1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất giải pháp đa dạng hóa hoạt động của các điểm bưu điện văn hóa xã tỉnh hòa bình

123 31 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bưu chính muốn chiến thắng, cần sự chuẩn bị chu đáo về thực lực nhằm làm tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp, khẳng định vị thế của mình bằng việc tích lũy vốn, cập nhật công nghệ hiện

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

TẠ THỊ THANH HÒA

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA HOẠT ĐỘNG

CỦA CÁC ĐIỂM BƯU ĐIỆN VĂN HÓA XÃ

TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “Đề xuất giải pháp đa dạng hóa hoạt động của các điểm Bưu

điện Văn hóa xã tỉnh Hòa Bình” là kết quả từ quá trình nỗ lực học tập và rèn

luyện của tôi tại trường đại học Để hoàn thành luận văn này, tôi xin được bày

tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy cô, các đồng nghiệp, người thân và tất

cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này Xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo TS Đặng Vũ Tùng, người đã tận tình hướng dẫn, góp ý và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Bưu điện tỉnh Hòa Bình đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu

Trân trọng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Đề xuất giải pháp đa dạng hóa hoạt động của

các điểm Bưu điện Văn hóa xã tỉnh Hòa Bình” là công trình nghiên cứu của

riêng bản thân tôi Các số liệu điều tra, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn

là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ tài liệu nào khác

Tác giả

Tạ Thị Thanh Hòa

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

1.3.5 Chiến lược đa dạng hóa dịch vụ của Tổng công ty Bưu

điện Việt Nam

2.2 HỆ THỐNG CÁC ĐIỂM BƯU ĐIỆN VĂN HÓA XÃ Ở

TỈNH HÒA BÌNH

34

Trang 5

2.2.2 Mạng lưới Bưu điện Văn hóa xã tại tỉnh Hòa Bình 39 2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ TẠI CÁC ĐIỂM

BƯU ĐIỆN VĂN HÓA XÃ

41

2.4 KẾT QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ TẠI ĐIỂM BƯU

ĐIỆN VĂN HÓA XÃ TỈNH HÕA BÌNH

2.4.4 Khảo sát ý kiến khách hàng về triển khai các dịch vụ tại

Chương 3 - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC ĐIỂM BƯU ĐIỆN VĂN HÓA XÃ TẠI

3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐIỂM BĐ-VHX CỦA

TỔNG CÔNG TY BƯU ĐIỆN VIỆT NAM

3.3.3 Mục tiêu phát triển của Điểm Bưu điện - VHX tỉnh Hòa

Trang 6

3.4.2 Giải pháp phát triển dịch vụ bán lẻ hàng tiêu dùng BT 88

Nam

105

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

PTI Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.9

Bảng 2.9: Bảng so sánh hiệu quả SXKD năm 2014 các

Bảng 2.10

Bảng 2.10: Bảng so sánh hiệu quả SXKD năm 2015 các

Bảng 2.11

Bảng 2.11: Bảng so sánh hiệu quả SXKD năm 2016 các

Trang 10

thu đạt đƣợc giai đoạn 2014-2016

54

đoạn 2014-2016

56

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bưu chính là ngành kinh tế lớn, là cơ sở hạ tầng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước ta

Đứng trước sự phát triển chung của đất nước, sự hội nhập kinh tế khu vực và thế giới thì mô hình phát triển của ngành Bưu chính cũng đã thay đổi để phù hợp với nền kinh tế mới Ngày 01/01/2008 Tổng công ty Bưu chính Việt Nam nay là Tổng công ty Bưu điện Việt Nam (gọi tắt là VNPost) chính thức tách khỏi Tập đoàn VNPT Tổng công ty Bưu điện Việt Nam là Tổng công ty nhà nước thành viên, ngoài việc đảm bảo cung cấp các dịch vụ Bưu chính công cộng và các nghiệp vụ Bưu chính công ích khác, được phép kinh doanh đa ngành, trong đó dịch vụ bưu chính là ngành kinh doanh chính

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế xã hội thì nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân ngày một tăng cao, sản xuất ngày càng mang tính xã hội hoá cao, từ đó nhu cầu trao đổi, truyền tải, thu nhận thông tin của các chủ thể kinh tế càng lớn Sự phát triển của dịch vụ bưu chính viễn thông có tác dụng thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội theo hướng tiến bộ, nâng cao năng suất và hiệu quả trong nông nghiệp nông thôn, công nghiệp, các dịch

vụ xã hội như giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe…cải thiện chất lượng cuộc sống

ở các khu vực đang phát triển, khuyến khích tính cộng đồng và tăng cường bản sắc văn hoá vùng sâu, vùng xa, những nơi khoảng cách xa, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá Với những yêu cầu đó, Bưu chính Việt Nam tiếp tục bước vào một giai đoạn mới với nhiều thử thách sau khi chia tách với Viễn thông Bưu chính sẽ hoạt động như thế nào sau khi chia tách là vấn đề được nhiều người quan tâm Bưu chính muốn chiến thắng, cần sự chuẩn bị chu đáo về thực lực nhằm làm tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp, khẳng định vị thế của mình bằng việc tích lũy vốn, cập nhật công nghệ hiện đại, hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm khai thác và phát triển dịch vụ, rà soát lại nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng dịch vụ… Đồng thời hình thức hợp tác kinh tế phải được đa dạng hoá và mở rộng tới nhiều lĩnh vực

Ra đời năm 1998, mô hình điểm BĐ-VHX từng được coi là điểm sáng ở nông thôn, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa khi đáp ứng các nhu cầu cơ bản về dịch vụ bưu chính, viễn thông như chuyển phát thư từ, báo chí, đặt báo, điện thoại công

Trang 12

cộng,…phục vụ được đông đảo người dân nơi đây Ngoài các dịch vụ BCVT cơ bản, người dân còn có thể đọc sách, báo miễn phí, tiếp cận với các thông tin tri thức, nâng cao dân trí, góp phần phát triển kinh tế để từng bước xóa đói giảm ngh o Ngay từ khi ra đời, hoạt động của các điểm BĐ-VHX đã gắn chặt với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, tạo kênh thông tin tuyên truyền phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Đảng, nhà nước và chính quyền các cấp được nhân dân và cộng đồng đón nhận

Ngày 02/8/2013, Bộ Thông tin và Truyền thông chính thức ban hành Thông tư quy định về hoạt động của điểm BĐ-VHX (thông tư 17/2013/TT-BTTTT) Theo thông tư 17/2013/TT-BTTTT ngày 02/8/2013 của Bộ thông tin và Truyền thông, BĐ-VHX tiếp tục là điểm được duy trì để cung ứng dịch vụ vụ công ích và các dịch

vụ kinh doanh theo định hướng phát triển của TCT BĐVN Do vậy việc nghiên cứu,

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống Điểm BĐ-VHX

là một nhiệm vụ cấp bách của bộ máy quản lý từ cấp TCT BĐVN nói chung đến từng BĐT, Bưu điện thành phố nói riêng

Lý do thực hiện đề tài: Việc tìm tòi đổi mới, đa dạng hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Điểm BĐ-VHX, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu của xã hội, để Bưu chính đứng vững trên đôi chân của mình là một nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Tác giả lựa chọn đề tài Luận văn: Đề xuất giải pháp đa dạng hóa hoạt động của

các điểm Bưu điện Văn hóa xã tỉnh Hòa Bình nhằm mục tiêu nâng cao chất

lượng quản lý, duy trì và phát triển hệ thống điểm BĐ-VHX tại địa bàn tỉnh Hòa Bình một cách hiệu quả

Thông qua việc rà soát, quy hoạch lại toàn bộ hệ thống, đề xuất thực hiện đa dạng hóa hoạt động, đưa thêm các dịch vụ mới về cung cấp tại điểm BĐ-VHX, từng

Trang 13

bước xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ cho nhân viên, kết hợp các nguồn lực của doanh nghiệp, nguồn hỗ trợ từ trung ương và địa phương, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân, nâng cấp cơ sở vật chất, đáp ứng được yêu cầu kinh doanh và phục

vụ

2 Tình hình nghiên cứu

Để chuẩn bị cho đề tài này, tác giả luận văn đã nghiên cứu các tài liệu tham khảo sau: Tác phẩm Chiến lược cạnh tranh và Lợi thế cạnh tranh của Michael

E Porter, tác phẩm Định vị của Jack Trout và Al Rie; Các tác phẩm liên quan đến

đề tài Bưu điện có: Một số vấn đề về đổi mới Bưu chính của TS Nguyễn Thượng Thái, Đổi mới Bưu chính – Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới do Nhà xuất bản Bưu điện xuất bản năm 2001; tác phẩm Điểm Bưu điện Văn hóa xã của tác giả Nguyễn Xuân Thu, do Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản năm 2014

3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung hướng đến các mục tiêu sau:

Thứ nhất, Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về dịch vụ và đa dạng hóa dịch vụ của Bưu điện

Thứ hai, phân tích thực trạng, làm rõ những tồn tại đang cản trở hiệu quả hoạt động và đa dạng hóa dịch vụ của BĐVHX, phân tích nguyên nhân của những tồn tại

đó

Thứ ba, đề xuất các giải pháp, kiến nghị và điều kiện nhằm giúp cho việc đa dạng hóa hoạt động và phát triển dịch vụ tại điểm BĐVHX hiệu quả, đồng thời giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước có chính sách phù hợp nhằm đẩy mạnh sự phát triển của BĐ-VHX tại địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là: Hệ thống các Điểm Bưu điện Văn hóa xã thuộc Bưu điện tỉnh Hoà Bình và hoạt động của các điểm này

- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là:

+ Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu thực trạng cung ứng dịch vụ và hoạt động phục vụ của điểm BĐVHX tại Hòa Bình Tập trung chủ yếu vào các nhóm dịch vụ như: Bưu chính chuyển phát (gồm dịch vụ Bưu phẩm, Bưu kiện, chuyển phát nhanh, PHBC); Tài chính Bưu chính (gồm dịch vụ chi trả lương hưu và trợ cấp XH, chi trả bảo trợ xã hội Dịch vụ Thu hộ, Chi hộ); Phân phối truyền thông (gồm kinh doanh sim thẻ, phân phối bán lẻ hàng hóa)

Trang 14

+ Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực trạng cung ứng dịch vụ tại các điểm

BĐ-VHX trên phạm vi toàn tỉnh Hòa Bình bao gồm 190 điểm Bưu điện Văn hóa xã thuộc 10 huyện và 01 thành phố

+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực tế hoạt động phục vụ và cung ứng dịch

vụ tại các điểm BĐ-VHX thuộc Bưu điện tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2014-2016 và định hướng đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như:

+ Phương pháp phân tích thống kê số liệu thứ cấp:

Dữ liệu thứ cấp được nghiên cứu là các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước gồm: Luật Bưu chính, Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị, Thông tư của Bộ TTTT liên quan đến lĩnh vực Bưu chính; các văn bản, tài liệu, báo cáo nghiên cứu, đề án của Tổng công ty Bưu điện Việt Nam; báo cáo hoạt động SXKD của Bưu điện tỉnh Hòa Bình và Báo cáo kết quả kinh doanh của BĐ-VHX thuộc Bưu điện tỉnh giai đoạn 2014-2016;

Ngoài ra, tác giả dựa vào nguồn tài liệu khai thác từ các văn bản của Tổng công ty Bưu điện Việt Nam; các Báo cáo doanh thu, chi phí; báo cáo hoạt động SXKD hàng năm và Báo cáo rà soát tổ chức sản xuất của Bưu điện tỉnh Hòa Bình

để phân tích, đánh giá

+ Phương pháp khảo sát và phân tích số liệu sơ cấp: Luận văn chú trọng phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê để phân tích, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu

và triển vọng phát triển các dịch vụ tại các điểm BĐVHX tỉnh Hòa Bình

Tác giả đã thực hiện thu thập thông tin qua phương pháp khảo sát bằng hình thức lập phiếu hỏi Đối tượng được khảo sát là người dân địa phương tại 3 xã thuộc các huyện Đà Bắc, Mai Châu, Lạc Sơn Nội dung phiếu hỏi nhằm tìm hiểu sự quan tâm, đánh giá của người dân về các dịch vụ đang cung cấp tại điểm BĐVHX; tìm ra những yếu tố tác động lớn đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ cũng như mối quan hệ giữa sự hài lòng và mức độ trung thành của khách hàng, đồng thời tìm hiểu hành vi trong tương lai của khách hàng về việc triển khai dịch vụ Hành chính công qua mạng lưới bưu chính Số lượng người dân tham gia khảo sát là 200 người Thời điểm thực hiện khảo sát là tháng 3 năm 2017

Trang 15

Chương 2: Phân tích thực trạng và tình hình hoạt động của Điểm bưu điện Văn hóa xã tại tỉnh Hòa Bình

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp đa dạng hóa hoạt động của các điểm Bưu điện văn hóa xã tại tỉnh Hòa Bình

Trang 16

về hoạt động kinh tế xã hội, về tình cảm của con người là một yếu tố quan trọng đối với cuộc sống, sự phát triển tri thức, kinh tế của xã hội và sự tồn vong của loài người

Các phương tiện thông tin của con người đã xuất hiện ngay từ khi có dấu hiệu của nền văn minh và không ngừng được hoàn thiện để thích ứng với sự thay đổi của điều kiện sống, với sự phát triển văn hoá và kỹ thuật

Ở thời kỳ nguyên thủy, người ta dùng các âm thanh như tiếng hú, tiếng gõ,

để làm phương tiện thông tin với nhau khi đi săn hay lúc gặp nguy hiểm Sau đó người ta thông tin bằng k n, tù và, lửa, chiêng, phất cờ là những phương tiện có tính

"kỹ thuật hơn" Rồi từ khi phát minh ra thuốc nổ, người ta dùng súng và pháo hiệu

Có những người chuyên làm việc đưa tin, truyền lệnh của lãnh chúa Hệ thống thông tin đầu tiên là những trạm gác đặt quanh các điểm dân cư, trên các chòi, các cây cao Khi có kẻ thù đến họ đốt lửa báo động theo dây chuyền để kẻ thù không thể tấn công bất ngờ được Họ đã thành lập những trạm thay ngựa cho những người chạy đưa tin tức hỏa tốc

Xã hội phát triển và nhu cầu trao đổi thông tin cũng ngày càng phát triển Chữ viết được phát minh, con người đã biết sử dụng thư, các bản tin làm phương tiện trao đổi thông tin Trước khi có điện báo, điện thoại thì những phương tiện thông tin này là những phương tiện thông tin chủ yếu của con người trong xã hội Lúc ban đầu chỉ là truyền đưa những mệnh lệnh (các sớ lệnh) của Lãnh chúa, Vua quan, các thông tin chung, rồi xuất hiện sự trao đổi tình cảm riêng tư của con người Những bức thư ban đầu được viết trên các phiến đá mỏng, trên các vỏ cây, tấm ván bằng gỗ hoặc trên những thanh tre, miếng đất sét Đôi khi người ta viết ngay trên người đưa tin hỏa tốc Dần dần phát triển, con người đã biết sử dụng các tấm da dê,

da lừa làm vật để viết thư cho gọn và dễ vận chuyển hơn Sự ra đời của giấy viết ở Trung quốc vào thế kỷ thứ 2 và ở châu Âu vào thế kỷ 11 - 12 đã trở thành cuộc cách

Trang 17

mạng trong việc trao đổi thư tín và giấy trở thành vật mang tin cơ bản trong thư tín Phạm vi trao đổi thư từ cũng ngày càng mở rộng Lúc ban đầu con người viết thư trao đổi trong phạm vi một vùng, một lãnh thổ Khi phương tiện giao thông được phát triển, sự xuất hiện đường sắt, tàu thủy giúp con người đi lại, di chuyển đến các vùng khác ngoài quê hương, đến các vùng xa xôi nhiều hơn và khi xuất hiện sự di

cư thì nhu cầu trao đổi thư từ được mở rộng hơn, đặc biệt khi sự trao đổi thương mại quốc tế phát triển

Xuất hiện nhu cầu trao đổi thư tín giữa các vùng, giữa các nước Nhu cầu này cũng phát triển về số lượng dần dần theo thời gian, nhanh chóng tăng lên khi thương mại quốc tế phát triển, con người có nhiều nhu cầu trao đổi tin tức thương mại Việc trao đổi thư tín giữa các quốc gia cũng ngày càng trở nên phức tạp hơn khi lưu lượng ngày càng tăng và số nước có trao đổi, quan hệ bưu chính ngày càng lớn Việc thanh toán cước phí dịch vụ càng trở nên phức tạp

Trước khi Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) ra đời (9/10/1874), ngành Bưu chính mỗi nước muốn chuyển phát được một bưu phẩm ra khỏi phạm vi biên giới nước mình và gửi đến đúng địa chỉ ở bất kỳ ngóc ngách nào trên thế giới thì đều phải dựa vào hàng trăm Thỏa thuận song phương và phải áp dụng tính toán hàng loạt các mức cước phí khác nhau

Để tránh được các phiền toái này cần phải thay thế tất cả các Thỏa thuận nói trên bằng một Hiệp ước đa phương Ông Heinrich Von Stephan (1831-1897), người Đức, cán bộ quản lý Bưu chính Đức phụ trách lĩnh vực bưu chính quốc tế, sau này trở thành người lãnh đạo Bưu chính Đức, là người đã đưa ra phương án dự kiến thành lập Liên minh bưu chính giữa các dân tộc Năm 1869, theo đề nghị của ông, Chính phủ Liên bang Bắc Đức đã trao đổi thư với Chính phủ Pháp nhằm triệu tập một Hội nghị bưu chính quốc tế để thống nhất dịch vụ bưu chính giữa các nước Châu Âu với nhau, tiến tới một Liên minh bưu chính trên toàn cầu

Sau một thời gian dài đàm phán, ngày 15-9-1874 một Hội nghị bưu chính được triệu tập tại Berne, Thụy sĩ gồm đại diện của 20 nước trên phần đất Châu Âu, Egypt và Mỹ, theo lời mời của Chính phủ Thụy sĩ dưới sự chủ toạ của chính H.V Stephan Sau 24 ngày làm việc, ngày 9-10-1874, đại diện 22 nước tham gia Hội nghị đã ký kết Hiệp ước Berne thông qua Công ước thế giới đầu tiên quy định về cơ quan bưu chính quốc tế và thành lập Tổng hội bưu chính Năm 1877 Tổng hội bưu chính được đổi tên là Liên minh Bưu chính Thế giới (Universal Post Union) - viết tắt là UPU UPU đã trở thành một trong những tổ chức chuyên ngành quốc tế ra đời sớm nhất

Từ đó hàng năm cứ vào ngày mồng 9 tháng Mười, cộng đồng Bưu chính trên

Trang 18

toàn thế giới lại tổ chức kỷ niệm Ngày Bưu chính thế giới để nhớ tới sự ra đời của Liên minh Bưu chính thế giới vào năm 1874 được đánh dấu bằng Hiệp ước Berne Trải qua nhiều thế kỷ, đến này, bưu chính vẫn luôn khẳng định được vị trí vô cùng quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của hàng tỷ người dân và doanh nghiệp Bưu chính không chỉ là một phương tiện trao đổi thông tin mà còn là động lực thiết yếu cho sự phát triển của nền kinh tế

1.1.2 Vai trò, chức năng của Bưu chính

Việc cung cấp các dịch vụ Bưu chính đáng tin cậy hỗ trợ cho các quá trình kinh tế thiết yếu trong toàn bộ chu kỳ hoạt động kinh tế

Xây dựng mối quan hệ: liên kết mọi người và các doanh nghiệp lại với nhau

với mục tiêu là giao tiếp, thương mại, trao đổi thông tin và ý tưởng Thu hút và duy trì khách hàng, phát triển mối quan hệ với khách hàng và quản lý khách hàng một cách liên tục với chi phí hiệu quả là các dịch vụ chủ chốt mà Bưu chính cung cấp cho các doanh nghiệp

Củng cố thị trường: thông qua những hoạt động marketing và thăm dò; bán

hàng; dịch vụ khách hàng; và đặt và mua hàng Điểm khởi đầu của chu kỳ, thư trực tiếp có thể kích thích khách hàng quan tâm đến các dịch vụ hàng hóa cũng như cung cấp thông tin cho khách hàng nhằm giúp họ có được những lựa chọn mua sắm Trách nhiệm của ngành Bưu chính duy trì những địa chỉ của một nước cho phép định danh và nhằm vào khách hàng phục vụ cho những mục đích kinh doanh

Giảm chi phí giao dịch: Bưu chính cung cấp một phương pháp chi phí hiệu

quả cho các doanh nghiệp trong việc kinh doanh và thương mại và vươn tới được những khách hàng toàn cầu đối với những sản phẩm của họ, bất kể những khu vực

đó ở địa phương, khu vực, quốc gia hay thế giới Với các dịch vụ Bưu chính hữu hiệu, những doanh nghiệp nhỏ trong thực tế có thể được khai trương với một quy

mô lớn hơn nhiều

Hoạt động như một kênh phân phối: với tư cách là một kênh vươn tới thị

trường, Bưu chính đại diện một Bưu cục quan trọng cho các doanh nghiệp nhỏ đóng trên địa bàn nông thôn và cho các cơ quan của chính phủ như phúc lợi xã hội vươn tới được mọi công dân trên cả nước

Tập hợp doanh thu: Bưu chính đại diện cho các doanh nghiệp thu từ khách

hàng và từ các công dân của chính phủ và các cơ quan Nhà nước khác

Thoả mãn nhu cầu: Bưu chính đáp ứng việc vận chuyển hàng hóa qua lại giữa

các nước, và tạo điều kiện dễ dàng cho việc giảm chi phí liên quan đến sản xuất đúng thời hạn thông qua các dịch vụ kho hàng, phân phối, phát và chuyển hàng hoá

Trang 19

Thực hiện giao dịch: Có thể sử dụng Bưu chính để thực hiện các yêu cầu và

nhận thanh toán, phát hành giấy chứng nhận và giấy bảo lãnh cũng như cho công việc thư tín dụng

Bưu chính và vốn xã hội: Thông tin và những mối quan hệ trong kinh tế

thường được coi là trung tâm của hoạt động của kinh tế Nhiều bằng chứng khác nhau khẳng định rằng những công ty, thành thị, khu vực và quốc gia hoạt động hiệu quả hơn khi họ có nhiều mối quan hệ tin cậy và uy tín lâu dài với nhau Và bằng chứng rõ ràng từ Ngân hàng Thế giới và những nơi khác cho thấy phổ biến kiến

thức trong xã hội là vấn đề tối quan trọng trong quá trình phát triển

Mạng lưới các mối quan hệ tạo điều kiện dễ dàng cho đối thoại trong thị trường dịch vụ và hàng hoá, phối hợp các hoạt động kinh tế và các hoạt động khác, cải tiến việc ra quyết định và khuyến khích chia sẻ thông tin liên quan Theo nghĩa này, các dịch vụ Bưu chính, đáng tin cậy và phổ cập, có thể được truy cập tới tất cả mọi người trong nền kinh tế và xã hội, có tiềm năng hỗ trợ và trao đổi thị trường giữa các tác nhân kinh tế, do đó tạo ra vốn xã hội thực sự và hỗ trợ sự tăng trưởng kinh tế

Bưu chính là trung tâm giao dịch kinh tế và các giao dịch khác của các doanh nghiệp, khách hàng, chính phủ và của mọi công dân Bưu chính là một phần tổng vốn xã hội của một quốc gia và các mạng vận chuyển, thanh toán và truyền thông, đóng vai trò trung gian trao đổi hàng hoá, thông tin và tiền giữa những công ty và khách hàng Trong quá trình phát triển, thông tin đối với mọi lĩnh vực xã hội đã giúp những doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển và thường giải quyết những vấn đề

về phân phối, đặc biệt ở các nước đang phát triển nơi mà Nhà nước không đủ mạnh Cũng giống như những cơ sở hạ tầng khác, các dịch vụ Bưu chính đóng góp cho nền kinh tế theo nhiều cách khác nhau, thông qua: giảm chi phí và nâng cao cạnh tranh thị trường; thúc đẩy tăng trưởng thông qua thương mại; tạo điều kiện dễ dàng cho việc thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế; và những lợi ích khác gồm ở mức phúc lợi và thu nhập cá nhân, và ở mức kinh tế vĩ mô Vai trò của các dịch vụ tài chính Bưu chính trong phát triển kinh tế xứng đáng vị trí trung tâm của sự chú ý và điều này sẽ được giải quyết một cách riêng biệt

Giảm chi phí và tính cạnh tranh thị trường: Các dịch vụ Bưu chính là sản

phẩm trung gian của sản xuất và bất kỳ việc giảm chi phí đầu vào nào trong các sản phẩm đó đều sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất và năng suất của các nhân tố khác đối

với sản xuất

Các dịch vụ Bưu chính làm giảm chi phí sản xuất Các công ty sử dụng mạng Bưu chính để tạo thị trường, nhằm phục vụ các yêu cầu đặt hàng, nhận thanh toán

Trang 20

và phân phối hàng hoá Một dịch vụ Bưu chính hữu hiệu là làm giảm số lượng vốn của công ty bị đọng trong hệ thống Bưu chính, và ngược lại, một dịch vụ Bưu chính không hiệu quả yêu cầu các công ty tìm các chi phí thay thế cao hơn (tự cung cấp và/hoặc sử dụng các dịch vụ chuyển phát nhanh đối với thư thường) làm tăng giá thành trên mỗi đơn vị sản xuất Trong khi các công ty lớn có thể tìm sự lựa chọn khác như truy cập phổ cập để liên lạc có hiệu quả và an toàn, cơ sở hạ tầng thanh toán và tiếp phát là sản phẩm đầu vào thiết yếu hỗ trợ cho sự phát triển của những công ty bản xứ nhỏ và mới thành lập

Các mạng Bưu chính có tiềm năng cải thiện những cơ hội marketing và tăng hiệu quả phân phối trong một nước đang phát triển Các công ty có thể sử dụng Bưu chính để vươn tới những khách hàng mới thông qua thư trực tiếp và mở ra hướng kinh doanh mới mà trước đây không có khả năng do sự hạn chế về địa lý

Ngoài ra, Bưu chính có thể thu hẹp chênh lệch khu vực bằng việc tạo cơ hội cho khách hàng nông thôn truy cập từ xa tốt hơn tới các dịch vụ, hàng hóa ở thành thị

Kết nối mọi người và doanh nghiệp để trao đổi mua bán: Những người ngh o

và các doanh nghiệp ở các vùng nông thôn nhiều khi không tiếp cận được những cơ hội thị trường do thiếu, hoặc không có những cơ sở hạ tầng cơ bản như giao thông Chi phí giao thông đắt đã gây khó khăn cho những người ngh o trong kinh doanh, thậm chí cả vùng lân cận và thành phố Khoảng cách là một trở ngại riêng đối với

việc kinh doanh

Các mạng Bưu chính hữu hiệu, trong nước cũng như quốc tế, phụ thuộc vào tất cả các phương thức vận chuyển cho các hoạt động hữu hiệu nhưng thông qua phương tiện Bưu chính, mọi người và các doanh nghiệp có thể tiếp cận tới các thị trường từ xa với giá cước chấp nhận được Cơ sở hạ tầng Bưu chính có thể tạo điều kiện dễ dàng cho việc liên kết các thị trường nội địa và quốc tế, đặc biệt nếu mạng Bưu chính có hiệu quả kinh tế nhờ quy mô và sự giảm giá lâu dài trong chi phí biên

và chi phí Bình quân, dẫn tới giá thấp

Cơ sở hạ tầng Bưu chính cũng hỗ trợ khả năng cạnh tranh quốc tế, khả năng vươn tới thị trường xuất khẩu và quá trình toàn cầu hoá Trong hai thập kỷ trước, toàn cầu hóa đã được thúc đẩy nhờ tự do hoá, các chính sách thương mại cũng như những tiến bộ trong vận chuyển, truyền thông, lưu kho và phân phối Những tiến bộ này tập trung vào sự quản lý khâu tiếp phát nhằm đạt được tiết kiệm chi phí trong hàng hóa tồn kho và vốn hoạt động, và để đáp ứng nhanh hơn nhu cầu khách hàng Giảm chi phí và tốc độ chuyển hàng hóa trong vài thập kỷ qua cũng ngày càng dựa vào nhiều phương thức vận chuyển kể cả côngtenơ, yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ

Trang 21

giữa các công ty vận chuyển đường bộ, đường hàng không, đường biển và đường sắt

Bưu chính đóng vai trò lớn trong quá trình này Chúng có thể đẩy nhanh quá trình truyền thông, giảm chu trình đặt hàng, khuyến khích nhiều nguồn trên thế giới, giúp quản lý khâu tiếp phát có hiệu quả hơn và giảm chi phí vận chuyển Một dịch

vụ Bưu chính hiệu quả cũng sẽ nâng cao được sự điều phối của một công ty hoạt động toàn cầu

Hỗ trợ sự thay đổi cơ cấu kinh tế: Bưu chính tạo điều kiện đa dạng hoá, tính

kinh doanh và đổi mới kỹ thuật Các mạng Bưu chính hữu hiệu có thể tạo ra những

cơ hội kinh tế mà trước đây không tồn tại Ví dụ, thư trực tiếp có thể chỉ được tạo ra dựa trên một dịch vụ Bưu chính hữu hiệu Những ngành công nghiệp khác cũng phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ Bưu chính (dịch vụ xuất bản, thư đặt hàng, các dịch vụ tài chính và các ngành phục vụ công cộng) và các dịch vụ Bưu chính hữu hiệu tạo

điều kiện dễ dàng và khuyến khích sự đổi mới trong quản lý khách hàng, marketing

Ngành Bưu chính trong thời đại Internet thường được xem như là một ngành công nghệ thấp, cần nhiều lao động Điều rõ ràng rằng các lợi thế của Bưu chính là lao động chi phí thấp, ở các nước đang phát triển, các mạng Bưu chính đồng thời cũng có tiềm năng ảnh hưởng mạnh đối với cách thức diễn ra của việc lựa chọn công nghệ, và cần phải nhấn mạnh đó là một trung gian quan trọng – cầu nối an toàn và đáng tin cậy – giữa thế giới vật chất và điện tử Điều này có thể đạt` được thông qua sự cung cấp nhiều dịch vụ thông tin, truyền thông và các dịch vụ dựa trên

cơ sở truy cập, bất kể là thông qua các quầy ghi sê, các kiốt thông minh được đặt ở những đại lý hoặc thông qua các dịch vụ dựa trên web

Bưu chính cũng có vai trò trong việc truyền bá kiến thức cho mục tiêu phát triển kinh tế Rất nhiều người đến thăm các Bưu cục hàng tuần và Ngân hàng Thế giới đã nhấn mạnh những thị trường hiệu quả và những người dễ bị tổn thương về mặt xã hội – những người ngh o, bệnh tật, ở nông thôn – phụ thuộc như thế nào vào những luồng thông tin thường xuyên để giải quyết được cuộc sống của mình và tham gia làm kinh tế

1.1.3 Lịch sử phát triển Bưu chính Việt Nam

Lịch sử hình thành và phát triển của Bưu điện Việt Nam gắn liền với lịch sử cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa

Từ cuối thế kỷ 19 đến trước tháng 8/1945, hệ thống thông tin liên lạc của nước

ta do người Pháp quản lý Hai chữ "Bưu điện" cũng xuất hiện từ thời kỳ này, khi có

Trang 22

những người phu chạy bộ đưa thư (bưu chính) và những nhà dây thép đầu tiên (điện tín) ra đời

Ngày 03/02/1930 Đảng Cộng sản Đông dương ra đời Hệ thống thông tin liên lạc phục vụ cách mạng còn ngh o nàn và phải hoạt động trong bí mật

Tại căn cứ địa cách mạng ở Pác Bó (Cao Bằng), tháng 5/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 Cũng trong thời điểm lịch sử trọng đại này, Bác Hồ đã đưa ra lời dạy bất hủ về công tác thông tin liên lạc của cách mạng: "Việc liên lạc là một việc quan trọng nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và

do đó bảo đảm thắng lợi"

Ngày 14-15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang) đã quyết định phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Về công tác giao thông, Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: "1 Phải đặc biệt chú trọng củng cố giữa các Xứ và các cấp đảng bộ 2 Tích cực tổ chức giao thông trong các ngành vận tải 3 Lập Ban giao thông chuyên môn và giúp đỡ đầy đủ cho họ làm tròn nhiệm vụ" (tiền thân của ngành Bưu điện ngày nay) Thể theo nguyện vọng của CBCNV, năm 1980 Ban Cán sự Đảng Tổng cục Bưu điện đã quyết định lấy ngày 15/8 là ngày Truyền thống ngành Bưu điện

Trong suốt chặng đường lịch sử đầy khó khăn, gian khổ nhưng vinh quang đó, ngành Bưu điện đã được Đảng và Nhân dân tin yêu, giáo dục và xây dựng để từng bước trưởng thành, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao

Qua các cuộc chiến tranh giữ nước, các thế hệ CBCNV giao bưu, thông tin đã đem tất cả sức lực, trí tuệ và cả xương máu của mình, vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn hiểm nguy trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, xây dựng và giữ vững huyết mạch thông tin phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, góp phần đắc lực vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Gần 1 vạn người con ưu tú của ngành Bưu điện đã ngã xuống trên khắp các chiến trường vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc

Bước vào thời kỳ mới của đất nước với việc thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra, toàn Ngành đã thực sự đổi mới

tư duy và hành động để hoạch định chiến lược và đề ra những giải pháp thực hiện nhằm đổi mới, phát triển ngành Bưu điện với mục tiêu: Đi thẳng lên hiện đại, phát triển nhanh mạng lưới và dịch vụ, tăng nhanh lưu lượng và doanh thu, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu thông tin của xã hội

Trang 23

Sau gần 30 năm đổi mới, những thành công của hai giai đoạn tăng tốc độ phát triển đã tạo nên sự phát triển có tính bùng nổ của bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin đất nước Sự phát triển vượt bậc của Bưu chính, Viễn thông; xu hướng phát triển của thị trường, công nghệ và dịch vụ đã đặt ra yêu cầu bưu chính, viễn thông cần được tách ra độc lập, để hai lĩnh vực có cơ hội và điều kiện phát triển trong tình hình mới

Năm 2001, Lãnh đạo Ngành quyết định triển khai phương án thí điểm đổi mới quản lý, khai thác, kinh doanh bưu chính, viễn thông trên địa bàn các tỉnh

Với hơn 4 vạn người Bưu điện, ngày 15/6/2007 sẽ mãi là mốc son lịch sử không thể nào quên Bởi đây chính là ngày Bộ Bưu chính Viễn thông đã ban hành Quyết định 16/2007/QĐ-BCVT thành lập Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost) Từ đây dù vẫn nằm trong Tập đoàn nhưng VNPost đã có pháp nhân riêng, thực hiện tổ chức sản xuất và hạch toán độc lập với khối viễn thông

Trên cơ sở Đề án của Bộ Thông tin và Truyền thông, ngày 16/11/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1746/QĐ-TTg chuyển quyền đại diện chủ

sở hữu nhà nước tại TCT BĐVN từ Tập đoàn VNPT về Bộ TTTT Cùng với đó, Tổng công ty Bưu chính Việt Nam được đổi tên thành Tổng công ty Bưu điện Việt Nam - tên truyền thống của ngành Bưu điện Ngay sau Lễ bàn giao chuyển quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại TCT BĐVN từ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam về Bộ TTTT, chiều ngày 20/12/2012, Tổng công ty đã chính thức ra mắt thương hiệu mới - Bưu điện Việt Nam (tên tiếng Anh: VNPost) Đây là bước cuối cùng hoàn tất lộ trình chia tách bưu chính với viễn thông tại Việt Nam sau 10 năm khởi động

Là doanh nghiệp được Nhà nước giao thực hiện nhiệm vụ bưu chính công ích duy nhất tại Việt Nam, dù còn khó khăn song 10 năm qua Bưu điện Việt Nam luôn bảo đảm cung ứng các dịch vụ bưu chính công ích như: dịch vụ thư cơ bản, dịch vụ bưu chính phục vụ quốc phòng an ninh, phát hành báo chí công ích Đặc biệt, đến hết năm 2013 Tổng công ty không còn nhận sự trợ cấp bằng tiền của Nhà nước cho các hoạt động bưu chính công ích, nhưng không chỉ các dịch vụ này vẫn luôn được thực hiện tốt mà lĩnh vực SXKD cũng tạo nhiều đột phá mới

Không dừng lại ở các dịch vụ bưu chính truyền thống, TCT BĐVN đã xây dựng chiến lược đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ theo 3 trụ cột: Bưu chính chuyển phát, Tài chính Bưu chính và Phân phối - Truyền thông, nhằm cung cấp những dịch vụ tiện ích nhất tới từng người dân Theo đó, Tổng công ty đã tập trung

mở rộng kinh doanh dịch vụ bưu chính chuyển phát nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển mạnh mẽ của thị trường thương mại điện tử và logistic Đặc biệt, một trong

Trang 24

những điểm nổi bật nhất chính là việc tham gia vào các dịch vụ hành chính công của Nhà nước Điển hình là mô hình chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội qua bưu điện trên toàn quốc, chi trả bảo trợ xã hội, chi trả người có công, thu nộp hộ tiền phạt và chuyển phát giấy tờ tạm giữ cho người vi phạm giao thông, thu lệ phí

và chuyển phát hồ sơ xét tuyển Đại học, Cao đẳng, thu phí bảo hiểm, chuyển phát chứng minh nhân dân, hộ chiếu, giấy phép lái xe, Từ đây, khẳng định Bưu điện Việt Nam đã thực sự trở thành cánh tay nối dài trong thực hiện cải cách hành chính của các cơ quan hành chính Nhà nước Cánh tay này càng trở lên vững chắc

và dài rộng hơn trong những tháng đầu năm 2017, khi tất cả các địa phương cùng các Bộ ngành đã và đang quyết liệt triển khai Quyết định 45/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích, góp phần hướng tới một nền thủ tục hành chính vì người dân phục vụ

Đối với Bưu điện Việt Nam, 8.000 BĐ-VHX không chỉ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chuyển tải các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, mà đây còn là điểm tựa để triển khai các chương trình, đề án về nông thôn như: Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở; Dự án Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet cộng cộng do quỹ BMGF tài trợ Nhằm duy trì và phát triển hệ thống BĐ-VHX hơn nữa, Tổng công ty luôn đặc biệt quan tâm, đẩy mạnh đầu tư, mở rộng thêm nhiều dịch vụ tại các BĐ-VHX như: các dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng, dịch vụ viễn thông và sản phẩm hàng hóa tiêu dùng, các dịch vụ hành chính công Các BĐ-VHX đa dịch vụ được hình thành và ngày càng phát triển Trung bình hiện nay, doanh thu bình quân của BĐ-VHX đa dịch vụ đạt 24 triệu/điểm/tháng

Đi đúng hướng, cộng với sự nỗ lực, đoàn kết của toàn mạng lưới, doanh thu và lợi nhuận, cùng thu nhập của người lao động năm sau luôn cao hơn năm trước Có thể thấy rõ qua các chỉ số phát triển liên tục từ năm 2008 đến 2016 của Tổng công

ty Cụ thể, tổng doanh thu tăng từ 7.455 tỷ đồng lên 12.237 tỷ đồng; Thu nhập bình quân tăng từ 4,42 triệu đồng/người/tháng lên 9,362 triệu đồng/tháng; Lợi nhuận từ chỗ âm 1.285 tỷ đồng đã tăng lên 175 tỷ đồng

Trong chiến lược phát triển đến năm 2020, TCT BĐVN đặt mục tiêu tiếp tục đổi mới toàn diện, phát triển đồng bộ ba trụ cột kinh doanh: bưu chính chuyển phát, tài chính bưu chính và phân phối truyền thông Qua đó khẳng định vai trò chủ đạo trong lĩnh vực bưu chính tại Việt Nam Đến năm 2020, TCT BĐVN phấn đấu trở thành doanh nghiệp bưu chính quốc gia hàng đầu khu vực Đông Nam Á với doanh thu đạt 21.000 tỷ đồng (tương đương 1 tỷ USD tính theo tỷ giá thời điểm ban hành

Trang 25

Chiến lược), tăng trưởng bình quân 20%/năm Tổng lợi nhuận năm 2020 phấn đầu đạt 600 tỷ đồng, tăng bình quân 38%/năm Tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu nhà nước đạt 6,3%, tăng trưởng 44%/năm

Để thực hiện được mục tiêu này, TCT BĐVN đã chủ động xây dựng một tầm nhìn, hướng đi riêng theo hướng tạo dựng nền sản xuất bưu chính hiện đại, chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa, tạo sự cách biệt và khác biệt tuyệt đối trên thị trường Theo đó, toàn Tổng công ty sẽ tập trung đổi mới tổ chức sản xuất, chuẩn hóa quy trình sản xuất của cả 3 lĩnh vực trụ cột; hiện đại hóa các trung tâm khai thác chia chọn theo hướng cơ giới hóa và tự động hóa; hợp lý hóa trong từng quy trình sản xuất, giảm bớt khâu trung gian Đặc biệt sẽ đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học, công nghệ kỹ thuật, công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh Trong đó sẽ thực hiện tin học hóa các khâu tại tất cả quá trình quản lý, điều hành, sản xuất, kinh doanh; thiết lập liên kết trực tuyến trên toàn mạng lưới

1.1.4 Tổng công ty Bưu điện Việt Nam

* Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Bưu điện Việt Nam:

TCT BĐVN bao gồm 67 đơn vị hoạch toán phụ thuộc (gồm 63 Bưu điện tỉnh, thành phố, Công ty PHBC Trung ương, Công ty Datapost, Công ty Vận chuyển và Kho vận, Trung tâm Đào tạo); 02 Công ty TNHH một thành viên do Tổng công ty nắm giữ 100% vốn điều lệ; 03 công ty cổ phần do Tổng công ty nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và 08 Công ty liên kết

Trong đó:

- 64 bưu cục giao dịch cấp 1;

- 760 bưu cục giao dịch cấp 2;

- 1.793 bưu cục giao dịch cấp 3;

- 8.184 điểm Bưu điện - Văn hóa xã;

- 434 đại lý bưu điện;

- 43 Kiốt;

- 1.460 thùng thư công cộng độc lập;

* Mạng vận chuyển:

Trang 26

- Mạng đường thư cấp 1 hiện có 62 đường thư chuyên ngành và phụ trợ; 22 đường thư máy bay vận chuyển bưu gửi KT1; 32 đường thư máy bay vận chuyển bưu gửi EMS

- Mạng đường thư cấp 2 thực hiện vận chuyển giữa các trung tâm khai thác tỉnh và các huyện với 380 tuyến đường thư, tổng chiều dài 27.988 km, giao nhận với 1.594 bưu cục

- Mạng đường thư cấp 3: 3.564 tuyến đường thư, tổng chiều dài 72.086 km

- Mạng đường thư quốc tế gồm 87 đường thư (trong đó: 83 đường bay, 01 tuyến đường thư thuỷ, 03 tuyến đường bộ và đường ô tô chuyên ngành trao đổi trực tiếp với khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ)

* Hệ thống khai thác:

Hiện có 5 bưu cục khai thác quốc tế thực hiện khai thác bưu gửi đi và đến quốc tế; 3 Trung tâm khai thác chia chọn vùng miền Bắc, miền Trung, miền Nam; 3 trung tâm khai thác báo chí liên tỉnh, 8 điểm in báo phân phối liên tỉnh; 78 bưu cục khai thác cấp 1 đảm nhiệm khai thác cấp vùng, trung tâm tỉnh/thành phố; 597 bưu cục khai thác cấp 2 đảm nhận phần khai thác cấp quận, huyện, khu vực

* Hệ thống phát:

Tại các Bưu điện trung tâm tỉnh, huyện, khu vực đã thành lập 655 Bưu cục phát để tổ chức đi phát, thu gom tại địa chỉ khách hàng và quản lý khâu sau phát Tại các địa bàn trung tâm tỉnh lỵ, huyện lỵ và các xã có 11.744 bưu tá thực hiện phát, thu gom bưu gửi và chuyển phát bưu phẩm, bưu kiện từ trung tâm huyện xuống các bưu cục 3, điểm BĐ-VHX

* Ngành nghề kinh doanh chính:

- Thiết lập, quản lý, khai thác và phát triển mạng bưu chính công cộng, cung cấp các dịch vụ bưu chính công ích theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

- Kinh doanh các dịch vụ bưu chính dành riêng theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

- Kinh doanh các dịch vụ bưu chính, phát hành báo chí, chuyển phát trong và ngoài nước;

- Tham gia các hoạt động cung cấp dịch vụ bưu chính quốc tế và các dịch vụ khác trong khuôn khổ các Điều ước quốc tế trong lĩnh vực bưu chính mà Việt Nam

ký kết, gia nhập khi được Nhà nước cho phép;

- Kinh doanh các ngành, nghề khác theo quy định của pháp luật

Với mạng lưới các điểm phục vụ rộng khắp, trải dài đến tận cấp xã trên cả nước và kinh nghiệm cung cấp các dịch vụ về Bưu chính chuyển phát, các dịch vụ

Trang 27

tài chính bưu chính như tiết kiệm bưu điện, chuyển tiền, dịch vụ thu hộ chi hộ, dịch

vụ đại lý (đại lý bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, đại lý vé điện tử và các dịch vụ đại lý khác) , TCT BĐVN đã khẳng định được ưu thế vượt trội của mình về năng lực phục vụ, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu của khách hàng trên mọi miền của đất nước

* Hợp tác liên doanh:

Hiện tại, TCT BĐVN là thành viên của Tổ chức Liên minh bưu chính thế giới (UPU), có quan hệ hợp tác với Bưu chính của hầu hết các quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó, TCT BĐVN cũng là đối tác của nhiều doanh nghiệp lớn trong nước và quốc tế như: Prudential, Jetstar Pacific, Vietnam Airlines, AirMekong, Western Union, Daichi-life, HSBC, ABBank, BảoViệt Bank, Ngân hàng Quân đội

Là thành viên của UPU với tư cách là một quốc gia thống nhất từ năm 1976, Việt Nam đã được UPU trợ giúp trong việc xây dựng và triển khai nhiều đề án hợp tác kỹ thuật, nghiệp vụ như: Dự án VIE 87/028 Nâng cao chất lượng dịch vụ Bưu chính Việt Nam ; Dự án VIE 90/018 Đánh giá tổng thể Bưu chính Việt Nam ; Dự

án hợp tác nhiều năm MIP (Multi-year integrated project under UPU resources); Dự

án MIP 1996-2000 với mục đích cải thiện nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính của Việt Nam; Đề án giúp đỡ xây dựng hệ thống POST*NET cho Việt Nam với việc thiết lập hệ thống theo dõi định vị bưu phẩm, bưu kiện, túi gói bưu chính… Đồng thời, Bưu chính Việt Nam cũng đã nỗ lực vì sự phát triển chung của Liên minh, cũng như từng bước nâng cao vị thế trong các tổ chức, hiệp hội bưu chính quốc tế và khu vực

* Mục tiêu:

TCT BĐVN đang nỗ lực phấn đấu trở thành doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Bưu chính chuyển phát, Tài chính và Bán lẻ hàng đầu Việt Nam, là sự lựa chọn tốt nhất cho khách hàng

1.2 CÁC DỊCH VỤ BƯU CHÍNH Ở VIỆT NAM

1.2.1 Khái niệm

Theo qui định của Luật Bưu chính số 49/2010/QH12 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 17/06/2010, tại chương I Những qui định chung, giải thích các từ ngữ như sau:

Hoạt động bưu chính gồm các hoạt động đầu tư, kinh doanh, cung ứng, sử

dụng dịch vụ bưu chính, dịch vụ bưu chính công ích, tem bưu chính

Bưu gửi bao gồm thư, gói, kiện hàng hoá được chấp nhận, vận chuyển và phát

hợp pháp qua mạng bưu chính

Trang 28

Dịch vụ bưu chính là dịch vụ chấp nhận, vận chuyển và phát bưu gửi bằng các

phương thức từ địa điểm của người gửi đến địa điểm của người nhận qua mạng bưu chính, trừ phương thức điện tử

Dịch vụ bưu chính công ích là dịch vụ bưu chính được cung ứng theo yêu cầu

của Nhà nước, gồm dịch vụ bưu chính phổ cập, dịch vụ bưu chính phục vụ quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ đặc thù khác

Dịch vụ bưu chính phổ cập là dịch vụ bưu chính được cung ứng thường xuyên

đến người dân theo các điều kiện về khối lượng, chất lượng và giá cước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Thư là thông tin trao đổi dưới dạng văn bản viết tay hoặc bản in, có địa chỉ

nhận hoặc không có địa chỉ nhận, trừ ấn phẩm định kỳ, sách, báo, tạp chí

Thư không có địa chỉ nhận là thư không có thông tin liên quan đến người nhận

trên thư, trên bao bì của thư, bao gồm cả thư để quảng cáo, tuyên truyền

Dịch vụ thư cơ bản là dịch vụ thư không có các yếu tố làm tăng thêm giá trị

của dịch vụ

Dịch vụ chuyển phát thư là dịch vụ nhận gửi, chuyển, phát thông tin dưới dạng

văn bản được đóng gói, dán kín, có khối lượng đơn chiếc không quá hai kilôgam (02 kg) và gửi tới một địa chỉ cụ thể thông qua mạng bưu chính hoặc mạng chuyển phát

Mạng bưu chính là hệ thống cơ sở khai thác bưu gửi, điểm phục vụ bưu chính

được kết nối bằng các tuyến vận chuyển và tuyến phát để cung ứng dịch vụ bưu chính

Mạng bưu chính công cộng là mạng bưu chính do Nhà nước đầu tư và giao

cho doanh nghiệp được chỉ định quản lý, khai thác

Điểm phục vụ bưu chính là nơi chấp nhận, phát bưu gửi, gồm bưu cục, kiốt,

đại lý, thùng thư công cộng và hình thức khác để chấp nhận, phát bưu gửi

Thùng thư công cộng là điểm phục vụ bưu chính thuộc mạng bưu chính công

cộng được dùng để chấp nhận thư cơ bản

Thời gian toàn trình của bưu gửi là khoảng thời gian tính từ khi bưu gửi được

chấp nhận cho đến khi được phát cho người nhận

Doanh nghiệp được chỉ định là doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính

được Nhà nước chỉ định để thực hiện nghĩa vụ bưu chính công ích và tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ bưu chính quốc tế, các dịch vụ khác trong khuôn khổ điều ước quốc tế của Liên minh Bưu chính Thế giới, điều ước quốc tế khác trong lĩnh vực bưu chính mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Trang 29

Tem Bưu chính Việt Nam là ấn phẩm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về

bưu chính của Việt Nam quyết định phát hành để thanh toán trước giá cước dịch vụ bưu chính trên mạng bưu chính công cộng và được công nhận trong mạng lưới của Liên minh Bưu chính Thế giới

1.2.2 Các dịch vụ Tổng công ty Bưu điện Việt Nam đang cung cấp

1.2.2.1 Dịch vụ Bưu chính chuyển phát

Gồm các dịch vụ: Bưu phẩm thường, bưu phẩm bảo đảm (ghi số), chuyển phát nhanh EMS, dịch vụ Bưu kiện; Bưu phẩm COD; Phát hành Báo chí; Dịch vụ HCC

Bưu phẩm bao gồm thư (trừ thư do doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư thực hiện), bưu thiếp, gói nhỏ, gói ấn phẩm, học phẩm dùng cho người mù được gửi qua mạng bưu chính công cộng

- Bưu phẩm thường là dịch vụ chuyển phát bưu phẩm đến địa chỉ nhận qua mạng bưu chính công cộng

- Bưu phẩm bảo đảm là dịch vụ chấp nhận, vận chuyển và phát bưu phẩm đến địa chỉ nhận trong nước và quốc tế; bưu phẩm được gắn số hiệu để theo dõi, định vị trong quá trình chuyển phát

- Chuyển phát nhanh EMS: Là dịch vụ chuyển phát nhanh thư, tài liệu, vật phẩm, hàng hóa từ người gửi đến người nhận giữa Việt Nam trong nước và các nước trên thế giới trong khuôn khổ Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) và Hiệp hội EMS theo chỉ tiêu thời gian được Công ty Cổ phần Chuyển Phát Nhanh Bưu điện công bố trước

- Bưu kiện là dịch vụ chuyển phát vật phẩm, hàng hóa đến địa chỉ nhận Bưu gửi được gắn số hiệu để theo dõi, định vị trong quá trình chuyển phát Bưu kiện bao gồm vật phẩm hàng hoá được đóng gói khối lượng không quá năm mươi kilôgam (50 kg) được gửi qua mạng bưu chính công cộng

- Phát hàng Thu tiền (COD): Là dịch vụ đặc biệt được sử dụng kèm với các dịch vụ Bưu chính mà người gửi có thể uỷ thác cho Vietnam Post thu hộ một khoản tiền của người nhận khi phát bưu gửi (hàng hoá) và chuyển trả khoản tiền đó cho người gửi Dịch vụ COD được áp dụng cho các loại dịch vụ Bưu chính trong nước: Bưu phẩm Ghi số, Bưu kiện, EMS, Bưu chính ủy thác

- Phát hành báo chí: là dịch vụ nhận đặt mua, vận chuyển, phân phối báo chí

in xuất bản trong nước và báo chí nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam TCT BĐVN phát hành hơn 600 loại báo chí xuất bản trong nước và hơn 100 loại báo chí nước ngoài nhập khẩu

Trang 30

- Dịch vụ HCC: TCT BĐVN là doanh nghiệp được Nhà nước giao nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ và chuyển trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cho các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính Hiện nay TCT BĐVN nhận hồ sơ và chuyển trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong các lĩnh vực như: Chứng minh nhân dân, Giấy phép lái xe, Cấp đổi Hộ chiếu, Giấy đăng

ký xe, Thu nộp phí xử phạt giao thông và chuyển trả giấy tờ tạm giữ, Phiếu lý lịch

tư pháp, Bảo hiểm xã hội, …và các giấy tờ hành chính khác từ cơ quan giải quyết thủ tục hành chính đến tận tay cho công dân

- Dịch vụ đại lý bảo hiểm gồm:

* Đại lý bảo hiểm PTI:

+ Bảo hiểm ô tô bao gồm: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe ôtô đối với người thứ ba và hành khách trên xe; Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe và lái phụ xe; Bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe ôtô đối với hàng hóa vận chuyển trên xe; Bảo hiểm vật chất xe ôtô

+ Bảo hiểm xe máy bao gồm: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe máy đối với người thứ ba; Bảo hiểm tai nạn lái xe và người ngồi trên xe; Bảo hiểm vật chất xe mô tô, xe máy

+ Bảo hiểm con người gồm: Bảo hiểm tai nạn con người; Bảo hiểm tai nạn hộ

sử dụng điện; Bảo hiểm kết hợp con người; Bảo hiểm toàn diện học sinh; Bảo hiểm

du lịch trong nước; bảo hiểm hưu trí

+ Các sản phẩm khác: bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm công trình, bảo hiểm hàng hóa tùy theo nhu cầu thị trường và khả năng của đơn vị

* Đại lý bảo hiểm nhân thọ Dai ichi: Là dịch vụ đại lý bảo hiểm nhân thọ hợp

tác với Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt Nam để phân phối các sản phẩm thông qua kênh Bưu điện Các sản phẩm phân phối bao gồm các sản phẩm được thiết kế riêng cho kênh Bưu điện và các sản phẩm hiện có của Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt Nam phù hợp với mạng lưới Bưu điện

- Dịch vụ đại lý ngân hàng gồm:

Trang 31

* Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện: tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm

cá nhân;

* Dịch vụ tín dụng: cho vay tiêu dùng, cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, cho vay

tiêu dùng người hưởng lương hưu

1.2.2.3 Dịch vụ Phân phối truyền thông

Gồm các dịch vụ: bán sim, thẻ (điện thoại, game…); bán hàng hóa (văn phòng phẩm, sách báo, lịch….)

- Sim thẻ điện thoại: thẻ cào vật lý;

- Dịch vụ phát triển thuê bao và VAS của MobiFone; VinaPhone

- Cung cấp hàng tiêu dùng về nông thôn: là các mặt hàng tiêu dùng nhanh, là loại hàng hoá cần thiết trong cuộc sống hàng ngày của các hộ gia đình như xà phòng, nước rửa chén, nước lau sàn, dầu gội đầu, sữa tắm ;

- Dịch vụ truyền hình số;

- Dịch vụ khác: cung cấp lịch, xuất bản phẩm, văn phòng phẩm

- Hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền, thu thập thông tin đối với các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

1.3 ĐA DẠNG HÓA HOẠT ĐỘNG BƯU CHÍNH

1.3.1 Khái niệm về đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh

1.3.1.1 Khái niệm về đa dạng hóa hoạt động

Chiến lược đa dạng hóa hoạt động là một hình thức chiến lược nằm trong chiến lược đa dạng hóa nói chung Ở đây, chúng ta cần phân biệt giữa chiến lược đa dạng hóa và đa dạng hóa sản phẩm Đa dạng hóa sản phẩm là việc đa dạng hóa các sản phẩm trong một ngành kinh doanh nhất định, trong khi đó, chiến lược đa dạng hóa là sự đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh khác nhau Vì vậy, bên cạnh những đặc điểm cơ bản của chiến lược đa dạng hóa, chiến lược đa dạng hóa hoạt động cũng có những nét riêng so với các chiến lược đa dạng hóa về sản phẩm, chiến lược

đa dạng hóa phân đoạn thị trường…

Hiện nay, chiến lược đa dạng hóa hoạt động là một trong những chiến lược được sử dụng rộng rãi tại các doanh nghiệp trên thế giới và là kim chỉ nam trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đa ngành Việt Nam Từ trước đến nay, khái niệm cụ thể về chiến lược đa dạng hóa hoạt động ít được đề cập đến hoặc có nhiều cách diễn đạt khác nhau Mặc dù vậy, các quan điểm dường như có

sự thống nhất và có thể được hiểu như sau: chiến lược đa dạng hóa hoạt động là

chiến lược doanh nghiệp tiến hành các hoạt động tìm kiếm, phân tích và đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác có tiềm năng mang lại lợi nhuận cao trong hiện tại hoặc tương lai

Trang 32

1.3.1.2 Khái niệm về đa dạng hóa dịch vụ

Theo Đại từ điển kinh tế thị trường thì đa dạng hóa kinh doanh là sách lược của một doanh nghiệp cùng một lúc kinh doanh từ hai ngành nghề trở lên; doanh nghiệp áp dụng kinh doanh đa dạng, tham gia vào hoạt động sản xuất và tiêu thụ nhiều loại hàng hóa và dịch vụ Trước tiên, cần chọn phương hướng đa dạng hóa và chọn loại nào để đa dạng hóa thì hữu hiệu hơn Kinh doanh đa dạng hóa, không chỉ hạn chế ở chỗ mở rộng chủng loại sản phẩm; mà còn gồm cả mở rộng phạm vi sản xuất và thị trường Mục đích của nó là để phân tán nguy cơ, tránh cho thị trường củ một loại hàng hóa nào đó có biến động, ảnh hưởng đến thu lợi và lợi dụng đầy đủ tiềm lực sản xuất, tiềm lực tiêu thụ của thị trường, dùng sản phẩm phụ và tiết kiệm chi phi tiêu thụ

Nếu áp dụng định nghĩa đa dạng hóa trên vào hoạt động của Bưu điện thì đa dạng hóa dịch vụ của ngành Bưu điện được hiểu như sau:

a) Mở rộng dịch vụ:

- Áp dụng nhiều loại dịch vụ khác nhau để có thể tận dụng được tối đa nguồn lực vào cung ứng dịch vụ cho khách hàng đồng thời thu được lợi nhuận từ nhiều dịch vụ để tối thiểu hóa rủi ro, mở rộng cơ hội kinh doanh và tăng ưu thế trong cạnh tranh

- Nghiên cứu, áp dụng vào kinh doanh các dịch vụ Bưu chính mới dựa trên việc áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại hóa các hệ thống dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế

- Nghiên cứu, áp dụng nhiều kênh phân phối, đặc biệt trú trọng đến kênh phân phối hiện có

đa dạng hóa hoạt động thêm thành chiến lược đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang Đôi khi, chiến lược hội nhập dọc cũng được xếp là một hình thức của chiến

Trang 33

lược đa dạng hóa Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, người viết xin được

đề cập đến hai hình thức chủ yếu nhất là đa dạng hóa liên kết và không liên kết

1.3.2.1 Chiến lược đa dạng hoá liên kết

Đa dạng hóa liên kết hay còn được gọi là đa dạng hóa đồng tâm là chiến lược

mà doanh nghiệp mở rộng sang các lĩnh vực hoạt động mới nhưng các lĩnh vực hoạt động này vẫn liên quan đến hoạt động chính về một số khâu như sản xuất, marketing, phân phối, công nghệ, thương hiệu,… Hình thức này được thực hiện chủ yếu thông qua việc chuyển giao kỹ năng, năng lực cốt lõi và chia sẻ nguồn lực nhờ

đó mỗi đơn vị chỉ phải đầu tư vào những nguồn lực ít tốn kém hơn Doanh nghiệp cũng có thể tận dụng các thế mạnh của các lĩnh vực hiện tại và trên thị trường hiện tại làm kinh nghiệm để tham gia vào các lĩnh vực hoạt động mới Cuối cùng, doanh nghiệp dựa vào những mối quan hệ về thương hiệu giữa công ty với các lĩnh vực hoạt động mới để đa dạng hóa hoạt động

1.3.2.2 Chiến lược đa dạng hoá không liên kết

Chiến lược đa dạng hóa hoạt động không liên kết là việc doanh nghiệp mở rộng lĩnh vực kinh doanh của mình sang các lĩnh vực kinh doanh mới không liên quan tới lĩnh vực kinh doanh khác của doanh nghiệp Chiến lược này được áp dụng đối với các doanh nghiệp chuyên môn hóa quá hẹp, sự phát triển của các hoạt động mới chỉ có thể được thể hiện bên ngoài các hoạt động trước đây Nó có thể tạo ra giá trị thông qua việc phân bổ hợp lý và hiệu quả các nguồn lực tài chính dựa trên các hoạt động đầu tư bên trong và ngoài doanh nghiệp

1.3.2.3 So sánh chiến lược đa dạng hóa liên kết và không liên kết

Một vấn đề quan trọng mà công ty phải giải quyết là đa dạng hoá vào một lĩnh vực kinh doanh hoàn toàn mới hay các đơn vị kinh doanh có liên quan với các đơn

vị kinh doanh hiện có bởi tính tương đồng của chuỗi giá trị Có sự khác biệt giữa đa dạng hoá liên kết và không liên kết Như đã đề cập ở trên, công ty đa dạng hoá liên kết có thể tạo giá trị bởi việc chia sẻ các nguồn lực và chuyển giao các năng lực giữa những đơn vị kinh doanh Nó có thể thực hiện trong một vài quá trình tái cấu trúc Ngược lại, vì không có tính tương đồng giữa chuỗi giá trị của các hoạt động kinh doanh không liên quan, một công ty đa dạng hoá không liên kết không thể tạo giá trị bằng cách chia sẻ các nguồn lực hay chuyển giao năng lực Đa dạng hoá không liên kết có thể tạo giá trị chỉ bởi việc theo đuổi một chiến lược mua lại và tái cấu trúc

Trong so sánh với đa dạng hoá không liên kết, đa dạng hoá liên kết có nhiều cách tạo giá trị hơn, nên dường như chiến lược này thường được ưu tiên hơn Hơn nữa, với đa dạng hoá liên kết, các công ty đang dịch chuyển vào những lĩnh vực mà

Trang 34

các nhà quản trị của họ có ít nhiều sự hiểu biết, nên chiến lược này cũng thường được xem là ít rủi ro hơn Thực tế cho thấy các công ty đa dạng hoá liên kết thường

có mức sinh lợi biên cao hơn so với các công ty đa dạng hoá không liên kết do sự khác nhau của chi phí quản lý phát sinh do số lượng các đơn vị kinh doanh trong danh mục của công ty và phạm vi kết hợp cần thiết giữa các đơn vị kinh doanh khác nhau để thực hiện giá trị từ chiến lược đa dạng hoá Một công ty đa dạng hoá không liên kết không nhất thiết phải phối hợp giữa các đơn vị kinh doanh, như vậy nó chỉ phải đối phó với chi phí quản lý phát sinh từ số lượng các đơn vị kinh doanh trong danh mục

Ngược lại, trong công ty đa dạng hoá liên kết cần phải đạt được sự phối hợp giữa các đơn vị kinh doanh khi nó thực hiện giá trị thông qua chia sẻ nguồn lực và chuyển giao các kỹ năng Do đó, các công ty đa dạng hoá liên kết phải đối phó với chi phí phát sinh cả từ số các đơn vị trong danh mục và sự kết hợp các đơn vị Như vậy, mặc dù đúng là các công ty đa dạng hoá liên kết có thể có nhiều cách để tạo giá trị hơn so với các công ty đa dạng hoá không liên kết nhưng họ phải chịu chi phí quản lý cao hơn để làm việc đó Các chi phí cao hơn này có thể lấy bớt đi từ lợi ích cao hơn mà nó mới tạo ra, làm cho chiến lược không sinh lợi hơn so với chiến lược

đa dạng hoá không liên kết

1.3.3 Các phương thức thực hiện chiến lược đa dạng hóa

Một cách chung nhất, doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lược đa dạng hóa hoạt động để tạo ra giá trị theo bốn cách:

- Thiết lập, xây dựng, triển khai trên một lĩnh vực hoạt động mới: Phương thức

doanh nghiệp đa dạng hóa bằng cách thiết lập, xây dựng và triển khai trên một lĩnh vực hoạt động mới dựa trên giả định các hoạt động kinh doanh tại lĩnh vực hoạt động hiện tại của doanh nghiệp đang đạt được những thành công nhất định Qua đó, các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp tiến hành triển khai nghiên cứu các định hướng hoạt động mới Và doanh nghiệp đã tích lũy đựợc đủ các nguồn lực hiện tại nhằm phục vụ cho việc tiến hành các hoạt động triển khai chiến lược tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mới này Phương thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải tiến hành điều tra thu thập thông tin, phân tích dự báo môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, triển khai thực thi và đánh giá điều chỉnh lại chiến lược theo đúng như bản quy trình quản trị chiến lược dành cho các doanh nghiệp Phương thức đa dạng hóa theo kiểu xây dựng mới này có thể mang lại khá nhiều rủi ro cho doanh nghiệp Trước hết, đó là các mối nguy cơ của sự thiếu hài hòa về chiến lược giữa các hoạt động khác nhau của doanh nghiệp và do đó, có thể cản trở sự phát triển của doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực Tiếp theo là những rủi ro về nguy cơ phân bổ các

Trang 35

nguồn lực của doanh nghiệp không cân đối hoặc do những vấn đề phát sinh mà doanh nghiệp khó có khả năng giải quyết một cách nhanh chóng, kịp thời khiến cho doanh nghiệp rất dễ mất định hướng trong hoạt động, ảnh hưởng tới toàn bộ doanh nghiệp

- Mua lại và tái cấu trúc: Chiến lược này giả định rằng một doanh nghiệp

quản lý có hiệu quả có thể tạo ra giá trị bằng cách mua lại các công ty đang bị thua

lỗ Cách tiếp cận này được coi là đa dạng hóa hoạt động nếu doanh nghiệp bị mua lại không trong cùng một ngành, lĩnh vực hoạt động với doanh nghiệp mua Với phương thức này, doanh nghiệp sẽ có được khá nhiều thuận lợi về mặt cơ sở vật chất, nguồn lao động đã qua đào tạo cũng như những yếu tố khác có sẵn từ doanh nghiệp được mua lại Qua đó, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được khá nhiều thời gian

và nguồn lực Tuy nhiên, việc mua lại một doanh nghiệp thua lỗ kéo theo việc phải thiết lập một bộ máy quản lý mới cho bộ phận mới nhập vào đó của doanh nghiệp, thậm chí phải tái cấu trúc lại toàn bộ doanh nghiệp Với cấu trúc mới, doanh nghiệp

sẽ phải có một quỹ thời gian và các nguồn lực khác để đưa doanh nghiệp trở lại ổn định

- Liên doanh, liên kết: Do nguồn vốn ít, trình độ kỹ thuật không cao, khó sử

dụng ưu thế của kinh tế quy mô nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể hợp tác với nhau theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, chia sẻ rủi ro, cùng khai thác thị trường Phương thức hợp tác này giữa hai hay nhiều doanh nghiệp được gọi là chiến lược liên kết Chiến lược đa dạng hóa hoạt động theo phương thức này mang lại cho doanh nghiệp những lợi thế được tổng hợp từ việc liên kết giữa bản thân doanh nghiệp và đối tác Áp dụng chiến lược liên kết cho phép doanh nghiệp phát triển được tối đa các nguồn lực của mình, tạo nên một lợi thế cạnh tranh nhất định về quy

mô Chiến lược này trên thực tế hiện nay cũng được rất nhiều các tập đoàn lớn áp dụng

- Chuyển giao năng lực: Chiến lược đa dạng hóa hoạt động này cho phép

doanh nghiệp thực hiện chuyển giao năng lực, kinh nghiệm vào lĩnh vực hoạt động mới có liên quan hoặc không có liên quan đến lĩnh vực hoạt động hiện tại Quá trình chuyển giao năng lực góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động mới

1.3.4 Vai trò và tác động của chiến lược đa dạng hóa

1.3.4.1 Vai trò

Bản chất của chiến lựợc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh là việc doanh nghiệp nghiên cứu và tìm kiếm những hướng phát triển mới, những lĩnh vực kinh doanh tiềm năng mới để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và thu đựợc lợi

Trang 36

nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình hiện tại Doanh nghiệp tiến hành đầu tư thực hiện chiến lựợc này tại thời điểm mà các hoạt động kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp đang bước vào giai đoạn bão hòa khi tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh hiện tại đang có xu hứớng giảm dần Đồng thời, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng thấy được những lĩnh vực kinh doanh mới có tiềm năng phát triển cao và rào cản tiếp cận không quá lớn Khi đó, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp sẽ quan tâm tới việc chuyển nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp từ lĩnh vực kinh doanh hiện tại sang lĩnh vực kinh doanh mới và hình thành chiến lược đa dạng hóa họat động kinh doanh trong dài hạn của doanh nghiệp Như vậy, chiến lược đa dạng hóa hoạt động kinh doanh chính là việc doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận từ các ngành kinh doanh mới tiềm năng để duy trì và tăng trưởng khả năng sinh lời của các lĩnh vực kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp Hơn nữa, chiến lược đa dạng hóa hoạt động kinh doanh cho phép doanh nghiệp tận dụng cơ hội từ nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau trong khi ngành kinh doanh chính đang bước vào thời kỳ khó khăn Việc tận dụng tất cả các lợi thế đem lại từ nhiều lĩnh vực kinh doanh riêng lẻ giúp doanh nghiệp tạo nên sức mạnh tổng hợp và khả năng điều chỉnh linh hoạt các hoạt động của doanh nghiệp để tăng cường lợi thế cạnh tranh của mình so với các đối thủ cạnh tranh Bên cạnh đó, áp dụng chiến lược

đa dạng hóa hoạt động kinh doanh là một biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả, cho phép doanh nghiệp phân tán rủi ro cho tất cả các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tránh được rủi ro do tập trung hoạt động vào một lĩnh vực kinh doanh riêng lẻ khi tình hình chung của lĩnh vực này đang đi vào khó khăn Điều này tương tự với việc xây dựng một danh mục đầu tư để tránh tập trung rủi ro vào một cá thể riêng biệt Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược đa dạng hóa hoạt động kinh doanh thường hướng tới mô hình tập đoàn hoạt động đa ngành nghề thông qua hoạt động mua bán, sáp nhập để phát triển quy mô doanh nghiệp Với việc hình thành các tập đoàn lớn, doanh nghiệp có lợi thế trong điều hòa hoạt động của từng đơn vị thành viên, xây dựng chương trình của các đơn vị kinh doanh không chỉ với mức chi phí thấp hơn mà còn đạt hiệu quả cao hơn, đặc biệt trong hoạt động quảng bá thương hiệu chung của tổ chức Bên cạnh đó, việc phát triển quy mô tập đoàn cũng tạo điều kiện tốt cho doanh nghiệp tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững, từ đó trở thành doanh nghiệp có tiếng nói hơn trên thị trường họat động chính Điều này tạo dựng cho doanh nghiệp các giá trị vô hình có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần khẳng định vị thế doanh nghiệp như thương hiệu mạnh, uy tín từ các hoạt động kinh doanh đã thành công, các nguồn thông tin tổng hợp của các đơn vị thành viên cũng như các mối quan hệ rộng từ các hoạt động trước đó

Trang 37

Các giá trị vô hình này không những nâng cao vị thế vốn có của doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp phát triển quy mô mạng lưới hiệu quả hơn, tạo ra các nguồn lực luân chuyển trong tập đoàn và củng cố cho ngành kinh doanh chính phát triển

1.3.4.2 Ưu điểm của chiến lược đa dạng hóa

Trước hết, chiến lược đa dạng hóa hoạt động giúp cho doanh nghiệp phân tán rủi ro khi thực hiện đầu tư vào nhiều lĩnh vực, phân tán nguồn vốn và lợi nhuận Từ

đó, doanh nghiệp sẽ tránh được tình trạng quá phụ thuộc vào một lĩnh vực cụ thể, tạo thế chủ động cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Thứ hai, thực hiện đầu tư vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề sẽ giúp cho doanh nghiệp khai thác được lợi thế kinh tế theo qui mô; đồng thời khó khăn của lĩnh vực này lại

có thể là thuận lợi cho lĩnh vực khác do đó, đầu tư vào nhiều lĩnh vực giúp doanh nghiệp có thể linh hoạt hơn trong hoạt động, có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh riêng cho mình

Thứ ba, chiến lược đa dạng hóa hoạt động có liên kết giúp cho doanh nghiệp

có cơ hội được tận dụng những hiểu biết cũng như các nguồn lực dư thừa sẵn có của mình trên một lĩnh vực hoạt động mới có những liên quan nhất định đến lĩnh vực kinh doanh hiện tại Thêm vào đó, chiến lược này còn giúp doanh nghiệp tăng được sức cạnh tranh của mình đối với các đối thủ do doanh nghiệp có được một nguồn lợi thế tổng hợp từ mỗi điểm mạnh của từng lĩnh vực hoạt động, đưa doanh nghiệp lên

vị trí đứng đầu

1.3.4.3 Nhược điểm của chiến lược đa dạng hóa

Trước hết, việc thực hiện chiến lược đa dạng hóa làm cho việc quản lý trong doanh nghiệp trở nên phức tạp và khó khăn hơn rất nhiều Khi doanh nghiệp tham gia vào nhiều ngành kinh doanh khác nhau, doanh nghiệp sẽ phải phân tán và chia

sẻ nguồn lực, nếu việc quản lý không tốt, không có hiệu quả, thiếu hài hòa trong chiến lược giữa các lĩnh vực, các mảng hoạt động khác nhau của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chứ không chỉ trong lĩnh vực kinh doanh mới Thứ hai, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp sẽ rất khó khăn, thậm chí không thể quản lý nổi các yếu tố căn bản của nhiều đơn vị khác nhau một cách có hiệu quả, vì các công việc của mỗi một đơn vị khác nhau thì lại không hề giống nhau hoàn toàn Cuối cùng, chiến lược đa dạng hóa hoạt động không liên kết dẫn tới rủi ro giảm thu nhập của chủ sở hữu nếu như chi phí để thâm nhập vào một lĩnh vực hoạt động mới là quá cao

1.3.5 Chiến lược đa dạng hóa dịch vụ của Tổng công ty Bưu điện Việt Nam

Sự bùng nổ công nghệ thông tin với các thị trường dịch vụ di động, dịch vụ

Trang 38

internet đang làm thay đổi thói quen sử dụng các dịch vụ bưu chính truyền thống Điều này dẫn đến cần phải điều chỉnh, bổ sung quy hoạch lại ngành bưu chính cho phù hợp với tình hình thực tế Sau khi tách riêng khỏi Viễn thông, một vấn đề mà doanh nghiệp khai thác bưu chính công cộng phải đương đầu là thiếu hụt nguồn thu

Do vậy việc đa dạng hóa, nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội là vấn đề cấp bách đối với doanh nghiệp bưu chính công cộng

Nếu doanh nghiệp bưu chính biết khai thác các thế mạnh, các nguồn lực sẵn

có, đồng thời áp dụng công nghệ tin học – viễn thông tiên tiến thì sẽ tạo ra nhiều loại hình dịch vụ mới phong phú, mang lại các cơ hội tăng trưởng mới

Tổng công ty Bưu điện Việt Nam là Tổng công ty nhà nước hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, bởi vậy, TCT BĐVN mang đầy đủ những đặc điểm của tập đoàn kinh tế nói chung Tuy nhiên, TCT BĐVN cũng có những đặc thù riêng khác với các tập đoàn kinh tế khác ở chỗ: Nếu như các tập đoàn kinh tế nói chung bắt nguồn kinh doanh từ lĩnh vực đầu tư vào sản xuất hàng hoá, với các chiến lược kinh doanh tập trung vào đầu tư nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, ứng dụng tiến bộ công nghệ để sản xuất những sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thị trường thì TCT BĐVN lại bắt đầu lĩnh vực hoạt động kinh doanh bằng việc đầu tư vào xây dựng hạ tầng mạng lưới Bưu chính và bắt đầu các hoạt động kinh doanh của mình qua việc cung cấp các dịch vụ Bưu chính Viễn thông (bưu phẩm, điện thoại ), và tổ chức các kênh phân phối dịch vụ đến khách hàng

Do vậy chiến lược kinh doanh của TCT BĐVN là tập trung đầu tư vào phát triển hạ tầng mạng lưới, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ và tổ chức các kênh phân phối để thoả mãn tối đa các nhu cầu đa dạng của các thị trường về hàng hoá

và dịch vụ Bưu chính Viễn thông Từ đó, TCT BĐVN sẽ mở rộng liên kết với các nhà cung cấp khác nhau để hình thành nên các kênh phân phối hàng hoá, dịch vụ đa dạng, rộng khắp đảm bảo khai thác, thâm nhập và mở rộng được cả thị trường trong nước và thị trường thế giới

Bên cạnh đó, cùng với khả năng tích tụ và tập trung vốn được nâng lên, TCT BĐVN đã mở rộng kinh doanh đầu tư sang các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác có lợi thế nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường, hoạt động kinh doanh thương mại và sản xuất được tích hợp, trở thành TCT vừa chuyên sâu vừa tổng hợp dựa trên các liên kết kinh tế đa chiều

Dựa trên những ý tưởng kinh doanh ban đầu rất sơ khai được nảy sinh trong quá trình hoạt động của mình, TCT BĐVN đã dần xây dựng nên chiến lược đa dạng hóa hoạt động dựa trên cơ sở phân tích kỹ càng môi trường kinh doanh bên trong và bên ngoài của TCT Từ một lĩnh vực kinh doanh chính ban đầu là bưu chính – viễn

Trang 39

thông, nhờ tận dụng khá tốt những nguồn lực sẵn có của các đơn vị thành viên, TCT BĐVN đã vươn tới các lĩnh vực kinh doanh hoàn toàn mới

Trên cơ sở xây dựng chiến lược đa dạng hóa hoạt động một cách bài bản, rõ

ràng, TCT BĐVN cần phải khai thác triệt để những lợi thế mà doanh nghiệp bưu chính khác không có, đó là:

- Mạng lưới bưu cục rộng khắp (khoảng 15.000 điểm phục vụ), đặt tại các nơi trung tâm đông dân cư, có nhu cầu cao về mua sắm và sử dụng dịch vụ;

- Có tiềm lực tài chính đủ mạnh để trở thành bạn hàng, đại lý tin cậy của các doanh nghiệp sản xuất khác;

- Có đội ngũ nhân viên làm dịch vụ chuyên nghiệp được đào tạo và chọn lọc

Điều đó cũng có nghĩa là TCT BĐVN nên tập trung nhiều hơn vào việc thực hiện chiến lược đa dạng hóa liên kết Bên cạnh đó, TCT nên thực hiện việc đa dạng hoá một cách chuyên sâu, tạo sự tương hỗ, liên kết giữa các sản phẩm và dự án đầu

tư mới và cũ trong quá trình đa dạng hoá và phát triển của mình Những ngành, sản phẩm đa dạng mới mà TCT lựa chọn phải phù hợp hoặc có tính bổ sung cao, thiết thực với năng lực và thị trường hiện tại, sẵn có của bản thân doanh nghiệp, không

Trang 40

nên quá xa rời sở trường vốn có của mình, đồng thời phù hợp với triển vọng trung

và dài hạn của thị trường trong nước và thế giới

Có thể dùng ma trận sản phẩm – thị trường của Ansoff để mô tả khái quát các chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp dịch vụ Bưu chính, hay còn gọi là các chiến lược phát triển thị trường – dịch vụ Ma trận này có hai biến số thị trường

và dịch vụ, với hai giá trị là hiện tại và giá trị mới của hai biến số đó

Dịch vụ

hiện tại

Hình 1.1 Ma trận Ansoff

Xâm nhập thị trường: Nội dung của chiến lược này là đưa dịch vụ bưu chính

hiện tại xâm nhập sâu hơn nữa vào thị trường hiện tại Nói cách khác, cần phải tăng khối lượng bán dịch vụ bưu chính hiện tại trên thị trường hiện tại Để thực hiện chiến lược này, có thể sử dụng các công cụ marketing sau đây: tăng cường quảng cáo, khuyến mại, giảm giá, củng cố hệ thống kênh phân phối…

Mở rộng thị trường: Nội dung của chiến lược này là tìm thêm những khách

hàng mới cho dịch vụ bưu chính hiện tại Khách hàng mới có thẻ được tìm kiếm ở các thị trường địa lý khác: các địa phương khác trong nước, hoặc mở ra các thị trường nước ngoài Khách hàng mới cũng có thể tìm kiếm ngay trên thị trường địa

lý hiện tại, tức là tìm kiếm các thị trường mục tiêu khác

Phát triển dịch vụ: Nội dung của chiến lược này là đưa dịch vụ bưu chính mới

vào thị trường hiện tại, hay là phát triển dịch vụ bưu chính mới cho thị trường hiện tại để đáp ứng nhu cầu mới của thị trường

Thị trường hiện tại Thị trường mới

Dịch vụ

mới

Xâm nhậ p thị trường

Mở rộ ng thị trường

Đa dạ ng hóa Phát triể n dị ch vụ

Ngày đăng: 22/01/2021, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm