các kết quả, mức độ hiệu quả và các tác động, mối liên hệ của dự án trên cơ sở các mục tiêu của chúng
Kết thúc toàn bộ chu trình dự án là việc thanh toán và nghiệm thu công trình
1.1.5 Cơ sở pháp lý về quản lý dự án ODA tại Việt Nam
Nguồn vốn ODA thực chất là nợ quốc gia Đối với Việt Nam cũng không phải
là ngoại lệ Việt Nam hiện đã là một quốc gia thu nhập trung bình, mối quan hệ đối
Trang 28tác và các nguồn tài trợ đang thay đổi Nguồn vốn ODA cần được sử dụng một cách chiến lược hơn và cẩn trọng hơn để thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế và huy động các nguồn vốn tư nhân bổ sung cho các nguồn lực công
Từ năm 2010, Việt Nam đã trở thành nước thu nhập trung bình Mức độ ưu đãi của các khoản cho vay của các đối tác phát triển dành cho Việt Nam đang giảm rõ rệt Từ thời hạn vay bình quân khoảng từ 30-40 năm, với chi phí vay khoảng 0,7-0,8%/năm, bao gồm thời gian ân hạn (giai đoạn trước 2010) đến thời hạn vay bình quân chỉ còn từ 10-25 năm, tùy theo từng đối tác và từng loại vay; với chi phí vay khoảng 2%/năm trở lên (giai đoạn 2011-2015) Nhiều nhà tài trợ đã chuyển từ nguồn vốn ODA sang nguồn vốn vay hỗn hợp
Dự kiến đến tháng 7/2017 Việt Nam có thể không còn được vay theo điều kiện ODA, phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất lên từ 2% - 3,5%
Đứng trước các cơ hội và thách thức mới Chính phủ đã có những quy định cụ thể trong việc quản lý sử dụng các dự án ODA Các quy định mới tăng cường công tác quản lý, giám sát thực hiện dự án
1.1.5.1 Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/03/2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài
Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ra đời nhằm đảm bảo phù hợp với Luật đầu tư công năm 2014 và những thay đổi trong chính sách thu hút đầu tư của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay Nghị định đã cụ thể hóa và bổ sung nhiều quy định mới trong nội dung quản lý nhà nước về vốn ODA và vốn vay ưu đãi Bên cạnh đó, Nghị định cũng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Văn phòng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quản lý nhà nước về ODA và vốn vay ưu đãi
Trang 29Nghị định số 16/2016/NĐ-CP đã tạo thuận lợi và giảm bớt gánh nặng về thủ tục hành chính cho cơ quan chủ quản trong quá trình thực hiện tiếp nhận, quản lý và
sử dụng ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ Đặc biệt, việc thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật theo Nghị định số 16/2016/NĐ-CP cũng đã được tinh giản đáng kể, về cơ bản phù hợp với các quy định của Nghị định số 113/2014/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật
1.1.5.2 Thông tư 111/2016/TT-BTC ngày 30/06/2016 về quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài
Thông tu quy định các nguyên tác tài chính được áp dụng cho các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA bao gồm:
Hướng dẫn rõ nội dung và quy trình xác định cơ chế tài chính ngay từ khâu đề xuất chương trình, dự án; dẫn chiếu đến các quy định đã có tại Nghị định số 16 và làm rõ thêm yêu cầu trình bày tại báo cáo của đơn vị đề xuất
Về khâu lập kế hoạch và kiểm soát chi, quản lý giải ngân: Thông tư mới bỏ quy định của Thông tư số 218 về việc được giải ngân vượt kế hoạch; cơ sở kiểm soát chi là kế hoạch được giao hoặc kế hoạch vốn bổ sung do cấp có thẩm quyền phê duyệt
Về quy trình kiểm soát chi, đối với vốn ODA, vốn vay ưu đãi áp dụng quy trình chung về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp, thanh toán chi giải phóng mặt bằng: Thông tư bổ sung hướng dẫn một số nội dung đặc thù đối với ODA như hồ sơ kiểm soát chi (có hiệp định, hợp đồng kèm bản dịch, các hồ sơ, chứng từ liên quan)
Về nội dung kiểm soát chi: bổ sung yêu cầu kiểm soát chi sau đối với hình thức tín dụng thư có hoặc không có thư cam kết; cho phép kiểm soát chi sau từ tài khoản cấp 2 đối với các khoản chi cụ thể trong phạm vi dự toán đã được duyệt
1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẢM BẢO TIẾN ĐỘ CÁC DỰ ÁN ODA 1.3.1 Từ phía các nhà tài trợ
Trang 30Thuần tuý về mặt kinh tế, ODA là khoản đầu tư ra nước ngoài của các nước cung cấp ODA với mục đích có lợi cho họ, dù là đầu tư trực tiếp hay gián tiếp, do việc đầu tư vốn trong nước không dễ dàng Để bành trướng, phát triển kinh tế, cần những mảnh đất đầu tư mới mà ODA là một trong những biện pháp Vì vậy các nhà tài trợ rất quan tâm đến việc đồng vốn họ bỏ ra được sử dụng như thế nào, nhất là ở các nước phát triển
Bên cạnh đó, ODA là nguồn tài trợ được các nước phát triển trích từ thu nhập quốc dân của mình để thực hiện “nghĩa vụ” đối với các nước nghèo Do đó, thực chất ODA là một khoản đầu tư dài hạn tại các nước nghèo nhằm thu lợi dưới nhiều hình thức khác nhau Thế nên bên cung cấp viện trợ đã đưa ra quy định về hình thức, phương thức cung cấp ODA, các văn bản quy phạm pháp luật để theo dõi, quản lý nguồn vốn này; Quá trình vận động, đàm phán, quản lý, sử dụng ODA phải thông qua đàm phán, đạt những điều kiện do nhà tài trợ đưa ra, giải ngân phải theo tiến độ thực hiện chương trình dự án, chịu sự giám sát của cả hai bên và nguồn vốn
có thể bị cắt nếu sử dụng kém hiệu quả
Từ đó bên viện trợ đã quản lý được một cách chặt chẽ quá trình chu chuyển của luồng vốn này Vì vậy, việc quản lý các dự án ODA nói chung và quản lý tiến
độ dự án ODA nói chung tại các nước đang phát triển đã trở thành yêu cầu khách quan Vì nó xuất phát từ yêu cầu quản lý nguồn vốn ngân sách của nước tài trợ, mặt khác là từ yêu cầu nâng cao thu nhập quốc dân của người dân nước tài trợ về các hợp đồng đầu tư dưới hình thức ODA
Ngoài mục đích kinh tế mà các nước cung cấp ODA muốn đạt đến còn có cả mục đích về chính trị Đây lại là một vấn đề hết sức nhạy cảm, do đó, yêu cầu phải quản lý chặt chẽ các dự án ODA càng trở nên cần thiết để đạt được mục tiêu chính trị đã đề ra
1.3.2 Từ phía nước tiếp nhận tài trợ
Cần đặc biệt nhấn mạnh rằng ODA, kể cả ODA không hoàn lại, không phải là
“thứ cho không”, do đó trách nhiệm hoàn trả là của bên đi vay Xét cho cùng cả ODA vốn vay và vốn ODA không hoàn lại đều là các khoản vay trước và trả sau
Trang 31bằng vật chất hoặc bằng trách nhiệm Như vậy, dù có hay không có sự hỗ trợ của bên cho vay, thì trách nhiệm quản lý sử dụng ODA chủ yếu vẫn là của bên đi vay,
cụ thể là vai trò quan trọng của Nhà nước, chủ thể trực tiếp sẽ phải trả nợ Vì vậy,
về cả hai khía cạnh tài chính và chính trị, Nhà nước sẽ là người chịu trách nhiệm trả
nợ cũng như về hiệu quả kinh tế và chính trị cuối cùng Các dự án triển khai càng chậm, tiến độ càng kéo dài thì các nguy cơ, rủi ro càng tăng cao
Nguồn vốn ODA là một nguồn vốn có độ nhạy cao về kinh tế và chính trị, nó chịu ảnh hưởng cả từ quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia với nhau và giữa quốc gia tiếp nhận với cả thế giới Do đó, phía tiếp nhận cần phải quản lý chặt chẽ quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn này để không làm ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại với các quốc gia thế giới Nếu quản lý tốt, quốc gia tiếp nhận có thể tiếp tục được cung cấp ODA sau khi dự án hoàn thành Tuy nhiên, nếu trong quá trình triển khai, thực hiện dự án ODA quản lý không được làm tốt, mối quan hệ hai bên xung đột thì sẽ khó khăn cho các dự án này trong quá trình thực hiện các giai đoạn sau và có thể bị ngừng trệ khi bên tài trợ không cam kết cấp vốn nữa
ODA không phải là nguồn vốn cho không, do đó cần phải quản lý các dự án ODA nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn này, giảm gánh nợ cho Nhà nước, nhất là nguồn vốn ODA thường không đầu tư trực tiếp cho sản xuất xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại phụ thuộc vào nguồn ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu Nguồn vốn ODA là một nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng đối với các nước tiếp nhận trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, do nhận thức còn hạn chế của những quốc gia tiếp nhận, trình độ và kinh nghiệm quản lý trong khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý, khả năng đàm phán thuyết phục các nhà tài trợ chưa cao, khả năng khảo sát, xây dựng
dự án khả thi và tiền khả thi còn kém nên xảy ra hiện tượng, tình trạng theo dự án thì đem lại hiệu quả cao nhưng khi đầu tư, sử dụng vốn thì rơi vào tình trạng thua
lỗ
Do vậy, nếu vốn ODA sử dụng và thu hút ở nước tiếp nhận không hiệu quả thì không những các nước này không khai thác được những ưu đãi, những mặt tích cực
Trang 32của vốn ODA phục vụ cho kế hoạch tăng trưởng, phát triển kinh tế mà còn đẩy họ vào tình trạng nợ nần tăng thêm, khi đó sẽ xuất hiện thêm lỗ hổng lớn trong tài khoản vốn do nguồn thu ngoại tệ từ ODA không còn, trong khi đó phải xuất ngoại
tệ trả nợ nước ngoài Vì thế, cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt trầm trọng, gây
ra đồng tiền bị sụt giá
Thực tế đã chỉ rõ chỉ khi nào đạt được sự thống nhất trong mối quan hệ giữa các bên liên quan thì mới thu được hiệu quả cao Do đó, cần phải thống nhất ý chí, quan điểm giữa các bên trong quá trình thu hút, giải ngân và sử dụng nguồn vốn ODA thì nguồn vốn này mới được sử dụng hiệu quả và đúng mục tiêu đề ra
Chính vì vậy, vấn đề quản lý các dự án ODA được đặt ra mang tính khách quan và cần tổ chức thực hiện tốt nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA phục vụ quá trình tăng trưởng và phát triển của nước tiếp nhận vốn ODA Nếu nước tiếp nhận vốn ODA tổ chức quản lý các dự án ODA tốt thì các dự án này sẽ là một nguồn ngoại lực quan trọng góp phần vào quá trình tăng trưởng nhanh của nền kinh tế Ngược lại, nếu quản lý không tốt thì vốn ODA trở thành ghánh nặng nợ nần cho đất nước trong tương lai
Tóm lại Chương 1 đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn vốn ODA, quản lý nguồn vốn ODA và sự cần thiết phải quản lý nguồn vốn ODA Đây là căn cứ quan trọng cho việc phân tích, đánh giá hoạt động quản lý nguồn vốn quan trọng này đối với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI TIẾN ĐỘ CÁC DỰ ÁN
ODA TẠI SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ LÀO CAI
2.1 Giới thiệu về sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lào Cai
Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,
có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư, gồm: Tổng hợp về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức thực hiện và đề xuất về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh; đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài ở địa phương; quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn viện trợ phi Chính phủ; đấu thầu; đăng ký kinh doanh trong phạm vi địa phương; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về doanh nghiệp, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân; tổ chức cung ứng các dịch vụcông thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở theo quy định của pháp luật
Trang 34Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lào Cai
( Nguồn: Phòng pháp chế - Sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai)
Ban QLDA ODA là đơn vị sự nghiệp trực thuộc sở, chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của Phó giám đốc Sở Thực hiện đầu tư, quản lý các dự án ODA do sở Kế hoạch và Đầu tư là chủ đầu tư
2.2 Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai
Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai được kiện toàn và tổ chức hoạt động theo Quyết định số 1488/QĐ-UBND ngày 21/6/2012 của UBND tỉnh Lào Cai, quản lý
và thực hiện các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA của tỉnh Lào Cai; được UBND tỉnh và Sở Kế hoạch & Đầu tư giao thực hiện nhiệm vụ công tác chuẩn bị đầu tư, quản lý đầu tư một số chương trình, dự án nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai Ban QLDA ODA Tỉnh Lào Cai có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và có tên giao dịch là “Ban quản lý các dự án nước ngoài (ODA) tỉnh Lào Cai”
Địa chỉ liên hệ: Ban QLDA ODA tỉnh Lào cai
Km 5, đại lộ Trần Hưng Đạo, phường Nam Cường, tp Lào Cai
Điện thoại: 0214 3 840 430Fax: 0214 3 841 567
2.2.1 Chức năng nhiệm vụ
Trang 352.2.1.1 Công tác chuẩn bị đầu tư các dự án ODA
Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai với chức năng, nhiệm vụ như một Ban chuẩn bị dự án phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan trong việc chuẩn bị dự án bao gồm: Chuẩn bị danh mục đề nghị tài trợ; các văn kiện dự án; lập Báo cáo nghiên cứu khả thi; chuẩn bị dự án Hỗ trợ kỹ thuật; quản lý các nhà thầu trong quá trình lập các báo cáo chuẩn bị dự án; giúp Chủ đầu tư trình cơ quan chủ quản phê duyệt các chương trình, dự án, ký hiệp định
2.2.1.2 Lập kế hoạch thực hiện dự án
Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai có trách nhiệm đầu mối xây dựng, tổng hợp kế hoạch tổng thể, kế hoạch chi tiết hàng năm các dự án theo nội dung dự án được phê duyệt, gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp trình UBND tỉnh xem xét phê duyệt
và giao kế hoạch, đảm bảo theo đúng quy trình, phù hợp với các Thỏa ước, Hiệp định tài trợ đã ký
Các Ban QLDA: LAWACO, URENCO, Vườn QG xây dựng kế hoạch trong phạm
vi hợp phần, dự án của đơn vị mình gửi về Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai tổng hợp xây dựng kế hoạch chung của từng dự án đảm bảo tiến độ xây dựng kế hoạch yêu cầu
Ban QLDA ODA/WB2 huyện Sa Pa, Bát Xát, Mường Khương, Văn Bàn xây dựng kế hoạch năm trong phạm vi hợp phần thuộc dự án WB2 của địa phương quản lý trình UBND huyện phê duyệt trước khi gửi về Ban QLDA ODA tỉnh tổng hợp
Ban QLDA huyện Bắc Hà, Si Ma Cai xây dựng kế hoạch theo hướng dẫn của Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai
2.2.1.3 Quản lý chuẩn bị thực hiện chương trình, dự án
Việc quản lý chuẩn bị thực hiện các chương trình, dự án đầu tư thực hiện theo quy định hiện hành về quản lý đầu tư và xây dựng công trình
Chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết khác như: Nghiên cứu nội dung dự án; quy trình, thủ tục thực hiện; chế độ chi tiêu tài chính - kế toán, kiểm toán, kiểm tra,
Trang 36giám sát, báo cáo, đánh giá tác động môi trường - xã hội theo quy định hiện hành
và các Thỏa ước, Hiệp định đã ký kết
2.2.1.4 Thực hiện các hoạt động đấu thầu và quản lý hợp đồng
a Các hoạt động đấu thầu
Hoạt động đấu thầu được thực hiện theo các quy định trong Sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án (PIM) của từng dự án được nhà tài trợ đồng ý chấp thuận và cấp thẩm quyền quyết định ban hành
Ban QLDA ODA tỉnh thành lập tổ chuyên gia đấu thầu do Chủ đầu tư quyết định thành lập hoặc ủy quyền cho Trưởng ban QLDA ODA tỉnh thực hiện các hoạt động đấu thầu, lựa chọn nhà thầu theo quy định trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
b Quản lý thực hiện hợp đồng
Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai chỉ đàm phán, trao thầu ký hợp đồng cho nhà thầu trúng thầu khi đã hoàn tất các trình tự, thủ tục pháp lý theo quy định
Sau khi hợp đồng được ký kết với nhà thầu việc quản lý hợp đồng phải được thực hiện trên các phương diện như: Tiến độ, khối lượng, chất lượng, an toàn lao động và
vệ sinh môi trường; theo dõi, giám sát, đánh giá hoạt động và kết quả hoạt động của nhà thầu; kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện các hợp đồng theo thẩm quyền
Tổ chức, nghiệm thu sản phẩm, thanh quyết toán theo quy định của pháp luật
2.2.1.5 Quản lý tài chính - giải ngân và chế độ kế toán áp dụng
Quản lý tài chính, tài sản và thực hiện các thủ tục giải ngân theo quy định của pháp luật và phù hợp với các quy định của Nhà tài trợ
2.2.1.6 Công tác hành chính và cung cấp thông tin do Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai là đầu mối, có trách nhiệm
Thiết lập hệ thống thông tin nội bộ, tập hợp, phân loại thông tin, lưu trữ tư liệu gốc liên quan đến Dự án: AFD, WB2, WB đô thị và từng Ban QLDA liên quan Công khai hóa nội dung đầu tư, tiến độ đầu tư, nguồn vốn của các công trình, tiểu
dự án được đầu tư vào địa bàn, để nhân dân, các cơ quan dân cử, các tổ chức chính
Trang 37trị, xã hội tại địa phương biết và giám sát; cung cấp thông tin, số liệu trung thực, chính xác khi được các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu cung cấp thông tin về dự án trong khuôn khổ nhiệm vụ quyền hạn được giao
2.2.1.7 Theo dõi, đánh giá và báo cáo tình hình thực hiện
Ban QLDA tỉnh Lào Cai là đầu mối chủ trì thực hiện công tác theo dõi, giám sát, đánh giá dự án định kỳ và theo yêu cầu đột xuất của cơ quan có thẩm quyền và nhà tài trợ, thực hiện công tác kiểm toán hàng năm theo quy định
Kinh phí cho công tác giám sát, đánh giá và kiểm toán dự án được sử dụng từ nguồn vốn đảm bảo theo dự án được phê duyệt và Thỏa ước vốn vay, Hiệp định tín dụng đã ký kết và có hiệu lực thi hành
Chế độ báo cáo thực hiện theo quy định tại Quyết định số 803/2007/QĐ - BKH ngày 30/7/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và của UBND tỉnh Lào Cai
2.2.1.8 Nghiệm thu, bàn giao, quyết toán công trình dự án
Khi công trình/ tiểu dự án hoàn thành, Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai và các Ban QLDA thành phần, Ban QLDA ODA/WB huyện có trách nhiệm khẩn trương tiến hành công tác nghiệm thu theo quy định với đông đủ các đại diện hợp pháp của các bên tham gia và được bàn giao đưa vào sử dụng theo phân cấp của UBND tỉnh; tiến hành lập báo cáo kết thúc dự án và báo cáo quyết toán dự án gửi Sở Tài chính thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt
Báo cáo kết thúc chương trình, dự án và báo cáo quyết toán chương trình, dự án phải được lập trong thời gian theo quy định hiện hành
2.2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai
2.2.2.1 Bộ máy Ban QLDA ODA tỉnh
Trang 38Hình 0.2 Sơ đồ tổ chức Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai ( Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp – Ban QLDA ODA tỉnh Lào Cai)
Lãnh đạo 04 người: 01 Giám đốc, 03 Phó Giám đốc
Các Phòng trực thuộc gồm 05 phòng: Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Phòng Quản lý Đấu thầu, Phòng Giám sát kỹ thuật, Phòng Quản lý môi trường - xã hội, Phòng Kế toán - Hành chính
Giám đốc Ban QLDA (Trưởng ban) kiêm Giám đốc dự án AFD, WB2 và WB
đô thị và các dự án khác được giao làm chủ đầu tư, là người đứng đầu/thủ trưởng, chịu trách nhiệm toàn diện trước Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban chỉ đạo các
dự án và UBND tỉnh về quản lý, chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện nhiệm vụ và các quyết định có liên quan đến dự án (AFD, WB2, WB đô thị); là Chủ tài khoản; phụ trách công tác tổ chức, cán bộ, đối nội, đối ngoại, thi đua khen thưởng; quyết đáp các công việc hàng ngày; ký các văn bản, tờ trình, ký kết các hợp đồng kinh tế , chứng từ thanh toán, quyết toán với các bên liên quan trong phạm vi dự án (AFD,
Trang 39WB2, WB đô thị) Là đại diện của Chủ đầu tư đươc ủy quyền trong các giao dịch dân sự được xác định tại Quy chế này; là đầu mối giúp Chủ đầu tư trong các giao dịch với các bộ, ngành trung ương, Nhà tài trợ và các sở, ngành liên quan trong tỉnh
để thực hiện dự án Điều hành các Ban QLDA thành phần, các ban QLDA huyện tổ chức thực hiện dự án theo đúng phân cấp, đúng mục tiêu, tiến độ Báo cáo giải trình với các cơ quan quản lý nhà nước về ODA, cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan dân
cử, nhà tài trợ và UBND tỉnh về các vấn để liên quan thuộc thẩm quyền khi được yêu cầu, chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước UBND tỉnh Lào Cai và Chủ đầu tư theo thẩm quyền được giao Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, đảm bảo các quyền lợi hợp pháp đối với tập thể và cán bộ thuộc phạm vi quản lý theo chế độ chính sách hiện hành và công tác thi đua khen thưởng
Các Phó Giám đốc dự án giúp việc Giám đốc dự án trong công tác đôn đốc thực hiện dự án; trực tiếp theo dõi giám sát việc thực hiện dự án cụ thể được phân công để nắm bắt và tháo gỡ khó khăn vướng mắc kịp thời Nhiệm vụ cụ thể của Phó giám đốc dự án do Trưởng ban, Giám đốc dự án phân công
Kế toán trưởng hay Trưởng phòng Kế toán giúp việc Trưởng ban, Giám đốc
dự án trong lĩnh vực quản lý tài chính, kế toán theo đúng quy định Luật kế toán và các quy định tài chính, kế toán liên quan hiện hành Chịu trách nhiệm trước pháp luật và Trưởng ban theo thẩm quyền về lĩnh vực được giao
Phòng Kế hoạch – tổng hợp (9 người)
Thực hiện công tác chuẩn bị danh mục kêu gọi đầu tư, thu hút nguồn vốn ODA Căn cứ Hiệp định, thỏa thuận tín dụng, các Báo cáo nghiên cứu khả thi được duyệt, các sổ tay Hướng dẫn thực hiện dự án (PIM), tổ chức triển khai thực hiện các
dự án, gồm: Kế hoạch tiến độ từng dự án, kế hoạch hàng năm, kế hoạch đấu thầu, mua sắm hàng năm (bao gồm cả việc cập nhật, điều chỉnh bổ sung nếu có)
Tổng hợp các báo cáo tiến độ chung của từng dự án (báo cáo tuần, tháng, quý,
6 tháng, năm) theo quy định Chịu trách nhiệm trước Ban QLDA, Sở KH-ĐT và Pháp luật thuộc phạm vi được giao
Phòng Quản lý đấu thầu (8 người)
Trang 40Trên cơ sở hướng dẫn của Luật xây dựng, Luật đấu thầu, các quy định của nhà tài trợ, các sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án (PIM, PAM), tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý về đấu thầu mua sắm theo quy định
Phòng Giám sát kỹ thuật (12 người)
Trên cơ sở các hợp đồng trao thầu các công trình, gói thầu, điều khoản giao việc đối với các gói thầu (tư vấn, hàng hóa), TK_BVTC đối với các công trình xây lắp Tổ chức triển khai các hoạt động quản lý hợp đồng, giám sát và quản lý giám sát thi công đảm bảo tiến độ, kỹ thuật, mỹ thuật, chất lượng, hoàn thành bàn giao và hoàn công theo quy định
Phòng Quản lý Môi trường - xã hội (5người)
Tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động về chính sách an toàn của dự án, lập kế hoạch đền bù, tái định cư, kế hoạch quản lý Môi trường – xã hội; giám sát đánh giá tác động về môi trường sinh thái, khi cần sẽ kết hợp giám sát
Phòng kế toán – hành chính (10 người)
Tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động, thuộc lĩnh vực quản lý tài chính, giải ngân, thanh toán, quyết toán các nguồn vốn vay, vốn tài trợ không hoàn lại, vốn đối ứng ngân sách, vốn khác (nếu có) cho các công trình/ dự án; thực hiện công tác quản lý tài chính được giao
2.2.3 Trình độ - Năng lực cán bộ quản lý của Ban QLDA ODA
Chất lượng nguồn nhân lực của Ban QLDA ODA tỉnh đều được đào tạo bài bản, với nhiều chuyên ngành và lĩnh vực khác nhau; có kinh nghiệm làm công tác quản lý thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển ODA, NGO, các chương trình dự án thuộc nguồn vốn Ngân sách Nhà nước do UBND tỉnh giao trong những năm vừa qua; đặc biệt là kinh nghiệm làm việc với các nhà tài trợ song phương, đa phương như: Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), Cơ quan Phát triển Pháp (AFD)
Tổng số cán bộ của Ban QLDA đến thời điểm này là 50 người, trong đó: số cán
bộ có kinh nghiệm từ 10 năm 20 năm là 13 người chiếm 26%, có kinh nghiệm từ 5