Em cũng xin bày tỏ sự biết ơn đối với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Công ty cổ phần Quản lý công trình đô thị Bắc Giang, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em có thể trực tiếp thực đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGÔ QUANG SƠN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGÔ QUANG SƠN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: CB150681
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Trần Thị Bích Ngọc
Các số liệu trong luận văn được thu thập và sử dụng một cách trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép bất cứ công trình nghiên cứu nào Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Bắc Giang, tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Ngô Quang Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện quản lý hệ thống điện chiếu sáng trên địa bàn thành phố Bắc Giang”, Em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, cán bộ Khoa Sau Đại học, giảng viên, cán bộ các phòng, ban chức năng Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Em xin bày
tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Bích Ngọc đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Em cũng xin bày tỏ sự biết ơn đối với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Công ty cổ phần Quản lý công trình đô thị Bắc Giang, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em có thể trực tiếp thực địa, nghiên cứu sâu về hệ thống điện chiếu sáng trên địa bàn thành phố Bắc Giang, cảm ơn các bạn đồng nghiệp công tác tại Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Giang, Đội quản lý và vận hành điện chiếu sáng Công ty cổ phần Quản lý công trình đô thị Bắc Giang đã cung cấp số liệu, tài liệu cho tôi trong quá trình xây dựng luận văn
Tuy nhiên, với kiến thức, kinh nghiệm và khả năng phân tích, đánh giá còn có nhiều hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được những đóng góp quý báu của Quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ VẬN HÀNH HỆ THỐNG ĐIỆN CHIẾU SÁNG 4
1.1 Khái niệm về hệ thống chiếu sáng đô thị 4
1.1.1 Lịch sử ra đời chiếu sáng đô thị 4
1.1.2 Khái niệm 5
1.2 Nội dung và các yêu cầu về quản lý hệ thống chiếu sáng đô thị 9
1.3 Một số tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý vận hành hệ thống điện chiếu sáng đô thị 11
1.3.1 Mức độ phục vụ nhu cầu chiếu sáng công cộng 12
1.3.2 Mức độ đáp ứng các quy định, tiêu chuẩn đặt ra 12
1.3.3 Mức độ tiết kiệm năng lượng điện 14
1.3.4 Mức hoàn thành các quy định về quản lý 15
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý hệ thống chiếu sáng đô thị 15
1.4.1 Nhân tố bên trong 15
1.4.1.1 Ảnh hưởng của hệ thống cơ sở vật chất 15
1.4.1.2 Ảnh hưởng của đội ngũ lao động trực tiếp 16
1.4.2 Nhân tố bên ngoài 16
1.4.2.1 Ảnh hưởng của phát triển kinh tế - xã hội 16
1.4.2.2 Ảnh hưởng tầm nhìn của người lãnh đạo 16
1.4.2.3 Ảnh hưởng của ngân sách địa phương cho chiếu sáng đô thị 17
1.4.2.4 Ảnh hưởng của yếu tố khác 18
1.5 Kinh nghiệm về quản lý hệ thống chiếu sáng đô thị trong nước và thế giới 18
1.5.1 Kinh nghiệm thế giới 18
1.5.1.1 Nhật Bản 18
1.5.1.2 Pháp 20
1.5.2 Kinh nghiệm một số địa phương trong nước 21
1.5.2.1 Hà Nội 21
1.5.2.2 Đà Nẵng 22
Trang 6Tóm tắt chương 1 24
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH HỆ THỐNG ĐIỆN CHIẾU SÁNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC GIANG 25
2.1 Vài nét khái quát về thành phố Bắc Giang – Tỉnh Bắc Giang 25
2.1.1 Vị trí địa lý – đặc điểm tự nhiên 25
2.1.2 Đặc điểm hành chính – kinh tế, xã hội 29
2.1.3 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Bắc Giang đến năm 2020 – tầm nhìn đến năm 2030 33
2.2 Tổng quan về Công ty Cổ phần QLCT đô thị Bắc Giang 35
2.2.1 Lịch sử hình thành 35
2.2.2 Quá trình xây dựng và phát triển 35
2.2.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 37
2.3 Phân tích thực trạng quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng đô thị trên địa bàn TP Bắc Giang 37
2.3.1 Thực trạng hệ thống chiếu sáng 37
2.3.1.1 Tổng quan 37
2.3.1.2 Hiện trạng thiết bị chiếu sáng trên một số tuyến đường chính 38
2.3.1.3 Hiện trạng thiết bị chiếu sáng khu vực quảng trường, công viên, khuôn viên 42
2.3.1.4 Hiện trạng thiết bị chiếu sáng ngõ xóm trên một số phường xã 43
2.3.2 Thực trạng công tác lập kế hoạch quản lý vận hành hệ thống chiếu sáng 45
2.3.2.1 Quy định về quản lý vận hành điện chiếu sáng thành phố Bắc Giang 46
2.3.2.2 Phân tích thực trạng thay thế vật tư, thiết bị duy trì hệ thống chiếu sáng công cộng 48
2.3.2.3 Phân tích công tác tiếp nhận bàn giao các công trình chiếu sáng công cộng 49
2.3.3 Phân tích công tác quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng thành phố Bắc Giang 50
2.3.3.1 Phân tích công tác quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng trên địa bàn thành phố Bắc Giang từ quan điểm của người dân 51
2.3.3.2 Đánh giá mức độ đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định 55
2.3.3.3 Đánh giá mức độ tiết kiệm năng lượng 56
2.3.3.4 Đánh giá mức độ hoàn thành các quy định về quản lý 57
2.4 Phân tích các nhân tố bên trong ảnh hưởng tới quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng đô thị TP Bắc Giang 59
Trang 72.4.1 Ảnh hưởng của hệ thống cơ sở vật chất 59
2.4.2 Ảnh hưởng của đội ngũ lao động trực tiếp 60
2.5 Phân tích các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng đô thị TP Bắc Giang 62
2.5.1 Ảnh hưởng của phát triển kinh tế - xã hội 62
2.5.2 Ảnh hưởng tầm nhìn của người lãnh đạo 62
2.5.3 Ảnh hưởng của ngân sách địa phương cho chiếu sáng đô thị 63
2.5.4 Ảnh hưởng của yếu tố khác 64
Kết luận chương 2 66
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH HỆ THỐNG ĐIỆN CHIẾU SÁNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC GIANG 68
3.1 Mục tiêu phát triển của hệ thống điện chiếu sáng trên địa bàn thành phố Bắc Giang 68
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý vận hành hệ thống điện chiếu sáng trên địa bàn thành phố Bắc Giang 69
3.2.1 Lập kế hoạch phát triển hệ thống chiếu sáng công cộng trên địa bàn thành phố Bắc Giang đến năm 2020 69
3.2.2 Giải pháp về phát triển hạ tầng chiếu sáng đô thị 71
3.2.2.1 Giải pháp về đổi mới công nghệ, tiết kiệm điện năng 71
3.2.2.2 Giải pháp về tự động hóa công tác quản lý, vận hành hệ thống điện chiếu sáng công cộng 73
3.2.2.3 Giải pháp về tài chính trong phát triển hạ tầng chiếu sáng đô thị 74
3.2.3 Giải pháp về đội ngũ lao động trực tiếp trong chiếu sáng đô thị 76
3.2.4 Giải pháp về chế độ vận hành, bảo trì 77
3.2.5 Giải pháp về công tác kiểm soát chiếu sáng đô thị 78
3.3 Các kiến nghị đối với Nhà nước và Công ty cổ phần Quản lý công trình đô thị Bắc Giang 80
3.3.1 Với nhà nước 80
3.3.2 Kiến nghị với Công ty cổ phần quản lý công trình đô thị Bắc Giang 81
Tóm tắt chương 3 82
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 1: Quy trình quản lý chất lượng công trình 85
PHỤ LỤC 2: Phiếu khảo sát 86
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Yêu cầu chiếu sáng các loại đường giao thông 12
Bảng 1.2: Trị số độ chói trung bình quy định theo lưu lượng xe 13
Bảng 2.1: Danh mục đơn vị hành chính thành phố Bắc Giang năm 2016 30
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 37
Bảng 2.3: Tổng hợp số lần gặp sự cố của hệ thống chiếu sáng 48
Bảng 2.4: Tổng hợp chi phí sửa chữa thay thế vật tư 49
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp đánh giá của người dân về chiếu sáng đường phố 51
Bảng 2.6 Bảng tổng hợp đánh giá của người dân về chiếu sáng ngõ xóm 53
Bảng 2.7 Bảng tổng hợp đánh giá của người dân về chiếu sáng quảng trường, công viên, khuôn viên 54
Bảng 2.8: Tổng hợp chi phí tiền điện 56
Bảng 2.9 Tổng hợp chi phí lương công nhân 58
Bảng 2.10 Số lượng, cơ cấu lao động theo giới tính 60
Bảng 2.11 Cơ cấu lao động theo độ tuổi 61
Bảng 2.12: Cơ cấu lao động theo trình độ 61
Bảng 2.13 Ngân sách thành phố cấp cho chiếu sáng đô thị 63
Bảng 2.14 Bảng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý vận hành hệ thống chiếu sáng đô thị 65
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1: Vị trí của tỉnh Bắc Giang trong vùng Đông Bắc 25
Hình 2.2: Vị trí của thành phố Bắc Giang trong tỉnh Bắc Giang 26
Hình 2.3: Sơ đồ bộ máy của công ty năm 2016 36
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề tài
Với tốc độ phát triển kinh tế hiện nay, đời sống ngày càng hướng đến văn minh, hiện đại thì nhu cầu chiếu sáng cho mục đích chiếu sáng công cộng, sản xuất công nghiệp và chiếu sáng thẩm mỹ ngoài trời đã là một nhu cầu thiết thực
Chiếu sáng đô thị không chỉ đảm bảo an ninh, an toàn giao thông mà còn góp phần cải thiện hướng tới giá trị thẩm mỹ đô thị, làm thay đổi sâu sắc hình ảnh của
đô thị Chất lượng tiện nghi đô thị được nâng cao cũng nhờ một phần ở chiếu sáng
đô thị Tuy nhiên, công tác quản lý hệ thống chiếu sáng công cộng hiện nay còn nhiều bất cập và đang tiêu tốn một lượng không nhỏ điện năng Việc nâng cao công tác quản lý vận hành để phát huy hiệu quả cao nhất, cải thiện và giảm thiểu chi phí cho hệ thống chiếu sáng công cộng đang là vấn đề bức thiết khi ngân sách thành phố còn hạn hẹp và đặc biệt là trong tình hình thiếu hụt điện chung ở nước ta Thành phố Bắc Giang hiện là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bắc Giang và phấn đấu tiệm cận tiêu chí đô thị loại I sau năm 2020 Do vậy việc đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng kỹ thuật được ưu tiên hàng đầu Đặc biệt, những năm gần đây, hệ thống chiếu sáng đường phố, trang trí mỹ thuật bằng đèn LED của thành phố được quan tâm đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, hệ thống điện chiếu sáng, điện trang trí trên địa bàn của thành phố vẫn còn nhiều bất cập do nhiều đơn
vị tư vấn thiết kế, sử dụng nhiều chất liệu khác nhau, đầu tư nâng cấp dàn trải nhiều giai đoạn, … công tác quản lý vận hành chưa hiệu quả dẫn đến tổn thất điện năng đáng kể Với nguyện vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý vận hành điện chiếu sáng đô thị, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện quản lý hệ thống điện chiếu sáng trên địa bàn thành phố Bắc Giang”
2 Tổng quan nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tìm hiểu, cập nhật những thông tin, tài liệu có liên quan tới quản lý nói chung và quản lý chiếu sáng đô thị nói riêng, cụ thể:
Đặng Văn Đào, Lê Văn Doanh, Kỹ thuật chiếu sáng - chiếu sáng tiện nghi và hiệu quả năng lượng, NXB KHKT, 2008
Việt Hà, Nguyễn Ngọc Giả, Quang học kiến trúc - Chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo, NXB xây dựng, 2007
Lê Nguyên Long, Nguyễn Khắc Mão, Vật lí – công nghệ - đời sống, NXB Giáo dục, 2003
Trần Bách, Lưới điện và hệ thống điện, Tập 1,2,3, NXB KHKT, 2000
Trang 11Nghị định 79/2009/NĐ-CP ngày 28/9/2009 về quản lý chiếu sáng đô thị Nghị định nêu các nguyên tắc, chính sách phát triển chiếu sáng đô thị, yêu cầu thiết kế, xây dựng, duy trì chiếu sáng đô thị; các tiêu chuẩn, quy chuẩn về kỹ thuật chiếu sáng đô thị
Quyết định 1874/QĐ-TTg ngày 11/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng chiếu sáng đô thị Việt Nam đến năm 2025 về phê duyệt định hướng phát triển chiếu sáng đô thị Việt Nam đến năm 2025, trong đó có đề cập đến quan điểm, mục tiêu của chiếu sáng đô thị đến năm 2025 và các giải pháp thực hiện
Quyết định 139/QĐ-UBND ngày 24/3/2014 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị tỉnh Bắc Giang đến năm 2030
TCXDVN259 :2001: Tiêu chuẩn thiết kế chiếu sáng nhân tạo đường, đường phố, quảng trường đô thị
TCXDVN333 :2005: Tiêu chuẩn thiết kế chiếu sáng nhân tạo bên ngoài các công trình công cộng và kỹ thuật hạ tầng đô thị
TCVN 4400 :1887 : Kỹ thuật chiếu sáng - thuật ngữ và định nghĩa
TCVN 5828 :1994 : Đèn chiếu sáng đường phố - Yêu cầu kỹ thuật
Cao Đăng Long, Phân tích và đề suất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Bách khoa
Hà Nội Luận văn trình bày thực trạng công tác quản lý, vận hành lưới điện phân phối và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý vận hành lưới điện trên địa bàn thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xây dựng các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hệ thống điện chiếu sáng trên địa bàn thành phố Bắc Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý vận hành hệ thống điện chiếu sáng
trên địa bàn thành phố Bắc Giang
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu Công tác quản lý vận hành hệ thống điện chiếu sáng trên địa bàn thành phố Bắc Giang
Về mặt không gian: Nghiên cứu tại thành phố Bắc Giang
Về mặt thời gian: Số liệu được thu thập, xử lý, phân tích trong giai đoạn 2014 -
2016
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp điều tra thống kê: phỏng vấn, thu thập thông qua các tài liệu, báo cáo thống kê…
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp phân tích
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc quản lý vận hành hệ thống điện chiếu sáng
Chương 2: Phân tích thực trạng công tác quản lý vận hành hệ thống điện chiếu sáng
trên địa bàn thành phố Bắc Giang
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành hệ thống điện
chiếu sáng trên địa bàn thành phố Bắc Giang
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ VẬN HÀNH
HỆ THỐNG ĐIỆN CHIẾU SÁNG
1.1 Khái niệm về hệ thống chiếu sáng đô thị
1.1.1 Lịch sử ra đời chiếu sáng đô thị
Từ thời kỳ sơ khai con người đã biết tạo ra ánh sáng từ lửa Tuy nhiên, lúc đó con người dùng lửa với tư cách là nguồn nhiệt chứ không phải là nguồn sáng Trải qua một thời kỳ dài của lịch sử, con người mới phát minh ra loại đèn thắp sáng bằng chất khí Sau khi nhà hoá học người Áo K.Auer phát minh ra đèn măng sông chế tạo bằng chất chịu được nhiệt độ cực cao đã cho ánh sáng trắng khi đốt cháy trong ngọn lửa chất khí thì đèn măng sông trở nên phổ biến khắp các thành phố lớn trên thế giới, đến nỗi tưởng như không thể còn loại đèn nào có thể thay thế được
Tuy nhiên cuối thế kỷ 19 người ta bắt đầu nhận thấy ưu điểm khi thắp sáng bằng điện Cho đến nay người ta vẫn chưa biết chính xác ai là người chế tạo ra chiếc đèn điện đầu tiên Tuy nhiên, để đi đến chiếc bóng đèn hoàn thiện như ngày nay chắc chắn phải có sự cống hiến của nhiều nhà khoa học, trong đó người có công lớn nhất và là người đã đăng ký bản quyền phát minh đầu tiên về bóng đèn dây tóc vào năm 1878 là Thomas Edison - một nhà phát minh nổi tiếng của Mỹ Để ghi nhận công lao và sự nỗ lực của ông trong việc đem ánh sáng đến cho nhân loại mà ngày nay người ta đã tưởng nhớ ông như là cha đẻ của mọi loại bóng đèn điện dùng sợi đốt
Đêm 24/12/1879 Edison mời hàng trăm người thuộc đủ mọi thành phần trong
xã hội ở thành phố New York tới dự bữa tiệc tại nhà ông nhằm quảng cáo sản phẩm đèn điện do ông chế tạo lần đầu tiên Tại bữa tiệc này ông cho thắp sáng hàng loạt bóng đèn ở tất cả khu nhà ở, xưởng máy, phòng thí nghiệm và sân vườn Kết quả bữa tiệc đã giúp ông nhận được sự tài trợ của chính quyền cho đề án thắp sáng thành phố Cuối cùng, đến 5h sáng ngày 04/9/1882 hàng trăm ngọn đèn trên các phố đồng loạt bật sáng làm cả một góc thành phố NewYork tràn ngập ánh sáng điện, đánh dấu thời khắc lịch sử ánh sáng điện chinh phục bóng đêm Đây có thể được xem là thời điểm ra đời của ngành chiếu sáng đô thị
Tại Việt Nam trước đây, chiếu sáng đô thị được xây dựng trên cơ sở lưới đèn chiếu sáng công cộng được xây dựng từ thời Pháp thuộc, chủ yếu dùng bóng đèn sợi tóc Đến năm 1975, những ngọn đèn cao áp đầu tiên được lắp đặt tại khu vực quảng trường Ba Đình và lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngoài chiếu sáng đường phố, các
Trang 14loại chiếu sáng khác của đô thị như chiếu sáng công viên, vườn hoa, chiếu sáng cảnh quan các công trình kiến trúc văn hoá, lịch sử, thể thao, chiếu sáng tượng đài hầu như chưa có gì
Hội nghị chiếu sáng đô thị lần thứ nhất (4/1992) là một mốc khởi đầu cho sự phát triển của ngành chiếu sáng đô thị Việt Nam Thực trạng chiếu sáng đô thị lúc bấy giờ vẫn còn rất kém, lạc hậu so với các đô thị trong khu vực Sau Hội nghị chiếu sáng đô thị toàn quốc lần thứ hai (12/1995) tổ chức tại Đà Nẵng, cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, lĩnh vực chiếu sáng đô thị ở nước ta đã thực sự hình thành và phát triển Hiện nay chúng ta đã có Hội chiếu sáng đô thị Việt nam
1.1.2 Khái niệm
Trước hết bắt đầu từ khái niệm chung nhất: Quản lý là gì ?
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:
- Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "
- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh
và kiểm soát ấy”
- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"
- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"
- Peter F Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công"
Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống nhau Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn nhưng chưa đầy
đủ Chúng chỉ chú trọng đến quản lý như là một hiện tượng chứ chưa làm bộc lộ rõ bản chất của nó Như chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là
Trang 15của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: vì cái gì?
Thực ra câu trả lời rất đơn giản: quản lý là một quá trình nhằm đi tới đạt được các mục tiêu ( cá nhân, tổ chức) đã đề ra Đối với doanh nghiệp nói riêng, các mục tiêu rất nhiều: đó là tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, nâng cao mức thu nhập cho người lao động
Thế nào là quản lý vận hành hệ thống chiếu sáng đô thị Đây là quan niệm liên quan đến quản lý quá trình vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng Đối tượng bị quản lý là hệ thống chiếu sáng công cộng bao gồm các đường dây, trạm điều khiển, thiết bị đóng cắt, thiết bị đo lường, cột, đèn …, còn chủ thể quản lý là công ty cổ phần Quản lý công trình đô thị Bắc Giang
Theo điều 2, Nghị định 79/2009/NĐ-CP ngày 28/9/2009 các khái niệm liên quan chiếu sáng đô thị được hiểu như sau:
- Hoạt động chiếu sáng đô thị bao gồm quy hoạch, đầu tư
phát triển và tổ chức chiếu sáng đô thị; quản lý và vận hành
hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị
- Chiếu sáng đô thị bao gồm chiếu sáng các công trình giao
thông; chiếu sáng không gian công cộng; chiếu sáng mặt
ngoài công trình; chiếu sáng quảng cáo, trang trí và chiếu sáng
khu vực phục vụ lễ hội; chiếu sáng trong khuôn viên công
trình do các tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý và sử dụng
- Quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị là
những hoạt động về đầu tư, nâng cấp, cải tạo, duy trì, bảo
dưỡng, phát triển hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị
- Hệ thống điều khiển chiếu sáng trung tâm bao gồm trung
tâm điều khiển hệ thống chiếu sáng, mạng lưới thông tin tín
hiệu của hệ thống chiếu sáng, các tủ khu vực và các tủ điều
khiển chiếu sáng
- Quản lý vận hành trạm là quá trình thực hiện các công việc
kiểm tra, vận hành, quản lý một trạm đèn công cộng
- Đơn vị trực tiếp quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công
cộng đô thị là đơn vị có đủ điều kiện và năng lực được UBND
thành phố đặt hàng, giao thầu, trúng thầu
Trang 16Chiếu sáng đường đô thị, nút giao thông và quảng trường nhằm đảm bảo an toàn giao thông vào ban đêm, làm tăng vẻ đẹp của đường phố, quảng trường, nút giao thông, nhất là vào những dịp lễ tết Hệ thống chiếu sáng cần đảm bảo cho mặt đường, hè phố có độ sáng đều và đủ Để đánh giá độ sáng thường dùng khái niệm
độ rọi (E) tức là lượng quang thông trên một đơn vị diện tích
E = F/S, lux (lx)
Trong đó: E – độ rọi, lux (lx); F – lượng quang thông (lm – lumen) là cường
độ quang năng tác dụng đối với thị giác; S – diện tích được chiếu tới (m2
)
Căn cứ vào quan trắc thực tế, khi độ rọi trên đường không lớn (E < 0,5lx), thì khả năng cảm thụ bằng thị giác rất thấp, nhìn không rõ được sự vật Khi E = 2 –3 lx, thì bắt đầu nhìn rõ hơn, tốc độ phân biệt sự vật cũng nhanh hơn Khi E = 8 – 10 lx, thì tốc độ sự vật hầu như không thay đổi, nhìn rõ sự vật Khi thiết kế chiếu sáng, độ rọi không được nhỏ quá và không nên lớn quá (lớn quá không cần thiết) Độ rọi được chọn dựa trên tính chất đô thị, cấp đường và lưu lượng giao thông Độ rọi ở nút giao thông, quảng trường, yêu cầu thường cao hơn so với độ rọi trên đường
Độ chói – là cảm nhận về độ sáng mà người quan sát có được tại khu vực được chiếu sáng Độ chói thường có ý nghĩa hơn độ rọi khi xem xét chất lượng chiếu sáng
Độ chói có đơn vị (cd/ m2
) candela/m2 Tài sản của hệ thống chiếu sáng gồm nguồn sáng, thiết bị chiếu sáng, đường dây, cột điện, tủ điện, hệ thống điều khiển và các thiết bị điện khác bao gồm:
- Bộ phận quang học (bóng đèn, bộ đèn, quang thông,…)
- Cần đèn dùng để lắp đèn, thường chế tạo từ thép ống D60 và được uốn cong với bán kính thích hợp Khi thiết kế người ta tính toán rất kỹ độ vươn cần đèn, góc nghiêng cần đèn vì các thông số này ảnh hưởng rất lớn đến thông số quang học của
hệ thống chiếu sáng
- Xà kẹp cần đèn : thường bằng thép L, dùng để kẹp cần đèn vào cột
- Cột: Đối với tuyến đường quan trọng mà các công trình hạ tầng kỹ thuật đều
đi ngầm thì người ta lắp các loại cột đèn bằng thép dạng bát giác côn hoặc tròn côn,
có mạ kẽm để chống rỉ Cột thép có kích thước gọn, nhẹ, dễ lắp đặt, đảm bảo mỹ quan nhưng giá thành đắt Các tuyến đường không quan trọng, cho phép dây điện đi nổi thì người ta thường dùng cột bê tông ly tâm để kết hợp vừa lắp đặt hệ thống chiếu sáng vừa lắp chung với hệ thống cấp điện cho dân cư, do đó phương án này giảm đáng kể chi phí đầu tư
- Lưới điện chiếu sáng là lưới điện chuyên dụng, chỉ cấp cho một loại phụ tải
là đèn chiếu sáng Dây dẫn điện có thể là cáp ngầm hoặc cáp treo
Trang 17Dùng cáp ngầm đảm bảo được mỹ quan đô thị nhưng chi phí xây dựng rất lớn,
do đó nó chỉ áp dụng cho các đường lớn (>15m) hoặc đường quan trọng (như đường
du lịch, khu chung cư cao cấp,…)
Dùng cáp treo thì ngược lại: chi phí xây dựng thấp nhưng mỹ quan đô thị bị ảnh hưởng Để treo cáp trên không người ta phải sử dụng sợi thép f8-f10 căng ngang giữa 2 cột đèn và treo dây dẫn điện dọc theo sợi cáp này Cáp treo thường dùng cáp vặn xoắn hoặc cáp bọc PVC, bọc XLPE
- Nguồn cung cấp điện: Nguồn điện cấp cho hệ thống chiếu sáng công cộng thường lấy từ máy biến áp chuyên dùng (chỉ cấp cho mỗi hệ thống chiếu sáng, không dùng cho phụ tải khác) Công suất thường khoảng 30-50kVA/1 tuyến đường Nếu đường quá dài, vượt quá bán kính cấp điện thì người ta phân đoạn hệ thống chiếu sáng để mỗi đoạn được cấp nguồn từ 1 máy biến áp riêng
Nguồn cấp luôn luôn là 3 pha 4 dây (có 1 dây trung tính) với điện áp 380V/220V để cho phép điều khiển đóng/cắt linh hoạt theo từng pha tuỳ vào mật độ lưu thông trên đường
- Hệ thống điều khiển đèn có các nhiệm vụ sau: Chọn được chế độ bật/tắt đèn hợplý; Giảm điện năng tiêu thụ; Duy trì hệ thống chiếu sáng đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự
Theo quan niệm hiện nay vẫn thì điều khiển chiếu sáng chủ yếu là đóng/cắt các đèn Toàn bộ hệ thống điều khiển được lắp trong 1 tủ chiếu sáng chung Nhờ hệ thống điều khiển mà ta có thể chọn các chế độ vận hành sau đây (thời gian có thể thay đổi theo mùa trong năm):
+ Chế độ 1 (17h00-22h00) : Bật hết các đèn do lưu lượng giao thông lớn + Chế độ 2 (22h00-00h00): 2 đèn bật, 1 đèn tắt xen kẽ nhau Ví dụ pha A,B đóng còn pha C cắt Trường hợp này áp dụng khi mật độ giao thông giảm
+ Chế độ 3 (00h00-04h00): 1 đèn bật, 2 đèn tắt xen kẽ nhau Ví dụ pha A đóng còn pha B, C cắt Trường hợp này áp dụng khi mật độ giao thông thấp
+ Chế độ 4 (04h00-17h00): tắt hết tất cả các đèn, khi đó cắt toàn bộ các pha
A, B, C
Ngày nay nhờ khoa học công nghệ phát triển, quan niệm về điều khiển chiếu sáng đã có thay đổi: điều khiển ngoài việc đóng/cắt đèn còn cho phép giảm quang thông nhờ giảm điện áp đặt vào đèn Ngoài ra nếu trang bị hệ thống tự động điều khiển kiểu trung tâm thì toàn bộ số liệu cũng như trạng thái của hệ thống chiếu sáng đều truyền về trung tâm để phân tích, giám sát, lưu giữ số liệu nhằm chọn được chế
độ vận hành tối ưu
Trang 18- Đế gang trang trí: thường đặt ở gốc cột, màu đen hoặc xanh có hoa văn trang trí khá đẹp Sở dĩ người ta làm từ gang vì nó không bị rỉ Giá thành đế gang khá đắt nên chỉ áp dụng cho các tuyến đường quan trọng
- Móng để lắp cột thường dùng móng khối bằng bêtông đúc tại chỗ, mác bêtông M150 hoặcM200
1.2 Nội dung và các yêu cầu về quản lý hệ thống chiếu sáng đô thị
Hệ thống chiếu sáng công cộng có nhiệm vụ quan trọng nhất là đảm bảo an toàn giao thông, giữ gìn an ninh trật tự Do vậy công tác quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo sự làm việc tin cậy của hệ thống Ngay khi đưa vào sử dụng, hệ thống chiếu sáng đã đối diện với nguy cơ xuống cấp do sự tác động của môi trường, khí hậu thời tiết và do bản thân hệ thống chiếu sáng gây ra
Công tác quản lý, vận hành hệ thống điện chiếu sáng công cộng được xác định
là loại hình dịch vụ công ích, do Nhà nước quản lý thông qua các công ty điện chiếu sáng công cộng Thông thường UBND cấp tỉnh ban hành quy định về quản lý, vận hành hệ thống điện chiếu sáng công cộng trong các đô thị thuộc tỉnh Toàn bộ chi phí cho công tác quản lý, vận hành do ngân sách Nhà nước cấp mà không thu bất kỳ khoản phí nào Thực ra công tác này rất khó để xã hội hóa vì lợi nhuận rất thấp, khó xác định được đối tượng thụ hưởng Mặt khác trong một số trường hợp
hệ thống chiếu sáng công cộng còn gây ảnh hưởng với các gia đình ở 2 bên đường Chỉ có người và phương tiện tham gia giao thông mới là đối tượng thụ hưởng dịch
vụ này, trong khi các đối tượng này không thể xác định chính xác nên không có cách nào để thu phí thụ hưởng dịch vụ chiếu sáng Từ những phân tích nêu trên ta thấy Nhà nước phải nắm quyền quản lý đối với hệ thống chiếu sáng công cộng là điều đương nhiên Trong tương lai Nhà nước nên khoán chi phí quản lý cho các công ty điện chiếu sáng, tuy nhiên việc này đòi hỏi phải có nghiên cứu đầy đủ về cơ chế, chính sách, chế độ, định mức, trước khi áp dụng
Một số khu đô thị cao cấp được Nhà nước cho phép đầu tư để kinh doanh thì
hệ thống điện chiếu sáng không mang tính chất dịch vụ công ích mà thuộc thẩm quyền quản lý, vận hành của nhà đầu tư khu đô thị Trường hợp này hệ thống điện chiếu sáng là một thành phần của kết cấu hạ tầng nhằm mục đích kinh doanh nên người dân trong khu đô thị phải chịu phí dịch vụ Vì mang tính chất kinh doanh nên chất lượng chiếu sáng rất cao, kết cấu có tính thẩm mỹ và được quy hoạch một cách bài bản, có thể mỗi khu phố trong khu đô thị có một phong cách chiếu sáng đặc trưng về màu sắc, hình dáng cũng như cách thể hiện,…
Trang 19Ngoài ra công tác Quy hoạch chiếu sáng được coi như là công cụ của chiếu sáng bền vững, tiết kiệm năng lượng, hạn chế những ảnh hưởng của chiếu sáng đến môi trường cũng như tạo ra đặc trưng của địa phương Tuy nhiên, việc bắt buộc lập quy hoạch chiếu sáng đang là một thách thức lớn đối với các đô thị Việt Nam Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều quy định liên quan đến CSĐT như Nghị định số 79/2009/NĐ-CP ngày 28/09/2009 của Chính phủ về quản lý chiếu sáng đô thị, Quyết định số 1874/QĐ-TTg ngày 11/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát triển CSĐT Việt Nam đến năm 2025, hay thông tư hướng dẫn về chiếu sáng đô thị Tuy nhiên, quy hoạch chiếu sáng đô thị ở Việt Nam mới chỉ là một nội dung nhỏ trong quy hoạch đô thị Những quy định được đưa ra trong các Nghị định còn chung chung, rất khó để triển khai Theo các quy định hiện nay, quy hoạch chiếu sáng đô thị của Việt Nam không phải là quy hoạch chiếu sáng tổng thể bởi vì nó đòi hỏi các tính toán, dự toán tổng mức đầu tư và dự báo vốn thực hiện Nó cũng không phải là quy hoạch chiếu sáng chi tiết bởi vì nó bao trùm chiếu sáng của toàn bộ thành phố Ngoài ra, đội ngũ kỹ thuật viên ánh sáng, nhà thiết kế ánh sáng của Việt Nam còn yếu do nghề chiếu sáng quá mới mẻ ở Việt Nam Việc đào tạo về chiếu sáng mới chỉ giới hạn trong lĩnh vực kỹ thuật cho các kỹ sư điện trong khi chiếu sáng đang thực sự trở thành một lĩnh vực vừa mang tính mỹ thuật và
kỹ thuật Các chuyên gia Pháp cũng cho rằng quy hoạch chiếu sáng công cộng ở Việt Nam hiện vẫn đang bị bỏ quên, tạo sự lãng phí không đáng có Vì vậy, khi lập quy hoạch chiếu sáng cần phải xác định quy hoạch nào phù hợp với Việt Nam, phải xác định được đối tượng chiếu sáng, mục tiêu chiếu sáng là gì… Như ở Pháp, công
cụ để lập quy hoạch chiếu sáng đô thị gồm có quy hoạch chiếu sáng đô thị tổng thể, quy hoạch chi tiết và các quy chế về quản lý chiếu sáng Nhưng việc sử dụng công
cụ nào phù hợp với Việt Nam đòi hỏi phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng Việc lập quy hoạch chiếu sáng tổng thể sẽ rất khó, vì vậy, quy hoạch chiếu sáng chi tiết là lựa chọn phù hợp đối với các đô thị Việt Nam hiện nay, nhất là trong bối cảnh thiếu các chuyên gia trong nước để thực hiện
Ngày nay, việc chiếu sáng không chỉ nhằm vào an ninh an toàn mà nó còn hướng tới giá trị thẩm mỹ, không khí đô thị và tiện nghi thị giác, cũng như làm thay đổi sâu sắc hình ảnh của đô thị Vì vậy, một thành phố được chiếu sáng tốt sẽ thỏa mãn người dân đô thị, tạo ra và trở thành một yếu tố quảng bá hình ảnh đô thị đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững Điều này đòi hỏi chính quyền đô thị phải xác định được việc chiếu sáng một cách đúng đắn cũng như có chiến lược về chiếu sáng, nơi nào cần, khi nào cần, chiếu sáng như thế nào và với giá thành tốt nhất
Trang 20Theo điều 23, Nghị định 79/2009/NĐ-CP, nội dung và các yêu cầu của công tác quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị bao gồm:
- Thực hiện tổ chức chiếu sáng công cộng đô thị theo đúng
các quy trình kỹ thuật về chiếu sáng, bảo đảm an toàn và tiết
kiệm điện, phòng, chống cháy nổ và thời gian vận hành hệ
thống chiếu sáng công cộng đô thị theo quy định
- Lập kế hoạch hàng năm về xây dựng mới, thay thế, cải tạo,
duy trì bảo dưỡng hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị và tổ
chức triển khai thực hiện theo kế hoạch được phê duyệt
- Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng nguồn sáng và các
thiết bị của hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị để đề xuất
phương án sửa chữa và thay thế kịp thời
- Bảo vệ hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị
1.3 Một số tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý vận hành hệ thống điện chiếu sáng đô thị
Tại các nước phát triển, điện năng dùng cho chiếu sáng chiếm từ 8 đến 13% tổng điện năng tiêu thụ Hệ thống chiếu sáng đô thị bao gồm nhiều thành phần khác nhau, trong đó có thể kể đến chiếu sáng phục vụ giao thông, chiếu sáng các cơ quan chức năng của đô thị
Trong những năm qua, đô thị Việt Nam đã có những đột phá phát triển Tốc
độ đô thị hóa khá cao, bộ mặt đô thị có nhiều khởi sắc Cảnh quan đô thị ngày càng đẹp hơn Công trình kiến trúc, các khu vực vui chơi công cộng, vườn hoa, công viên, công trình giao thông, đường phố được xây dựng cải tạo, nâng cấp hoặc xây dựng mới ngày càng hiện đại Cuộc sống của người dân được cải thiện Chất lượng cuộc sống dần dần từng bước nâng cao Trong đó, chiếu sáng đô thị góp phần quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống của đô thị Chiếu sáng công cộng đã, đang và vẫn là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống đô thị Chiếu sáng đường phố tạo ra sự sống động, hấp dẫn và tráng lệ cho các đô thị về đêm, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân đô thị, thúc đẩy sự phát triển thương mại và du lịch Đặc biệt, hệ thống chiếu sáng trang trí còn tạo ra không khí lễ hội, sự khác biệt về cảnh quan của các đô thị trong các dịp lễ tết và các ngày kỷ niệm lớn hoặc trong thời điểm diễn ra các hoạt động chính trị, văn hóa xã hội cũng như sự kiện quốc tế
Để công tác quản lý hệ thống chiếu sáng công cộng phát huy hiệu quả cao nhất đồng thời cải thiện chất lượng và giảm thiểu tối đa chi phí, đơn vị quản lý phải đảm bảo các tiêu chí:
Trang 211.3.1 Mức độ phục vụ nhu cầu chiếu sáng công cộng
Số giờ cần chiếu sáng/ ngày; chất lượng chiếu sáng Do chiếu sáng công cộng chủ yếu phục vụ người dân, nên sự hài lòng của người dân sẽ là thước đo để đánh giá về hệ thống chiếu sáng công cộng trên địa bàn Tiêu chí này rất khó để định lượng nên có thể đánh giá bằng phương pháp điều tra xã hội học
1.3.2 Mức độ đáp ứng các quy định, tiêu chuẩn đặt ra
Căn cứ theo QCVN 07-7:2016/BXD Quy chuẩn Quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình chiếu sáng:
Chiếu sáng đường, phố:
Chiếu sáng đường, phố phải bảo đảm làm lộ rõ tất cả các đặc điểm của đường
và của dòng giao thông, giúp người điều khiển phương tiện giao thông tiếp nhận đầy đủ thông tin từ các quang cảnh luôn thay đổi phía trước để có thể điều khiển phương tiện giao thông an toàn với tốc độ hợp lý cho phép Hệ thống chiếu sáng ngoài việc đảm bảo đủ ánh sáng theo quy định phải tạo được tính định hướng giúp người điều khiển phương tiện giao thông nhận biết rõ ràng hướng tuyến:
- Phải tạo được độ chói cần thiết để mắt nhận biết được các chi tiết nhỏ, ở độ tương phản thấp với tốc độ cao, tương ứng với tình huống giao thông;
- Độ chói phải đồng đều trên mặt đường theo cả phương dọc và phương ngang, hạn chế sự xuất hiện các khoảng tối, nơi có thể che dấu các mối nguy hiểm;
- Không gây loá mắt người điều khiển phương tiện giao thông
Chiếu sáng đường đô thị phải bảo đảm các yêu cầu quy định trong Bảng 1.1 và Bảng 1.2:
Bảng 1.1: Yêu cầu chiếu sáng các loại đường giao thông
Độ chói trung bình tối thiểu, Ltb (cd/m2)
Độ đồng đều độ chói chung,
Uo
Độ đồng đều
độ chói dọc, U1
Chỉ số loá không tiện nghiGtối thiểu
Độ tăng ngưỡn
g TI tối đa, (%)
Độ rọi ngang trung bình tối thiểu,
Trang 22Không dải phân cách
Bảng 1.2: Trị số độ chói trung bình quy định theo lưu lượng xe
Lưu lượng xe lớn nhất trong thời gian có
Trường hợp đường phố có hè phố, yêu cầu độ rọi trung bình trên hè phố bằng
50 % độ rọi trung bình tối thiểu của độ rọi mặt đường liền kề nêu trong Bảng 1.1 Nếu không có Bảng tính toán chiếu sáng độ chói lóa G hoặc TI max theo một phần mềm chuyên dụng để bảo đảm chống chói lóa, trong trường hợp đó để tránh lóa không tiện nghi do ánh sáng phản xạ từ mặt nước, chỉ sử dụng đèn loại được che hoàn toàn để chiếu sáng đường phố
Chiếu sáng không gian công cộng:
Yêu cầu về chiếu sáng quảng trường được lấy theo cấp đường cao nhất đi vào
Trang 23quảng trường quy định tại Bảng 1.1
Yêu cầu chiếu sáng lối đi trong công viên, vườn hoa; cổng vào sân vận động, khu triển lãm, sân trước các công trình công cộng phải đảm bảo độ rọi ngang trung bình, En, tb tối thiểu 10 lx
Giảm tối thiểu số lượng cột đèn chiếu sáng không gian công cộng bằng cách
sử dụng tối đa tường hồi của các công trình kiến trúc kế cận làm nơi lắp đặt thiết bị chiếu sáng
Chiếu sáng quảng cáo, chiếu sáng các quầy hàng không được có độ chói quá lớn theo hướng nhìn của các phương tiện giao thông cơ giới, gây hiện tượng chói lóa, làm mất an toàn giao thông
1.3.3 Mức độ tiết kiệm năng lượng điện
Hẳn nhiên mọi hoạt động chiếu sáng đều cần sử dụng điện năng, và gây tiêu tốn ngân sách địa phương hoặc khu vực được chiếu sáng Vì vậy, tiết kiệm ngân sách là đòi hỏi cần thiết và vì vậy để đạt được mục tiêu này cần thiết kế hướng tăng hiệu quả sử dụng điện năng: Bố trí hợp lý vị trí các thiết bị chiếu sáng; chiều cao đèn phù hợp với cấp đường; công nghệ trạm điều khiển hiện đại; sử dụng của các thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao; sự linh hoạt khi kết hợp với ánh phản xạ của công trình liền kề
Căn cứ theo QCVN 07-7:2016/BXD Quy chuẩn Quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình chiếu sáng:
- Phải sử dụng các đèn chiếu sáng có hiệu suất phát sáng cao, được dán nhãn tiết kiệm năng lượng; Ưu tiên áp dụng các thiết bị chiếu sáng sử dụng năng lượng mặt trời, gió
- Phải có các thiết bị điều khiển tự động hệ thống chiếu sáng đường giao thông cho xe có động cơ để giảm bớt tiêu thụ năng lượng
Để sử dụng năng lượng hiệu quả, các thiết bị chiếu sáng cần tuân thủ các quy định sau:
- Các bộ đèn phải có bảng dữ liệu về phân bổ cường độ sáng trong không gian
để làm cơ sở tính toán chiếu sáng, bảo đảm các kết quả tính toán chiếu sáng có độ tin cậy cao để có thể xác định hiệu quả sử dụng;
- Nhiệt độ màu: Trừ những hạng mục chiếu sáng tô điểm mỹ thuật trang trí, các công trình chiếu sáng đường phố ưu tiên sử dụng những bóng đèn có nhiệt
độ màu lớn hơn 2000 K;
- Hiệu suất quang thông: Ưu tiên sử dụng các nguồn sáng có hiệu suất quang thông lớn hơn 90 lm/W
Trang 241.3.4 Mức hoàn thành các quy định về quản lý
Căn cứ theo QCVN 07-7:2016/BXD Quy chuẩn Quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình chiếu sáng:
Quy định về quản lý:
Dự án đầu tư xây dựng, hồ sơ thiết kế các công trình đầu tư xây dựng mới và cải tạo các công trình chiếu sáng thuộc phạm vi điều chỉnh của QCVN 07-7:2016/BXD phải có thuyết minh về sự tuân thủ các quy định của Quy chuẩn này Việc thẩm tra, thẩm định dự án đầu tư xây dựng, thiết kế xây dựng công trình chiếu sáng ñược tiến hành theo quy định hiện hành, trong đó phải có nội dung về sự tuân thủ các quy định của QCVN 07-7:2016/BXD đối với các công trình thuộc phạm vi áp dụng của Quy chuẩn này
Bảo trì, sửa chữa:
Công trình và hạng mục công trình chiếu sáng phải được định kỳ bảo trì, bảo dưỡng trong suốt thời hạn sử dụng nhằm đảm bảo chức năng sử dụng theo thiết kế Khi hết thời hạn sử dụng (tuổi thọ) công trình và hạng mục công trình, cần phải tiến hành sửa chữa lớn nhằm kéo dài tuổi thọ của chúng
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý hệ thống chiếu sáng đô thị
1.4.1 Nhân tố bên trong
1.4.1.1 Ảnh hưởng của hệ thống cơ sở vật chất
Đối với bất kỳ một đô thị nào, hiệu quả chiếu sáng đô thị phụ thuộc chủ yếu vào mạng lưới chiếu sáng Mạng lưới chiếu sáng đô thị gồm phần cấp nguồn, lưới điện, hệ thống điều khiển chiếu sáng và các vật tư, thiết bị khác như cột đèn, cần đèn, hệ thống tiếp điện, phụ tải và các thiết bị chiếu sáng công cộng Đô thị được đầu tư xây dựng mạng lưới chiếu sáng đồng bộ, hoàn chỉnh, tuân thủ nghiêm theo quy hoạch sẽ tốt hơn đối với các đô thị đầu tư xây dựng mạng lưới chiếu sáng mang tính chắp vá, không có quy hoach cụ thể
Mạng lưới chiếu sáng được coi là đồng bộ khi được phê duyệt theo đúng quy hoạch Các thiết bị đưa vào dự án phải bảo đảm theo các tiêu chuẩn hiện hành Khi
đó cơ chế quản lý vận hành, kiểm tra tiết kiệm điện năng, giảm các chi phí liên quan như chi phí về nhân công vận hành, quản lý, giảm thời gian vận hành, …
Ngoài ra, còn có thêm các thiết bị phục vụ cho công tác quản lý vận hành điện chiếu sáng, phục vụ cho việc lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng, thay thế hệ thống chiếu sáng như xe nâng, xe thang, …
Trang 251.4.1.2 Ảnh hưởng của đội ngũ lao động trực tiếp
Đây là đội ngũ có số lượng đông đảo Họ là nhân lực trực tiếp thực hiện các khối lượng công việc dưới sự điều hành của đội ngũ quản lý Chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt hay không phụ thuộc vào trình độ, thái độ, ý thức trách nhiệm, kinh nghiệm vận hành cũng như sự tuân thủ của đội ngũ công nhân viên trực tiếp đối với công tác điều hành đội ngũ quản lý
Đơn vị quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị phải có đủ năng lực về đội ngũ cán bộ và công nhân; trang thiết bị và phương tiện kỹ thuật cần thiết để thực hiện các yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lý, vận hành Việc lựa chọn đơn vị quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị được thực hiện theo một trong các hình thức đấu thầu, đặt hàng hoặc giao kế hoạch Căn cứ điều kiện cụ thể tại địa phương, chính quyền đô thị theo phân cấp quản lý quyết định lựa chọn đơn vị quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị phù hợp
Trong công tác quản lý vận hành trực tiếp hệ thống chiếu sáng đô thị, việc lập
kế hoạch hoạt động bao gồm thống kê lập dự toán kinh phí công tác duy trì, sửa chữa khắc phục sự cố hệ thống điện chiếu sáng trình chính quyền đô thị thẩm định, tiếp nhận quản và lý vận hành các công trình mới được xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng Dựa trên kế hoạch dự toán đã được phê duyệt và hợp đồng kinh tế đã
ký kết, phân kỳ giai đoạn thực hiện đảm bảo thứ tự ưu tiên
Chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu hay không phụ thuộc vào sự phân bố nhân
sự, công tác kiểm tra đôn đốc của đội ngũ quản lý
1.4.2 Nhân tố bên ngoài
1.4.2.1 Ảnh hưởng của phát triển kinh tế - xã hội
Tại các đô thị hiện nay việc phát triển kinh tế - xã hội kéo theo nhu cầu xây dựng mở rộng các khu đô thị Các công trình hạ tầng kỹ thuật trong đó có hệ thống chiếu sáng được xây dựng tràn lan khi chưa có quy hoạch cụ thể, làm cho công tác quản lý gặp nhiều khó khăn
1.4.2.2 Ảnh hưởng tầm nhìn của người lãnh đạo
Chiếu sáng đô thị là một nguyên ngành hạ tầng kỹ thuật đô thị được quản lý thống nhất và có phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn cụ thể theo quy định của pháp luật
Chính quyền đô thị theo phân cấp quản lý là chủ sở hữu hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị bao gồm:
Trang 26+ Hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước;
+ Nhận bàn giao lại từ các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư xây dựng công trình hoặc hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị sau khi hết thời hạn sử dụng, khai thác theo quy định
Các tổ chức kinh doanh, phát triển khu đô thị mới là chủ sở hữu, quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị trên địa bàn do mình quản lý đến khi bàn giao theo quy định
Các tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị tự bỏ vốn đầu tư đến khi bàn giao theo quy định
Các chủ sở hữu hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị phải tuân thủ các quy định về quản lý chiếu sáng đô thị do chính quyền đô thị ban hành
Hiện nay, việc quản lý chiếu sáng còn thiếu thống nhất ngay trong cùng một thành phố, vì vậy cần phải có sự thống nhất trong quản lý chiếu sáng Nếu không, việc chậm chễ lập quy hoạch chiếu sáng sẽ dẫn đến việc gia tăng sự khó kiểm soát chiếu sáng tư nhân trong không gian đô thị, đặc biệt là chiếu sáng thương mại và quảng cáo Ô nhiễm ánh sáng và sự lãng phí năng lượng vì thế sẽ nghiêm trọng hơn Chiếu sáng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo bản sắc cho đô thị Không có một công thức chung trong quy hoạch và tổ chức chiếu sáng cho các đô thị vì mỗi thành phố có yếu tố văn hóa riêng, đặc điểm hình thái đô thị, cảnh quan cũng như cá tính
đô thị, dấu ấn đô thị riêng, trong đó tinh thần nguồn cội rất quan trọng, khiến người
ta không thể quên, đi đâu cũng nhớ về đô thị đó Vì vậy, vai trò của người làm chiếu sáng đô thị là phải làm nổi bật (tìm ra được) cá tính đô thị đó, góp phần thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của đô thị
1.4.2.3 Ảnh hưởng của ngân sách địa phương cho chiếu sáng đô thị
Để có mạng lưới chiếu sáng hiện đại, đồng bộ, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn hiện nay thì kinh phí xây dựng công trình là rất lớn so với các công trình hạ tầng kỹ thuật khác Trong khi nguồn vốn ngân sách hàng năm bố trí cho đầu tư xây dựng công trình chiếu sáng ở nhiều địa phương còn nhiều hạn chế nên không kịp thời đáp ứng nhu cầu chiếu sáng cho các đô thị
Nguồn ngân sách đóng vai trò quan trọng trong bất cứ hoạt động nào Nếu không có ngân sách, không thể tiến hành các hoạt động, còn nếu ngân sách được phân bổ ít thì hoạt động sẽ kém hiệu quả
Trang 271.4.2.4 Ảnh hưởng của yếu tố khác
Đối với thành phố có diện tích rộng, dân cư không tập trung thì việc xây dựng
hệ thống chiếu sáng sẽ khó kiểm soát Nếu không có quy hoạch chi tiết cho từng khu vực thì sẽ không tránh khỏi việc lãng phí năng lượng Bởi năng lượng cho chiếu sáng đô thị chiếm một phần không hề nhỏ năng lượng tiêu thụ của một thành phố
Vì vậy cần phải có quy hoạch chiếu sáng hiệu quả và hợp lý để tiết kiệm năng lượng Theo các chuyên gia, việc thiếu quy hoạch đồng bộ giữa chiếu sáng công cộng và các công trình hạ tầng đô thị khác cũng dẫn đến tình trạng xây dựng chồng chéo, lộn xộn, không đáp ứng được các yêu cầu chung về kỹ thuật, đồng thời gây mất mỹ quan đô thị Nhưng cũng không vì như vậy mà coi chiếu sáng công cộng, trang trí, quảng cáo là phù phiếm, lãng phí và không hiệu quả Điều này xuất phát từ góc độ tiêu thụ năng lượng mà chưa nhận thức tổng quát vai trò của chiếu sáng đô thị Do đó cần có sự đánh giá chính xác và khách quan về hiệu quả mà chiếu sáng đem lại không chỉ về mặt kinh tế, mà còn cả trên các bình diện văn hóa - xã hội Không chỉ nhìn nhận những hiệu quả trực tiếp trước mắt, có thể tính được bằng tiền
mà còn cả hiệu quả gián tiếp và lâu dài mà chiếu sáng đem lại trong việc quảng bá, thúc đầy sự phát triển của thương mại, du lịch và dịch vụ Chỉ có như vậy, hệ thống chiếu sáng đô thị mới có thể phát triển và duy trì một cách bền vững, đóng một vai trò ngày một xứng đáng trong các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.5 Kinh nghiệm về quản lý hệ thống chiếu sáng đô thị trong nước và thế giới 1.5.1 Kinh nghiệm thế giới
Từ đầu thế kỷ 20, tại châu Âu và Mỹ, nhất là mùa băng tuyết, việc chiếu sáng công cộng vào ban đêm đã chốt lại bằng hai tiêu chí quan trọng Thứ nhất, phục vụ cho giao thông, sinh hoạt, an ninh…; thứ hai, chiếu sáng mỹ thuật cho các công trình kiến trúc tượng đài, lễ hội, sân khấu, tầm nhìn… Điều này không chỉ đáp ứng
về an ninh và dân sinh, mà còn làm cho đời sống đô thị bớt lạnh lẽo, đa dạng về thị giác; thậm chí, còn sưởi ấm nhiều công trình đã “rêu phong”
1.5.1.1 Nhật Bản
Tại châu Á, Nhật Bản là nước sớm định hình khái niệm và thẩm mỹ về nghệ thuật chiếu sáng công cộng, một phần do “biểu tượng Mặt trời” đã soi rọi vào trong xây dựng, kiến trúc của họ từ xa xưa Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, trong công cuộc tái thiết đất nước, ánh sáng ngoại thất đã được tận dụng tối đa để giúp gia tăng cảm giác hồi sinh mạnh mẽ, để kích thích sức làm việc, sáng tạo của giới trẻ Nhật
Trang 28Không phải ngẫu nhiên mà rất sớm Tokyo đã được gọi là “thành phố không ngủ” Tính chất “không ngủ” của nhiều thành phố trên thế giới đến từ hai nhận diện căn bản: các hoạt động về đêm của con người và cách chiếu sáng công cộng của đô thị Bên cạnh đó Nhật Bản đã phát triển hệ thống tàu điện ngầm trải rộng khắp đất nước, với 42 tuyến có chiều dài tổng cộng 733km Sự phát triển nhanh chóng của hạ tầng giao thông hiện đại này đòi hỏi phải lựa chọn công nghệ chiếu sáng vừa tiết kiệm năng lượng vừa đảm bảo sự an toàn cho hành khách.Phần lớn các ga tàu điện ngầm ở Nhật Bản đã sử dụng đèn LED để chiếu sáng Trong hệ thống tàu điện ngầm, đèn LED được lắp đặt tại nhiều vị trí như bên trong các hầm ngầm, các nhà
ga, sân ga, bên ngoài và trong các toa tàu Ưu điểm nổi bật nhất của đèn LED là tuổi thọ cao và khả năng tiết kiệm năng lượng Thời gian chiếu sáng trung bình của đèn LED là 40.000 giờ, có thiết bị lên tới 60.000 giờ Tuổi thọ này lớn hơn gấp nhiều so với một bóng đèn huỳnh quang thông thường chỉ với 10.000 giờ và bóng đèn sợi đốt với 1.000 giờ
Riêng thủ đô Tokyo có 13 tuyến tàu điện ngầm với chiều dài hơn 300km và phục vụ gần 10 triệu lượt hành khách mỗi ngày Để cung cấp ánh sáng cho hệ thống tàu điện ngầm khổng lồ với gần 300 ga và hơn 3.000 km đường sắt dưới lòng đất đòi hỏi mức đầu tư kinh phí lớn, lên tới vài trăm triệu USD hàng năm Công ty tàu điện ngầm Tokyo đã lựa chọn áp dụng giải pháp chiếu sáng bằng đèn LED cho các công trình ngầm Ông Kodai Kurosawa - Phó Chủ nhiệm phụ trách thiết bị nhà ga Phòng Điện lực Công ty tàu điện ngầm Tokyo nói: “Chúng tôi lắp đặt toàn bộ thiết
bị chiếu sáng LED trong nhà ga từ trần hầm, biển thông tin, thang máy cho đến sân
ga Hệ thống đèn LED này có độ sáng ổn định, chất lượng ánh sáng tốt, dễ dàng tháo lắp và an toàn khi lắp đặt Tuổi thọ cũng như độ bền đều cao hơn so với các đèn chiếu sáng thông thường” Việc lắp đặt đèn LED trên các toa tàu cũng giúp tiết kiệm lượng điện năng lớn
Ga Sendagi thuộc tuyến đường sắt Chiyoda là một trong những ga được Công
ty tàu điện ngầm Tokyo triển khai nâng cấp bằng hệ thống ánh sáng LED Chất lượng ánh sáng của toàn bộ nhà ga được cải thiện đáng kể sau khi sử dụng hệ thống đèn LED
Việc lắp đặt đèn LED trên các toa tàu cũng giúp tiết kiệm lượng điện năng lớn
và tránh sự cố hỏa hoạn do chập cháy thiết bị gây ra Bên cạnh việc tiết kiệm điện năng, ứng dụng đèn LED còn tạo sự an toàn cho hành khách đi tàu
Trang 29Theo lãnh đạo Panasonic, hãng duy nhất có đủ khả năng cung cấp các giải pháp chiếu sáng LED tổng thể cho hệ thống các ga ngầm, đặc trưng của hệ thống chiếu sáng ngầm là được lắp đặt dưới lòng đất, vì vậy lo ngại lớn nhất là nguy cơ xảy ra hỏa hoạn Hãng Panasonic đã bổ sung thêm tính năng chịu nhiệt cho thiết bị chiếu sáng
Theo đánh giá của nhiều hành khách, sử dụng đèn LED tại các khu vực ga tàu điện ngầm tại Tokyo cung cấp nguồn điện sáng và an toàn hơn
1.5.1.2 Pháp
Hay như câu chuyện của thành phố Neon (Pháp) trước năm 1989 là một thành phố buồn tẻ Sau khi có quy hoạch chiếu sáng, thành phố đã có bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong 02 thành phố phát triển nhất của Pháp và là một trong những biểu tượng thành phố của lễ hội ánh sáng, đi đầu trong lĩnh vực chiếu sáng, nghiên cứu về chiếu sáng
Bên cạnh đó tại thủ đô Paris họ đặt ra bài toán "Kế hoạch Khí hậu Paris" với mục tiêu đầy tham vọng sẽ giảm mức tiêu thụ năng lượng của hệ thống đèn chiếu công cộng và đèn giao thông xuống 30% đến năm 2020
Công ty chiếu sáng EVESA chịu trách nhiệm lắp đặt, bảo dưỡng khoảng 175.000 điểm chiếu sáng công cộng, 140.000 đèn tín hiệu giao thông và 300 điểm chiếu sáng tại các khu vui chơi, du lịch trên địa bàn thủ đô Paris EVESA đứng trước một thách thức vừa đảm bảo mục tiêu giảm 30% điện năng tiêu thụ của hệ thống chiếu sáng công cộng, vừa phải giữ được thương hiệu của Paris - Kinh đô Ánh sáng của thế giới
Để thực hiện mục tiêu này, EVESA đã tiến hành đổi mới mạng lưới đèn chiếu sáng công cộng, thay thế các thiết bị cũ tiêu hao nhiều điện năng và áp dụng các giải pháp quản lý chiếu sáng tiên tiến Theo Bertrand Richard, Giám đốc EVESA cho biết, đơn vị đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như đánh giá thường xuyên mức
độ khí thải CO2, đầu tư các hệ thống chiếu sáng "sạch", thân thiện hơn với môi trường EVESA cũng thay mới toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng công cộng bằng đèn LED Đèn LED được xem là thiết bị chiếu sáng nhiều ưu điểm như độ sáng vượt trội, tiết kiệm điện năng, thân thiện với môi trường
Bên cạnh đó, ông Richard cho rằng việc thay thể bằng đèn LED sẽ tạo môi trường trong lành cho người dân thủ đô Pari, đồng thời tiết kiệm ngân sách cho thành phố Tại con kênh Bassin de la Villette, đơn vị đã lắp hơn 430 chùm đèn
Trang 30LED, tạo nguồn ánh sáng ấm và không giao độc đáo cho khu vực, đồng thời tiết kiệm được 80% lượng điện năng Hệ thống đèn trên đường Rue de Rivoli, khu vực
áp dụng công nghệ chiếu sáng đô thị từ thế kỷ 19 cũng được thay thế bằng hệ thống đèn LED mang lại không gian sáng cho con đường đầy tính biểu tượng này
Theo EVESA, trang bị hệ thống chiếu sáng bằng đèn LED tạo sự đồng bộ cho đường phố, đồng thời đèn LED quang học góp phần tạo không gian công cộng an toàn hơn Thủ đô Paris đang thử nghiệm sử dụng đèn LED ở các khu vực yên tĩnh
và công viên giúp giảm ô nhiễm ánh sáng đảm bảo lợi ích về đa dạng sinh học
1.5.2 Kinh nghiệm một số địa phương trong nước
1.5.2.1 Hà Nội
Thành phố Hà Nội, vừa là thủ đô, là trung tâm văn hóa chính trị của cả nước
Để quản lý tốt thành phố đã cho xây dựng và ban hành riêng Quy định quản lý chiếu sáng trên địa bàn thành phố Hà Nội (Ban hành kèm theo Quyết định số 13/2011/QĐ-UBND ngày 29 tháng 3 năm 2011 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội) Bao gồm 5 chương và 23 điều, chi tiết từ việc quy hoạch, thiết kế, xây dựng; quản lý, vận hành hệ thống; phân công trách nhiệm đến xử lý vi phạm
Quyết định đột phá đưa đèn LED vào sử dụng trong hệ thống chiếu sáng công cộng, đường giao thông, khu đô thị…, Hà Nội đã trở thành địa phương dẫn đầu cả nước trong chương trình tiết kiệm năng lượng trong chiếu sáng công cộng UBND
TP Hà Nội đã chỉ đạo các sở, các Ban quản lý dự án, UBND các quận, huyện, thị xã
về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (đèn LED) trong hệ thống chiếu sáng công cộng của thành phố Đối với các dự án lắp đặt mới hệ thống chiếu sáng công cộng trên địa bàn, bao gồm các dự án độc lập hoặc hạng mục chiếu sáng công cộng nằm trong dự án xây dựng, cải tạo đường giao thông, khu đô thị được duyệt năm 2015 và 2016, chưa triển khai thi công: Yêu cầu các sở, các Ban quản lý, UBND các quận, huyện, thị xã rà soát các dự án được giao làm chủ đầu tư, nếu trong thiết kế vẫn sử dụng nguồn sáng truyền thống (đèn sợi đốt, halogen, SON, MAIH, compact huỳnh quang…) thì phải chuyển sang sử dụng nguồn sáng tiết kiệm năng lượng bằng đèn LED
Đối với công tác duy tu, duy trì hệ thống CSCC, yêu cầu Sở Xây dựng, Sở GTVT, UBND các quận, huyện, thị xã ưu tiên sử dụng nguồn sáng tiết kiệm năng lượng bằng đèn LED để thay thế tại các tuyến phố, khu dân cư, khu vực có hệ thống chiếu sáng đã xuống cấp Chỉ sử dụng nguồn sáng truyền thống loại tiết kiệm năng
Trang 31lượng (compact huỳnh quang, MAIH, SON) khi thay lẻ các đèn bị cháy, hỏng UBND TP Hà Nội yêu cầu tuyệt đối không sử dụng bóng đèn sợi đốt và halogen trong hệ thống CSCC
Thành phố giao Sở Xây dựng chủ trì, hướng dẫn các chủ đầu tư lắp đặt sử dụng các loại đèn LED đảm bảo chất lượng, có kinh phí đầu tư hợp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chiếu sáng và giảm điện năng tiêu thụ trong quá trình lập các dự án đầu tư xây dựng công trình, cải tạo chỉnh trang, duy tu, duy trì trên địa bàn thành phố có liên quan đến hệ thống chiếu sáng công cộng; tổ chức lập và thực hiện các biện pháp cần thiết để tiết kiệm năng lượng cho hệ thống chiếu sáng công cộng của thành phố
1.5.2.2 Đà Nẵng
Ngược lại, người ta thường cho rằng cứ có chiếu sáng là tạo được cảnh quan
ấn tượng Nhưng thực tế, nếu không được nghiên cứu kỹ càng, chiếu sáng sẽ chỉ gây sự thất vọng và tốn kém Như việc chiếu sáng của thành phố Đà Nẵng đã bước đầu tạo dựng được hình ảnh của một thành phố năng động, nhưng do quá “lạm dụng” hay không thể kiểm soát việc cho phép lắp đặt các cụm trang trí, quảng cáo khiến cho thành phố đang rơi vào tình trạng ô nhiễm ánh sáng
Bên cạnh đó thành phố Đà Nẵng thực hiện một số giải pháp kỹ thuật, giải pháp công nghệ tiên tiến áp dụng trong lĩnh vực chiếu sáng công cộng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, nhằm mục đích tiết kiệm điện năng:
* Giải pháp kỹ thuật: Phương pháp Dimming
Để thay thế cho việc cắt giảm điện cưỡng bức một số đèn về đêm trên tất cả các tuyến đường của thành phố Đà Nẵng trong các năm 2008 và 2009, Công ty vận hành điện chiếu sáng Đà Nẵng đã đưa ra giải pháp kỹ thuật gọi là phương pháp Dimming, sử dụng chấn lưu 2 mức công suất, lắp thí điểm cho 8 tuyến chiếu sáng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Ưu điểm chính của giải pháp kỹ thuật này là góp phần tiết kiệm điện năng cho chiếu sáng công cộng, giảm đến 30% lượng điện tiêu thụ mỗi bóng đèn, cường độ ánh sáng luôn được phân phối đồng đều trên suốt tuyến chiếu sáng, tăng cường tuổi thọ cho bóng đèn và chấn lưu, loại bỏ hoàn toàn tình trạng bất cập là phải cắt giảm phụ tải chiếu sáng công cộng một cách cưỡng bức, giảm đáng kể lượng phát thải khí nhà kính CO2, không gây ô nhiễm môi trường
* Giải pháp công nghệ tiên tiến
Trang 32Trong năm 2009 và 2010, Công ty quản lý điện chiếu sáng đã thực hiện đề tài
“Nghiên cứu chế tạo và lắp đặt đèn chiếu sáng ngõ xóm áp dụng công nghệ Nano phát sáng” Mục tiêu của đề tài này là nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản xuất bộ đèn
LED Nano kết hợp giữa công nghệ Nano và công nghệ phát sáng, nhằm tạo ra các sản phẩm tiết kiệm điện năng tiêu thụ, thuận tiện đối với những nơi có nguồn điện không ổn định, bảo đảm ánh sáng cho các ngõ xóm, góp phần đảm bảo an ninh, văn minh về đêm tại các khu dân cư Đây là công trình khoa học mới, các vấn đề khoa học, công nghệ lắp đặt hoàn toàn thuộc kiểu dáng Việt Nam Các bộ đèn nói trên đã vận hành gần 5 năm và hoạt động ổn định Đây là một bước đột phá trong chiếu sáng đô thị, thay thế dần cho các đèn đã dùng trước đây, như đèn sợi đốt 100W, đèn Mercury 80W, đèn Mercury 125W và đèn Compact 50W… ít tốn kém năng lượng điện, tiết kiệm điện năng tiêu thụ mà lượng quang thông phát ra không thay đổi, cho
dù nguồn diện cung cấp không ổn định Thành công của đề tài đáp ứng tốt phương
châm “Không tiết kiệm ánh sáng mà tiết kiệm năng lượng” Điểm nổi trội nữa của
đề tài là tuổi thọ của đèn LED Nano rất cao, đạt 50.000 giờ so với các đèn Compact
và Mercury chỉ đạt 6.000 giờ Thân thiện với môi trường, công suất tiêu thụ nhỏ, góp phần giảm đáng kể lượng khí thải nhà kính CO2 phát ra, giảm tối thiểu chi phí
xử lý phế thải do không có thuỷ ngân Độ an toàn, giảm rủi ro cháy nổ do phát nhiệt
ít Về sức khoẻ, giảm thiểu bức xạ tia cực tím và tia hồng ngoại, không nhấp nháy, giảm thiểu mỏi mắt
Một giải pháp công nghệ khác phục vụ tiết kiệm năng lượng, giảm hiệu ứng khí thải nhà kính vừa chính thức được công nhận Lao động Sáng tạo năm 2013 là nghiên cứu chế tạo "Đèn chiếu sáng công viên vườn hoa”.Giải pháp kỹ thuật là sử dụng đèn Led công suất 10 W (thay cho các loại đèn sử dụng công nghệ truyền thống có công suất từ 20W đến 70W, mà vẫn bảo đảm đủ sáng) Và loại đèn chiếu sáng áp dụng công nghệ mới nói trên dễ chế tạo, dễ sử dụng, hầu như các vật tư lắp ráp đều có ở thị trường Việt Nam, quy trình chế tạo không phức tạp Do tuổi thọ của đèn LED cao hơn hẳn, công tác duy tu sẽ ít lại (số lần thay thế bóng ít hơn hẳn) vì thế chi phí duy tu bảo dưỡng cũng rất thấp.Và đặc biệt, tiết kiệm được đến 50% công suất tiêu thụ so với đèn Compact 20W đến 70W truyền thống Đèn Led công suất 10W không chỉ chiếu sáng vườn hoa, công viên, công trình công cộng và các hạng mục kỹ thuật hạ tầng đô thị khác mà còn có thể lắp đặt ở các sân vườn và biệt thự tư gia, miễn là nơi đó có điện lưới quốc gia
Trang 33Tóm tắt chương 1
Chương 1 của luận văn đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận quan trọng của đề tài như: Khái niệm về hệ thống chiếu sáng đô thị, nội dung và các yêu cầu về quản
lý hệ thống chiếu sáng đô thị, các tiêu chí đánh giá về quản lý hệ thống chiếu sáng
đô thị, các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý hệ thống chiếu sáng đô thị, kinh nghiệm
về quản lý hệ thống chiếu sáng đô thị tại một số địa phương Đây là các căn cứ khoa học cần thiết để thực hiện những phân tích trong chương 2 của Luận văn
Trang 34CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH HỆ THỐNG ĐIỆN CHIẾU SÁNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
2.1 Vài nét khái quát về thành phố Bắc Giang – Tỉnh Bắc Giang
2.1.1 Vị trí địa lý – đặc điểm tự nhiên
* Tỉnh Bắc Giang:
Tỉnh Bắc Giang thuộc vùng đông bắc Bắc Bộ, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên và huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hải Dương Tỉnh Bắc Giang
có địa hình trung du và là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía bắc với châu thổ sông Hồng ở phía nam Tuy phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là núi đồi nhưng nhìn chung địa hình không bị chia cắt nhiều Khu vực phía bắc tỉnh là vùng rừng núi Bắc Giang nằm kẹp giữa hai dãy núi hình cánh cung và cùng mở ra như nan quạt, rộng ở hướng đông bắc, chụm ở phía tây nam (tại vùng trung tâm tỉnh), là: cánh cung Đông Triều và cánh cung Bắc Sơn, phần giữa phía đông tỉnh có địa hình đồi núi thấp là thung lũng giữa hai dãy núi này phía đông và đông nam tỉnh là cánh cung Đông Triều với ngọn núi Yên Tử nổi tiếng, cao trung bình 300–900 m so với mặt biển, trong đó đỉnh cao nhất là 1.068 m; phía tây bắc là dãy núi cánh cung Bắc Sơn ăn lan vào tới huyện Yên Thế, cao trung bình 300–500 m, chủ yếu là những đồi đất tròn trĩnh và thoải dần về phía đông nam
Hình 2.1: Vị trí của tỉnh Bắc Giang trong vùng Đông Bắc
Trang 35* Thành phố Bắc Giang:
Thành phố Bắc Giang là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá xã hội của tỉnh Bắc giang, nằm ở phía Tây Nam tỉnh, cách Hà Nội khoảng 50 km về phía Đông Bắc theo quốc lộ 1A mới Hà Nội - Lạng Sơn Với quy mô diện tích theo ranh giới hành chính hiện nay là 66,7736 km2 Thành phố có QL1A, QL 31, TL 295B, đường sắt
Hà Nội - Lạng Sơn và đường tỉnh 398 đi qua, thuận lợi để giao lưu với Hà Nội và các đô thị lớn Thành phố tiếp giáp với các vùng lân cận như sau:
- Phía Bắc giáp xã Quế Nham thuộc huyện Tân Yên và xã Xuân Hương, thuộc huyện Lạng Giang
- Phía Đông giáp xã Tân Dĩnh, Thái Đào thuộc huyện Lạng Giang, xã Hương Gián thuộc huyện Yên Dũng
- Phía Nam giáp xã Tân Liễu, Tiền Phong, Nội Hoàng huyện Yên Dũng
- Phía Tây giáp xã Nghĩa Trung, Hồng Thái, Tăng Tiến, thuộc huyện Việt Yên
Hình 2.2: Vị trí của thành phố Bắc Giang trong tỉnh Bắc Giang
Thành phố Bắc Giang - Là địa danh lịch sử, xưa thuộc Bộ Vũ Ninh là trấn thứ tư, trong bốn kinh trấn và đứng đầu phên dậu phía Bắc của quốc gia Đại Việt,
có vị trí quân sự trọng yếu gắn liền với chiến thắng Xương Giang vẻ vang, muôn thủa còn truyền do nghĩa quân Lam Sơn - Nguyễn Trãi chỉ huy, tiêu diệt hoàn toàn
10 vạn quân viện binh do Liễu Thăng chỉ huy đã kết thúc 20 năm đô hộ của triều đại phong kiến nhà Minh; bên cạnh đó còn là một trong những trung tâm kinh tế - văn hoá được hình thành và phát triển từ thời kỳ đầu Công Nguyên; từng là Phủ Lỵ
Trang 36Lạng Giang (thành Xương Giang, thành Châu Xuyên), huyện lỵ Bảo Lộc (thành Thọ Xương), huyện lỵ Phượng Nhỡn (thành Dĩnh Kế)
Dưới thời Pháp thuộc, ngày 11/7/1888, đơn vị hành chính “Phủ Lạng Thương” ra đời Ngày 10/10/1895, tỉnh Bắc Giang được thành lập, Phủ Lạng Thương trở thành tỉnh lỵ tỉnh Bắc Giang Từ một căn cứ quân sự, Phủ Lạng Thương
đã trở thành một đô thị với nhiều phố lớn, nhà ga, bến cảng, khách sạn, bưu điện, câu lạc bộ, trường học, công viên, sân vận động Trong Cách mạng tháng 8/1945, Phủ Lạng Thương là một trong những địa phương sớm khởi nghĩa và giành chính quyền (ngày 17/8/1945) Từ năm 1959, thị xã Phủ Lạng Thương đổi tên là thị xã Bắc Giang
Từ năm 1963, tỉnh Hà Bắc được thành lập trên cơ sở hợp nhất 02 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, thị xã Bắc Giang tiếp tục là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh
Trong kháng chiến chống Mỹ, thị xã Bắc Giang là nơi diễn ra nhiều trận đánh trả máy bay Mỹ oanh liệt, bảo vệ thị xã, bảo vệ tuyến đường giao thông huyết mạch nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn Nơi đây có nhiều phong trào hoạt động của các tổ chức đoàn thể nhân dân, tiêu biểu là hội Mẹ chiến sỹ xã Đa Mai với phong trào vá áo bộ đội đã đi vào lịch sử với bài ca “Tấm áo chiến sỹ mẹ vá năm xưa” còn vang mãi; nhiều con em thị xã Bắc Giang đã hy sinh anh dũng trên các chiến trường và ngay trên mảnh đất quê hương, góp phần cùng cả nước đánh thắng
đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Với những đóng góp, những chiến công và thành tích xuất sắc trong chiến đấu và xây dựng, thị xã Bắc Giang đã có hàng ngàn lượt tập thể, cá nhân được Đảng, Nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu, phần thưởng cao qúy Trong đó thị xã được tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ”, Huân chương lao động hạng Nhì trong thời kỳ đổi mới; 05 phường, xã được phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ”; 95 mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu “Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng” Thị xã đã 4 lần vinh dự được đón Bác Hồ về thăm, làm việc với tỉnh và thị xã (năm 1955, 1959, 1961 và 1963)
Từ năm 1997, sau khi chia tách tỉnh Hà Bắc thành 2 tỉnh (Bắc Giang và Bắc Ninh), thị xã Bắc Giang vẫn là tỉnh lỵ của tỉnh Bắc Giang Cùng với những thành tựu chung của cả nước và tỉnh trong thời kỳ đổi mới, thị xã Bắc Giang đã có những bước phát triển nhanh về mọi mặt, xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật của tỉnh và là một trong những trung tâm chuyên ngành cấp vùng Tháng 12 năm 2003, thị xã Bắc Giang đã được công nhận là đô thị loại III và
Trang 37tháng 6 năm 2005 Chính phủ có Nghị định thành lập thành phố Bắc Giang thuộc tỉnh Bắc Giang; năm 2010 được mở rộng địa giới hành chính, sáp nhập 05 xã của 02 huyện Yên Dũng và Lạng Giang về thành phố, mở ra điều kiện mới cho phát triển
và nâng cấp đô thị Trong những gần đây, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Bắc Giang đã chủ động vượt qua khó khăn, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực Ghi nhận những thành quả to lớn đã đạt được, cán bộ và nhân dân thành phố đã được Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ tặng thưởng như: Anh hùng lực lượng vũ trang (năm 1999); Huân chương lao động hạng Nhì (năm 2005), hạng Nhất (năm 2009); Huân chương lao động hạng Ba trong thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (năm 2010); Bằng khen của Thủ tướng chính phủ năm 2000, năm 2011 và nhiều cờ thi đua, bằng khen của các Bộ, ngành Trung ương, của Tỉnh ủy, UBND tỉnh… Đặc biệt, năm 2014, thành phố Bắc Giang
đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng “Huân chương Độc lập hạng Ba”, Thủ tướng Chính phủ Quyết định công nhận thành phố Bắc Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bắc Giang; được Hiệp hội các đô thị Việt Nam công nhận là 1 trong 18
Thành phố Bắc Giang trước kia và nay được biết đến với vai trò là một trong những trung tâm lớn của vùng về công nghiệp đạm - hoá chất, công nghiệp may
Trang 38mặc, đồng thời là trung tâm phân phối, trung chuyển hàng hóa từ Trung Quốc cho miền Bắc, cũng như là nơi tập kết các sản phẩm nội địa xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc Thành phố có 06 làng nghề truyền thống được bảo hộ thương hiệu sản phẩm (Nghề Bánh đa Kế, Mỳ Kế, phường Dĩnh Kế; nghề Mộc, xã Dĩnh Trì; nghề sản xuất Bún bánh Đa Mai, phường Đa Mai; nghề tăm lụa, xã Tân Mỹ; nghề sản xuất Rọ tôm, xã Song Khê); 06 cụm công nghiệp vừa và nhỏ gắn với hệ thống các khu, cụm công nghiệp lớn của tỉnh liền kề thành phố như: Quang Châu, Đình Trám, Vân Trung, Song Khê - Nội Hoàng đó những thuận lợi cơ bản để phát triển kinh
tế - xã hội và đô thị
2.1.2 Đặc điểm hành chính – kinh tế, xã hội
Những năm qua, thành phố Bắc Giang luôn duy trì tốc độ tăng trưởng khá;
cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Với lợi thế về vị trí địa lý, đầu mối giao thông liên vùng, thương mại - dịch vụ thành phố liên tục phát triển và thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 17,5%, giá trị sản xuất trong giai đoạn 2010 - 2015 tăng trưởng bình quân 18%/năm; tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm sau cao hơn năm trước Hoạt động Tài chính - Ngân hàng và một số ngành dịch vụ: Giao thông - Vận tải, Bưu chính - Viễn thông, các dịch vụ phục vụ phát triển Công nghiệp - TTCN, Nông nghiệp ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu của nhân dân Cơ sở hạ tầng thương mại, dịch vụ được quan tâm đầu tư và có chuyển biến tích cực Bên cạnh hệ thống chợ truyền thống đã được nâng cấp, thành phố có nhiều trung tâm thương mại, siêu thị hoạt động như: BigC, Media mart, Trần Anh, Co.op Mart Các loại hình thương mại - dịch vụ tăng cả về số lượng và chất lượng Dịch vụ bưu chính, viễn thông, vận tải phát triển mạnh, chất lượng dịch vụ nâng lên Hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí, quảng cáo có bước phát triển
Sản xuất CN-TTCN tiếp tục phát triển, giá trị sản xuất CN-TTCN tăng trưởng bình quân trong 5 năm vừa qua đạt 18,05%/năm Hiện thành phố có 06 cụm công nghiệp được đầu tư cơ sở hạ tầng với tổng diện tích 46,3ha (trong đó 05 cụm công nghiệp cơ bản được lấp đầy), thu hút trên 50 doanh nghiệp vào đầu tư, hoạt động có hiệu quả, tạo việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương Các ngành nghề công nghiệp chủ yếu gồm: Đạm, may mặc, cơ khí, xây dựng, mộc, chế biến nông sản xuất khẩu Trong 05 năm qua, đã thu hút nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh với tổng số vốn đầu tư 2.970 tỷ đồng, tăng 145% so với giai đoạn 2005-2010
Trang 39Sản xuất nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch mạnh về cơ cấu cây trồng, vật nuôi; giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng trưởng bình quân 4,2%/năm Thành phố đã có cơ chế hỗ trợ, đẩy mạnh áp dụng tiến bộ KHCN, đưa những cây, con, giống có giá trị kinh tế cao vào sản xuất; đã hình thành những vùng sản xuất rau an toàn, hoa chất lượng cao, vùng nuôi thủy sản… giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp đạt 100 triệu đồng/ha Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới được quan tâm chỉ đạo, có hiệu quả Thành phố đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới 04 xã/06 xã (Song Mai, Dĩnh Trì, Tân Mỹ, Tân Tiến)
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh có nhiều chuyển biến tích cực Đặc biệt, sau khi mở rộng địa giới hành chính, thành phố đã hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050; rà soát, lập và triển khai quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết đô thị đảm bảo kết nối đồng bộ hạ tầng đô thị gắn với phát triển kinh tế - xã hội, mức độ phủ kín quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết khu vực
đô thị đạt tỷ lệ 91,5% Thành phố đã ban hành “Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị”; điều chỉnh địa giới hành chính 05 phường, xã và thành lập 03 phường (Đa Mai, Dĩnh Kế, Xương Giang) trên cơ sở 03 xã cũ Nhiều dự án trọng điểm được
đã hoàn thành, tạo điểm nhấn mới về cảnh quan, không gian đô thị như: Khu dân cư
số 2, số 3; khu Cống Ngóc - Bến xe; Khu dân cư Phía Nam Dĩnh Kế; Công viên và tượng đài Hoàng Hoa Thám; khuôn viên và tượng đài chiến thắng tại đầu cầu Bắc Giang; công viên và tượng đài Ngô Gia Tự, đường tỉnh 398 Các tuyến đường nội thành, hệ thống giao thông cơ sở, điện chiếu sáng, cấp thoát nước được quan tâm đầu tư, cải tạo, nâng cấp đến nay, tỷ lệ cứng hóa đường giao thông cơ sở đạt 98,5%;
tỷ lệ thôn, tổ dân phố có hệ thống điện chiếu sáng đạt 100% ) Các công trình phúc lợi công cộng, phục vụ thiết thực đời sống dân sinh được quan tâm đầu tư đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, học tập, sinh hoạt văn hóa, tinh thần cho nhân dân Cơ bản các hồ lớn trên địa bàn được nạo vét, kè đá và xây dựng
hệ thống thu gom nước thải, kênh dẫn nước vào các trạm bơm Cảnh quan, môi trường đô thị có nhiều khởi sắc
Bảng 2.1: Danh mục đơn vị hành chính thành phố Bắc Giang năm 2016
Trang 40(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Bắc Giang năm 2016)
Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được chú trọng theo phương châm: Xã hội hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa; tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 97,1%; có 49/53 trường MN, TH, THCS chuẩn Quốc gia, đạt 92,5%; 4/6 trường THPT đạt chuẩn Quốc gia; 16/16 phường, xã có trung tâm học tập cộng đồng Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các cấp học được tăng cường cả
về số lượng, chất lượng bảo đảm tỷ lệ, cơ cấu quy định (Hiện 100% giáo viên các trường có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn) Chất lượng giáo dục toàn diện và mũi nhọn luôn được phát huy, duy trì vị trí dẫn đầu tỉnh Công tác đào tạo, dạy nghề được quan tâm và có nhiều chuyển biến; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%
Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn được mở rộng, phát triển, trình
độ đội ngũ y, bác sỹ từng bước được nâng lên, đáp ứng cơ bản yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Hiện nay, thành phố có trên 100 cơ sở khám chữa bệnh công lập
và tư nhân; tỷ lệ bác sỹ đạt 57 bác sỹ/vạn dân, 139 giường bệnh/vạn dân Hệ thống
y tế cơ sở được chuẩn hóa, 16/16 phường, xã đạt “chuẩn Quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020” đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân BHYT ngày càng được mở rộng cả về diện và đối tượng, tỷ lệ tham gia BHYT toàn dân tăng từ 65% lên 88% Công tác Dân số - KHHGĐ đạt nhiều kết quả quan trọng, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì ổn định ở mức dưới 01%; chất lượng dân số được nâng lên;
tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 05 tuổi giảm còn 13%
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đạt nhiều kết quả tích cực, nếp sống văn minh đô thị của người dân có chuyển biến, thiết chế văn hóa được củng cố tăng cường Hằng năm, tỷ lệ gia đình văn hóa đạt trên 90%; tỷ lệ thôn, tổ dân phố, cơ quan văn hóa đạt trên 80% Các thiết chế văn hóa tiếp tục được đầu tư, đến nay 154/154 thôn, tổ dân phố có nhà sinh hoạt văn hóa; 100% phường,