PHẦN MỞ ĐẦU Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính quan trọng của nền kinh tế, là tổ chức cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng, trong đó tín dụng là hoạt động xương
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VĨNH PHÚC – NĂM 2017
Trang 2LÊ NGỌC SƠN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH PHÚC YÊN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐÀO THANH BÌNH
VĨNH PHÚC – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập,
nghiêm túc
Tôi xin cam đoan các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các website
Tôi xin cam đoan các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ
sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn
Vĩnh Phúc, ngày 26 tháng 03 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Viện Kinh tế & Quản lý trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập trong nhà trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đào Thanh Bình đã tận tình hướng dẫn, đưa ra những đánh giá xác đáng giúp tôi hoàn thành luận văn này
Sau cùng tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp cùng làm việc với tôi tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên cùng bạn bè người thân đã giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Sơn
Trang 5NHCT Ngân hàng Công thương
NHNN VN Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.3: Tình hình huy động vốn của NHCT Phúc Yên giai đoạn 2012 - 2016 46
Bảng 2.1.4: Tình hình dư nợ cho vay của NHCT Phúc Yên giai đoạn 2012 – 2016 49
Bảng 2.1.5: Tình hình dư nợ cho vay của NHCT Phúc Yên theo phân khúc khách hàng giai đoạn 2012 – 2016 50
Bảng 2.1.6: Doanh số phát hành bảo lãnh và mở L/C 51
Bảng 2.1.7: Doanh số mua bán ngoại tệ và phát hành thẻ ATM 52
Bảng 2.2.1: Dư nợ, tăng trưởng dư nợ DNVVN tại NHCT Phúc Yên 54
Bảng 2.2.2: Doanh số cho vay, phát hành bảo lãnh, mở L/C của DNVVN tại NHCT Phúc Yên giai đoạn 2012 – 2016 55
Bảng 2.2.3: Số lượng, cơ cấu DNVVN tại NHCT Phúc Yên giai đoạn 2012 – 2016 theo hình thức pháp lý 55
Bảng 2.2.4: Tỷ lệ dư nợ quá hạn DNVVN tại NHCT Phúc Yên giai đoạn 2012 - 2016 57
Bảng 2.2.5 : Vòng quay vốn tín dụng đối với các DNVVN tại NHCT Phúc Yên giai đoạn 2012 - 2016 59
Bảng 2.2.6: Tình hình cho vay theo mức độ đảm bảo bằng tài sản tại NHCT Phúc Yên giai đoạn 2012 - 2016 60
Bảng 2.2.7: Chỉ tiêu % dư nợ DNVVN không có TSBĐ trên thực tế và kế hoạch hàng năm tại NHCT Phúc Yên giai đoạn 2012 – 2016 61
Bảng 2.2.8: Hiệu suất sử dụng vốn tại NHCT Phúc Yên giai đoạn 2012 - 2016 62
Bảng 2.2.9: Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng tại NHCT Phúc Yên giai đoạn 2012 - 2016 63
Bảng 2.2.10: Kết quả đánh giá chất lượng tín dụng DNVVN tại NHCT Phúc Yên từ phía các DNVVN 65
Bảng 2.2.11 Kết quả đánh giá chất lượng tín dụng DNVVN tại NHCT Phúc Yên từ phía các DNVVN xét theo thời gian quan hệ tín dụng 66
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1.2 Lợi nhuận sau thuế của Vietinbank Phúc Yên 44Biểu đồ 2.2.5: Tỷ lệ dư nợ quá hạn DNVVN tại NHCT Phúc Yênvà một số TCTD giai đoạn 2012 - 2016 58Biểu đồ 2.2.9: Mức độ đánh giá của khách hàng DNVVN về chất lượng tín dụng tại Vietinbank Phúc Yên (câu hỏi khảo sát số 2) 66
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1.1: Cơ cấu tổ chức của NHCT Phúc Yên 43
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC SƠ ĐỒ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 4
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại 4
1.1.2 Vai trò, chức năng của Ngân hàng thương mại 6
1.1.2.1 Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế 6
1.1.2.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại 8
1.1.3 Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại 12
1.1.4 Tổng quan về tín dụng của Ngân hàng thương mại 16
1.2 Tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 18
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 18
1.2.2 Tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 23
1.2.3 Chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 25
1.2.3.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ 25
1.2.3.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ từ phía ngân hàng 28
Trang 101.2.3.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và
nhỏ 28
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ 33
1.4 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số NHTM trong và ngoài nước 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH PHÚC YÊN 41
2.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên 41
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 41
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên 42
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên trong những năm gần đây 44
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 45
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng 48
2.1.3.3 Hoạt động tài trợ thương mại 51
2.1.3.4 Các hoạt động khác 52
2.2 Phân tích chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Phúc Yên 54
2.2.1 Kết quả tín dụng DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Phúc Yên trong thời gian qua 54
2.2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Phúc Yên trong thời gian qua 56 2.2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Phúc Yên trong
Trang 11thời gian qua 67
2.3 Đánh giá chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHCT Phúc Yên 70
2.3.1 Những kết quả đạt được 70
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH PHÚC YÊN 78
3.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHCT Phúc Yên 78
3.1.1 Định hướng chung 78
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 80
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHCT Phúc Yên 80
3.2.1 Nâng cao hiệu quả công tác thu hồi nợ và xử lý nợ quá hạn 80
3.2.2 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tín dụng 82
3.2.3 Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ tín dụng 84
3.2.4 Nâng cao chất lượng các nguồn thông tin tín dụng 85
3.2.5 Nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng 86
3.3 Một số kiến nghị 87
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 93
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính quan trọng của nền kinh
tế, là tổ chức cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng, trong đó tín dụng là hoạt động xương sống của bất kỳ ngân hàng thương mại nào Đối tượng khách hàng của hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại cũng rất đa dạng từ từng cá nhân đến các công ty, tập đoàn, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhóm khách hàng rất tiềm năng với các ngân hàng Nguồn lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ là không ít, song chất lượng tín dụng của nhóm khách hàng này tại các ngân hàng thương mại luôn là một vấn đề đáng để kể đến Chất lượng tín dụng kém tạo ra nhiều rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng Do vậy, các ngân hàng luôn phải đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Đây cũng là một thực tế tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên, với cơ cấu dư nợ của nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 63% tổng dư nợ cho vay, vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất đáng quan tâm Việc nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh
và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên
Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên nhằm đạt hiệu quả kinh doanh tốt là hết sức cần thiết Vì
vậy, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Phúc Yên” làm đề
tài Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh của mình
- Hệ thống hóa được sơ sở lý thuyết về tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ, chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
Trang 13- Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên Trên cơ sở
đó chỉ ra những nhân tố đang kìm hãm chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh
- Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên trong giai đoạn 2012 – 2016
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, …
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: được ứng dụng trong việc hệ thống hóa
cơ sở lý luận ở chương 1, thu thập dữ liệu ở chương 2 của đề tài
- Phương pháp phân tích, so sánh trong việc xử lý các dữ liệu của đề tài để đưa ra các kết luận, nhận định và đánh giá ở chương 2 và chương 3
- Chương 1: Hệ thống hóa được những vấn đề lý thuyết cơ bản về tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ, chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ, các nhân
tố ảnh hưởng giúp nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
- Chương 2: Nêu được thực trạng chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên, qua phân tích thời cơ, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu, phân tích nguyên nhân để rút ra được những điểm cần khắc phục nhằm nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp
Trang 14vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên trong thời gian tới
- Chương 3: Trên cơ sở đã phân tích ở chương 2, luận văn đề xuất ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Phúc Yên trong giai đoạn sắp tới
Luận văn được trình bày gồm phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các từ viết tắt, bảng biểu, hình vẽ, tài liệu tham khảo, phụ lục và 3 chương chính:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Phúc Yên
- Chương 3: Giải pháp và những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Phúc Yên
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Để đưa ra được một định nghĩa về ngân hàng thương mại (NHTM), người ta thường phải dựa vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính
và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động.Với mỗi quốc gia khác nhau, hình thành một khái niệm khác nhau về NHTM
Theo các nhà Kinh tế học thế giới thì “Ngân hàng Thương mại là một loại hình doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng” Theo cách tiếp cận trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì
“Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tài chính, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức nào trong nền kinh tế
Theo Luật của các TCTD năm 2010 tại Việt Nam: “Ngân hàng là loại hình
tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật”
“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc
một số các nghiệp vụ sau đây:a) Nhận tiền gửi;b) Cấp tín dụng;c) Cung ứng dịch
vụ thanh toán qua tài khoản”
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng khi phân tích khai thác nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất, đó là: việc nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng
Trang 16Như vậy Ngân hàng thương mại là một doanh ngiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng Ở Việt Nam, theo tính chất và mục tiêu hoạt động, Ngân Hàng gồm có các loại hình sau:
- Ngân Hàng thương mại: (còn gọi là Ngân Hàng tiền gửi hay Ngân Hàng tín dụng với nghiệp vụ truyền thống là huy động vốn phần lớn dưới hình thức ngắn hạn
và cho vay ngắn hạn dưới hình thức chiết khấu thương phiếu Tuy nhiên do thị trường ngày càng phát triển, dần dần các Ngân Hàng này đi vào kinh doanh tổng hợp, làm cả nghiệp vụ huy động vốn và cho vay trung, dài hạn và làm như tất cả các nghiệp vụ, dịch vụ Ngân Hàng
- Ngân Hàng phát triển: Nét đặc trưng nổi bật là những Ngân Hàng tập trung huy động vốn trung, dài hạn vì sự phát triển (không chỉ duy trì quy mô, chất lượng cũ) Hoạt động của các Ngân Hàng này chủ yếu qua đầu tư trực tiếp các dự án lớn
- Ngân Hàng đầu tư: Hoạt động với mục tiêu đầu tư trung, dài hạn cũng vì sự phát triển nhưng thông qua các hình thức đầu tư gián tiếp qua giấy tờ có giá Hoạt động của Ngân Hàng này gần gũi với nghiệp vụ chứng khoán Các lọai giấy tờ có giá được mở rộng thì loại Ngân Hàng này cũng phong phú và phát triển
- Ngân Hàng chính sách: Thông thường là những NHTM 100% vốn Nhà nước hoặc Ngân Hàng thương mại cổ phần Nhà nước (gồm sở hữu Nhà nước và sở hữu của các tổ chức kinh tế quốc doanh), được lập ra để phục vụ một số chính sách của Nhà nước như Ngân Hàng người nghèo, Ngân Hàng phát triển nhà ở, Ngân Hàng xuất nhập khẩu ) Loại ngân hàng này hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Nó được tạo vốn dưới hình thức đặc thù để cho vay ưu đãi nhưng được Nhà nước bù phần chênh lệch lãi suất
- Ngân Hàng hợp tác: (Hay gọi rộng ra là những tổ chức tín dụng hợp tác) là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được các thành viên tự nguyện lập nên không phải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu tương trợ lẫn nhau nhiệm về vốn
và dịch vụ ngân hàng Nó có thể có nhiều hình thức từ thấp đến cao, như hợp tác tín dụng, quĩ tín dụng nhân dân, Ngân Hàng hợp tác Nó có thể là tổ chức tín dụng hợp tác độc lập ở từng mắt, khâu và có sự liên kết toàn hệ thống (như quĩ tín dụng
Trang 17nhân dân)
1.1.2 Vai trò, chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của nền kinh
tế
a) Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
NHTM ra đời là tất yếu của nền sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá phát triển, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng, trong xã hội xuất hiện người có vốn nhàn rỗi, người thì cần vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này giải quyết bằng cách nào? NHTM ra đời là chìa khoá giúp cho người cần vốn
có được vốn và người có vốn tạm thời nhàn rỗi có thể kiếm được lãi từ vốn Các ngân hàng cũng cân đối được vốn trong nền kinh tế giúp cho các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển Các ngân hàng đứng ra huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các cá nhân sau đó sẽ cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiến hành tái sản xuất với trang thiết bị hiện đại hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn, có lợi nhuận cao hơn Xã hội càng phát triển nhu cầu vốn cần cho nền kinh tế càng tăng, không một
tổ chức nào có thể đáp ứng được Chỉ có ngân hàng - một tổ chức trung gian tài chính mới có thể đứng ra điều hoà, phân phối vốn giúp cho tất cả các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển nhịp nhàng, cân đối
b) Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp không phải là cứ sản xuất bất
cứ cái gì mà phải luôn trả lời được 3 câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào ?
và sản xuất cho ai? Có nghĩa là sản xuất theo tín hiệu của thị trường Thị trường yêu cầu các doanh nghiệp phải sản xuất ra các sản phẩm với chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Để được như vậy các doanh nghiệp phải được đầu tư bằng dây truyền công nghệ hiện đại, trình độ cán bộ, công nhân lao động phải được nâng cao Những hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đầu tư lớn và để đáp ứng được thì chỉ có các ngân hàng Do
đó, để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng để vay vốn nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình Thông qua hoạt động tín dụng,
Trang 18ngân hàng là chiếc cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho các doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh
c) NHTM là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM với tư cách là trung tâm tiền tệ của toàn
bộ nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển hài hoà cho tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể nói mỗi sự giao động của Ngân hàng đều gây ảnh hưởng ít nhiều đến các thành phần kinh tế khác Do vậy sự hoạt động có hiệu quả của NHTM thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của nó thực sự là công cụ tốt để Nhà nước tiến hành điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã trực tiếp góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông Mặt khác với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vay vốn, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, bảo đảm cung cấp đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất cũng như thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế
d) NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới với việc hình thành hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, làm cho các mối quan hệ thương mại, lưu thông hàng hoá giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng được mở rộng và trở nên cần thiết, cấp bách Nền tài chính của một quốc gia cần phải hoà nhập với nền tài chính thế giới Các ngân hàng thương mại là trung gian, cầu nối để tiến hành hội nhập Ngày nay, đầu tư ra nước ngoài là một hướng đầu tư quan trọng và mang lại nhiều lợi nhuận Đồng thời các nước cần xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu những mặt hàng mà mình thiếu Các ngân hàng thương mại với những nghiệp vụ kinh doanh như: nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh và đặc biệt là các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, đã góp phần tạo
Trang 19điều kiện, thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng và phát triển
1.1.2.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
a) Chức năng làm trung gian tín dụng
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là "cầu nối" giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại hình thành nên quỹ tín dụng để cung cấp cho nền kinh tế
Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại làm "cầu nối" giữa người thừa vốn và người thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi ích cho những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân nó và nền kinh tế Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới, 80% lợi nhuận của Ngân hàng Công thương - Ngân hàng thương mại Quốc Doanh là thông qua hoạt động cho vay Lợi nhuận này chính là cơ sở cho Ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh ây chính là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại, nó quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng
b) Chức năng trung gian thanh toán và chủ thể cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh toán
hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của họ Thông qua chức năng này Ngân hàng đóng vai trò là người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày càng được mở rộng
Trang 20Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng thương mại góp phần phát triển nền kinh tế Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng
sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng Đối với Ngân hàng thương mại, chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng Chức năng này cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại
c) Chức năng tạo tiền:
Vào cuối thế kỷ XIX, khi mà hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành trong đó NHTW có nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ còn các NHTM thực hiện vai trò kinh doanh tiền tệ Khi đó, các NHTM thông qua chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng đã tạo ra tiền ghi sổ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM Nói cách khác, nhờ hoạt động trên
hệ thống các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt
Các ngân hàng có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn từ một khoản tiền gửi ban đầu, hoặc từ khoản tiền nhận được từ NHTW thông qua việc cấp tín dụng cho các khách hàng là tổ chức phi ngân hàng Bất kỳ ngân hàng nào được phép huy động tiền gửi không kỳ hạn và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng đều
có khả năng tạo tiền Sự kết hợp giữa chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng làm cho hệ thống NHTM có khả năng tạo tiền gửi thanh toán Từ một khoản tiền gửi ban đầu thông qua làm chức năng trung gian tín dụng ngân hàng sử dụng để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ tức là ngân hàng đã tạo tiền Còn ngược lại khi ngân hàng huy động được số vốn mà chưa cho vay ngân hàng chưa hề tạo tiền Sự tạo tiền của NHTM chỉ xảy ra khi mọi hoạt động kinh doanh của NHTM thực hiện bằng chuyển
Trang 21khoản ghi nợ cho tài khoản nay và ghi có cho tài khoản khác có liên quan
Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ một số
dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng Chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tư của các NHTM trong mối quan hệ với NHNN qua vấn đề DTBB Khi NHTM cấp vốn tín dụng cho khách hàng A, lập tức số tiền này có thể chuyển thành tiền gửi của khách hàng B (mở tại một Ngân Hàng bất kì) NHTM lại dùng nguồn vốn này cho các đối tượng khác vay Như vậy, từ một đồng vốn kí thác ban đầu, hệ thống NHTM có thể tạo ra một số vốn tín dụng lớn hơn nhiều lần đẻ ra bội số tín dụng Đây chính là khả năng tạo tiền của NHTM, để kiểm soát khả năng này, luật pháp cho phép NHNN được quyền buộc các NHTM phải kí gửi tại NHNN một phần của tổng số tiền họ nhận được từ những khách hàng gửi tiền gọi là dự trữ bắt buộc
Theo thuyết tạo tiền: khi một khối lượng tiền gửi tăng lên, khả năng cho vay của toàn bộ hệ thống NHTM sẽ tăng lên nhiều lần Ngược lại khi bớt đi một lượng tiền gửi khả năng cho vay của toàn bộ hệ thống NHTM sẽ giảm đi nhiều lần Cụ thể:
Khả năng mở rộng tiền
gửi của Ngân Hàng =
Số tiền gửi huy động
ban đầu Hệ số nhân mở
rộng tiền tệ
Hệ số nhân mở rộng tiền tệ =
1
Tỉ lệ Dự trữ bắt buộc
Chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM liên qua chặt chẽ tới chính sách tiền
tệ của NHNN Thông qua hệ thống NHTM, NHNN có thể tăng hoặc giảm lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi tỉ lệ DTBB Thực hiện chức năng tạo tiền, với việc cho vay không có sự xuất hiện của tiền mặt, các NHTM đã giảm được khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được chi phí, giúp điều tiết lượng tiền cung ứng phù hợp chính sách ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp,
Trang 22làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế đáp ứng nhu cầu chi trả của
xã hội
d) Cung cấp các dịch vụ tài chính
Ngoài các dịch vụ truyền thống là huy động và cho vay, NHTM ngày nay còn cung cấp một danh mục dịch vụ khá đa dạng và phong phú: dịch vụ thanh toán, dịch vụ môi giới, bảo lãnh tư vấn bảo hiểm
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các loại dịch vụ ngân hàng cũng phát triển và mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng chưa bao giờ các dịch vụ tài chính ngân hàng lại phát triển như bây giờ, tỷ trọng thu nhập từ thu phí dịch vụ ở các ngân hàng hiện đại có thể chiếm tới 40-50% tổng thu nhập của ngân hàng Đồng thời việc phát triển các dịch vụ này cũng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn, tăng chu chuyển vốn trong nền kinh tế, làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông do đó tiết kiệm được chi phí in ấn kiểm đếm tiền
Ngày nay trong điều kiện cạnh tranh rất khốc liệt giữa các ngân hàng việc đưa ra các dịch vụ mới làm tăng tiện ích cho khách hàng là một yếu tố để cạnh tranh Chính vì vậy mà các Ngân hàng ngày nay rất tích cực đầu tư trang bị cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ tin học, khoa học kỹ thuật vào hoạt động của mình Nếu các NHTM có thể đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng về dịch vụ, tạo được uy tín với khách hàng thì đây cũng là một biện pháp, yếu tố để tăng khả năng huy động vốn
e) Chức năng khác
Ngoài các chức năng chủ yếu như trên, NHTM còn tham gia vào nhiều dịch
vụ khác: Tư vấn cho khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, dịch vụ
ủy thác, dịch vụ bảo quản an toàn các tài sản có giá, dịch vụ kinh doanh ngoại hối nhằm hỗ trợ và mở rộng hoạt động kinh doanh của NHTM trong thị trường tài chính
Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau Đồng thời, khi NHTM thực hiện tốt chức năng thủ quỹ và trung gian thanh toán góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở
Trang 23rộng quy mô hoạt động của ngân hàng
1.1.3 Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
a) Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng kinh doanh ngoại tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác Hoạt động vay - hoạt động tạo nguồn vốn cho Ngân hàng thương mại - đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của Ngân hàng thương mại Hoạt động huy động vốn là hoạt động thường xuyên của Ngân hàng thương mại Một Ngân hàng thương mại bất kì nào cũng bắt đầu hoạt động của mình bằng việc huy động nguồn vốn Đối tượng huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn tiền nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế, dân cư Nguồn vốn quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là tiền gửi của khách hàng Các Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức kinh tế xã hội, thậm chí cả nguồn tiền của các Ngân hàng khác
Khi những người có tiền chưa sử dụng đến họ có thể đem ra đầu tư hoặc gửi Ngân hàng để nhận tiền lãi Thông thường họ gửi tiền vào Ngân hàng, vì đây là cách đơn giản, ít tốn kém chi phí để tìm kiếm cơ hội đầu tư mà vẫn có lãi và đây là cách ít rủi ro nhất Ngoài ra người gửi tiền vào Ngân hàng cũng mong muốn được
sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng như chuyển tiền cho người thân ở nơi khác, thanh toán hộ các hoá đơn phát sinh, bảo quản các tài sản có giá trị lớn Khi gửi tiền vào Ngân hàng, người gửi tiền có thể vay Ngân hàng một khoản tiền mà không cần thế chấp vì họ đã có một số tiền gửi nhất định ở Ngân hàng, coi như một khoản đảm bảo Còn Ngân hàng có thể muốn tìm kiếm thêm thu nhập từ lệ phí nhận tiền gửi, tuy nhiên lý do chính Ngân hàng nhận tiền gửi để tạo nguồn cho vay, từ đó Ngân hàng có thể đầu tư, kinh doanh tìm kiếm được những khoản thu nhập lớn hơn
Hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng có ý nghĩa to lớn với người gửi tiền, nền kinh tế, cũng như bản thân Ngân hàng Thông qua hoạt động này mà Ngân hàng
có thể tập hợp được các khoản tiền nhàn rỗi, nhỏ bé, phân tán tạm thời chưa sử dụng với các thời hạn hết sức khác nhau thành nguồn tiền lớn tài trợ cho nền kinh
Trang 24tế, hoặc cho các cá nhân có nhu cầu sử dụng Điều khó khăn nhất mà Ngân hàng phải thực hiện là sử dụng các khoản tiền gửi có thời hạn rất khác nhau để cho vay những món có thời hạn xác định,vì thế mà Ngân hàng phải quản lí tốt thời hạn của các nguồn vốn của mình thì mới duy trì được hoạt động có hiệu quả, tránh được những rủi ro về khả năng thanh toán Việc tập hợp được những nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng để đưa vào kinh doanh đã góp phần tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nền kinh tế Ngoài ra hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng cũng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ Đặc biệt trong nền kinh tế phát triển nếu dân chúng có thói quen gửi tiền vào Ngân hàng để sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng thì điều này sẽ góp phần giúp chính phủ quản lí được thu nhập của người dân
Một trong những nguồn vốn không kém phần quan trọng, là nguồn vốn phát hành kì phiếu, trái phiếu Việc phát hành kì phiếu hay trái phiếu phụ thuộc vào quy
mô vốn cần huy động , thời gian huy động vốn, cơ cấu nợ và tài sản của Ngân hàng Các hoạt động huy động nguồn vốn hình thành nên tài sản nợ của Ngân hàng và Ngân hàng phải có trách nhiệm chi trả đối với tất cả các nguồn vốn huy động được theo yêu cầu của khách hàng Quy mô và cơ cấu nguồn vốn quyết định đến hoạt động của Ngân hàng
b) Hoạt động sử dụng vốn:
Khi đã huy động được vốn rồi, nắm trong tay một số tiền nhất định thì các Ngân hàng thương mại phải làm như thế nào để hiệu quả hoá những nguồn này, nghĩa là tìm cách để những khoản tiền đó được đầu tư đúng nơi, đúng chỗ, có hiệu quả, an toàn, đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng Và hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng bằng những cách sau: Ngân hàng tài trợ lại cho nền kinh tế dưới dạng các thành phần kinh tế vay hoặc Ngân hàng đầu tư trực tiếp, Ngân hàng tham gia góp vốn cùng kinh doanh hay cho thuê tài sản, Ngân hàng gửi tiền tại các Ngân hàng khác- tại Ngân hàng Nhà nước- những tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng đầu
tư trên thị trường chứng khoán, Ngân hàng nắm giữ chứng khoán vì chúng mang lại thu nhập cho Ngân hàng và có thể bán đi để ra tăng ngân quỹ khi cần thiết Những
Trang 25đối tượng tài trợ không chỉ có các tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động trong lĩnh vực thương mại mà còn có cả các cá nhân tiêu dùng, thậm chí Chính phủ cũng được Ngân hàng tài trợ dưới những hình thức: Ngân hàng thương mại mua tín phiếu kho bạc, trái phiếu của chính phủ trên thị trường tiền tệ Sự phát triển của hoạt động cho vay, đã giúp Ngân hàng có vị trí ngày càng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Hơn nữa thông qua hoạt động cho vay, Ngân hàng thương mại có khả năng
“tạo tiền” hay mở rộng lượng tiền cung ứng Tuy nhiên hoạt động cho vay của Ngân hàng chứa đựng nhiều yế tố rủi ro nên Ngân hàng thường áp dụng các nguyên tắc hoạt động và quản lý tiền vay một cách chặt chẽ
Lãi thu được từ hoạt động cho vay, Ngân hàng sẽ dùng nó để trả lãi suất cho nguồn vốn đã huy động và đi vay, thanh toán những chi phí trong hoạt động, phần còn lại sẽ là lợi nhuận của Ngân hàng Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của Ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận Kinh tế ngày càng phát triển, lượng cho vay của Ngân hàng thương mại ngày càng tăng nhanh và loại hình cho vay cũng trở nên vô cùng phong phú và đa dạng Tại hầu hết các nước công nghiệp trong nhóm những nước hàng đầu thế giới, cho vay của các Ngân hàng thương mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn Ngược lại, ở các nước đang phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát
từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn (trong đó có các tác nhân chủ yếu như tình hình tăng trưởng, lạm phát, )
So với hoạt động cho vay thì hoạt động đầu tư của Ngân hàng có quy mô và
tỷ trọng nhỏ hơn trong mục tài sản sinh lời của Ngân hàng thương mại Phải sang đến những năm đầu thế kỷ XIX các Ngân hàng thương mại mới quan tâm mở rộng hoạt động của mình sang lĩnh vực đầu tư vào các ngành công nghiệp Hoạt động đầu tư đem lại thu nhập cao hơn hoạt động cho vay nhưng rủi ro cao hơn do thu nhập từ hoạt động đầu tư không được xác định trước vì phải phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mà Ngân hàng đầu tư vào Ngoài ra thì trong hoạt động đầu tư Ngân hàng được lựa chọn doanh mục đầu tư có lợi nhất cho mình
Bên cạnh hoạt động cho vay và đầu tư, Ngân hàng có thể tham gia vào thị
Trang 26trường chứng khoán tùy quy định của từng quốc gia Ngân hàng thương mại có thể tham gia như một người cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán hay đóng vai trò là nhà đầu tư, mua bán chứng khoán vì mục tiêu kiếm lời cho chính Ngân hàng hoặc thực hiện kinh doanh chứng khoán thông qua uỷ thác của khách hàng
c) Ngân hàng thực hiện các dịch vụ trung gian
Ngoài hai hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn thì Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các dịch vụ trung gian cho khách hàng của mình Các dịch vụ này được coi là hoạt động trung gian bởi vì khi thực hiện các hoạt động này Ngân hàng không đứng vai trò là con nợ hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian để thoả mãn nhu cầu khách hàng về dịch vụ mà khách hàng cần
Ngày nay, các dịch vụ của Ngân hàng không ngừng phát triển cả về số lượng
và chất lượng, các dịch vụ ngày càng đa dạng Hoạt động trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ khác nhau: như dịch vụ thu hộ chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này đến tài khoản khác ở cùng một Ngân hàng hay ở hai Ngân hàng khác nhau; dịch vụ tư vấn cho khách hàng các vấn đề tài chính, dịch vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá, dịch vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, thực hiện nghiệp vụ trung gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho Ngân hàng những khoản thu nhập khá quan trọng Tại các nước phát triển, các Ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau bằng con đường “phi giá”, tức là luôn có những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng, không ngừng tìm tòi những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng Dịch vụ Ngân hàng càng phát triển, thể hiện xã hội càng văn minh, nền công nghiệp càng phát triển Lợi nhuận các Ngân hàng không chỉ ở nghiệp vụ cho vay,
mà phân nửa từ các hoạt động dịch vụ mang lại
Ba lĩnh vực hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay, thực hiện các dịch
vụ trung gian là các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Ba dịch vụ đó có
Trang 27quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển, tạo uy tín cho Ngân hàng Có huy động vốn thì mới có nghiệp vụ cho vay, cho vay có hiệu quả phát triển kinh tế thì mới có nguồn vốn để huy động vào, đồng thời muốn cho vay và huy động vốn tốt thì Ngân hàng phải làm tốt vai trò trung gian, chính sự kết hợp đồng
bộ đó tạo thành quy luật trong hoạt động của Ngân hàng và tạo thành xu hướng kinh doanh tổng hợp đa năng của các Ngân hàng thương mại
1.1.4 Tổng quan về tín dụng của Ngân hàng thương mại
Tín dụng ngân hàng (TDNH) là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức
mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay
Chủ thể tham gia trong quan hệ TDNH là ngân hàng, nhà nước, doanh nghiệp và hộ dân cư Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền, do đó,
nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phương đa chiều Đây chính
là ưu điểm nổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa TDNH với các loại hình tín dụng khác TDNH hoạt động dựa trên các hình thức, quy tắc, quy trình… như:
Ở Việt Nam hiện nay, theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, NHTM có thể có các hình thức cho vay sau:
* Cho vay từng lần
* Cho vay theo hạn mức tín dụng
* Cho vay theo dự án đầu tư
* Cho vay hợp vốn
* Cho vay trả góp
* Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
* Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ
Hoạt động cho vay của ngân hàng được thực hiện trên 3 nguyên tắc sau:
* Tiền cho vay phải được hoàn trả sau một thời gian nhất định cả vốn lẫn lãi
Trang 28* Vốn vay phải có giá trị tương đương làm đảm bảo
* Cho vay theo kế hoạch thoả thuận trước (vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích)
Trong quan hệ tín dụng, lãi suất là biểu hiện giá cả khoản tiền mà người cho vay đòi hỏi khi tạm thời trao quyền sử dụng một khoản vốn của mình cho người khác trong một thời gian nhất định Người đi vay coi lãi suất như một khoản chi phí phải trả cho nhu cầu sử dụng tạm thời vốn của người khác Nói một cách khác lãi suất tín dụng là giá cả của quyền sử dụng vốn vay Đối với hoạt động ngân hàng, lãi suất là một trong những biến số được theo dõi chặt chẽ nhất, nó không chỉ là công
cụ điều tiết vĩ mô mà còn là phương tiện giúp các ngân hàng cạnh tranh trong cơ chế thị trường Thông thường lãi suất của ngân hàng được hình thành trên cơ sở lãi suất thị trường nên luôn biến động
Đối với hệ thống các NHTM, hướng dẫn thực hiện quy chế cho vay của tổ chức tín dụng thường được quy định như sau:
- Mức lãi suất cho vay do ngân hàng cho vay và khách hàng thoả thuận phù hợp với qui định của NHNN và hướng dẫn của từng Ngân hàng về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng Ngân hàng cho vay công bố mức lãi suất cho vay cho khách hàng biết
- Lãi suất cho vay ưu đãi được áp dụng đối với các khách hàng được ưu đãi
về lãi suất do Ngân hàng thông báo, theo qui định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN
- Trường hợp khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn, phải áp dụng lãi suất nợ quá hạn theo mức qui định của Thống đốc NHNN tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng
Quy trình tín dụng là tập hợp các nội dung, kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, trình
tự các bước phải tiến hành từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một vòng quay của vốn tín dụng Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, đảm bảo hiệu quả tín dụng
Để phân loại hoạt động tín dụng ngân hàng thì có khá nhiều tiêu chí để phân loại Theo mỗi tiêu chí đánh giá, hoạt động tín dụng ngân hàng được chia ra các loại
Trang 29khác nhau:
+ Căn cứ vào thời hạn tín dụng, hoạt động tín dụng có thể chia thành các
hình thức là tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn
+ Căn cứ vào tài sản bảo đảm, hoạt động tín dụng có thể chia thành tín dụng
có tài sản bảo đảm và tín dụng không có tài sản bảo đảm
+ Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của hoạt động tín dụng, có thể chia ra tín dụng nội địa và tín dụng quốc tế
+ Căn cứ vào đối tác của ngân hàng trong hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng chia ra thành tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp, tín dụng cho khách hàng
cá nhân, tín dụng cho các loại hình chủ thể khác Và tín dụng NHTM đối với DNVVN là một loại hình tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp
1.2 Tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
a) Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thực tế trên thế giới, các nước có quan niệm rất khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là tiêu chí dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên trong hàng loạt các tiêu chí phân loại đó, có hai tiêu chí được sử dụng ở phần lớn các nước là quy mô vốn và số lượng lao động Việc lượng hoá các tiêu chí để phân loại quy mô doanh nghiệp còn tuỳ thuộc vào những yếu tố như:
+ Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và những quy định cụ thể phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn
+ Trong ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu chí cũng khác nhau
Điều này ta có thể thấy rõ thông qua số liệu ở bảng dưới đây:
Trang 30Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước và vùng lãnh thổ
Indonexia <100 <0.6 tỷ Rupi
Singapore <100 <499 triệu USD
Thái Lan <100 <200 Bath
Hàn Quốc <300 trong CN, XD <0.6 triệu USD
<200 trong TM&DV <0.25 triệu USD
Nguồn: Giải pháp phát triển DNVVN Việt Nam – NXB CTQG, trang 2
Tại Việt Nam tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ được thể hiện trong nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30-06-2009 của Chính Phủ Theo nghị định này, doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy
mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Trang 31Quy mô /
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông,
lâm nghiệp
và thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người III Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
Nghị định 56 cho phép xác định DNNVV theo 3 cấp: DN siêu nhỏ là DN có
số lao động từ 10 người trở xuống; DN nhỏ là DN có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc có số lao động từ trên 10 người đến 200 người (đối với DN hoạt động thương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định từ 10 tỷ đồng trở xuống hoặc có số lao động từ trên 10 người đến 50 người); DN vừa là DN
có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc có số lao động từ trên
200 người đến 300 người (đối với DN hoạt động thương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng hoặc có số lao động từ trên 50 người đến 100 người)
Tuy nhiên tại Nghị định 56 việc phân loại DNNVV theo tiêu chí “quy mô tổng nguồn vốn” sẽ có khó khăn trong xác định loại hình DN do quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán) của DN hay thay đổi Tổng nguồn vốn của DN bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng, phải trả người bán,…Trong khi vốn chủ sở hữu tương đối ổn định
Trang 32thì vốn vay ngân hàng và phải trả người bán lại thường xuyên biến động Vì vậy tổng nguồn vốn của DN cũng thường xuyên biến động Một DN được xếp vào loại
DN nhỏ nhưng ngày mai có thể đã trở thành DN vừa và ngược lại
b) Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tính chất hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến và dịch
vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn Trong đó cụ thể là:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư
Doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hoá, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ
Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với
tư cách là nhà sản xuất toàn bộ
Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế về tính linh hoạt Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Về nguồn lực vật chất
Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tôn chỉ và nguồn gốc hình thành doanh nghiệp Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính – tiền tệ, quá trình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhận thức về vấn đề này các quốc gia đang tích cựu hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể tham gia tốt hơn trong các tổ chức hỗ trợ để khắc phục sự hạn hẹp này
Trang 33Về năng lực quản lý điều hành
Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô các quản trị gia doanh nghiệp vừa và nhỏ thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh Thông thường họ được coi là nhà quản trị doanh nghiệp hơn là nhà quản lý chuyên sâu Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất thấp so với yêu cầu
Về vấn đề vốn đối với DNVVN
Vấn đề vốn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn là một vấn đề quan trọng cho sự tồn tại, phát triển của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ khởi đầu với nguồn vốn tự có là ít, mỗi doanh nghiệp cần bổ sung thêm vốn để thực hiện việc tích tụ, tập trung vốn nhằm duy trì hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh Có khá nhiều nguồn cung cấp vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, từ nguồn vốn của chủ doanh nghiệp, người thân, bạn bè chủ doanh nghiệp; nguồn vốn từ các quỹ đầu tư, từ các chương trình tài trợ vốn của Chính phủ đến nguồn vốn từ Ngân hàng hay là doanh nghiệp có thể thu hút vốn từ bất kỳ chủ thể nào trong xã hội đang
có nguồn vốn dư thừa Mỗi nguồn vốn sẽ có các cách tiếp cận khác nhau và khả năng được sử dụng nguồn vốn đối với từng doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là khác nhau Trong các nguồn vốn này thì nguồn vốn từ các NHTM có lẽ là nguồn vốn quen thuộc nhất của doanh nghiệp vừa và nhỏ Với những chính sách, chương trình
ưu đãi vốn của NHTM, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đang có khá nhiều sự lựa chọn từ nguồn vốn của NHTM
Trang 341.2.2 Tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một tất yếu khách quan và cũng như các loại hình doanh nghiệp khác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp này cũng sử dụng vốn tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như để tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn của mình Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò rất quan trọng, nó chẳng những thúc đẩy sự phát triển khu vực kinh tế này mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng, đổi mới chính sách tiền tệ hoàn thiện các cơ chế chính sách về tín dụng, thanh toán ngoại hối… Để thấy được vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, ta xét một số vai trò sau:
+ Tín dụng ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ được liên tục Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn cần phải cải tiến kỹ thuật thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tại đứng vững và phát triển trong cạnh tranh Trên thực tế không một doanh nghiệp nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng của ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh Từ đó góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh được liên tục
+ Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải
có phương án sản xuất khả thi Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo
tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh
có lãi Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau
Trang 35khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả
+ Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào chỉ dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp và nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất
+ Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh Đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do có một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài là một vấn đề khó khăn Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và
mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được Và khi đó cơ hội đầu
tư phát triển không còn nữa Như vậy có thể đáp ứng kịp thời, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng Chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệp thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh
Như đã phân tích ở trên thì tín dụng DNVVN là một loại hình tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ So với các DN lớn thì DNVVN vẫn có những khó khăn hơn khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng Điều này là do các khác biệt về đặc điểm của DNVVN và DN lớn, ví như nguồn vốn tự có của DNVVN thấp hơn nhiều so với DN lớn, tương ứng thì lượng tài sản của DNVVN là ít hơn,
Trang 36dẫn đến khả năng đáp ứng điều kiện về tài sản đảm bảo cho từng khoản tín dụng tại NHTM của DNVVN là khó hơn DN lớn; việc thành lập DNVVN là dễ hơn so với
DN lớn, phần lớn DNVVN đều có mô hình tổ chức không quá phức tạp và có khi là quá đơn giản, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ chuyên môn, khả năng lãnh đạo của các chủ DNVVN thường thấp hơn DN lớn; điều này làm DNVVN mất điểm trong mắt các NHTM khi tính toán về các nguồn lực của DN tham gia vào kinh doanh Vì vậy tín dụng DNVVN tại các NHTM thường có một số đặc điểm khác biệt với tín dụng cho DN lớn như DNVVN thường vay vốn ngắn hạn cho mục đích
bổ sung vốn lưu động tham gia vào kinh doanh, hạn mức tín dụng DNVVN thường
ở mức thấp và DNVVN sử dụng ít sản phẩm tín dụng hơn các doanh nghiệp lớn (do khả năng tài chính của DNVVN về tài sản bảo đảm, năng lực quản lí doanh nghiệp, tính minh bạch thông tin đều kém hơn doanh nghiệp lớn) Từ đó ta thấy rằng hiệu quả tín dụng của DNVVN thường kém hơn doanh nghiệp lớn và rủi ro thì cao hơn doanh nghiệp lớn
1.2.3 Chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
Chất lượng dịch vụ là một yếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của bất cứ một ngân hàng thương mại nào Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng
đã được thực hiện từ nhiều năm nay và mang lại sự phát triển cả về lý thuyết lẫn thực tiễn, đặc biêt là việc phát triển và kiểm định thang đo chất lượng dịch vụ trong ngành ngân hàng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Trong chất lượng dịch vụ thì chất lượng tín dụng hay cụ thể đối với chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại là một vấn đề được rất nhiều đối tượng quan tâm, từ khách hàng, ngân hàng đến các chủ thể khác của nền kinh tế chịu ảnh hưởng tác động của nó
1.2.3.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hoạt động tín dụng của ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái của nền kinh tế Bởi vì ngân hàng giống như một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, đó là một lĩnh vực rất
Trang 37nhạy cảm và rủi ro rất cao Trong các nghiệp vụ của ngân hàng thì có lẽ tín dụng là một nghiệp mang lại phần lớn doanh lợi cho ngân hàng nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro nhất Ngay cả khi khoản vay có tài sản thế chấp, cầm cố thì rủi ro vẫn xảy ra với tỷ lệ cao khoảng 50%(theo uỷ ban Bale quốc tế) Sẽ là sai lầm nếu quan niệm cho vay có tài cầm cố thế chấp, nhưng không quá tỷ lệ quy định là an toàn nhất, trong khi đó kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng mới là quan trọng nhất đảm bảo khả năng trả nợ của khách hàng
Chất lượng tín dụng được nhìn nhận từ các giác độ:
Chất lượng tín dụng được xét dưới giác độ doanh nghiệp: Do nhu cầu vốn
vay được đáp ứng để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh bù đắp được chi phí sản xuất, trả nợ ngân hàng và có lãi nên chất lượng tín dụng ngân hàng đứng trên góc độ doanh nghiệp chỉ đơn giản là thoả mãn nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và làm cho đồng vốn sử dụng có hiệu quả
Xét dưới giác độ ngân hàng: Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức
độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng và đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi Khi cho vay ngân hàng phải thực hiện theo pháp lệnh ngân hàng và các văn bản chế độ hiện hành của nghành Xác định đối tượng cho vay và them định kỹ khách hàng trước khi cho vay, nắm bắt thông tin và hiểu được tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính và mục đích sử dụng vốn vay, cơ sở hoàn trả vốn vay để đảm bảo món vay được hoàn trả cả gốc và lãi đúng kỳ hạn, hạn chế mức thấp nhất khả năng rủi ro có thể xảy ra, đây là nguyên tắc
cơ bản nhất đối với ngân hàng
Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế -xã hội: Tín dụng ngân hàng
trong những năm gần đây phản ánh rỏ rệt sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang nền kinh tế thị trường Tín dụng ngân hàng phải huy động mức tối đa vốn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội để cung ứng cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển Tín dụng đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ làm tăng thêm sản phẩm cho xã hội, tạo thêm việc làm
Trang 38cho người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác mọi khả năng tiềm tàng, tích tụ vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vốn vay nước ngoài có lợi cho kinh
tế phát triển
Chất lượng tín dụng thể hiện ở tính an toàn cao của hệ thống ngân hàng Tín dụng ngân hàng đảm bảo được chất lượng thì khả năng thanh toán chi trả cao, tránh được rủi ro hệ thống Nâng cao chất lượng tín dụng làm cho hệ thống ngân hàng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hoà nhập với thế giới
Qua đó ta có thể rút ra rằng:
Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể(thể hiện qua các chỉ tiêu tính toán được), vừa trìu tượng(thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế ) Chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan(khả năng quản lý, trình độ cán bộ, sự tuân thủ quy trình nghiệp vụ )và khách quan(sự thay đổi của môi trường kinh tế, do chủ quan của khách hàng )
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức cạnh tranh của một ngân hàng trong môi trường hoạt động
Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố như: Thu hút được nhiều khách hàng tốt, cho vay được nhiều, thủ tục đơn giản, mức độ an toàn của vốn tín dụng
Chất lượng tín dụng không phải tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy trình kết hợp giữa các con người trong một tổ chức; giữa các tổ chức với nhau vì một mục đích chung: An toàn, hiệu quả và khả năng cạnh tranh với các khoản tín dụng
Như vậy, chất lượng tín được hình thành và bảo đảm từ hai phía là ngân hàng
và yếu tố bên ngoài Để tránh rủi ro và thu được lợi nhuận trong hoạt động tín dụng, không có cách nào khác là ngân hàng phải nâng cao chất lượng tín dụng của mình
Trang 391.2.3.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ từ
phía ngân hàng
Khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng, để quyết định bỏ vốn tài trợ vào một dự án nào đó, ngân hàng phải tiến hành đánh giá khả năng trả nợ gốc và lãi của doanh nghiệp Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro bởi khả năng trả nợ của doanh nghiệp, đặc biệt là DNVVN luôn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà ngân hàng cũng như doanh nghiệp không thể lường trước được Việc không trả được nợ của doanh nghiệp sẽ kéo theo hậu quả nghiêm trọng là ngân hàng không trả được lãi, phí của nguồn vốn mà ngân hàng huy động vào Ngân hàng đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán và có thể dẫn đến phá sản
Chính vì vậy trước khi quyết định cấp tín dụng, ngân hàng cần tiến hành thẩm định thật kỹ doanh nghiệp để đánh giá đúng khả năng trả nợ của doanh nghiệp, từ đó mới đưa ra quyết định cấp tín dụng cho doanh nghiệp
Hiệu quả xã hội của khoản vay
Một trong những yếu tố đánh giá chất lượng tín dụng là hiệu quả xã hội mà
nó đem lại Hoạt động tín dụng không nên chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận mà còn phải đảm bảo hiệu quả xã hội Có nghĩa là hoạt động tín dụng phải phục vụ sản xuất
và lưu thông theo đúng đường lối kinh tế của Đảng và Nhà nước, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, hạn chế tệ nạn xã hội, khai thác có hiệu quả nguồn lực của quốc gia như: tài nguyên, con người, vốn, khoa học công nghệ thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ tập trung vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng tín dụng và ổn định kinh tế xã hội
1.2.3.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ
a) Các chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ từ phía Ngân hàng
+ Các chỉ tiêu định lượng
- Chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu: Nợ quá hạn là những khoản cho vay đến hạn
Trang 40mà khách hàng không trả được số tiền trong hợp đồng tín dụng và tiền lãi của số tiền đó và không được ngân hàng gia hạn Số tiền này ngân hàng chuyển thành nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn đối với những khoản nợ này (cao hơn lãi suất thông thường) Nợ quá hạn chia thành các nhóm nợ từ 2,3,4 đến 5 Các nhóm nợ từ
3 đến 5 được gọi là nợ xấu Đây là những khoản nợ có độ rủi ro cao và ngân hàng
có khả năng mất vốn Để đánh giá chất lượng tín dụng trên cơ sở nợ quá hạn, nợ xấu, người ta thường thông qua tỷ lệ sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tỷ lệ nợ xấu =
Chỉ tiêu này càng nhỏ thì chất lượng tín dụng càng cao Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng là tất nhiên Do đó nợ quá hạn của ngân hàng là tất yếu Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn, sinh lời và tăng khả năng cạnh tranh, ngân hàng phải cố gắng giảm thiểu tỷ lệ nợ quá hạn Chỉ tiêu trên rất quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng
có ý nghĩa kinh tế Xoá nợ đơn giản là một phương pháp quản lý tài chính của ngân hàng chứ không phải là sự thừa nhận về mặt pháp lý rằng người vay không còn nợ ngân hàng nữa