1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất một số giải pháp cải thiện chỉ số chi phí không chính thức nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) tỉnh hà tĩnh

91 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 823,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn với đề tài:“Đề xuất một số giải pháp cải thiện chỉ số Chi phí không chính thức nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI tỉnh Hà Tĩnh” là k

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn với đề tài:“Đề xuất một số giải pháp cải thiện chỉ số Chi phí không chính thức nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Hà Tĩnh” là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, được thu thập thông tin

từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh và một số tài liệu khác về các lĩnh vực chuyên ngành cùng với sự hướng dẫn giúp đỡ tận tình của TS.Phạm Thị Kim Ngọc Nếu vi phạm tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn

Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2017

Học viên

Phạm Thanh Sơn

Trang 2

ii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ vi

DANH MỤC VIẾT TẮT viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I 4

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH VÀ CHI PHÍ KHÔNG CHÍNH THỨC TRONG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 4

1.1 Năng lực cạnh tranh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 4

1.1.1 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 4

1.1.2 Giới thiệu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 5

1.1.2.1 Các thành phần chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 6

1.1.2.2 Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 6

1.1.2.3.Ý nghĩa của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 8

1.1.3 Ưu điểm và hạn chế của chỉ số PCI 9

1.1.3.1 Ưu điểm của chỉ số PCI 9

1.1.3.2 Hạn chế của chỉ số PCI 10

1.2 Chỉ số chi phí không chính thức 11

1.2.1 Khái niệm chỉ số chi phí không chính thức 11

1.2.2 Ý nghĩa của chỉ số chi phí không chính thức 11

1.2.3 Vai trò của chi phí không chính thức trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 14

1.2.4 Các chỉ tiêu và cách thức đo lường các chỉ tiêu cấu thành chỉ số Chi phí không chính thức 16

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí không chính thức 18

1.2.5.1 Các yếu tố khách quan 18

1.2.5.2 Các yếu tố chủ quan 21

1.2.6 Kinh nghiệm của một số tỉnh thành trong việc cải thiện chỉ số CPKCT 22

TÓM TẮT CHƯƠNG I 26

Trang 3

iii

CHƯƠNG II 27

THỰC TRẠNG CHỈ SỐ CHI PHÍ KHÔNG CHÍNH THỨC CỦA HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011-2015 27

2.1 Giới thiệu tỉnh Hà Tĩnh 27

2.1.1 Địa lý địa hình 27

2.1.2 Các nguồn tài nguyên 27

2.2 Chỉ số chi phí không chính thức của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011-2015 30

2.2.1 Thực trạng Chỉ số PCI của tỉnh Hà Tĩnh 30

2.2.1.1 Thứ hạng không ổn định 30

2.2.1.2 Tăng điểm nhưng không đều ở các chỉ số thành phần 30

2.2.1.3 Các chỉ số đạt điểm số thấp 31

2.2.1.4.Đánh giá chung 33

2.2.2 Thực trạng chỉ số chi phí không chính thứctại Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2015 33

2.2.2.1 Phân tích chung về chỉ số chi phí không chính thức tại Hà Tĩnh 33

2.2.2.2 Thực trạng các yếu tố cấu thành 38

2.2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số chi phí không chính thức của Hà Tĩnh 48

2.2.3.1 Môi trường chính trị và pháp luật 48

2.2.3.2 Môi trường kinh tế 49

2.2.3.3 Môi trường văn hóa xã hội 51

2.2.3.4 Môi trường công nghệ 52

2.2.3.5 Môi trường cạnh tranh 54

2.2.3.6 Các yếu tố bên trong 55

2.3 Đánh giá chỉ số Chi phí không chính thức dựa trên kết quả khảo sát doanh nghiệp tại địa phương 57

2.3.1 Giới thiệu phương pháp nghiên cứu 57

2.3.2 Những vấn đề cần lưu ý về chỉ số chi phí không chính thức của Hà Tĩnh 58

2.3.3 Nguyên nhân 61

Trang 4

iv

2.3.3.1 Việc tiếp cận và am hiểu các thủ tục hành chính là vấn đề khó khăn đối với

hầu hết các DN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 61

2.3.3.2 DN gặp phải nhũng nhiễu từ phía các CBCC khi đến các cơ quan NN 62

2.3.3.3 Tính minh bạch, công khai còn yếu kém trong khâu mời thầu, đấu thầu và triển khai thực hiện gói thầu 63

2.3.3.4 DN xem các Khoản CPKCT như một phần tất yếu 63

2.4 Đánh giá chung 64

TÓM TẮT CHƯƠNG II 66

CHƯƠNG III 67

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHỈ SỐ CHI PHÍ KHÔNG CHÍNH THỨC CỦA TỈNH HÀ TĨNH 67

3.1 Định hướng cải thiện chỉ số chi phí không chính thức của Hà Tĩnh đến năm 2020 67 3.1.1 Mục đích 67

3.1.2 Yêu cầu 67

3.1.3 Mục tiêu 68

3.2 Một số giải pháp thực hiện cải thiện chỉ số chi phí không chính thức của tỉnh Hà Tĩnh 69

3.2.1 Cải cách thủ tục hành chính 69

3.2.2 Tăng cường đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức 70

3.2.3 Hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp 71

3.2.4 Phát huy hiệu quả chính quyền điện tử 73

3.3 Các kiến nghị đối với chính sách của tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2017 -2020 73

3.3.1 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng theo hướng đồng bộ hóa, hiện đại hóa 73

3.3.2 Đổi mới nhận thức về nền hành chính phục vụ nhân dân 73

3.3.3 Công nghệ hóa hoạt động ứng dụng dịch vụ hành chính công 75

TÓM TẮT CHƯƠNG III 77

Trang 5

v

KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC 80

Trang 6

vi

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng hợp chỉ số PCI giai đoạn 2011-2015 31 Bảng 2.2: Điểm số chỉ số Chi phí không chính thức của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011– 2015 34 Bảng 2.3: So sánh chỉ số CPKCT của Hà Tĩnh với các địa phương điển hình giai đoạn 2011-2015 35 Bảng 2.4 Mức độ đóng góp của chỉ số CPKCT trong PCI Hà Tĩnh giai đoạn 2011-

2014 64

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Chỉ số thành phần của Hà Tĩnh 2014-2015 32 Hình 2.2: Kết quả PCI và chỉ số CPKCT tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011-2015 37

với trung vị và lớn nhất cả nước (%) 38 Hình 2.4: % DN cho rằng DN cùng ngành trả CPKCT của Hà Tĩnh so với các địa phương điển hình(%) 39 Hình 2.5: Chỉ tiêu % doanh nghiệp phải chi hơn 10% doanh thu cho các loại CPKCT của Hà Tĩnh so với trung vị và lớn nhất cả nước (%) 40 Hình 2.6: % DN phải chi trả hơn 10% doanh thu cho các loại CPKCT của Hà Tĩnh

so với các địa phương điển hình(%) 41 Hình 2.7: Chỉ tiêuhiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho DN là phổ biến của Hà Tĩnh so với trung vị và lớn nhất cả nước (%) 42 Hình 2.8: Chỉ tiêu Hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho DN là phổ biến của Hà Tĩnh so với các địa phương điển hình(%) 44 Hình 2.9 Chỉ tiêu Công việc đạt được kết quả mong đợi sau khi đã trả chi phí không chính thức của Hà Tĩnh so với trung vị và lớn nhất cả nước (%) 44 Hình 2.10: Chỉ tiêu Công việc đạt được kết quả mong đợi sau khi đã trả chi phí không chính thức của Hà Tĩnh so với các địa phương điển hình(%) 46

Trang 7

vii

Hình 2.11: Chỉ tiêuCác khoản CPKCT ở mức chấp nhận đượccủa Hà Tĩnh so với trung vị và lớn nhất cả nước (%) 46 Hình 2.12: Chỉ tiêu Các khoản CPKCT ở mức chấp nhận được của Hà Tĩnh so với các địa phương điển hình(%) 47

Trang 9

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Tỉnh Hà Tĩnh được thành lập 1/1/1991, ngay sau khi thành lập nền kinh tế tỉnh nhà nghèo nàn, lạc hậu và gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên với tiềm năng và lợi thế phát triển cùng những sự quan tâm của nhà nước và sự nỗ lực của Lãnh đạo địa phương và sự phấn đấu của nhân dân trong tỉnh Hà Tĩnh đã bước đầu tạo ra một viễn cảnh thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội Đến nay Hà Tĩnh đã đổi mới trở thành một thành phố có nền kinh tế khá phát triển với hai khu kinh tế lớn, những khu công nghiệp lớn và các cụm công nghiệp trên địa bàn

Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là chỉ số đo lường hiệu quả, hiệu năng của hoạt động điều hành chính sách kinh tế của chính quyền các địa phương Chỉ số này loại

bỏ các yếu tố tự nhiên, xã hội có thể làm địa phương này có lợi thế hơn địa phương khác trong phát triển kinh tế Như vậy, các địa phương đều có cơ hội cạnh tranh ngang nhau trước các chính sách điều hành kinh tế của Nhà nước Việc địa phương ở

vị trí nào trong bảng xếp hạng chính là thước đo năng lực và thể hiện một cách chân thực cách nhìn nhận, tư duy và phương pháp điều hành của bộ máy lãnh đạo từng địa phương PCI trở thành thước đo quan trọng để địa phương tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh trong thời gian tới Bên cạnh đó, PCI như công cụ hữu hiệu trong quá trình thiết lập chính sách của chính phủ Việt Nam

Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đang là vấn đề được các tỉnh quan tâm trong giai đoạn hiện nay Mặc dù chỉ là 1 bảng xếp hạng có tính tham khảo, nhưng rõ ràng, PCI đã trở thành kênh thông tin đáng chú ý của các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu

tư nước ngoài khi có ý định đầu tư tại một địa phương nào đó Hà Tĩnh cũng là một trong những tỉnh rất coi trọng vấn đề này Năm 2010, PCI Hà Tĩnh nằm ở vị trí “áp chót”, thứ 56/63 Thế nhưng, năm 2011, Hà Tĩnh đã có bước nhảy vọt khi vươn lên

vị trí thứ 7 - tốp đầu trên bảng xếp hạng của Phòng Công nghiệp & Thương mại Việt Nam (VCCI) Nhưng đến nay, chỉ số ấn tượng này chỉ còn trong ký ức Năm

2015, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Hà Tĩnh chỉ đứng thứ 45 nằm trong top trung bình của cả nước đã cho thấy Hà Tĩnh còn nhiều chỉ số chưa đáp ứng được

Trang 10

2

nhu cầu của nhà đầu tư Các chỉ số đứng ở vị trí thấp và điểm số không cao cho nên dẫn đến điểm tổng của cả năm thấp hơn so với các tỉnh, thành phố khác Những bất cập về mặt chính sách quản lý và điều hành kinh tế như một rào cản để đưa kinh tế tỉnh Hà Tĩnhphát triển

Từ trước đến nay, câu châm ngôn "Phép vua còn thua lệ làng" luôn nằm sâu trong tâm trí các DN, muốn hoạt động thuận lợi phải luôn có một khoản chi phí

"bôi trơn" để "cỗ máy" DN có thể được vận hành một cách trơn tru Không có bất

kỳ một DN nào muốn hoạt động của mình bị gián đoạn bởi những lý do mang tính nhạy cảm Chính vì sự tồn tại lâu dài của các loại chi phí "không chính thức" này đang gây ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của môi trường kinh doanh - đầu tư tại Việt Nam và Hà Tĩnh không phải là ngoại lệ

Theo kết quả đánh giá xếp hạng chỉ số Chi phí không chính thức của VCCI cũng cho thấy Hà Tĩnh là địa phương có điểm số và thứ hạng thấp (xếp thứ 51/63 năm 2015) và đây cũng là chỉ tiêu có trọng số tương đối lớn ảnh hưởng đến PCI chung cả tỉnh

Xuất phát từ thực tế trên đã đặt ra vấn đề cấp thiết nghiên cứu sâu hơn về thực trạng chỉ số Chi phí không chính thức của tỉnh Hà Tĩnh, chỉ rõ những mặt còn hạn chế để có giải pháp nhằm cải thiện chỉ số Chi phí không chính thức của tỉnh

Hà Tĩnh và cũng trên cơ sở đó có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà

Tĩnh trong thời gian tới, tôi quyết định chọn đề tài : “Đề xuất một số giải pháp cải thiện chỉ số Chi phí không chính thức nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Hà Tĩnh” làm Luận văn của mình

Trang 11

3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tĩnh thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), đi sâu phân tích chỉ số thành phần: chi phí không chính thức

- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê: Các số liệu sử dụng trong đề tài có nguồn cơ bản từ

Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn, kế thừa: Chuyên đềphân tích, mô tả, tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập thông tin trên cơ sở phỏng

vấn viết để đáp ứng yêu cầu của đề tài và mục tiêu nghiên cứu

Trang 12

1.1.1 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia, mọi địa phương Để thực hiện mục tiêu ấy, mỗi quốc gia, địa phương sẽ có những chính sách và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình Tuy nhiên, bất kỳ quốc gia, địa phương nào cũng phải tìm lời giải đáp cho vấn đề nguồn lực cho đầu

tư phát triển ở đâu và cách thức huy động các nguồn lực ấy như thế nào Tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư và phát triển DN là lời giải đáp của mỗi chính phủ, chính quyền địa phương Khả năng của một địa phương cấp tỉnh trong thu hút các DN, các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đã định chính là năng lực cạnh tranh của tỉnh đó Do vậy, một tỉnh có NLCT cao thể hiện ở sự hấp dẫn về đầu tư và kinh doanh đối với các DN, nhà đầu tư hay

đã tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đó

Cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội

và cũng là cấp độ cạnh tranh có tính gay gắt, đa dạng hơn thì trong phạm vi một quốc gia, cạnh tranh giữu các tỉnh (hay vùng) có mức độ được hiểu mềm dẻo và linh hoạt hơn Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh (vùng) nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương (vùng) đó sẵn có hoặc tự tạo ra như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên phong phú hoặc chất lượng con người, cơ sở

hạ tầng, chính sách thu hút đầu tư… Đan xen với sự ganh đua có tính chất hợp tác, liên kết cùng phát triển dựa trên lợi thế có sẵn của nhau Vì thế việc liên kết hợp tác giữa các địa phương nhằm xóa bỏ giới hạn địa giới hành chính và phân chia các nguồn lực nhằm bổ sung và hỗ trợ cho nhau để tăng cương năng lực cạnh tranh của các tỉnh

Trang 13

5

Như vậy, thực chất NLCT cấp tỉnh là khả năng ganh đua của các tỉnh nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ liên kết với những địa phương khác trong phạm vi quốc gia Vai trò của chính quyền địa phương là tạo môi trường thúc đẩy thu hút đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vai trò ấy được xác định trên các mặt sau: (1) Định hướng phát triển thông qua các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, chính sách phát triển kinh tế; (2) Tạo môi trường pháp

lý và kinh tế cho các DN hoạt động và cạnh tranh lành mạnh; (3) Điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính công; (4) Kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế theo pháp luật, chính sách đã đề ra

Để nâng cao NLCT cấp tỉnh, cả nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất (hay nguồn lực mềm) đều rất quan trọng Trong khi các nguồn lực vật chất dễ nhận biết, lượng hóa thì nguồn lực phi vật chất không phải lúc nào và ai cũng nhìn nhận

ra được và nhìn nhận như nhau Vì thế, khi nói đến NLCT và tạo dựng NLCT cho địa phương mình, mỗi tỉnh nhìn nhận và cách làm khác nhau Trong tư duy “cạnh tranh phát triển bền vững”, NLCT của tỉnh được đanh giá chủ yếu trong “con mắt” của nhà đầu tư và DN mà không chỉ dưới góc nhìn chính quyền tỉnh Đồng thời, các tỉnh cạnh tranh đặt trong mối quan hệ hợp tác, liên kết để phát huy tốt nhất lợi thế của mỗi tỉnh trong khuôn khổ luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế

1.1.2 Giới thiệu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay gọi tắt là PCI (Provinvial Competitiveness Index) đo lường chất lượng thực tế của điều hành kinh tế và những thực tiễn tốt đã có tại các địa phương, thể hiện môi trường kinh doanh tốt hay chưa tốt để thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân thông qua cảm nhận của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh PCI được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với USDID (tổ chức quốc tế Hoa Kỳ) khảo sát, đánh giá và xếp hạng cho tất cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước chỉ được tiến hành hàng năm từ năm 2006

Trang 14

6

Từ năm 2006 đến nay, VCCI đã công bố thường niên Báo cáo chi tiết chỉ

số PCI Các Báo cáo này đã đóng góp một phần rất lớn trong việc cải thiện môi trường kinh doanh tại các tỉnh, thành trên cả nước; giúp nhận biết được điểm mạnh và điểm yếu của địa phương mình, từ đó đề ra hướng giải quyết nhằm đưa kinh tế địa phương phát triển

1.1.2.1 Các thành phần chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Có nhiều cách để phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu

tư cấp tỉnh, trong đó có cách phân loại theo nhóm yếu tố truyền thống (như điều kiện tự nhiên - địa lý, xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng, quy mô thị trường…) và nhóm yếu tố nguồn lực mềm bao gồm những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh, những khía cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của chính quyền cấp tỉnh

Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được xác định theo các tiêu chí xác định khả năng của nguồn lực mềm và chỉ số PCI hiện nay được cấu thành từ hệ thống bao gồm 10 chỉ số thành phần sau:

- Cạnh tranh bình đẳng (VCCI đưa vào năm 2013)

1.1.2.2 Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Chỉ số PCI ngày càng được sử dụng như một công cụ quan trọng để đo

Trang 15

7

lường và đánh giá công tác quản lý, điều hành kinh tế của chính quyền 63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam dựa trên cảm nhận của khu vực kinh tế tư nhân Những tỉnh có công tác điều hành tốt hơn thì sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có và đạt được mức phúc lợi từ kinh tế cao hơn

Trên thực tế, kết quả điều tra PCI đã được nhiều tổ chức và cá nhân đón nhận, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn và đời sống:

- Ở góc độ chính quyền địa phương: PCI đã và đang được sử dụng để nhận

diện điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường kinh doanh của địa phương, giám sát việc thực hiện công tác quản lý điều hành của bộ máy hành chính, từ đó đưa

ra chính sách phù hợp nhằm cải thiện chất lượng điều hành kinh tế PCI còn là thước đo để đánh giá, so sánh các nỗ lực và tiến bộ của từng tỉnh so với các tỉnh, thành khác Các nhà lãnh đạo cũng có thể sử dụng dữ liệu PCI để đánh giá các thay đổi chính sách và đo lường trực tiếp tác động các chính sách này

Chỉ số PCI cũng góp phần hỗ trợ quá trình phân cấp quản lý hiện nay bằng việc cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách những thiếu sót trong quá trình thực hiện chính sách từ cấp trung ương xuống cấp địa phương, qua đó giúp chính quyền tỉnh nâng cao năng lực và hiệu quả thực hiện, và cung ứng các dịch vụ công tốt hơn Chẳng hạn như nhiều tỉnh đã cải thiện tính minh bạch, khả năng tiếp cận thông tin và văn bản pháp luật nhằm tuân thủ các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ

- Ở góc độ doanh nghiệp: Vai trò điều hành kinh tế của chính quyền trở

nên đặc biệt quan trọng đối với những quyết định của doanh nghiệp Trong điều tra PCI, doanh nghiệp sẽ bày tỏ quan ngại về các triển vọng trong tương lai vì rất khó dự đoán các sự kiện kinh tế khách quan nằm ngoài tầm kiểm soát của mình và thậm chí cả sự cập nhật những quyết định chính sách đã được ban hành Trong bối cảnh này, việc đảm bảo các chính sách, quy định minh bạch và công bằng là hết sức cần thiết, giúp doanh nghiệp dự báo chính xác hơn về triển vọng kinh doanh trong tương lai

Trang 16

- Đối với cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế (gồm các tổ chức song

và đa phương): Các chỉ tiêu cụ thể trong kết quả PCI đã được sử dụng như là một cơ sở để theo dõi và đánh giá các dự án phát triển kinh tế tại địa phương đặt

dự án

Dữ liệu điều tra PCI cũng được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về tình hình hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân, các nhân tố quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, chính sách công nghiệp, xóa đói giảm nghèo, kể cả vai trò của Quốc hội trong hoạch định chính sách

1.1.2.3.Ý nghĩa của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Báo cáo PCI tập hợp tiếng nói của gần 10.000 doanh nghiệp dân doanh bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động trên khắp 63 tỉnh, thành phố Việt Nam Chỉ số PCI trở thành tiếng nói đại diện cho nhu cầu, hy vọng

và mong mỏi của hàng chục ngàn nhà đầu tư tại Việt Nam, truyền tải trực tiếp và mạnh mẽ tiếng nói này tới các nhà hoạch định chính sách ở cả cấp trung ương và địa phương Sứ mệnh này giờ đây càng trở nên quan trọng hơn khi Việt Nam bắt đầu bước sang giai đoạn phát triển mới, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình Những thách thức trước đây doanh nghiệp đối mặt nay lại càng khó khăn hơn, nhất

là khi họ phải tìm cách để thành công trong một nền kinh tế toàn cầu kết nối toàn diện và đang thay đổi nhanh chóng, nơi sai lầm rất dễ phải trả giá lớn PCI hỗ trợ

Trang 17

9

nhiều hơn cho các doanh nghiệp, đảm bảo các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn những thách thức mà doanh nghiệp tư nhân trong nước hay các nhà đầu tư nước ngoài đang phải đối mặt, từ đó, đề xuất được các giải pháp hiệu quả

PCI là một công cụ hữu hiệu cho doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu Đối với các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam, PCI cung cấp các chỉ tiêu, dữ liệu về chất lượng điều hành kinh tế, yếu tố quan trọng đối với đầu tư và tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân Những chỉ số này

đã góp phần chỉ ra lĩnh vực cải cách nào cần thiết và cách thức cải thiện chất lượng điều hành, giúp chính quyền các địa phương nhìn nhận rõ hơn các vấn đề trong điều hành hoạt động kinh tế của mình và định hướng điều chỉnh để nâng cao năng lực điều hành, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Nhưng lý do khác tạo ra ảnh hưởng quan trọng của PCI là nó ngày càng được các nhà đầu tư tham khảo sử dụng trong các quyết định đầu tư của mình Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, PCI giúp xác định và so sánh môi trường kinh doanh tại các địa phương khác nhau ở Việt Nam; đây là nguồn thông tin giá trị cho việc xem xét ra quyết định đầu

tư hoặc mở rộng đầu tư tại một địa phương Chỉ số PCI có thể xem là một động lực quan trọng cho quá trình cải cách môi trường kinh doanh cấp tỉnh tại Việt Nam thời gian qua

Hơn hết, giá trị thực tiễn to lớn của các Báo cáo PCI thường niên không giới hạn ở việc cung cấp một bức tranh “tĩnh” của nhận diện, đánh giá hoạt động của chính quyền nhà nước nói chung, chính quyền cấp tỉnh nói riêng Quan trọng hơn, chúng chứa đựng sức mạnh thúc đẩy quá trình đổi mới tư duy phát triển và tạo ra cuộc cạnh tranh lành mạnh trong chính khu vực chính quyền nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ doanh nghiệp, phục vụ thị trường tốt hơn

1.1.3 Ưu điểm và hạn chế của chỉ số PCI

1.1.3.1 Ưu điểm của chỉ số PCI

- Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI: đo lường và xếp hạng công tác điều hành kinh tế của các tỉnh Chất lượng điều hành là nhân tố không những giúp địa phương sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả hơn mà còn có tác dụng đến

Trang 18

10

cải thiện môi trường kinh doanh và tăng trưởng kinh tế trong những năm tiếp theo

- Các kết quả điều tra chỉ số PCI đã và đang được nhiều cá nhân và tổ chức đón nhận, sử dụng một cách đa dạng

- Chỉ số PCI giúp đánh giá chất lượng điều hành kinh tế để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân

- Trong những năm tới chỉ số PCI sẽ tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện

để trở thành một trong những công cụ hữu ích nhằm theo dõi và đánh giá các nỗ lực cải cách và điều hành kinh tế cấp địa phương Mục tiêu hướng tới là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam

- Chỉ số PCI giúp chính quyền địa phương phân tích được điểm mạnh điểm yếu trong công tác điều hành của mình Nhờ đó mà chính quyền nhận thức được áp lực phải cải cách và đề ra những sáng kiến, chính sách tốt nhằm

hỗ trợ cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư

- Trong những năm qua nhiều tỉnh và thành phố đã sử dụng chỉ số PCI trong việc điều chỉnh các chính sách cho khu vực tư nhân, thực hiện phân tích chuẩn đoán để hiểu rõ hơn lợi thế cạnh tranh của tỉnh nhằm tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế

- Chỉ số này cũng được các nhà đầu tư sử dụng làm nguồn thông tin tham khảo khi đưa ra các quyết định đầu tư

1.1.3.2 Hạn chế của chỉ số PCI

- Chỉ số PCI được tổng hợp từ những cảm nhận chủ quan của các doanh nghiệp tư nhân đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của tỉnh Những đánh giá từ phía doanh nghiệp là vô cùng quan trọng cho việc điều chỉnh chính sách Tuy nhiên, với sự đa dạng về thành phần doanh nghiệp cũng như những hạn chế trong công tác thu thập dữ liệu mẫu có thể ảnh hưởng đến kết quả chỉ số PCI

- Mặc dù đã đánh giá bao quát nhiều khía cạnh trong công tác điều hành kinh tế của chính quyền qua 10 chỉ số thành phần, nhưng PCI cũng chỉ là kết quả

Trang 19

11

phân tích từ mô hình, chưa thể chỉ ra hết được thực tế sinh động ở mỗi địa phương

1.2 Chỉ số chi phí không chính thức

1.2.1 Khái niệm chỉ số chi phí không chính thức

Theo Báo cáo nghiên cứu chính sách VNCI - số 4 do VCCI công bố năm 2005, Chi phí không chính thức được định nghĩa như sau: Chi phí không chính thức (CPKCT) là số tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra để chi trả các khoản phí không chính thức, tiền phạt và các khoản phí bất thường khác trong điều kiện hoạt động kinh doanh bình thường

Theo VCCI, Chỉ số CPKCT đo lường các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không

- Các DN cùng ngành thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức;

- % doanh nghiệp phải chi hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không

- Hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho DN là phổ biến;

- Công việc đạt được kết quả mong đợi sau khi đã trả chi phí không chính thức;

- Các khoản chi phí không chính thức ở mức chấp nhận được(đây là chỉ tiêu mới áp dụng từ năm 2013)

1.2.2 Ý nghĩa của chỉ số chi phí không chính thức

Từ lâu, các nhà phân tích và hoạch định chính sách kinh tế VN đã không ngừng nỗ lực để tìm hiểu và giảm thiểu nạn tham nhũng tại VN Các cấp lãnh đạo cũng bày tỏ lo ngại về ảnh hưởng xấu của tham nhũng đối với tăng trưởng DN và phát triển kinh tế Thực tế, đây là một trong những vấn đề phổ biến nhất và cũng

Trang 20

12

được nghiên cứu nhiều nhất trong phát triển kinh tế Mặc dù tác hại của tham nhũng đối với mỗi nước là khác nhau, song tham nhũng có ở khắp các nước trên thế giới,

dù là nước giàu hay nước nghèo

Trong một môi trường kinh doanh mà mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, tham nhũng như là một "hàng rào không tên" nhưng bất cứ DN nào cũng biết và hiểu về nó Ảnh hưởng của tham nhũng đối với môi trường kinh doanh của tỉnh/thành là rất lớn Cụ thể là:

- Tham nhũng dẫn đến phân bổ nguồn lực xã hội không hiệu quả Muốn nền kinh tế của địa phương hoạt động tối hảo thì nguồn lực của địa phương đó (nhất là vốn) phải được phân bổ cho đúng giữa đầu tư (cho tương lai) và tiêu xài (cho hiện tại), và hơn nữa, vốn đầu tư phải được phân bổ cho đúng giữa những dự án khác nhau Vì nhiều lý do, tham nhũng sẽ làm sự phân bổ nguồn lực chệch ngoài cấu trúc

tối hảo cho tăng trưởng và phát triển Một là, trong một khu vực mà vốn có thể di

chuyển khá dễ dàng từ nơi này sang nơi khác, người có vốn sẽ đầu tư vào những

địa phương ít tham nhũng Hai là, trong một quốc gia, vốn sẽ chảy vào những địa phương ít tham nhũng Ba là, nguồn lực nói chung sẽ được tiêu xài cho hiện tại hơn

là đầu tư cho tương lai Bốn là, những dự án được đầu tư thường là những dự án quá

quy mô và phức tạp, bởi lẽ công trình càng quy mô và phức tạp thì cơ hội tham nhũng càng nhiều và càng dễ che đậy Tất cả bốn xu hướng đó có thể đưa vốn vào các mục tiêu, địa phương, hoặc khu vực trái ngược nhu cầu phát triển

- Tăng chi phí kinh doanh do phải hạch toán phần chi cho các khoản "không chính thức" vào chi phí chung Gánh nặng từ những khoản chi phí này sẽ không có chiều hướng giảm nếu các DN cùng "cạnh tranh" với nhau về giá trị của hối lộ trong một môi trường kinh doanh không lành mạnh

- Làm giảm các cơ hội kinh doanh, đặc biệt là trong các hoạt động đấu thầu hoặc các hoạt động huy động vốn mở rộng kinh doanh, lien doanh, liêt kết khi các đối tác biết được về phương pháp tiếp cận "tham nhũng" của các DN, đặc biệt là các đối tác nước ngoài từ những nền kinh tế trong sạch

- Tăng chi phí mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, trong khi chất lượng giảm

Trang 21

13

sút do nhà cung cấp không được lựa chọn thong qua một quy trình công bằng và khách quan Khoản chi dành cho hành vi tham nhũng cũng được hạch toán vào giá thành sản phẩm và người cuối cùng phải chịu chính là khách hàng

- Tham nhũng sẽ làm yếu đi tác động tích cực của cạnh tranh trong thị trường Cụ thể, thế cạnh tranh thị trường sẽ không phản ảnh hiệu năng kinh tế vì những DN đút lót, dù kém hiệu năng, cũng sẽ được ưu đãi hơn các DN khác Sự bất bình đẳng trong kinh doanh là dấu hiệu đáng báo động đối với sự phát triển kinh tế của địa phương, DN nào cũng muốn được đối xử một cách công bằng để có thể phát triển công việc kinh doanh của mình Tuy nhiên, không phải DN nào cũng có sẵn những “mối quan hệ” với các cán bộ, công chức NN để được hưởng những “ưu đãi”

- Tham nhũng có thể cản trở đầu tư trong nước và nước ngoài Hiện nay, số

DN có vốn đầu tư nước ngoài tại mỗi địa phương ngày càng gia tăng Điều đó chứng tỏ rằng môi trường kinh doanh của mỗi địa phương thật sự hấp dẫn và đã thu hút được các nhà đầu tư Vấn đề đặt ra là hầu như các DN có vốn đầu tư nước ngoài lại không hiểu một cách tường tận nhất các thủ tục khi tiến hành kinh doanh tại địa phương vì mỗi địa phương lại có những quy định riêng bên cạnh những quy định chung của các cơ quan NN Lợi dụng điều này, các cán bộ, công chức NN thường

"làm khó" các DN này, họ chỉ thấy cái lợi cho bản thân mình mà quên đi lợi ích chung của địa phương

Bên cạnh đó, việc Quốc Hội ban hành Luật phòng, chống tham nhũng (Luật Phòng, chống tham nhũng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 55/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005) và Chiến lược phòng chống tham nhũng của VN năm 2008 cho thấy mức độ nhận thức cao về những nguy cơ này, kể

cả việc thừa nhận rằng sự sống còn của chế độ có thể bị đe dọa

Nghiên cứu về Việt Nam đã nêu bật hai loại tham nhũng đối với DN Đó là: (1) Các khoản lót tay để thực hiện được các dịch vụ hay các việc cơ bản, chẳng hạn như trong đăng ký kinh doanh hoặc nộp thuế và (2) Chuyển nhượng quyền lực NN thông qua các khoản "lại quả" khi thực hiện hợp đồng mua sắm của Chính phủ Do

Trang 22

14

tiền lót tay (thường được gọi là tham nhũng vặt) và bán các dịch vụ NN (tham nhũng

vĩ mô) có sự tham gia trực tiếp của DN, nên có thể phân tích các khoản tham nhũng này bằng cách sử dụng công cụ điều tra ý kiến công chúng, chẳng hạn như điều tra PCI

Hiểu rõ tác hại của tham nhũng đối với môi trường cạnh tranh của địa phương để có thể đưa ra lý giải tại sao nhóm nghiên cứu của VCCI lại đưa chỉ số CPKCT vào việc đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

1.2.3 Vai trò của chi phí không chính thức trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Từ lâu, các nhà phân tích và hoạch định chính sách kinh tế Việt Nam đã không ngừng nỗ lực để tìm hiểu và giảm thiểu nạn tham nhũng tại Việt Nam Các cấp lãnh đạo cũng bày tỏ lo ngại về ảnh hưởng xấu của tham nhũng đối với tăng trưởng DN và phát triển kinh tế Thực tế, đây là một trong những vấn đề phổ biến nhất và cũng được nghiên cứu nhiều nhất trong phát triển kinh tế Mặc dù tham nhũng đối với mỗi nước là khác nhau, song tham nhũng có ở khắp các nước trên thế giới, dù là nước giàu hay nước nghèo

Trong một môi trường kinh doanh mà mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, tham nhũng như là một “hàng rào không tên” nhưng bất cứ DN nào cũng biết và hiểu về nó Ảnh hưởng của tham nhũng đối với môi trường kinh doanh của tỉnh/thành là rất lớn Cụ thể là:

- Tham nhũng dẫn đến phân bổ nguồn lực xã hội không hiệu quả Muốn nền kinh tế của địa phương hoạt động tối ưu thì nguồn lực của địa phương đó (nhất là vốn) phải được phân bổ đúng giữa đầu tư (cho tương lai) và chi tiêu (cho hiện tại),

và hơn nữa, vốn đầu tư phải được phân bổ cho đúng giữa những dự án khác nhau

Vì nhiều lý do, tham nhũng sẽ làm sự phân bổ nguồn lực chệch ngoài cấu trúc tối

ưu cho tăng trưởng và phát triển Một là, trong một khu vực mà vốn có thể di

chuyển khá dễ dàng từ nơi này sang nơi khác, người có vốn sẽ đầu tư vào những địa

phương ít tham nhũng Hai là, trong một quốc gia, vốn sẽ chảy vào những địa phương ít tham nhũng Ba là, nguồn lực nói chung sẽ được chi tiêu cho hiện tại hơn

Trang 23

15

là đầu tư cho tương lai Bốn là, những dự án được đầu tư thường là những dự án

quy mô và phức tạp, bởi lẽ công trình càng quy mô và phức tạp thì cơ hội tham nhũng càng nhiều và càng dễ che đậy Tất cả bốn xu hướng đó có thể đưa vốn vào các mục tiêu, địa phương, hoặc trái ngược nhu cầu phát triển

- Tăng chi phí kinh doanh do phải hạch toán phần chi cho các khoản “không chính thức” vào chi phí chung Gánh nặng từ những khoản chi phí này sẽ không có chiều hướng giảm nếu các doanh nghiệp cùng “cạnh tranh” với nhau về giá trị hối

lộ trong một môi trường kinh doanh không lành mạnh

- Làm giảm các cơ hội kinh doanh, đặc biệt là trong các hoạt động đầu thầu hoặc các hoạt động huy động vốn mở rộng kinh doanh, liên doanh, liên kết khi các đối tác biết được về phương pháp tiếp cận “tham nhũng” của các DN, đặc biệt là các đối tác nước ngoài là những nền kinh tế trong sạch

- Tăng chi phí mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, trong khi chất lượng giảm sút do nhà cung cấp không được lựa chọn thông qua một quy trình công bằng và khách quan Khoản chi phí dành cho hành vi tham nhũng cũng được hạch toán vào giá thành sản phẩm và người cuối cùng phải chịu chính là khách hàng

- Tham nhũng sẽ làm yếu đi tác động tích cực của cạnh tranh trong thị trường Cụ thể, thế cạnh tranh thị trường sẽ không phản ánh hiệu năng kinh tế vì những DN đút lót, dù kém hiệu năng, cũng sẽ được ưu đãi hơn các DN khác Sự bất bình đẳng trong kinh doanh là dấu hiệu đáng báo động đối với sự phát triển kinh tế của địa phương, DN nào cũng muốn được đối xử một cách công bằng để có thể phát triển công việc kinh doanh của mình Tuy nhiên, không phải DN nào cũng có sẵn những “mối quan hệ” với các cán bộ, công chức nhà nước để được hưởng những

“ưu đãi”

- Tham nhũng có thể cản trở đầu tư trong nước và nước ngoài Hiện nay, số

DN có vốn đầu tư nước ngoài tại mỗi địa phương ngày càng gia tăng Điều đó chứng tỏ môi trường kinh doanh của mỗi địa phương thật sự hấp dẫn và đã thu hút được các nhà đầu tư Vấn đề đặt ra là hầu như các DN có vốn đầu tư nước ngoài lại không hiểu một cách tường tận nhất các thủ tục khi tiến hành kinh doanh tại địa phương vì mỗi địa phương lại có quy định riêng bên cạnh những quy định chung

Trang 24

16

của các cơ quan nhà nước Lợi dụng điều này, các cán bộ, công chức nhà nước thường “làm khó” các DN này, họ chỉ thấy cái lợi bản thân mà quên đi lợi ích chung của địa phương

Bên cạnh đó, việc Quốc Hội banh hành Luật phòng, chống tham nhũng (Luật Phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 ngày 29/11/2005 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 01/2007/QH12 và Luật số 27/2012/QH13; Nghị định 59/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều Luật phòng chống tham nhũng) và Chiến lược phòng chống tham nhũng của Việt Nam cho thấy mực độ nhận thức cao về những nguy cơ này

Nghiên cứu về tham nhũng ở Việt Nam đã nêu bật hai loại tham nhũng đối với DN Đó là: (1) Các khoản lót tay để thực hiện được các dịch vụ hay các việc cơ bản, chẳng hạn như trong đăng ký kinh doanh hoặc nộp thuế và (2) Chuyển nhượng quyền lực Nhà nước thông qua các khoản “lại quả” khi thực hiện hợp đồng mua sắm của Chính phủ Do tiền lót tay (thường được gọi là tham nhũng vặt) và bán các dịch vụ nhà nước (tham nhũng vĩ mô) có sự tham gia trực tiếp của DN, nên có thể phân tích các khoản tham nhũng này bằng cách sử dụng công cụ điều tra ý kiến công chúng, chẳng hạn như điều tra PCI

Hiểu rõ tác hại của tham nhũng đối với môi trường cạnh tranh của địa phương để có thể đưa ra lý giải tại sao nhóm nghiên cứu của VCCI lại đưa chỉ số CPKCT vào việc đánh gia năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

1.2.4 Các chỉ tiêu và cách thức đo lường các chỉ tiêu cấu thành chỉ số Chi phí không chính thức

i) Các DN cùng ngành thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý)

- Câu hỏi này được thiết kế để DN có thể nhận định về tình hình đưa nhận hối

lộ của các DN cùng ngành nghề nói chung chứ không phải thông tin về hành vi đưa

và nhận hối lộ của chính DN

- Chỉ tiêu này được đo lường thông qua câu hỏi D9 (Phiếu khảo sát DN), nhóm nghiên cứu VCCI đã sử dụng thang đo Likert với 4 mức độ từ Hoàn toàn

Trang 25

17

đồng ý đến Hoàn toàn không đồng ý Đặc điểm của thang đo Likert là khi trả lời phiếu điều tra, các DN sẽ không gặp khó khăn khi đưa ra câu trả lời và nhóm nghiên cứu cũng thuận tiện hơn khi xử lý và phân tích dữ liệu Việc đưa ra 4 mức

độ sẽ giúp các DN không phân vân khi không biết rõ khoảng cách giữa các mức độ (trong trường hợp sử dụng từ 5 đến 10 mức độ) cũng đã khắc phục được điểm hạn chế khi sử dụng thang đo Likert

ii) % doanh nghiệp phải chi hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức

- Đây là chỉ số đo lường mức độ chi phí trả thêm

- Chỉ tiêu này được đo lường thông qua câu hỏi D10, nhóm nghiên cứu VCCI

đã sử dụng câu hỏi nhiều lựa chọn Với ưu điểm: tương đối ngắn và dễ trả lời, đồng thời có thể soạn thảo, tính toán và phân tích nhanh chóng Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng biết tất cả các câu trả lời có liên quan có thể có (từ 0% đến trên 30%) Tuy nhiên, vì liệt kê danh sách đầy đủ các câu trả lời quá dài (8 lựa chọn) có thể làm nản lòng cho các DN khi trả lời

iii) Hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho DN là phổ biến (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý)

- Câu hỏi này được đưa ra nhằm nhận định tình hình thực tế, xác định mức

độ tham nhũng, phản ánh xác thực hơn những vẩn đục của môi trường kinh doanh thực tế thông qua việc cán bộ tỉnh diễn giải sai lệch chính sách, buộc DN phải chi các khoản chi phí không chính thức

- Chỉ tiêu này được đo lường thông qua câu hỏi 14.2 (phiếu khảo sát DN), nhóm nghiên cứu VCCI đã sử dụng thang đo Likert với 4 mức độ từ Hoàn toàn đồng ý đến Hoàn toàn không đồng ý

iv) Công việc đạt được kết quả mong đợi sau khi đã trả chi phí không chính thức (% thường xuyên hoặc luôn luôn)

- Một số DN tin rằng các khoản CPKCT cũng có lợi với điều kiện là nếu mất tiền tiêu cực phí thì DN đạt được kết quả như ý muốn Thực tế, có rất nhiều DN tự nguyện đưa thêm tiền bồi dưỡng cho các nhân viên NN sau khi đã đóng đủ các

Trang 26

v) Các khoản chi phí không chính thức ở mức chấp nhận được (% Đồng

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí không chính thức

1.2.5.1 Các yếu tố khách quan

- Môi trường chính trị và pháp luật: Các nhân tố chính trị pháp luật có ảnh

hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nó bao gồm hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của nhà nước, tổ chức bộ máy điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị xã hội

Một thể chế chính trị ổn định, luật pháp rõ ràng, rộng mở sẽ là cơ sở cho việc đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệu quả Ví dụ các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến cạnh tranh, đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau và trên mọi lĩnh vực; thuế xuất nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước

- Môi trường kinh tế:

Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước

Nhân tố này có tác động nhanh chóng và sâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng nhất là trong điều kiện trong nền kinh tế mở

Trang 27

19

Nếu đồng nội tệ lên, giá cả của doanh nghiệp trong nước giảm, khả năng cạnh tranh

ở nước ngoài kém, khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn của các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, khi đồng nội tệ lên giá khuyến khích nhập khẩu vì giá cả hàng nhập khẩu sẽ giảm và như vậy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước Ngược lại khi đồng nội tệ giảm giá, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng cả trên thị trường trong nước và thị trường nước ngoài vì khi đó giá bán hàng hoá sẽ giảm hơn

so với các đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hoá do nước khác sản xuất

Tốc độ tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanh toán của họ tăng dẫn đến sức mua tăng Đây là cơ hội tốt cho các nhà doanh nghiệp, nếu nhà doanh nghiệp nào nắm bắt được điều này và có khả năng đáp ứng được nhu cầu khách hàng (về mặt số lượng, giá bán, chất lượng, mẫu mã) thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ thành công và có khả năng cạnh tranh cao

Lãi suất cho vay của các ngân hàng Nhân tố này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bởi vì vốn vay trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp là không thể thiếu Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao dẫn đến chi phí của các doanh nghiệp tăng lên do phải trả tiền vay lớn hơn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp kém đi nhất là khi các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh về vốn

- Môi trường văn hóa – xã hội:Bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà

những chuẩn mực và giá trị này được chấp nhận và tôn trọng, bởi một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể Sự thay đổi của các yếu tố văn hoá xã hội một phần là hệ quả của sự tác động lâu đài của các yếu tố vĩ mô khác, do vậy nó thường xảy ra chậm hơn so với các yếu tố khác Một số đặc điểm cần chú ý tới là sự tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường có tính dài hạn và tinh tế hơn so với các yếu tố khác, thậm chí nhiều lúc khó mà nhận biết được Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường rất rộng: "nó xác định cách thức người ta sống làm việc, sản xuất, và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ" Như vậy những hiểu biết

Trang 28

20

về mặt văn hoá - xã hội sẽ là những cơ sở rất quan trọng cho các nhà quản trị trong quá trình quản trị chiến lược ở các doanh nghiệp Các khía cạnh hình thành môi trường văn hoá xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động kinh doanh như: (1) Những quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, về lối sống, về nghề nghiệp; (2) Những phong tục, tập quán, truyền thống (3) Những quan tâm và ưu tiên của xã hội; Trình

độ nhận thức, học vấn chung của xã hội

Bên cạnh đó Dân số cũng là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến các yếu tố khác của môi trường vĩ mô, đặc biệt là yếu tố xã hội và yếu tố kinh tế Những thay đổi trong môi trường dân số sẽ tác động trực tiếp đến sự thay đổi của môi trường kinh tế và xã hội và ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

- Môi trường công nghệ: Yếu tố này ngày càng quan trọng và có ý nghĩa

quyết định đến môi trường cạnh tranh, tác động một cách quyết định đến hai yếu tố

cơ bản nhất tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường đó là chất lượng và giá bán Khoa học công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của các doanh nghiệp, qua đó tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm nói riêng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung Hiện nay trên thế giới đã chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ

có hàm lượng khoa học công nghệ cao

Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp các cơ sở sản xuất trong nước tạo ra được những thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và tái trang bị toàn bộ

cơ sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, đây là tiền đề để các doanh nghiệp

ổn định và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

- Môi trường cạnh tranh:Cạnh tranh được xác định là động lực thúc đẩy sự

phát triển của nề kinh tế thị trường với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn, ai thoả mãn tốt hơn nhu cầu, hiệu quả tốt hơn thì người đó sẽ thắng, tồn tại và phát triển Duy trì cạnh tranh bình đẳng và đúng pháp luật là nhiệm vụ của chính phủ Trong điều kiện

đó vừa mở ra các cơ hội để doanh nghiệp kiến tạo hoạt động của mình vừa yêu cầu các doanh nghiệp phải luôn vươn lên phía trước “vượt qua đối thủ” Điều kiện để cạnh tranh và các thành phần tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh để “vượt

Trang 29

21

lên phía trước” tạo ra môi trường cạnh tranh trong nền kinh tế Các doanh nghiệp cần xác định cho mình một chiến lược cạnh tranh hoàn hảo Chiến lược cạnh tranh cần phản ánh được các yếu tố ảnh hưởng của môi trường cạnh tranh bao quanh doanh nghiệp

1.2.5.2 Các yếu tố chủ quan

Nhóm yếu tố chủ quan là nhóm yếu tố có thể tác động trực tiếp đến việc cải thiện CPKCT theo ý chí của mình Năng lực, hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động của bộ máy quản lý, chất lượng, trình độ của bộ máy công chức cấp tỉnh, hệ thống trang thiết bị phục vụ cho công tác làm việc của các cơ quan chính quyền cấp tỉnh có ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc tới chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Năng lực của bộ máy quản lý, khả năng thực hiện chức năng quản lý và phục

vụ của bộ máy hành chính gồm: hệ thống tổ chức các cơ quan, hệ thống thể chế, thủ tục hành chính, đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất trình độ, kỹ năng hành chính với cơ cấu, chức danh nhằm đáp ứng đủ tiêu chuẩn và yêu cầu cụ thể của từng công việc, điều kiện vật chất kỹ thuật cần và đảm bảo hoạt động công vụ hiệu quả Năng lực hoạt động sẽ phụ thuộc vào các yếu tố này

Hiệu lực hoạt động thể hiện ở việc thực hiện thực hiện đúng, có kết quả chức năng của bộ máy để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra Ở khía cạnh thực tiễn, gắn với tính khả thi hiệu lực thể hiện ở sự nghiêm túc, khẩn trương triệt để của tổ chức công dân trong việc thi hành chính sách, pháp luật của nhà nước trên phạm vi của toàn xã hội Nó phụ thuộc vào năng lực, chất lượng của nền hành chính Hiệu quả của hoạt động biểu hiện ở những kết quả đạt được của bộ máy trong sự tương quan

về mức độ chi phí các nguồn lực trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội

Trong những nội dung trên thì năng lực quyết định hiệu quả và hiệu lực hoạt động Hiệu lực, hiệu quả là thước đo, tiêu chuẩn đánh giá năng lực Các nguyên tắc hoạt động chủ yếu của bộ máy thể hiện ở nôi dung: Phục vụ, công khai, phối hợp trong hoạt động quản lý theo vùng, ngành, lãnh thổ, hiệu lực, hiệu quả, hiện đại khoa học, phân định rõ theo chức năng

Trang 30

22

Giải quyết các yếu tố cấu thành, hoàn thiện các điều kiện, môi trường để các

cơ quan có năng lực hoạt động, thực hiện có hiệu lực hiệu quả chức năng quản lý, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đầu tư Thuật ngữ “khách hàng là thượng đế” không chỉ được áp dụng trong kinh doanh mà còn được nhiều cơ quan công quyền áp dụng trong mối quan hệ giữa chính quyền và người dân

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý đòi hỏi cải cách hành chính phải tiếp cận một cách có hệ thống Theo cách tiếp cận này thì phải có hai nhóm vấn

đề liên quan bao gồm: cải cách những vấn đề gắn liền với chính nội bộ của cơ quan nhà nước, và cải cách những vấn đề gắn với hoạt động mà các cơ quan nhà nước hành chính nhà nước tác động bên ngoài, ảnh hưởng đến hoạt động xã hội Hai nhóm vấn đề này, công việc này về nguyên tắc cơ bản, gắn liền chặt chẽ với nhau

Bộ máy hành chính mạnh mới có thể thực hiện tốt được những công việc quản lý nhà nước do pháp luật quy định cho các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, đồng thời đáp ứng được đòi hỏi của nhân dân, của xã hội và gia tăng mức độ hài lòng của công dân của nhà đầu tư, nhà quản trị doanh nghiệp

Tác động ra bên ngoài của các cơ quan hành chính nhà nước đối với xã hội, công dân không chỉ phụ thuộc vào thể chế, thủ tục hành chính mà còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, kiến thức, cách tư duy của những người làm việc trong các cơ quan ấy Một bộ máy chỉ hoạt động hiệu quả khi bộ máy ấy có hệ thống nhân lực đảm bảo về chất lượng trình độ cũng như về số lượng Nếu những người tham mưu cho nhà nước ấy thụ động, vô cảm, duy ý chí, không tư duy theo nguyên tắc sáng tạo, đổi mới, thì cải cách sẽ chỉ làm xấu hơn mối quan hệ giữa doanh nghiệp, nhà đầu tư với chính quyền

1.2.6 Kinh nghiệm của một số tỉnh thành trong việc cải thiện chỉ số CPKCT

- Kinh nghiệm của Đà Nẵng: Cải cách hành chính mạnh mẽ, chính quyền

thân thiện, gần dân…

Sự quan tâm lãnh đạo của Thành ủy, UBND Thành phố Đà Nẵng đối với công tác cải cách hành chính được cụ thể hoá bằng nhiều văn bản, gần đây nhất là Chỉ thị số 29-CT/TU ngày 06/11/2013 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng về

Trang 31

23

tiếp tục đẩy mạnh CCHC, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu xây dựng thành phố trong tình hình mới Nội dung Chỉ thị này nhằm tập trung cải cách công chức-công vụ, định hướng cụ thể cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thực hiện nội dung các chuẩn mực về “5 xây” gồm: trách nhiệm, chuyên nghiệp, trung thực, kỷ cương, gương mẫu và “3 chống” là: quan liêu, tiêu cực, bệnh hình thức

Trong những năm qua, công tác cải cách hành chính tại Thành phố Đà Nẵng luôn có sự đồng hành của các cơ quan truyền thông như Đài Phát thanhvà Truyền hình Đà Nẵng, Đài Truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng, Báo Đà Nẵng, Báo Công an

Đà Nẵng, Cổng Thông tin điện tử thành phố và một số báo, đài Trung ương đặt tại thành phố như Tuổi trẻ, Thanh niên, Dân trí.… Những chương trình, chuyên mục như “Cùng chúng tôi đối thoại”, “Cải cách hành chính”, “Lăng kính công vụ”, “5 xây, 3 chống”… đã và đang góp phần thiết thực, hiệu quả vào hiệu ứng lan tỏa của công tác cải cách hành chính đến đông đảo người dân và doanh nghiệp

Chỉ khi công khai, minh bạch cho “dân biết” thì mới tạo cơ sở cho việc “dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Tại Đà Nẵng, 100% thủ tục hành đã được công khai thông qua nhiều hình thức như niêm yết tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, đăng tải trên trang thông tin điện tử của thành phố và trên website của từng cơ quan, đơn

vị Ngoài ra, ngày càng nhiều kênh thông tin khác ra đời hỗ trợ đẩy mạnh công khai thủ tục hành chính và các quy định pháp luật đến người dân Đáng chú ý nhất là Trung tâm Thông tin dịch vụ công thuộc Sở Thông tin và Truyền thông thành phố

Đà Nẵng, đóng vai trò trung tâm hỗ trợ thông tin về dịch vụ hành chính công đa phương diện, là nơi mà các tổ chức công dân có thể truy vấn về tình trạng xử lý hồ sơ; thực hiện đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, công dân khi tham gia các dịch

vụ công trực tuyến của thành phố; tiếp nhận mọi thông tin của người dân (khiếu nại,

tố cáo, phản ánh thực trạng hạ tầng kỹ thuật, đời sống của người dân…) chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền liên quan xử lý một cách nhanh chóng, kịp thời

- Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh: Cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ tốt

cho doanh nghiệp

Trang 32

24

Mô hình Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh của Quảng Ninh là một sáng kiến, cách làm mới trong chuỗi các giải pháp cải cách thủ tục hành chính cho người dân, nhà đầu tư và các doanh nghiệp mà Quảng Ninh triển khai trong năm 2014 Trung tâm được nghiên cứu, thành lập dựa trên sự tham vấn, học tập kinh nghiệm từ một số nước với mục tiêu cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính, đồng thời nâng cao tính minh bạch và giảm tối đa chi phí về thời gian và tài chính cho người dân, nhà đầu tư, doanh nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ tối đa cho các nhà đầu

tư triển khai dự án đầu tư và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, thuận lợi nhất trên địa bàn tỉnh Việc thành lập mô hình Trung tâm Hành chính công tỉnh với phương thức “Một thẩm định, một phê duyệt” đã bước đầu khẳng định tính hiệu quả qua sự đánh giá cảm nhận tích cực từ cộng đồng nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân

Sự ra đời của Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư tỉnh (IPA) - cơ quan đầu mối duy nhất của tỉnh về xúc tiến và hỗ trợ nhà đầu tư là một giải pháp sáng tạo mà Quảng Ninh đã mạnh dạn ứng dụng tiên phong từ rất sớm, từ năm 2012 đến nay Nhà đầu tư, thay vì phải đi đến nhiều cơ quan, ban, ngành khác nhau để tìm hiểu đầu tư thì giờ đây chỉ cần liên hệ hay đến làm việc với một cơ quan duy nhất của tỉnh là IPA IPA có trách nhiệm triển khai nhanh nhất sự phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, địa phương liên quan để hỗ trợ tối ưu nhà đầu tư, doanh nghiệp Việc tiếp xúc, chăm sóc nhà đầu tư được thực hiện theo một chu trình khép kín, từ khi xúc tiến đầu tư ban đầu cũng như đồng hành sát cánh cùng nhà đầu tư, doanh nghiệp trong suốt quá trình triển khai dự án và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động xúc tiến đầu tư cũng được triển khai một cách bài bản, chuyên nghiệp trong đó chú trọng các thị trường trọng điểm, các đối tác, các nhà đầu tư chiến lược với sự hợp tác, tham vấn của các tổ chức nước ngoài như Jetro, Kotra

Có thể thấy, những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, hướng tới mục tiêu đem đến tối đa sự hài lòng của nhà đầu tư, doanh nghiệp mà Quảng Ninh tập trung

ưu tiên triển khai trong những năm qua, đã và đang khẳng định sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế của đất nước Để tạo dựng được một môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và cạnh tranh so với các địa phương

Trang 33

25 khác trong cả nước, xứng đáng là “điểm đến an toàn, tin cậy và thành công” cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp

Trang 34

26

TÓM TẮT CHƯƠNG I

Chương này trình bày những nội dung cơ bản về Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và đi sâu vào nghiên cứu chỉ số thành phần của Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - Chi phí không chính thức

Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là một phạm trù có nội dung rộng nên để đánh giá được cần sử dụng một hệt thống chỉ tiêu nhất định, cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Việc xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh thực chấp là

so sánh sự hấp dẫn của môi trường đầu tư của các tỉnh, qua đó đánh giá mức độ hiệu quả trong hoạt động của chính quyền tỉnh trong việc bảo đảm các điều kiện thu hút đầu tư, từ đó tạo áp lực thúc đẩy đổi mới hoạt động chính quyền cấp tỉnh trong đảm bảo đầu tư

Chương I đi sâu vào nghiên cứu Chỉ số CPKCT và cách thức đo lường những chỉ số cấu thành; ý nghĩa, vài trò và các yếu tố ảnh hưởng đến CPKCT Ngoài ra Chương I cũng trình bày kinh nghiệm của 1 số địa phương như Đà Nẵng và Quảng Ninh để cải thiện chỉ số CPKCT Tóm lại, Chương I đã trình bày rõ bản chât, hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số thành phần và yếu tố ảnh hưởng đến CPKCT, là cơ sở lý luận cho việc phân tích, đánh giá thực trạng chỉ số CPKCT của tỉnh Hà Tĩnh hiện nay

Trang 35

27

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHỈ SỐ CHI PHÍ KHÔNG CHÍNH THỨC

CỦA HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011-2015 2.1 Giới thiệu tỉnh Hà Tĩnh

và các tỉnh Đông Bắc Thái Lan

Hà Tĩnh có vị trí địa lý rất thuận tiện cho việc hợp tác, trao đổi và thương mại với các tỉnh, các nước khác trong khu vực như Lào, Campuchia, Thái Lan Hệ thống giao thông của Tỉnh rất cơ bản như: Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 8A và đường 12A chạy sang Lào Ngoài ra, Hà Tĩnh còn có cửa khẩu quốc tế Cầu Treo và cảng nước sâu Vũng Áng là trung tâm thương mại tạo thuận lợi cho việc trao đổi và hợp tác với các nước trong khu vực

2.1.2 Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên đất:Tài nguyên đất của Hà Tĩnh khá đa dạng, bao gồm 9 nhóm

đất: đất cát, đất mặn, đất phèn mặn, đất phù sa, đất bạc màu, đất đỏ vàng, đất mùn

Trang 36

28

vàng đỏ trên núi, đất dốc tụ, và nhóm đất mòn trơ sỏi đá Chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm đất đỏ vàng và nhóm đất phù sa (chiếm tương ứng 51,6% và 17,73% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Đất đỏ vàng được hình thành trên đá phiến sét, có màu đỏ vàng điển hình Loại đất này có tầng dày thích hợp với nhiều loại cây trồng đặc biệt

là các loại cây dài ngày và là loại rất có tiềm năng của tỉnh

Tài nguyên nước: Hà Tĩnh có nguồn nước phong phú nhờ hệ thống sông suối

hồ đập khá dày đặc Với 266 hồ chứa có tổng dung tích trữ trên 600 triệu m3, gần

300 trạm bơm có tổng lưu lượng 338.000m3/s, 15 đập dâng tổng lưu lượng cơ bản 6,9m3/s với trữ lượng này hiện tại Hà Tĩnh đã phục vụ tưới được 47.737 ha/vụ Tuy lượng nước sông khá lớn nhưng việc sử dụng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt còn bị hạn chế do bị khô cạn vùng thượng và nhiễm mặn ở hạ lưu

Đặc biệt, Hà Tĩnh có mỏ nước khoáng ở Sơn Kim huyện Hương Sơn có chất lượng tốt, vị trí thuận lợi cạnh đường Quốc lộ 8 và gần cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo rất có điều kiện để phát triển thành một khu du lịch dưỡng bệnh

Tài nguyên rừng: Hà Tĩnh hiện có 276.003 ha rừng, là một trong những tỉnh

có trữ lượng rừng giàu của cả nước, trong đó rừng tự nhiên 199.847 ha, trữ lượng 21,13 triệu m3, rừng trồng 76.156 ha, trữ lượng 2,01 triệu m3, độ che phủ của rừng đạt 45 %.Rừng tự nhiên thường gặp là kiểu rừng nhiệt đới, vùng núi cao có thể gặp các loại rừng lá kim á nhiệt đới Rừng trồng phần lớn là thông nhựa, hiện có trên 18.000 ha trong đó có trên 7.000 ha có khả năng khai thác Thảm thực vật rừng Hà Tĩnh rất đa dạng, có trên 86 họ và 500 loài cây gỗ, trong đó có nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu và nhiều loài thú quý hiếm như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loài bò sát khác

Đặc biệt Vườn Quốc gia Vũ Quang ở huyện Vũ Quang và Hương Khê, là khu rừng nguyên sinh quý hiếm còn có ở Việt Nam, có khoảng 300 loại thực vật và nhiều loại động vật quý hiếm Rừng Vũ Quang có địa hình núi cao hiểm trở, tách biệt với xung quanh, khí hậu nhiệt đới ẩm rất thuận lợi cho các loại động, thực vật phát triển

Trang 37

29

Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cũng là một địa điểm có giá trị cao, theo số liệu điều tra, tại đây có hơn 414 loài thực vật, 170 loài thú, 280 loài chim, trong đó

có 19 loài chim được ghi vào sách đỏ Việt Nam

Ngoài ra, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Hà Tĩnh cũng khá phong phú,

có nhiều loại thực động vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao Tập trung phần lớn ở khu vực các cửa sông lớn như Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu

Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản Hà Tĩnh nằm rải rác ở hầu khắp các

huyện trong tỉnh, từ vùng ven biển đến vùng trung du miền núi Toàn tỉnh có 91 mỏ

và điểm khoáng sản trong đó:

- Nhóm kim loại: có quặng sắt nằm tại các huyện Hương Khê, Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc Đặc biệt là có mỏ sắt Thạch Khê - Thạch Hà có trữ lượng ước tính 544 triệu tấn, đang xúc tiến đầu tư khai thác; có mỏ Titan chạy dọc theo bờ biển

từ Nghi Xuân đến Kỳ Anh, trữ lượng khoảng 4,6 triệu tấn (chiếm hơn 1/3 trữ lượng của cả nước) Đây là các loại khoáng sản có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ, giá trị xuất khẩu hàng năm đạt trên 100 tỷ đồng

- Nhóm phi kim: như nguyên liệu gốm sứ, thuỷ tinh có trữ lượng khá lớn nằm rải rác ở các huyện Hương Khê, Hương Sơn, Can Lộc, Đức Thọ

- Nhóm nhiên liệu: có than nâu, than đá ở Hương Khê, than bùn ở Đức Thọ

có chất lượng cao nhưng trữ lượng hạn chế

- Nguyên vật liệu xây dựng: các loại đá, cát, sỏi có ở khắp các huyện trong tỉnh

Tài nguyên biển: Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km với nhiều cửa sông lớn, là

những ngư trường lớn để khai thác hải sản Theo kết quả nghiên cứu, biển Hà Tĩnh

có trên 267 loài cá, thuộc 90 họ, trong đó có 60 loài có giá trị kinh tế cao, 20 loài tôm, nhiều loài nhuyễn thể như sò, mực Tiềm năng hải sản ở Hà Tĩnh rất lớn, trữ lượng cá ước tính 86.000 tấn, trữ lượng cá đáy 45.000 tấn, cá nổi 41.000 tấn Trong

đó có khả năng cho phép đánh bắt 54.000 tấn /năm Trữ lượng tôm vùng lộng khoảng 500 - 600 tấn, trữ lượng mực vùng lộng 3.000- 3.500 tấn

Bờ biển Hà Tĩnh có nhiều tiềm năng về khoáng sản như cát quặng và nhiều

vị trí có thể xây dựng cảng (hiện đã có 2 cảng vận tải, 2 cảng cá) Nhiều bãi biển

Trang 38

37 ở năm 2010 lên 65,97 điểm đứng thứ 7/63 tỉnh, thành phố trực thuộc TW Đến năm

2012, chỉ số PCI của tỉnh lại sụt giảm xuống còn 56,27 điểm, xếp thứ 35; năm 2013 chỉ đạt 55,88 điểm xếp thứ 45/63 xuống nhóm trung bình của cả nước; năm 2014 tăng nhẹ đạt 58,19 điểm xếp thứ 35, nằm trong nhóm khá; năm 2015 giảm nhẹ đạt 57,2 điểm xếp thứ 45/63 tỉnh thành

2.2.1.2 Tăng điểm nhưng không đều ở các chỉ số thành phần

Theo kết quả đánh giá xếp hạng các chỉ số của VCCI thì giai đoạn 2011-2015 điểm số và thứ hạng của các chỉ số thành phần PCI Hà Tĩnh có sự biến động không

ổn định Bên cạnh các chỉ số có sự tăng hạng qua các năm và liên tục đứng trong top tốt như chỉ số Hỗ trợ doanh nghiệp, chỉ số Đào tạo lao động… thì cũng còn tồn tại những bất cập như các chỉ số Chi phí không chính thức, chỉ số Năng lực cạnh tranh liên tục đứng nhóm cuối bảng xếp hạng

Năm 2015, Hà Tĩnh có 5 chỉ số tăng điểm (Chỉ số Gia nhập thị trường từ 8,00

tăng lên 8,61 điểm; Chỉ số Tính minh bạch từ 6,07 tăng lên 6,71 điểm; Chỉ số Chi phí thời gian từ 6,42 tăng lên 6,45 điểm; Chỉ số Chi phí không chính thức từ 4,17 tăng lên 4,52 điểm và chỉ số Tính năng động từ 4,56 tăng lên 4,85 điểm) và 5 chỉ số

giảm điểm (chỉ số Tiếp cận đất đai giảm từ 5,78 xuống 5,18 điểm, chỉ số Dịch vụ hỗ

trợ doanh nghiệp giảm từ 5,88 xuống 5,75 điểm, chỉ số Đào tạo lao động giảm từ 6,63 xuống 5,56 điểm, chỉ số Thiết chế pháp lý giảm từ 5,46 xuống 4,84 điểm và chỉ

số Cạnh tranh bình đẳng giảm từ 3,50 xuống 3,35 điểm - chỉ số này từ khi VCCI

Trang 39

(*) Năm 2013 chỉ số cạnh tranh bình đẳng mới đƣa vào

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo PCI của VCCI 2.2.1.3 Các chỉ số đạt điểm số thấp

Trong năm 2011 khi Hà Tĩnh đứng thứ 7/63 tỉnh thành, chỉ số xếp hạng thấp

nhất lúc đó là Thiết chế pháp lý, đứng vị trí thứ 40; tuy nhiên sang năm 2012, năm

2013 chỉ số này không đƣợc cải thiện và bị tụt xuống vị trí thứ 60 vào năm 2012 và ở

vị trí 58/63 vào năm 2013 (mặc dù có tăng điểm) Năm 2014, thứ hạng có cải thiện

Trang 40

32

song vẫn đứng ở vị trứ thấp 40/63 Năm 2015 lại là năm đánh dấu sự đi xuống của chỉ

số này khi chỉ đạt 4,84 điểm và xếp thứ 55/63

Đối với chỉ số Chi phí không chính thức năm 2011 đứng vị trí thứ 27 là vị trí

thấp sau chỉ số thiết chế pháp lý và năm 2012 đứng vị trí 61, năm 2013 đứng vị trí 62, năm 2014 đứng vị trí 54, năm 2015 chỉ số có tăng điểm nhưng vẫn ở vị trí thấp 51/63 tỉnh, thành

Về chỉ số Chi phí thời gian: Năm 2011 có thứ hạng cao trong top 5 song năm

2012 chỉ đứng vị trí thứ 46 đến năm 2013 tụt xuống đứng thứ 60/63 Năm 2014 và năm

2015 thứ hạng được cải thiện đứng ở vị trí 35/63

Về chỉ số Cạnh tranh bình đẳng: Chỉ số này năm 2013 mới đưa vào, tuy nhiên

Hà Tĩnh đứng vị trí rất thấp 63/63 và điểm số rất thấp 3,25 (tỉnh xếp 62/63 là Bắc Giang cũng đạt 3,53 điểm) Năm 2014 và 2015 là 2 năm Hà Tĩnh tiếp tục xếp cuối, đứng vị trí 63/63

Về chỉ số Tiếp cận đất đai: Năm 2011 – 2012, chỉ số này đứng trong Top 10 cả

nước lần lượt đạt thứ hạng cao 03/63 và thứ 08/63 tỉnh, thành Nhưng kể từ năm 2013 trở đi lại chứng kiến mức giảm điểm đáng báo động khi rơi xuống thứ 55 ở năm 2013

Tiếp cận đất đai

Tính minh bạch

Chi phí thời gian

Chi phí không … Tính năng động

Hỗ trợ doanh … Đào tạo lao động Thiết chế pháp lý

Cạnh tranh …

2013 2014

Ngày đăng: 22/01/2021, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w