Lý do thực hiện đề tài: Hoạt động tín dụng đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh chính đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại.. Trong quá trình hoạt động, c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
LÊ PHÚ LINH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HUYỆN THẠCH HÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GVC.TS NGUYỄN NGỌC ĐIỆN
Hà Nội - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các
số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ PHÚ LINH
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ v
LỜI MỞ ĐẦU U 1
1 Lý do thực hiện đề tài 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục luận văn 2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÍN DỤNG NHTM 3 1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 3
1.1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 3
1.1.3 Quy trình tín dụng 6
1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế 7
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
1.2.1 Khái niệm về RRTD 9
1.2.2 Phân loại RRTD 10
1.2.3 Dấu hiệu nhận biết RRTD 12
1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến RRTD 13
1.2.5 Hậu quả của RRTD 17
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 18
1.3.1 Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng 18
1.3.2 Nội dung quản trị RRTD của NHTM 19
1.3.3 Quản trị RRTD theo chuẩn mực và các nguyên tắc của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng 31
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị rủi ro tín dụng 32
1.3.5 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng tại một số NHTM và bài học kinh nghiệm cho NHNo&PTNT Chi nhánh huyện Thạch Hà 36
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNHHUYỆN THẠCH HÀ 40
2.1 TỔNG QUAN VỀ NHNo&PTNT CHI NHÁNH HUYỆN THẠCH HÀ 40
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển NHNo&PTNT chi nhánh Huyện Thạch Hà 40
Trang 42.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 41
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của NHNo & PTNT chi nhánh huyện Thạch Hà 42
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH HUYỆN THẠCH HÀ 50
2.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng của chi nhánh 50
2.2.2 Công tác trích lập dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng 53
2.2.3 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng của chi nhánh 54
2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QTRR CỦA CHI NHÁNH 63
2.3.1 Những kết quả đạt được 63
2.3.2 Những tồn tại và hạn chế 64
2.3.3 Nguyên nhân 65
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH HUYỆN THẠCH HÀ 68
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CỦA CHI NHÁNH 68
3.1.1 Định hướng phát triển kinh doanh trong thời gian tới 68
3.1.2 Một số chỉ tiêu kinh doanh năm 2017 của Chi nhánh 69
3.1.3 Định hướng hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng của chi nhánh đến năm 2017 69
3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RRTD TẠI CHI NHÁNH 70
3.2.1 Xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng thích hợp 70
3.2.2 Hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay 71
3.2.3 Giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng 73
3.2.4 Giải pháp về nhân sự 75
3.2.5 Giải pháp bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra 76
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 76
3.3.1 Chủ trương chính sách của Chính phủ 76
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 77
3.3.3 Kiến nghị với NHNo&PTNT Việt Nam 79
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
No&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Agribank Việt Nam Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam BCTC Báo cáo tài chính
CIC Trung tâm thông tin tín dụng Việt Nam
HĐQT Hội đồng quản trị
KSRR Kiểm soát rủi ro
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1 Quy trình tín dụng tổng quát 6
Bảng 1.2 Xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s 28
Bảng 1.3: Tình hình huy động vốn tại chi nhánh 44
Bảng 1.4: Dư nợ cho vay tại chi nhánh 47
Bảng 1.5: Kết quả kinh doanh 2014 - 2016 49
Bảng 1.6: Tình hình nợ quá hạn tại chi nhánh 50
Bảng 1.7: Phân loại nợ quá hạn theo thời hạn vay 51
Bảng 1.8: Tình hình nợ xấu của chi nhánh 52
Bảng 2.1: Thang điểm XHTD khách hàng cá nhân của Agribank Việt Nam 59
Bảng 2.2: Thang điểm XHTD khách hàng doanh nghiệp của Agribank Việt Nam 61 Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng 11
Sơ đồ 1.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng 30
Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức của Agribank Huyện Thạch Hà 42
Biểu 1.1: Tình hình huy động vốn trong 3 năm 2014, 2015, 2016 45
Biểu 1.2: Tình hình huy động vốn theo TPKT 45
Biểu 1.3: Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn tại chi nhánh 46
Biểu 1.4: Tình hình dư nợ theo kỳ hạn nợ tại chi nhánh 48
Biểu 1.5: Tình hình dư nợ theo kỳ hạn và cho vay tại chi nhánh 48
Biểu 1.6: Tình hình nợ quá hạn tại chi nhánh 51
Biểu đồ 1.7: Tỷ trọng các nhóm nợ xấu tại chi nhánh 53
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề tài:
Hoạt động tín dụng đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh chính đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại Thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng luôn phải đối mặt với các loại rủi ro, trong đó rủi ro tín dụng là một loại rủi ro mà các ngân hàng thương mại phải đối mặt và đặc biệt quan tâm vì rủi ro tín dụng là nguyên nhân cản trở sự phát triển, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, làm suy giảm năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng, trong một số trường hợp rủi ro tín dụng dẫn đến sự phá sản của ngân hàng Cho đến nay quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại còn nhiều bất cập, ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như an toàn của hệ thống ngân hàng
Chính vì vậy, làm thế nào đánh giá đúng mức thực trạng quản trị rủi ro trong lĩnh vực tín dụng và nghiên cứu để tìm ra giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề này, em đã quyết định chọn đề tài
“Thực trạng và giải pháp để hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Huyện Thạch Hà.” làm
luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Góp phần hệ thống hóa để từng bước hoàn thiện lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh huyện Thạch Hà thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trị rủi ro tín dụng của NHNo&PTNT Chi nhánh huyện Thạch Hà
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Trang 8Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo
& PTNT chi nhánh huyện Thạch Hà
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu theo các bước sau:
- Thu thập tài liệu làm cơ sở lý thuyết về QTRRTD của NHTM
- Thu thập thông tin về thực trạng RRTD và QTRRTD tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Thạch Hà
- Phân tích thực trạng bằng cách sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, suy luận logic kết hợp với lịch sử, phương pháp thống kê, so sánh, lý thuyết hệ thống, diễn giải và quy nạp để phân tích, chứng minh và đánh giá các vấn đề
- Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QTRRTD tại chi nhánh Bên cạnh đó, chuyên đề cũng sử dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học,các bài luận văn, khóa luận, chuyên đề, các báo cáo, tài liệu trên báo chí
và internet có liên quan đến đề tài
5 Bố cục luận văn:
Nội dung chính của chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan hoạt động tín dụng ngân hàng và công tác quản trị rủi
ro tín dụng trong ngân hàng thương mại
Chương 2: Đánh giá thực trạng về công tác quản trị rủi ro tín dụng tại
NHNo&PTNT chi nhánh Huyện Thạch Hà
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại
NHNo&PTNT chi nhánh Huyện Thạch Hà
Trang 9CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÍN DỤNG NHTM 1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là trung gian kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả
và sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Căn cứ trên phương diện những loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp thì Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện chức năng kinh doanh tiền
tệ với nội dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn NHTM là cầu nối giữa các cá nhân
và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn và phần “chênh lệch” lãi suất đó chính
là lợi nhuận của ngân hàng thương mại Hoạt động của NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội
(Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam)
1.1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm tín dụng của ngân hàng thương mại
Tín dụng ngân hàng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thoả thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả (cả gốc và lãi) bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác theo quy định của NHNN Cho vay:
Là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
Trang 10nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Hoạt động cho vay chiếm phần lớn tổng tài sản và nguồn thu của ngân hàng, đồng thời những rủi
ro trong hoạt động ngân hàng chủ yếu tập trung vào danh mục các khoản vay Nghiệp vụ cho vay được phân ra làm nhiều sản phẩm theo phương thức trả nợ, theo kỳ hạn cấp vốn …
Chiết khấu:
Là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đổi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán Nghiệp vụ này có rủi ro khi ngân hàng nhận phải những thương phiếu giả mạo, hoặc người chịu trách nhiệm thanh toán thương phiếu mất khả năng thanh toán trước khi thương phiếu đến hạn
Cho thuê tài chính:
Hoạt động cho vay là hoạt động tài trợ chủ yếu của ngân hàng cho khách hàng, nhưng trong một số trường hợp khách hàng không đủ điều kiện vay vốn, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho thuê lại Đây là phương thức vay tài sản thông qua hợp đồng cho thuê, kèm theo lời hứa đơn phương bán cho người thuê một giá nhất định có tính đến những số tiền thuê đã trả Trong nghiệp vụ này, ngân hàng phải xuất tiền theo yêu cầu của khách hàng và sau một thời gian nhất định phải thu đủ gốc và lãi, tài sản cho thuê thường là các tài sản cố định Hoạt động tài trợ này chứa đựng nhiều rủi ro, khách hàng có thể kinh doanh không hiệu quả, tài sản cho thuê mang tính đặc chủng, khó bán hay cho thuê lại…
Bao thanh toán:
Là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo
đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận
(Nguồn: Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam)
Trang 111.1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tuỳ theo yêu cầu của khách hàng
và mục tiêu quản lý của ngân hàng
* Phân loại theo thời gian
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng Theo thời gian, tín dụng được phân thành:
- Tín dụng ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống;
- Tín dụng trung hạn: từ 1 năm đến 5 năm;
- Tín dụng dài hạn: trên 5 năm
* Phân loại theo hình thức:
Cho vay; Chiết khấu; Cho thuê tài chính; Bảo lãnh ngân hàng; Bao thanh toán; Thấu chi
* Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Loại này được phân chia thành tín dụng có đảm bảo bằng uy tín của chính khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba để trả nợ cho ngân hàng Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải ký hợp đồng đảm bảo
* Phân loại tín dụng theo rủi ro
Theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn cứ để phân loại rủi ro Thí dụ như tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn…
* Phân loại khác:
Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp…)
Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định)
Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng…)
(Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam)
Trang 121.1.3 Quy trình tín dụng
Việc xác lập một quy trình tín dụng đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng thương mại, quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng Theo đó quy trình tín dụng được hiểu
là quá trình cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm nhiều giai đoạn và có quan hệ chặt chẽ với nhau; mang tính chất liên hoàn, theo một trình tự nhất định, kết quả của giai đoạn trước là cơ sở để thực hiện giai đoạn tiếp theo và là tác động đến chất lượng của các giai đoạn sau Trong mỗi giai đoạn lại gồm nhiều công việc được thực hiện theo hệ thống những nguyên tắc và những quy định
Bảng 1.1 Quy trình tín dụng tổng quát
giai đoạn
Nguồn thông tin cung cấp Nhiệm vụ của ngân hàng
Kết quả sau mỗi bước
1 Lập hồ sơ
vay vốn
Các thông tin để lập hồ sơ do khách hàng tự cung cấp
Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:
- năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng
- Tìm kiếm những tình huống
có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro
đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng
- Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng, từ
đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc ra quyết định cho vay
Báo cáo kết quả thẩm định
3 Ra quyết
định tín dụng
Báo cáo kết quả thẩm định từ giai đoạn 2
Ra quyết định cho vay hoặc
từ chối cho vay Quyết định cho vay: tiến hành
các thủ tục cần
Trang 13Các thông tin bổ sung
thiết: lý hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay Quyết định từ chối cho vay: lập giấy báo lý
do
4 Giải ngân
Quyết định cho vay và các hợp đồng có liên quan từ giai đoạn 3
Các chứng từ làm cơ sở giải ngân
Các thông tin khác
Giám sát, theo dõi tài khoản, phân tích các chỉ tiêu tài chính…
Các nghiệp vụ khác
Báo cáo kết quả giám sát, đưa ra các giải pháp hợp lý Các nghiệp vụ khác
1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế
Các NHTM hoạt động độc lập nhưng lại liên kết chặt chẽ hình thành hệ thống và ảnh hưởng qua lại với nhau Sức mạnh của NHTM không phải là sức mạnh của bản thân nó mà là sức mạnh của xã hội Hệ thống NHTM là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế, không chỉ là nơi cung cấp tín dụng và dịch vụ tài chính - ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống NHTM cũng ngày càng phát triển
cả về quy mô và số lượng, khẳng định vai trò của một trung gian tài chính không thể thiếu trong hệ thống tài chính quốc gia Đồng thời khẳng định vai trò chủ yếu của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và đối với
sự tồn tại và phát triển của bản thân các ngân hàng nói riêng
Trang 14* Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với bản thân các NHTM:
Cấp tín dụng là một hoạt động chủ yếu của NHTM, đây là nguồn thu chủ yếu trong tổng nguồn thu của Ngân hàng, chiếm từ 60% - 70 % Do mục tiêu sinh lời, việc thực hiện chức năng tập trung huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để tiến hành cho vay luôn được các Ngân hàng chú trọng Việc duy trì và mở rộng tín dụng mang một ý nghĩa sống còn đối với các NHTM Hoạt động này được thực hiện hiệu quả sẽ tạo điều kiện để ngân hàng đẩy mạnh hoạt động tập trung vốn,
mở rộng việc thực hiện chức năng thanh toán Do vậy, bên cạnh việc mở rộng hoạt động tín dụng các ngân hàng luôn quan tâm tới việc nâng cao chất lượng tín dụng
Có thể nói rằng, hoạt động tín dụng là hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
* Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với nền kinh tế
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng góp phần giảm hệ số vốn nhàn rỗi trong lưu
thông và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Tín dụng ngân hàng là trung gian để điều tiết nguồn vốn từ bộ phận nhàn rỗi đến bộ phận thiếu vốn với sự tương thích về số lượng một cách linh hoạt, giúp giảm số tiền nhàn rỗi trong lưu thông Trong cơ chế thị trường ai cũng muốn đồng tiền của mình sinh lời, do đó họ sẵn sàng cho ngân hàng vay để thu lợi Như vậy, tín dụng ngân hàng đã góp phần nâng cao thu nhập cho người gửi tiết kiệm
Thứ hai, chính phủ sử dụng tín dụng ngân hàng như một công cụ điều tiết vĩ
mô nền kinh tế, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội
Thông qua kiểm soát khối lượng tín dụng, định hướng đầu tư cùng với lãi suất tín dụng giúp chính phủ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và hợp lý, kiềm chế lạm phát Tín dụng ngân hàng vừa tập trung vốn đầu tư cho các ngành kinh tế mũi nhọn, vừa tham gia vào các chương trình chính sách xã hội thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng
Trong mọi lĩnh vực sản xuất - kinh doanh - dịch vụ, mọi chu kỳ đều bắt đầu
từ tiền tệ (T) và kết thúc bằng T’ Ở đó, T’ = T+t (T’>T) tạo điều kiện để tái mở rộng hoạt động Trong chu kỳ này, tăng vòng quay vốn tiền tệ có tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Muốn thực hiện điều đó, các chủ thể kinh doanh cần cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện quản lý, tìm kiếm thị trường mới Đòi hỏi một lượng vốn lớn và kịp thời Tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn cung ứng vốn cho các
Trang 15nhu cầu đó Tuy nhiên, các nhà kinh doanh cần phải tìm ra nhiều biện pháp sử dụng vốn hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn nhằm trả nợ vay tín dụng đúng hạn
cả gốc và lãi nếu không có thể dẫn tới nguy cơ phá sản Thực hiện được điều này trong nền kinh tế thị trường là một cuộc cạnh tranh gay gắt và quyết liệt Vì thế mà thúc đẩy sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế hàng hoá
Thứ tư, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy kinh tế
quan trọng Ngày nay, trong quan hệ kinh tế đối ngoại, sự hợp tác bình đẳng cùng
có lợi giữa các nước trên thế giới và trong khu vực đang đựơc thúc đẩy mạnh cả
về chiều rộng và chiều sâu Trong đó, vốn đầu tư ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá đựơc coi là hai lĩnh vực hợp tác thông dụng nhất giữa các nước Nhưng thực tế không phải một tổ chức kinh tế nào cũng có đủ vốn để hoạt động Thông qua hoạt động tín dụng, các ngân hàng là trợ thủ đắc lực, sẽ cung cấp vốn cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá, góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại
Như vậy, tín dụng ngân hàng có một vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế cũng như đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Để phát huy vai trò đó, các nước trên thế giới đã sử dụng tín dụng ngân hàng như một công cụ đắc lực để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên đây là một hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro khó lường trước Để tín dụng ngân hàng thực sự phát huy vai trò của mình, nghiên cứu rủi ro tín dụng và nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín
dụng là một yêu cầu bức thiết
(Nguồn: GS.TS Nguyễn Văn Tiến(2013), Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại, NXB Thống Kê)
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.2.1 Khái niệm về RRTD
Trong hoạt động của ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng nhưng đồng thời đây cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro lớn.Theo các thống kê và nghiên cứu, RRTD chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động của ngân hàng.Như vậy RRTD là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng Hiện nay cũng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về RRTD:
- RRTD là khả năng xẩy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
Trang 16- RRTD là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa
vụ của mình theo cam kết
(Nguồn: Tô Kim Ngọc (2012), Giáo trình tiền tệ và ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.)
- Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam
kết (Theo quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN, ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
- Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xẩy ra đối với nợ của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết
(Theo khoản 1 điều 3 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
+ Về mặt định lượng: RRTD được phản ánh bởi chính số lượng nợ xấu nợ quá hạn, nợ đọng của mỗi Ngân hàng
+ Về mặt định tính: RRTD có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín dụng
Theo đó chất lượng tín dụng càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp và ngược lại, chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao thì RRTD là rất lớn và có tác động ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngân hàng
1.2.2 Phân loại RRTD
1.2.2.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro
RRTD được chia thành 2 loại:
- Rủi ro giao dịch:
Là hình thức RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch bao gồm: Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để đưa ra quyết định tài trợ của ngân hàng
Rủi ro bảo đảm: là rủi ro có liên quan đến các tiêu chuẩn đảm bảo của khoản vay như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…
Trang 17Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục:
Là RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh
mục cho vay của ngân hàng, và được phân thành:
Rủi ro nội tại: là RRTD xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của
khách hàng vay vốn, lĩnh vực hoạt động kinh tế
Rủi ro tập trung: là rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một
số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc
cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
- RRTD được chia thành 2 loại được thể hiện qua sơ đồ:
Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch
(liên quan đến
1 khoản cho vay)
Rủi ro danh mục
(liên quan đến danh mục các khoản cho vay)
Rủi ro nghiệp vụ
(liên quan đến việc kiểm soát, theo dõi khoản vay)
(liên quan đến chính sách
và hợp đồng cho vay)
Rủi ro nội tại
(liên quan đến từng sản phẩm tín dụng)
Rủi ro tập trung cho vay
(Do kém
đa dạng hoá danh mục tín dụng)
Trang 181.2.2.2 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng
- Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): là những tổn thất xảy ra khi
mà đến thời hạn hoàn trả nợ mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay
- Rủi ro không có khả năng trả nợ: xảy ra trong trường hợp khách hàng đi vay mất khả năng chi trả
(Nguồn: PGS.TS Tô Ngọc Hưng(2012)-Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng)
1.2.3 Dấu hiệu nhận biết RRTD
1.2.3.1 Phát sinh từ phía khách hàng
a Trong mối quan hệ khách hàng với ngân hàng:
- Trì hoãn hoặc gây trở ngại đối với ngân hàng trong việc kiểm tra theo định
kỳ hoặc đột xuất về tình hình sử dụng vốn vay, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính của khách hàng Chậm hoặc không gửi BCTC theo yêu cầu của ngân hàng
- Đề nghị gia hạn, điều chỉnh các khoản nợ nhiều lần không rõ lý do Chậm thanh toán các khoản lãi vay khi đến hạn thanh toán
- Sự tụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, vượt quá nhu cầu dự kiến Chấp nhận nguồn vốn lãi suất cao ở mọi điều kiện
- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo giảm sút so với định giá cho vay, có dấu hiệu cho người khác thuê, bán hoặc trao đổi
- Dùng các khoản tiền ngắn hạn cho hoạt động đầu tư dài hạn
b Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng:
- Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản
- Có sự chênh lệch lớn giữa doanh thu thực tế so với dự kiến
- Xuất hiện phí bất hợp lý: quảng cáo, tiếp khách quá mức, phô trương…
- Thay đổi thường xuyên tổ chức hoặc ban điều hành
- Đối với khách hàng là tư nhân, có dấu hiệu bệnh kéo dài hoặc chết
Trang 191.2.3.2 Phát sinh từ phía ngân hàng
- Chính sách tín dụng không hợp lý, tăng trưởng tín dụng quá nhanh,
vượt quá năng lực kiểm soát
- Đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng
- Cấp tín dụng cho cam kết không chắc chắn và thiếu đảm bảo khách hàng
- Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng không rõ ràng, hồ sơ tín dụng thiếu sự hoàn chỉnh
- Cạnh tranh thái quá: giảm lãi suất cho vay, tăng hạn mức…
1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến RRTD
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro hay nói cách khác hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn phải đối diện với rủi ro Do đó việc nhận diện những nguyên nhân gây ra rủi ro là rất cần thiết nhằm đưa giải pháp phòng ngừa hiệu quả
và giảm thiệt hại Có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản sau đây:
1.2.4.1 Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài
Rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng:
Xuất phát từ thiên nhiên như thiên tai, động đất, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh… Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế nông nghiệp, khá nhạy cảm với môi trường tự nhiên, mỗi biến động của tự nhiên đều tiềm ẩn rủi ro gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn, làm suy giảm khả năng trả nợ vay ngân hàng dẫn tới RRTD
- Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định:
Bao gồm các yếu tố: các giai đoạn phát triển của nền kinh tế (phát triển, hưng thịnh hay suy thoái), sự thay đổi cơ chế chính sách kinh tế, lãi suất, tỷ giá, chỉ số giá cả… khi nền kinh tế phát triển mạnh, hoạt động kinh doanh thuận lợi, khả năng rủi ro từ việc không trẳ được nợ hoặc vỡ nợ rất thấp, hoạt động tín dụng tương đối an toàn Tuy nhiên, khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất bị đình trệ, hàng hóa ứ đọng không tiêu thụ được làm suy giảm khả năng tài chính của khách hàng kém, từ đấy tăng RRTD
Trang 20- Trong nền kinh tế phát triển quá nóng, NHNN sẽ áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất thị trường tăng, doanh nghiệp sẽ phải đi vay với lãi suất cao hơn dẫn đến chi phí tài chính tăng làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm, cũng dễ dẫn đến tăng RRTD
- Môi trường chính trị, pháp lý:
Khi một quốc gia có nền chính trị không ổn định, có chiến tranh, hay xảy ra các cuộc bạo loạn, đình công, tranh chấp giữa các đảng phái… thì việc triển khai các dự án đầu tư của doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp khó khăn và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Cơ chế chính sách của nhà nước tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh và môi trường đầu tư vốn của các ngân hàng Khi có
sự thay đổi, điều chỉnh pháp luật, chính sách, chế độ của nhà nước hoặc thay đổi địa giới hành chính của các địa phương, sự sát nhập hay chia cách của một cơ quan, bộ ngành…sẽ tác động trực tiếp đến mọi các nhân, tổ chức kinh tế - các khách hàng của ngân hàng, từ đó có thể mang đến rủi ro cho ngân hàng
- Hiện nay ở Việt Nam chưa có cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) bước đầu đã cung cấp thông tin khá kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng Tuy nhiên, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhập Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng với những thông tin không đầy đủ thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng
- Môi trường quốc tế:
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tín dụng trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với tín dụng quốc tế, các dòng vốn luôn vận hành theo quy luật thị trường Khủng hoảng tài chính làm cho mối quan hệ thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các nước bị thay đổi, tạm ngưng trệ hoặc cắt đứt, làm giảm sút sức mua, hàng hóa
bị ứa đọng khó tiêu thụ sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn ngân hàng, tất yếu phát sinh RRTD
- Ngoài ra, quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho
nợ xấu ra tăng bởi sự cạnh tranh gay gắt và quy luật chọn lọc, đào thải khắc nghiệt của thị trường khiến cho các khách hàng thường xuyên của ngân hàng đối mặt với nguy cơ thua lỗ hoặc phá sản Bên cạnh đó, bản thân ngân hàng trong nước với hệ
Trang 21thống quản lý yếu kém bị các ngân hàng nước ngoài có nền tảng quản trị và công nghệ vượt trội cạnh tranh lôi kéo những khách hàng tốt, có tiềm lực tài chính lớn
để lại các khách hàng yếu cho ngân hàng nội địa, dẫn đến nguy cơ rủi ro, nợ xấu tăng cao
1.2.4.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay
- Đối với khách hàng là cá nhân: nguồn trả nợ chủ yếu là từ nguồn thu nhập
cá nhân nên nguyên nhân dẫn đến rủi ro có thể do:
• Do tình trạng sức khỏe, bệnh tật hoặc mâu thuẫn trong gia đình
• Người vay bị thất nghiệp tạm thời, hoặc lâu dài ảnh hưởng đến thu nhập
• Rủi ro đạo đức: Người đi vay sử dụng vốn vay sai mục đích, không muốn hoàn trả nợ cho ngân hàng, thậm chí kinh doanh trên lưng ngân hàng, sử dụng tiền vay ngân hàng để cho vay với lãi suất cao hơn
- Đối với khách hàng là doanh nghiệp:
• Do thị trường cung cấp đầu vào bị thu hẹp, giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng, chi phí sản xuất tăng lên, sản phẩm giảm sức cạnh tranh; sản phẩm kém phẩm chất, không phù hợp với thị trường, khó tiêu thụ hoặc do cạnh tranh trên thị trường, thị hiếu thay đổi… làm doanh thu của doanh nghiệp giảm sút
• Doanh nghiệp sử dụng vốn vay sai mục đích, hoặc sử dụng vốn vay vào việc sản xuất kinh doanh các loại mặt hàng bị pháp luật cấm; không đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng vốn
• Khả năng quản lý điều hành kém: Trình độ, năng lực quản lý hạn chế, thiếu trình độ, kinh nghiệm chuyên môn dẫn tới việc tổ chức và việc điều hành sản xuất kinh doanh yếu kém, tài chính không minh bạch Bộ máy quản trị không có tầm nhìn dẫn đến đầu tư không khả thi, không có khả năng thu hồi được vốn, khả năng trả nợ giảm
• Do sự thay đổi về đội ngũ cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, bộ máy quản lý không đồng bộ, điều hành kém, hiệu quả sản xuất không cao, giảm số lượng và chất lượng sản phẩm
Do tình trạng tham nhũng diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, làm thất thoát tài chính, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ
1.2.4.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Trang 22Nguyên nhân rủi ro xuất phát từ phía ngân hàng hết sức quan trọng do ngân hàng là chủ thể của hoạt động tín dụng, cụ thể có một số nguyên nhân sau:
- Chính sách tín dụng của ngân hành:
Thể hiện chiến lược và đường lối của NHTM trong hoạt động tín dụng Xây dựng chính sách tín dụng thiếu khoa học sẽ tạo sự chồng chéo giữa các bộ phận trong ngân hàng, ảnh hưởng tới thời gian ra quyết định đối với một khoản vay, đồng thời có thể tạo ra sự thiếu chặt chẽ, kiểm tra giám sát, phối hợp công việc giữa các khâu…dẫn đến rủi ro khó lường
- Cán bộ thẩm định, xét duyệt cho vay:
Thiếu thông tin hoặc có thông tin nhưng không đầy đủ chính xác nên không phân tích, đánh giá khách quan, chính xác về khách hàng; do chủ quan, tin tưởng vào khách hàng mà coi nhẹ khâu kiểm tra, thẩm định các chỉ tiêu tài chính, phi tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và tương lai, nguồn trả nợ… Không am hiểu ngành nghề, lĩnh vực, thị trường mà mình đang tài trợ, dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của dự án xin vay Hoặc do trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của cán bộ ngân hàng chưa bắt kịp với cơ chế thị trường luôn biến động, dẫn đến hạn chế trong quản lý các khoản vay
- Phẩm chất, đạo đức của cán bộ:
Một số cán bộ, nhân viên ngân hàng trong đó có cán bộ tín dụng suy thoái đạo đức nghề nghiệp, cố tình làm sai nguyên tắc, thông đồng hoặc tiếp tay với khách hàng để chiếm đoạt tài sản tiền vốn của người khác
- Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ còn bất cập:
Các ngân hàng thường xem nhẹ, nơi lỏng quá trình kiểm tra, giám sát đồng vốn sau khi cho vay, hầu hết các sai phát hiện sau khi vụ việc đã phát sinh RRTD
- Ngân hàng thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, sản phẩm địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, các dự báo cần thiết trong từng thời kỳ Chưa có đủ tiêu thức đo lường rủi ro, mức độ RRTD tối đa cho phép chấp nhận đối với từng khách hàng thuộc các ngành khác nhau
Thiếu sự hợp tác, phối hợp giữa các ngân hàng: Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa Do thiếu trao đổi thông tin, nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách
Trang 23hàng dẫn đến vượt mức giới hạn cho vay tối đa, khi có rủi ro, mọi ngân hàng đều phải gánh chịu
1.2.4.4 Nguyên nhân từ các tài sản đảm bảo tín dụng
- Trường hợp bảo đảm bằng tài sản:
Rủi ro xảy ra do biến động của giá trị tài sản bảo đảm theo hướng bất lợi; tài sản khó định giá, khó phát mại…;Do doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, nắm giữ tài sản đảm bảo để xử lý chúng; Có những tranh chấp tài sản về mặt pháp lý
- Trường hợp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh):
Người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho người vay ngân hàng khi người này không có khả năng trả nợ
1.2.5 Hậu quả của RRTD
RRTD luôn tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu
1.2.5.1 Ảnh hưởng của RRTD đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Đối với ngân hàng bị rủi ro:
Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu được nợ trong khi đó vẫn phải trả gốc và lãi cho nguồn tiền huy động khi đến hạn Điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm khiến cho hiệu quả kinh doanh của ngân hàng giảm, chi phí của ngân hàng tăng cao so với dự kiến Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải sử dụng vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đó ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Điều này rất dễ đẩy ngân hàng đến thua lỗ hoặc bên bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời
- Đối với hệ thống ngân hàng:
Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong một quốc gia có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau và với các tổ chức kinh tế, xã hội và các cá nhân trong nền kinh
tế Do vậy, nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, đặc biệt trong trường
Trang 24hợp mất khả năng thanh toán và phá sản sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và các bộ phân kinh tế khác
1.2.5.2 Ảnh hưởng của RRTD đến nền kinh tế - xã hội
Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay đối với các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại Do vậy, thực chất quyền sở hữu những khoản vay là quyền sở hữu của người gửi tiền vào ngân hàng Bởi vậy, khi RRTD xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của khách
hàng cũng bị ảnh hưởng
Khi một ngân hàng gặp phải RRTD hay bị phá sản sẽ khiến cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó khăn và ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khi không đáp ứng được nhu cầu vay vốn Hơn nữa
sự khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất
nghiệp gia tăng, xã hội mất ổn định
Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới.Mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên RRTD tại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 1.3.1 Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng
Đối với bất cứ một hoạt động kinh doanh nào, khi rủi ro xảy ra đều kéo theo
nó những ảnh hưởng khó lường và hậu quả của chúng cũng không dễ dàng khắc phục Với rủi ro trong hoạt động tín dụng cũng vậy Chính vì thế, quản trị rủi ro được coi là hoạt động trọng tâm trong các tổ chức tài chính - ngân hàng bởi kiểm soát và quản lý rủi ro chặt chẽ đồng nghĩa với việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn huy động Mặt khác, nền kinh tế thị trường nếu không chấp nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ hội đầu tư và kinh doanh mới Do đó, quản trị rủi ro là một nhu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình tồn tại và phát triển của NHTM
- Quản trị RRTD là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng thông qua hệ thống các công cụ nhằm hạn chế và giảm thiểu các tổn thất từ rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng
Trang 25Quản trị rủi ro tín dụng là một trong những nội dung quản trị rủi ro của NHTM bao gồm: những đánh giá mức độ rủi ro, thực thi những giải pháp quản trị hạn chế khả năng xảy ra rủi ro Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng gắn chặt với hoạt động của cấp tín dụng
Hiện nay vẫn có sự phân biệt chưa rõ ràng giữa quản trị và quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Quản lý rủi ro tín dụng là: việc tổ chức, điều khiển và thực hiện các hoạt động, các quy trình liên quan đến việc cấp tín dụng nhằm đảm bảo an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất mà ngân hàng có thể chấp nhận được Công tác quản lý này được thực hiện ngay từ khi xem xét hồ sơ xin vay vốn, thẩm định khách hàng, ký kết hợp đồng tín dụng và việc thực hiện giải ngân và kiểm soát khi cho vay đến việc thu nợ và xử lý nợ quá hạn Đó cũng không phải là một vấn đề dễ dàng thực hiện
(Nguồn: PGS.TS Đinh Xuân Hạng(2012), Giáo trình Quản trị Tín dụng ngân hàng thương mại, nhà xuất bản tài chính)
1.3.2 Nội dung quản trị RRTD của NHTM
1.3.2.1 Mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng
- Hạn chế RRTD tại NHTM:
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình đo lường, đánh giá rủi ro trong quá trình cho vay, theo dõi giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời để đảm bảo quyền lợi của ngân hàng mỗi khi gặp bất cứ sự thay đổi nào, từ đó hạn chế tối đa các rủi ro có
thể xẩy ra
- Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng và bảo toàn vốn cho NHTM:
Quản trị rủi ro tín dụng sẽ hạn chế tối đa RRTD từ đó nâng cao chất lượng tín dụng, bảo toàn vốn trong kinh doanh của các NHTM
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM:
Quản trị rủi ro tín dụng giúp NHTM phòng ngừa và hạn chế được các khoản
nợ xấu, giảm các khoản chi phí quản lý, giám sát, thu nợ tăng lợi nhuận, nâng cao
uy tín của NHTM
1.3.2.2 Tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng
Để đánh giá RRTD các NHTM có thể sử dụng nhiều tiêu chí dựa trên các phương diện khác nhau như tình trạng khoản nợ, tài sản bảo đảm tiền vay, dự phòng RRTD…
Trang 26Các tiêu chí dựa vào tình trạng khoản nợ:
Tiêu chí để đo lường rủi ro trong một khoản vay là nợ xấu và nợ quá hạn Theo Thông tư 02/2013/TT - NHNN ngày 21 tháng 1 năm 2013 của Thống đốc NHNN Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Cụ thể TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm nợ như sau:
- Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn;
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại; + Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2
- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại;
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại;
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
+ Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
Trang 27+ Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại;
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5
Tùy theo từng nhóm nợ mà tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm
nợ quy định là: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100%
Về mặt pháp lý, không có quy định nào xây dựng tiêu chí đo lường rủi ro riêng cho dư nợ cho vay khách hàng là doanh nghiệp, hoặc khách hàng cá nhân Tuy nhiên, từ phương pháp luận nêu trên, các ngân hàng có thể thiết lập hệ
số để đo lường rủi ro trong cho vay doanh nghiệp Theo đó, các đại lượng sử dụng
để tính toán rủi ro trong cho vay doanh nghiệp sẽ là số liệu về dư nợ cho vay doanh nghiệp
a Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là một khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn Nợ quá hạn là thước đo quan trọng đánh giá sự lành mạnh thể chế Nó tác động tới tất cả các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng
Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn / Tổng dư nợ
Nợ quá hạn càng cao làm tăng chi phí của ngân hàng Với một khoản vay gặp rủi ro, ngân hàng phải thêm chi phí giám sát khoản vay, chi phí xử lý tài sản đảm bảo, chi phí pháp lý…do đó làm tăng chi phí thực tế của ngân hàng Trong khi không có nguồn thu từ khoản tín dụng này thì ngân hàng vẫn phải trả lãi cho nguồn vốn vay từ khách hàng Nợ quá hạn xuất hiện làm chậm quá trình tuần hoàn
và chu kỳ chuyển vốn của các TCTD, làm giảm lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh Đồng thời hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, làm giảm uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng
b Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu:
Nợ xấu là khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5 theo Thông tư 02/2013/TT - NHNN
ngày 21 tháng 1 năm 2013 của Thống đốc NHNN Việt Nam quy định
Tỷ lệ nợ xấu:
Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ xấu/tổng dư nợ
Trang 28Nợ xấu gây khó khăn lớn trong việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng Nếu nợ xấu không giải quyết kịp thời, đến thời điểm nào đó khả năng trích lập dự phòng rủi ro sẽ không đủ bù đắp phần tổn thất và việc nâng cao tiềm lực tài chính để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn lại càng là vấn đề khó thực hiện cho ngân hàng
Ngoài ra, còn chất lượng quản trị rủi ro còn được đo lường qua một số chỉ tiêu như:
c Tỷ lệ mất vốn:
Tỷ lệ mất vốn = dư nợ mất vốn/Tổng dư nợ
Dư nợ mất vốn là các khoản nợ thuộc nhóm 5 Tỷ lệ mất vốn càng cao thì thiệt hại càng lớn, nó phản ánh những khoản tín dụng không thu hồi được, phải dùng quỹ dự phòng cho để bù đắp
d Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD so với dư nợ kỳ báo cáo:
Tỷ lệ trích lập RRTD = Dự phòng RRTD được trích lập/Tổng dư nợ
Tỷ lệ này càng lớn càng làm cho chi phí hoạt động tăng, lợi nhuận giảm tuy nhiên nó giúp các ngân hàng có nguồn để xử lý khi có rủi ro xảy ra
1.3.2.3 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng
Mô hình QTRRTD là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản trị tín dụng của ngân hàng
Hiện nay ở Việt Nam đang có hai mô hình phổ biến được áp dụng Đó là mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán
- Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung
Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3 chức năng: quản lý rủi
ro, kinh doanh và tác nghiệp Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng
- Mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán
Trang 29Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản trị rủi ro, kinh doanh
và tác nghiệp Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay
Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của hoạt động tín dụng, theo khuyến cáo của Basel II và tuân thủ thông lệ quốc tế, căn cứ vào các điều kiện chung về pháp lý, thị trường, công nghệ, con người, mô hình các NHTM khuyến nghị nên áp dụng
mô hình quản trị rủi ro tập trung
Tại Hội sở chính: tách bạch chức năng ra quyết định tín dụng với chức năng quản trị tín dụng trên cơ sở phân định trách nhiệm và chức năng rõ ràng giữa các
bộ phận thẩm định, phê duyệt tín dụng, quản trị tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng Tại chi nhánh: Tiến hành tách các bộ phận, chức năng bán hàng (tiếp xúc khách hàng, tiếp thị…), chức năng phân tích tín dụng (phân tích, thẩm định, dự báo, đánh giá khách hàng…) và chức năng tác nghiệp (xử lý hồ sơ, theo dõi, giám sát khoản vay, thu nợ, thu lãi…)
1.3.2.4 Nhận diện rủi ro tín dụng.
Nhận diện RRTD là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng có thể gây ra RRTD Nhận dạng RRTD bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các nguyên nhân gây ra RRTD, để
từ có có biện pháp phù hợp giảm thiểu RRTD
Trong QTRRTD, nhận dạng RRTD là bước đầu tiên và có vai trò rất quan trọng bởi RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp, có thể dự báo hoặc không thể
dự báo được, gắn liền với hoạt động của cả ngân hàng lẫn khách hàng và môi trường Để nhận dạng RRTD, nhà quản lý phải lập được bảng liệt kê tất cả các dấu hiệu rủi ro đã, đang và có thể xẩy ra với ngân hàng bằng các phương pháp sau:
a) Phân tích báo cáo tài chính:
Trong các phương pháp nhận diện RRTD, phương pháp phân tích báo cáo tài chính là phương pháp phổ biến nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc xem xét để đưa quyết định cho vay của các NHTM Báo cáo tài chính cho thấy tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng trong quá khứ, hiện tại và dự báo triển vọng kinh doanh trong tương lai Ngoài ra một cách gián tiếp, thông qua báo cáo tài chính giúp đánh giá năng lực của bộ máy lãnh đạo, trong hoạt động của khách hàng
Trang 30Khi phân tích báo cáo tài chính của khách hàng, các NHTM thương quan tâm đến sự thay đổi của một số chỉ tiêu chính: lượng tiền mặt của khách hàng, tài sản
cố định, tăng/giảm của doanh thu, chi phí và lợi nhuận, các khoản phải thu và phải trả , một số chỉ tiêu tài chính khác nhau, chỉ tiêu đánh giá về khả năng thanh toán, chỉ tiêu đánh giá khả năng hoạt động, chỉ tiêu về cấu trúc nguồn vốn, chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi
b) Giao tiếp trong nội bộ tổ chức:
Thông qua giao tiếp trong nội bộ để có thể tìm hiểu, đánh giá chính xác các hoạt động đang diễn ra trong doanh nghiệp, nhận biết được các rủi ro tiềm
ẩn Một số dấu hiệu đặc trưng nhận dạng RRTD qua việc giao tiếp trong nội bộ của tổ chức:
* RRTD đến từ phía khách hàng:
Khi nhận phản hồi từ các phòng ban chức năng của doanh nghiệp đi vay trong quá trình theo dõi và đánh giá về khách hàng thì những dấu hiệu sau sẽ cho thấy tiềm ẩn RRTD:
- Doanh nghiệp vay vốn trì hoãn nộp các báo cáo tài chính: Việc chậm trễ trong việc lập hoặc gửi áo cáo định kỳ của doanh nghiệp nói lên tình hình tài chính doanh nghiệp có vấn đề phải xem xét, có thể là khách hàng vay gặp khó khăn hoặc gian dối về tài chính, do đó ngân hàng phải tiến hành kiểm tra, phân tích và kết luận cụ thể xem có RRTD hay không để xử lý kịp thời
- Sự chậm trễ, hoặc thất hẹn, hoặc trốn tránh giao tiếp, gặp gỡ với NHTM: chứng tỏ hoạt động kinh doanh của khách hàng có yếu tố không bình thường, có thể việc sản xuất, kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn, hoặc tài chính có vấn đề đây là dấu hiệu để NHTM tăng cường cảnh giác và phải tìm hiểu rõ ràng xem thực chất sự bất thường này là gì, nếu như có khả năng xảy ra rủi ro thì còn kịp thời xử lý
- Trì trệ trong việc trả nợ thoe định kỳ, không đúng ngày, không đúng số tiền theo cam kết
- Sự gia tăng bất thường về hàng tồn kho, các khoản công nợ phải thu trả, phải trả, có nợ vay tại nhiều tổ chức tín dụng
- Những thay đổi bất ngờ không được dự kiến không được giải thích: về số dư tiền gửi tại ngân hàng, vốn tự có của khách hàng giảm dân một các đáng nghi ngờ
Trang 31- Sự thay đổi bất thường tổ chức hoạt động của khách hàng vay vốn: Sự thay đổi này bao gồm thay đổi các nhà quản lý (cách chức, từ chức, chuyển công tác, ), hoặc tình trạng người lao động thiếu việc làm, hoặc bán các tài sản để giải quyết nhu cầu tài chính, đều được coi như các dấu hiệu rõ nét để nhận biết RRTD, thay đổi cơ cấu tổ chức của khách hàng Bởi vì, thường các doanh nghiệp có những khó khăn về sản xuất kinh doanh và tài chính mới xuất hiện tình trạng đó và điều này dẫn đến việc trả nợ của khách hàng sẽ gặp khó khăn
- Đối tác của khách hàng bị rủi ro, bị phá sản hoặc bị truy tố: Nếu đối tác của khách hàng bị rủi ro thì nguy cơ rủi ro của khách hàng là rất lớn, dẫn đến rủi ro cho ngân hàng
* RRTD đến từ chính các NHTM:
- Vi phạm các nguyên tắc cho vay, chấp hành không đúng quy trình thủ tục cho vay: Mỗi NHTM đều xây dựng một quy trình cho vay chặt chẽ Tuy nhiên, không phải lúc nào quy trình này cũng được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định
và đầy đủ Trong bối cảnh cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, mạnh mẽ, các NHTM có xu hướng nới lỏng các điều kiện vay vốn, giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch vụ, thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản cấp tín dụng mặc dù biết các khoản cấp tín dụng này có thể có rủi ro
- Giải ngân trước khi hoàn thành đầy đủ bộ hồ sơ theo quy định: Mọi khoản vay đều phải đảm bảo đầy đủ các hồ sơ theo quy định Giải ngân khi chưa hoàn thành đầy đủ hồ sơ thể hiện sự vội vã, bất ổn Sau khi đã nhận được vốn vay, đối với khách hàng thiếu thiện chí bổ sung các thủ tục cần thiết Khi đó, khó khăn trong thu hồi nợ và khởi kiện khi khách hàng không thực hiện trả nợ theo cam kết
sẽ thuộc về ngân hàng Về mặt lý thuyết, những khoản vay như vậy sẽ có độ rủi ro cao hơn các khoản cho vay đúng quy trình
- Cho vay đảo nợ: Khi đến hạn thanh toán nợ gốc, lãi, khách hàng vay vốn không có khả năng trả nợ NHTM, thay vì đôn đốc khách hàng hay đánh giá lại khả năng tài chính của khách hàng, cán bộ tín dụng thực hiện giải quyết tình trạng quá hạn trước mắt bằng cách cho vay đảo nợ Điều đó, không những không kiểm soát được những rủi ro khách hàng đang đối mặt mà là sự tích tụ rủi ro Qua thời gian, rủi ro ngày càng lớn dẫn đến khách hàng không có khả năng tài chính để thanh toán nợ, khi đó rủi ro thực sự thuộc về ngân hàng
Trang 32- Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng:
ví dụ đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với thực tế, đánh giá khách hàng chỉ dựa vào các thông tin “tĩnh do khách hàng cung cấp mà thiếu đi các thông tin “động , các thông tin nhạy cảm từ những kênh thông tin khác
- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
1.3.2.5 Đo lường và đánh giá rủi ro tín dụng:
Đo lường rủi ro tín dụng là việc ngân hàng xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng Từ đó có thể xác định được phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng, cũng như trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng Phân tích, đo lường rủi ro tín dụng giúp ngân hàng đưa ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng, định kỳ hoặc đột xuất đánh giá lại rủi ro tín dụng cho toàn bộ danh mục tín dụng cho phép ngân hàng lường trước được những dấu hiệu mà khoản cấp tín dụng có chất lượng xấu
đi để có thể có những biện pháp đối phó kịp thời Việc đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng giúp ngân hàng ước lượng được mức tổn thất có thể xảy ra để phân loại khoản nợ làm cơ sở trích lập dự phòng cho hợp lý Có 2 phương pháp cơ bản để
đo lường rủi ro tín dụng như sau:
a) Mô hình định tính:
Là phương pháp truyền thống dựa vào đánh giá chủ quan của người cho vay đối với từng khoản vay cụ thể, căn cứ vào việc trả lời một số câu hỏi để đưa ra quyết định có cấp tín dụng không? Mô hình định tính thường dùng là mô hình 6C (6 khía cạnh của người cho vay):
(1) Character (tư cách người vay):
Cán bộ tín dụng phải đánh giá tính đúng đắn và hợp lý của mục đích vay vốn, xác định xem có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không? Thậm chí, cho dù mục đích vay là tốt thì cán bộ tín dụng cũng phải xác định xem người vay có tỏ thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, có thiện chí và nỗ lực hoàn trả nợ vay khi đáo hạn Trong thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp cũng như cá nhân có khả năng trả nợ nhưng không thanh toán cho ngân hàng, mà chiếm dụng vốn với mục đích cá nhân và các khoản đầu tư kiếm tìm lợi nhuận khác
Trang 33(2) Capacity (năng lực tài chính):
Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người vay đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng, người đại diện đặt bút ký phải là người được uỷ quyền hợp pháp của Công ty, có tư cách pháp nhân
(3) Cash (thu nhập của người vay):
Nhìn chung, người vay có 3 khả năng tạo ra tiền: tiền từ doanh thu bán hàng hay lợi nhuận thu nhập; tiền từ thanh lý tài sản; tiền từ chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn Ngân hàng ưu tiên hơn về khả năng trả nợ của khách hàng theo nguồn thu từ khoản vay đầu tiên, vì việc thanh lý tài sản sẽ làm cho năng lực khách hàng trở nên yếu đi, ngoài ra đó cũng là một biểu hiện không lành mạnh trong kinh doanh, khiến quan hệ tín dụng trở lên có vấn đề
(4) Collateral (bảo đảm tiền vay):
Khách hàng có thể dùng tài sản để bảo đảm dưới các hình thức: cầm cố, thế chấp, hay bảo lãnh từ bên thứ ba Việc nhận bảo đảm tín dụng nhằm 2 mục đích: thứ nhất là nếu người đi vay không trả nợ theo đúng thoả thuận, thì ngân hàng sẽ thanh lý tài sản đó để thu hồi nợ đọng; thứ hai là để ràng buộc người vay phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc hoàn trả nợ vay để thu hồi tài sản bảo đảm của mình, tạo uy tín và trở thành khách hàng thân thiết của các ngân hàng
(5) Conditions (các điều kiện):
Ngân hàng cần xem xét các khía cạnh khác nahu: xu hướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, điều kiện kinh tế thay đổi sẽ
có ảnh hưởng như thế nào đến công việc của người vay
(6) Contron (kiểm soát): Tập trung vào những vấn đề như: các thay đổi trong
luật pháp có ảnh hưởng đến người vay hay không? Các yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng và của quản lý về chất lượng tín dụng không? Tóm lại, chỉ khi nào các tiêu chí này đều được đánh giá là tốt thì khoản vay mới được xem là khả thi Các cán bộ tín dụng cần phải nhìn nhận vấn
đề một cách tổng thể để ra quyết định tín dụng
b) Mô hình định lượng:
Ngày nay, một số ngân hàng đã sử dụng mô hình cho điểm để lượng hoá RRTD của người vay, mô hình này có ưu điểm là cho phép xử lý nhanh chóng một
Trang 34khối lượng lớn các đơn xin vay với chi phí thấp, khách quan, do đó góp phần tích cực trong việc kiểm soát RRTD ngân hàng Sau đây là một mô hình lượng hoá RRTD cơ bản thường được sử dụng nhất:
Mô hình xếp hạng của Moody’s
Mô hình này xếp hạng tình trạng hoạt động của doanh nghiệp dựa trên tỷ lệ rủi ro hàng năm, chất lượng này thay đổi hàng năm Các doanh nghiệp được xếp
hạng cao khi tỷ lệ rủi ro dưới 0,1%
Bảng 1.2 Xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s
CC Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ
C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu
(Nguồn:Phương pháp xếp hạng tín dụng của Moody)
1.3.2.6 Kiểm soát rủi ro tín dụng:
Kiểm soát RRTD là sử dụng biện pháp, các kỷ thuật, các công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra đối với ngân hàng Các biện
Trang 35pháp kiểm soát RRTD: biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu tổn thất, đa dạng hóa rủi ro nhằm phân tán rủi ro
- Né tránh rủi ro: Né tránh rủi ro là việc né tránh những đối tượng, những
hoạt động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể xẩy ra Thông qua hoạt động thẩm định, xếp loại và sàng lọc khách hàng: đối với những khách hàng đã thấy rõ là có rủi to tiềm ẩn, rủi ro lớn, không phù hợp với chính sách cho vay thì biện pháp tốt nhất là từ chối cho vay
- Ngăn ngừa tổn thất: Tập trung vào việc giảm bớt các tổn thất có thể xảy ra
hoặc giảm mức thiệt hại khi tổn thất xảy ra Bằng cách loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro, đối với những khoản vay mà yếu tố rủi ro được xác định nhưng có thể khắc phục được thì ngân hàng có thể xem xét, cân nhắc để cho vay và thực hiện giám sát nhằm không xảy ra các nguy cơ gây rủi ro như: sử dụng vốn sai mục đích, không đảm bảo vốn tự có tham gia phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư, tiến độ thực hiện và nguồn thanh toán Các biện pháp thường được áp dụng: Kiểm tra và giám sát trước, trong và sau khi cho vay, định giá khoản vay
- Giảm thiểu rủi ro: Nhằm giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại nếu nó
xẩy ra Các biện pháp giảm thiểu rủi ro, tổn thất: áp dụng sản phẩm, quy trình cho vay phù hợp, các dụng các điều khoản trong nội dung hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay, định giá khoản vay, áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay ,
- Chuyển giao rủi ro: Là việc sắp xếp để một vài đối tượng gánh chịu hoàn
toàn hay một phần tổn thất xảy ra Các cách thức chuyển giao rủi ro: Chuyển giao rủi ro người kinh doanh rủi ro (Các công ty bảo hiểm), Chuyển giao rủi ro cho bên mua nợ, chuyển giao rủi ro cho ngân sách Nhà nước (đối với những khoản vay theo chỉ thị của Chính phủ), sử dụng công cụ phái sinh
- Đa dạng hoá danh mục đầu tư tín dụng: Là việc ngân hàng đa dạng hóa
danh mục cho vay, thực hiện cho vay với nhiều loại sản phẩm, nhiều khách hàng, không tập trung cho vay quá nhiều vào một số ít ngành nghề, lĩnh vực, một ít khách hàng hoặc nhóm khách hàng, thời hạn cho vay và phải phù hợp với cơ cấu nguồn
1.3.2.7 Tài trợ rủi ro tín dụng:
Tài trợ rủi ro tín dụng là để bù đắp những khoản rủi ro tín dụng xảy ra, làm lành mạnh hóa tài chính ngân hàng, chứ không phải là xóa hoàn toàn nợ vay cho
Trang 36khách hàng Cũng như đối với các loại rủi ro khác, kỷ thuật tài trợ rủi ro tín dụng bao gồm các phương án: tự khắc phục; chuyển giao rủi ro; trung hòa rủi ro
- Sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro: Trên cơ sở phân loại nợ, trích lập dự
phòng xử lý rủi ro hàng quý, năm Các NHTM hạch toán chuyển các khoản nợ xử
lý rủi ro ra hạch toán ngoại bảng, tiếp tục theo dõi, có biện pháp thu hồi nợ đầy đủ theo hợp đồng đã ký, cam kết đã thỏa thuận với khách hàng
- Bán nợ: Trong giai đoạn hiện nay, các NHTM bán nợ cho công ty quản lý
tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) Hoạt động mua bán nợ không chỉ là một biện pháp xử lý nợ mà còn là một hình thức tín dụng mới nhằm đa ạng hoá các hoạt động tín dụng, tăng cường khả năng cạnh tranh, tăng lợi nhuận Mặt khác, các chủ thể tiến hành mua bán nợ trên thị trường hoạt động chuyên nghiệp,
có nhiều lợi thế về thông tin, quy mô, không chịu áp lực từ mối quan hệ với khách hàng như ngân hàng nên công tác xử lý nợ xấu sẽ hiệu quả hơn
- Hoán đổi rủi ro: Đối với một số loại hình rủi ro tín dụng đặc thù, một số
NHTM có thể áp dụng các chính sách chuyển đẩy, chia sẻ rủi ro
Sơ đồ 1.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
(Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2003), Đánh giá và phòng ngừa rủi ro kinh doanh Ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội)
Thực hiện kiểm soát rủi ro
tín dụng Giám sát và đánh giá lại rủi
ro tín dụng
Trang 371.3.3 Quản trị RRTD theo chuẩn mực và các nguyên tắc của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng.
Những năm gần đây, sau khi phải đối mặt với những rủi ro lớn gây tổn thất cho ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng xảy ra với tần suất khá cao, giá trị lớn, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã chú trọng nhiều hơn đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong kinh doanh và dần tiếp cận tới các chuẩn mực quản trị rủi
ro theo Hiệp ước quốc tế Basel II vào hoạt động quản trị rủi ro của mình Việt Nam chưa phải là thành viên của Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng, do đó không bị ràng buộc bởi thời hạn phải tuân thủ các Hiệp ước Basel Tuy nhiên, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều văn bản luật
và quy định theo định hướng Basel II Phương pháp tiếp cận rủi ro tín dụng của Basel II:
+ Phương pháp thứ nhất: đo lưởng rủi ro tín dụng theo phương pháp tiếp cận chuẩn hóa được hỗ trợ bởi các đánh giá bên ngoài về tín dụng
+ Phương pháp thứ hai: là ngân hàng sử dụng hế thống đánh giá xếp hạng tín dụng nội bộ
- Phương pháp tiếp cận chuẩn hóa rủi ro tín dụng: Phương pháp chuẩn hóa là các ngân hàng phải phân loại các rủi ro tín dụng dựa trên những đặc điểm có thể quan sát được của rủi ro Phương pháp chuẩn hóa sẽ xếp loại rủi ro cố định cho từng loại rủi ro và căn cứ những đánh giá độ tín nhiệm của bên ngoài để nâng cao
độ nhạy của rủi ro
- Phương pháp tiếp cận căn cứ vào xếp hạn tín dụng nội bộ (IRB): Các ngân hàng phải có bộ phận kiểm soát rủi ro tín dụng độc lập chịu trách nhiệm thiết kế, thực hiện hoạt động các hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của mình Bộ phận này phải độc lập về chức năng đối với các bộ phận quản lý
Như vậy, với quá trình phát triển của Basel 2 các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro
(Nguồn: THS Lê Thị Hạnh (2017)- Tạp chí Kinh tế-Tài chính - Kiểm soát rủi ro tín dụng theo Basel II tại các ngân hàng thương mại Việt Nam)
Trang 381.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị rủi ro tín dụng
1.3.4.1 Các yếu tố bên trong ngân hàng
- Cơ cấu tổ chức bộ máy cấp tín dụng và bộ máy QTRRTD:
Cơ cấu tổ chức bộ máy cấp tín dụng và bộ máy QTRRTD hợp lý, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh thông suốt, hiệu quả, hạn chế được các rủi ro có thể xẩy ra Việc lựa chọn mô hình QTRRTD là tập trung hay phân tán, việc quy định rõ quyền hạn trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận, mối quan hệ của từng
bộ phận sẽ có tác dụng quan trọng trong quá trình thực hiện từ thẩm định đến khi thiết lập quan hệ tín dụng và thu hồi vốn gốc, lãi Quy trình quản lý tín dụng được
bố trí khoa học, rõ ràng sẽ góp phần quan trọng và là cơ sở để nâng cao chất lượng tín dụng, từ đó hạn chế RRTD
chất lượng tín dụng tại ngân hàng đó thường cao hơn
Trong khi đó, quy trình tín ụng lại bao gồm các bước cụ thể hoá chính sách tín dụng, giúp cán bộ tín dụng tiến hành quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa học, góp phần đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng Quy trình cho vay gồm nhiều bước nhưng thường chia thành 4 giai đoạn: phân tích trước khi cấp tín dụng, xây dựng và ký kết hợp đồng, giải ngân, kiểm soát sau khi cấp tín dụng Chính vì cán bộ tín dụng cho vay chủ yếu dựa vào các bước trong quy trình tín dụng nên đối với mỗi ngân hàng, quy trình cần được xây dựng cụ thể, chi tiết đối với mỗi
Trang 39loại hình tín dụng, mỗi đối tượng khách hàng để đảm bảo việc thực hiện đúng, đủ quy trình là có thể hạn chế được rủi ro xảy ra
- Năng lực, trình độ hiểu biết của đội ngũ cán bộ của Ngân hàng:
+ Năng lực quản lý: gồm hoạch định chiến lược, phương án kinh oanh của ngân hàng, tổ chức thức hiện và Kiểm tra, giám sát: Bất kỳ một nội dung nào trong ba nội dung trên được thực hiện một cách yếu kém cũng sẽ dẫn đến RRTD Nếu chiến lược khách hàng không đúng đắn thì NHTM sẽ có đối tượng khách hàng xấu, hoặc nếu chấp hành không nghiêm túc quy trình cấp tín dụng và điều kiện cho vay thì không thể ràng buộc chặt chẽ nghĩa vụ trả nợ của khách hàng Hoặc nếu khâu kiểm tra, giám sát không hiệu quả sẽ dẫn đến không phát hiện, ngăn ngừa được các bộ phận, cá nhân thực hiện không đúng chính sách, mục tiêu kinh doanh đề ra và làm xuất hiện các khoản vay có vấn đề
+ Năng lực thẩm định và năng lực giám sát tín dụng: Năng lực thẩm định của cán bộ tín dụng là yếu tố quyết định hiệu quả của công tác QTRRTD trong hoạt động cho vay Năng lực thẩm định của cán bộ tín dụng thể hiện ở năng lực phân tích tài chính và xử lý các thông tin tín dụng Năng lực thẩm định cao sẽ loại trừ được sai lệch trong việc cung cấp thông tin cũng như khả năng sử dụng vốn vay của khách hàng, giảm được rủi ro trong tương lai của khoản vay ngược lại, những cán bộ tín dụng có năng lực thẩm định kém, gian dối trong thẩm định tín dụng đánh giá sai tài sản thế chấp, lơ là sự giám sát đối với các doanh nghiệp để Ngân hàng gặp rủi ro
Năng lực giám sát tín dụng: giám sát tín dụng nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng như an đầu dự đoán, hạn chế xảy ra tình trạng RRTD Theo dõi sát sao và chặt chẽ việc giải ngân và sử dụng tiền vay là biện pháp quan trọng để đảm bảo việc sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích, ngăn ngừa nợ quá hạn, nợ khó đòi
- Công nghệ thông tin:
Là một trong những nhân tố có ảnh hưởng khá nhiều đến công tác QTRRTD tại NHTM Một ngân hàng mà ứng dụng nhiều công nghệ, kỹ thuật hiện đại thì sẽ đạt tính chính xác, độ nhanh nhạy cao trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu các sai sót Ví dụ như thông tin về khách hàng cập nhật hơn, đầy đủ hơn, đặc biệt là công tác chấm điểm khách hàng nếu làm tự động sẽ nhanh, ít nhầm lẫn hơn Ngoài ra, các cấp quản lý khi cần cũng có thể nắm bắt thông tin về tình hình hoạt động tín
Trang 40dụng tại cơ sở nhanh nhất, chính xác nhất Với những tiện lợi về thời gian trong việc cập nhật và phân tích thông tin, công nghệ hiện đại giúp TCTD đưa ra các biện pháp phù hợp và hạn chế được RRTD
1.3.4.2 Các yếu tố bên ngoài ngân hàng
a) Khách hàng:
- Trình độ quản lý, năng lực, chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân vay vốn Trong khi các doanh nghiệp trực tiếp sử dụng và quản lý vốn của mình thì Ngân hàng sử dụng vốn của mình dưới hình thức gián tiếp: Đó là giao vốn cho doanh nghiệp không được trực tiếp quản lý vốn của mình mà thông qua hình thức giám sát doanh nghiệp vay vốn Do vậy, chất lượng tín dụng Ngân hàng chịu nhiều chi phối từ bản thân hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn
Chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu, tương lai phát triển của doanh nghiệp ở mức nào? Dự án, phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có đủ khả năng tồn tại và phát triển được trong cuộc cạnh tranh quyết liệt của cơ chế thị trường hay không? Điều này có nghĩa quyết định cho
số phận món vay Nếu doanh nghiệp kinh oanh trên đà phát triển có hiệu quả thì vốn vay Ngân hàng chắc chắn sẽ được hoàn trả đúng hạn cho Ngân hàng cả gốc và lãi Mức độ chuyển biến về nhận thức quan điểm tâm lý của an lãnh đạo doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường ra sao? Họ có đầy đủ ý thức và trách nhiệm trả nợ đối với khoản vay hay vẫn mang nặng tư tưởng bao cấp trông chờ nguồn vốn được cấp , được ưu đãi Trình độ quản trị điều hành ở mức độ nào? Đã đáp ứng được mức độ nào trong điều kiện kinh tế hiện thời Một doanh nghiệp trở nên hưng thịnh phát triển trong khi một doanh nghiệp khác làm ăn thua lỗ suy xụp
Sự khác biệt này có nguyên nhân xuất phát từ trình độ, chất lượng quản lý
Như vậy có thể nói việc quản lý sử dụng vốn vay sao cho có hiệu quả, đảm bảo trả nợ Ngân hàng và có lợi nhuận cho doanh nghiệp là điều rất cần thiết đối với các doanh nghiệp Những doanh nghiệp có trình độ quản lý tốt, năng lực sản xuất kinh doanh tốt, bảo tồn và phát triển vốn vay thì chất lượng đầu tư tín dụng của Ngân hàng sẽ cao và ngược lại