Do vậy, thách thức lớn nhất hiện nay để thực hiện chiến lược giảm nghèo là đẩy mạnh hệ thống tài chính vi mô cho người nghèo và làm thế nào để các tổ chức này cùng lúc có thể đạt 2 mục t
Trang 3Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1.Tính Cấp Thiết Của Đề Tài 7
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài: 9
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: 10
4.Phương pháp nghiên cứu 10
5.Những đóng góp của luận án 11
6.Nội dung của luận án gồm 3 chương: 11
7.Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài: 11
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ 13
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO 13
1.1.1 Quan điểm và mục tiêu của chiến lược xóa đói giảm nghèo ở nước ta 13
1.1.1.1 Quan điểm chung của Đảng và Nhà nước ta 13
1.1.1.2 Quan điểm chỉ đạo chung về chiến lược xóa đói giảm nghèo tại Thành Phố Hồ Chí Minh 15
1.1.1.3 Mục tiêu 16
1.1.2 Nội dung hoạt động và các giải pháp để thực hiện chiến lược xóa đói giảm nghèo: 17
1.1.2.1 Thực trạng và nguyên nhân của đói nghèo: 17
1.1.2.2 Nội dung hoạt động của chương trình xoá đói giảm nghèo: 18
1.1.2.3 Các giải pháp chính để thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo: 20
1.2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ – CÔNG CỤ CHIẾN LƯỢC TRONG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO: 21
1.2.1 Phương pháp luận của tài chính vi mô 22
1.2.1.1 Định nghĩa về tài chính vi mô 22
1.2.1.2 Mục tiêu xoá đói giảm nghèo thông qua công cụ tài chính vi mô 23
1.2.1.3 Những rủi ro của tài chính vi mô 25
Trang 4Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
1.2.2 Vai trò của tài chính vi mô – công cụ quan trọng và cơ bản về kinh tế trong chiến lược xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam 26 1.2.2.1 Cung cấp phương tiện sản xuất – tạo việc làm và giúp người nghèo quen với nền sản xuất hàng hóa 26 1.2.2.2 Thông qua phương pháp tiếp cận của tài chính vi mô theo
cơ sở nhóm cộng đồng giúp chúng ta hiểu được nhu cầu và phát
hiện tiềm năng lao động sáng tạo của người nghèo 27 1.2.2.3 Giúp tăng cường sự tham gia của người nghèo, củng cố địa
vị và nâng cao vị trí quyền lực cho người phụ nữ nghèo trong gia
đình 27 1.2.2.4 Tài chính vi mô tạo điều kiện bảo đảm mức độ an toàn về tài chính cho người nghèo và là một công cụ hiệu quả huy động
nguồn vốn trong người nghèo 28 1.3 KINH NGHIỆM TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH
VI MÔ 29 1.3.1 Kinh nghiệm từ các chương trình tài chính vi mô thành công trên thế giới 29 1.3.1.1 Grameen Bank (GB) – Ngân hàng cung cấp tài chính vi mô cho người nghèo đầu tiên trên thế giới 29 1.3.1.2 Những đặc điểm thành công của các công trình tài chính vi
mô trên thế giới 31 1.3.2 Những kinh nghiệm rút ra từ các mô hình tài chính vi mô trên thế giới 33 1.3.2.1 Làm việc trực tiếp tại cộng đồng, các thủ tục áp dụng đơn
giản, cấp tín dụng nhanh chóng 33 1.3.2.2 Không yêu cầu phải có kế hoạch kinh doanh hoặc sổ sách
phức tạp, không yêu cầu tài sản thế chấp 34 1.3.2.3 Khuyến khích người nghèo khởi sự một hoạt động kinh tế bất kỳ, dù nó có qui mô rất nhỏ, tập trung vào thị trường địa
phương 34 1.3.2.4 Cho vay món nhỏ có thời gian ngắn chủ yếu cho mục đích
bổ sung vốn lưu động cho vay món mới lớn hơn trên cơ sở hoàn trả đầy đủ 34
Trang 5Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
1.3.2.5 Đáp ứng yêu cầu của khách hàng nghèo, hình thành các dự
án quy mô lớn, có sinh lời và có khả năng bền vững 35 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG CHIẾN LƯỢC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI TP HỒ
CHÍ MINH 36 2.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
VÀ MÔI TRƯỜNG TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM 36 2.1.1 Khái quát chung về hoạt động xóa đói giảm nghèo và phương pháp phân loại đánh giá hộ nghèo tại Việt Nam: 36 2.1.1.1 Khái quát chung về bối cảnh kinh tế xã hội và thành tựu xóa đói giảm nghèo ở nước ta: 36 2.1.1.2 Các phương pháp đánh giá và phân loại hộ nghèo hiện nay
ở nước ta 37 2.2.2 Môi trường hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam: 44 2.2.2.1 Môi trường hoạt động tài chính vi mô 44 2.2.2.2 Những hạn chế trong việc mở rộng hoạt động các tổ chức
tài chính vi mô tại Việt Nam 45 2.3 TÌNH HÌNH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ CƠ SỞ HOẠT
ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH 46 2.3.1 Đối tượng nghèo, tình trạng nghèo và vùng nghèo tại TP Hồ Chí Minh 46 2.3.1.1 Đối tượng và tình trạng nghèo tại TP.Hồ Chí Minh 46 2.3.1.2 Phân loại vùng nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh 48 2.3.2 Tình hình triển khai các chương trình xóa đói giảm nghèo và quá trình hình thành, phát triển các định chế tài chính vi mô tại
Tp.Hồ Chí Minh 49 2.3.2.1 Ngân Hàng Phục Vụ Người Nghèo Tp Hồ Chí Minh: 50 2.3.2.2 Các qũy Tín Dụng Nhân Dân ( Qũy TDND ): 51 2.3.2.3 Qũy xoá đói giảm nghèo của chương trình Xóa Đói Giảm
Nghèo Thành Phố 51 2.5 MỘT SỐ TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI
CHÍNH VI MÔ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH 58 2.5.1 Những hạn chế về môi trường bên trong của các tổ chức tài
chính vi mô 58
Trang 6Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
2.5.1.1 Các dịch vụ tài chính vi mô cơ bản cho người nghèo: 58
2.5.1.2 Phương pháp tiếp cận và các quy trình, quy định về cấp tín dụng cho hộ nghèo 59
2.5.1.3 Hệ thống quản lý tài chính, tín dụng: 60
2.5.1.4 Quản lý chất lượng vốn đầu tư cho người nghèo: 61
2.5.1.5 Công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa được chú trọng đầu tư đúng mức 61
2.5.2 Những hạn chế về môi trường hoạt động tài chính vi mô, vấn đề cơ cấu, chính sách và mô hình hoạt động 62
2.5.2.1 Mô hình và cơ chế hoạt động: nhiều kênh tín dụng tiết kiệm chưa thống nhất về quản lý 62
2.5.2.2 Tình trạng pháp lý chưa rõ ràng của các tổ chức tài chính vi mô bán chính thức 64
2.5.2.3 Vấn đề nguồn vốn và chính sách lãi suất 65
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VÀ HÒAN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG CHIẾN LƯỢC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI TP HỒ CHÍ MINH 70
3.1 GIẢI PHÁP THÁO GỠ KHÓ KHĂN TRONG NỘI BỘ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 70
3.1.1 Phát triển các sản phẩm và dịch vụ tài chính cơ bản bảo đảm đáp ứng nhu cầu người nghèo 70
3.1.1.1.Đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng cho người nghèo: 70
3.1.1.2 Phát triển sản phẩm tiết kiệm đi đôi với tín dụng 71
3.1.2 Hoàn thiện, cải tiến phương pháp tiếp cận và các quy trình, quy định về cấp tín dụng cho hộ nghèo 72
3.1.2.1.Phương pháp tiếp cận và tổ chức đơn vị cơ sở của tài chính vi mô: 72
3.1.2.2 Quy định cấp tín dụng cho người nghèo 74
3.1.3 Xây dựng hệ thống quản trị tài chính chặt chẽ 75
3.1.3.1 Tối thiểu hoá các chi phí đến người nghèo 75
3.1.4 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho việc mở rộng phạm vi phục vụ 79
3.1.4.2 Chú trọng công tác tập huấn nâng cao năng lực và sự tham gia của người nghèo 80
Trang 7Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
3.1.4.3 Xây dựng định mức năng suất nhân viên và áp dụng cơ chế
khuyến khích nhân viên 80
3.2 GIẢI PHÁP TẠO DỰNG MÔI TRƯỜNG THUẬN LỢI CHO HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ 81
3.2.1 Thể chế hoá mô hình định chế tài chính vi mô hỗ trợ người nghèo 81
3.2.1.1 Một là tổ chức tài chính vi mô theo mô hình của một số tổ chức xã hội, phi chính phủ rất thành công hiện nay Khuyến khích các tổ chức đoàn thể xã hội, chính trị…tham gia vào hoạt động xóa đói giảm nghèo dưới hình thức các quỹ tín dụng cho người nghèo một cách chuyên nghiệp Điều này vừa phát huy dược sức mạnh tổng hợp và sáng tạo của đông đảo các ngành, tận dụng được hệ thống chân rết từ quận, huyện, xã, ấp của các tổ chức xã hội đoàn thể 82
3.2.2.2 Mô hình thứ hai là mô hình Ngân hàng cho người nghèo như Ngân hàng Grameen 83
3.2.2 Môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển hoạt động tài chính vi mô 85
3.2.2.1 Xác định tư cách pháp lý phù hợp cho các tổ chức tín dụng chuyên nghiệp của Đoàn thể 85
3.2.2.2 Củng cố, sắp xếp hệ thống tài chính vi mô của Nhà nước 86 3.2.2.3 Khuyến khích cạnh tranh 86
3.3 CẢI TIẾN CHÍNH SÁCH VĨ MÔ LIÊN QUAN ĐỂ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ CÓ THỀ PHÁT TRIỂN MỘT CÁCH BỀN VỮNG 88
3.3.1 Người nghèo với vấn đề lãi suất trong kinh doanh 88
3.3.2 Tổ chức tài chính vi mô với vấn đề lãi suất hợp lý 90
3.3.3 Lãi suất hợp lý trong tài chính vi mô 91
3.4 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỚI NHÀ NƯỚC VÀ CÁC CƠ QUAN HỮU QUAN ĐỂ TẠO MÔI TRƯỜNG THUẬN LỢI PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ 93
3.4.1 Kiến nghị với chính quyền địa phương: 93
3.4.2.Kiến nghị đối với Ngân hàng: 93
3.4.3 Kiến nghị đối với cơ quan thuế: 94
Trang 8Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
3.4.4 Kiến nghị đối với Chính phủ 95 Phần Kết Luận 98 Tài liệu tham khảo : 100
Trang 9Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính Cấp Thiết Của Đề Tài
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới tạo ra một sức tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn bao giờ hết nhưng đồng thời nó cũng tạo ra sự phân hóa giàu nghèo ngày một gia tăng Trong vòng 30 năm qua, thu nhập của 20% số người nghèo nhất hành tinh đã giảm từ 2,3% xuống 1,2% thu nhập của thế giới Trong khi đó thu nhập của 20% số người giàu nhất lại tăng từ 70% lên
87% (báo cáo phát triển nhân lực của thế giới năm 2003 UNDP) Ở nước ta
việc chuyển sang nền kinh tế thị trường hơn 18 năm qua đã tạo động lực cho kinh tế đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ về mức chi tiêu đầu người và nâng cao các chỉ số xã hội, qua đó đã thực hiện giảm nghèo một cách đáng kể và nâng cao đời sống của người dân Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời xuất hiện hiện tượng phân cực nhanh chóng về thu nhập, một
bộ phận dân cư giàu lên, đồng thời một nhóm dân cư rơi vào tình trang nghèo khổ – theo báo cáo “ Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ” diễn ra tại Hà Nội vào sáng 16/9/2005: Nếu như mức chênh lệch giữa thành thị và nông thôn năm 1993 là 1,8 lần thì đến năm 2002 đã tăng lên 2,4 lần Tại Tp Hồ Chí Minh, một thành phố công nghiệp năng động lớn nhất đất nước, sự phân cực này càng diễn ra gay gắt
Mục tiêu dài hạn của nước ta là hội nhập với nền kinh tế thế giới, theo kịp các nước thịnh vượng trong khu vực Một nền kinh tế tăng trưởng bền vững cũng có nghĩa là không để người nghèo tụt lại đằng sau Cho đến nay, nghèo đói vẫn là một thách thức lớn nhất mà chúng ta phải đương đầu trong quá trình phát triển Chính phủ ta đã đặt mục tiêu trong báo cáo phát triển
Trang 10Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
kinh tế xã hội năm 1995 là giảm một nửa tỷ lệ nghèo đói chung vào năm
2000, xoá bỏ tình trạng nghèo đói (theo đánh giá của Chính phủ) vào năm
2010, và tăng mức thu nhập thực tế theo đầu người gấp 8 đến 20 lần vào năm
2020 Trọng tâm chiến lược xoá đói giảm nghèo ở nước ta là thực hiện các giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo về tín dụng , hỗ trợ kỹ thuật v v… chú ý nhiều đến cách giảm nghèo bền vững và xóa hẳn nạn đói, hơn là những biện pháp làm dịu bớt và những trợ cấp không bền vững
Chính vì vậy hoạt động tài chính vi mô cho người nghèo trở thành một hoạt động hết sức quan trọng, góp phần giải quyết yêu cầu cấp bách hiện nay
là làm thế nào để hoạt động xoá đói giảm nghèo ngày càng hiệu quả, giải quyết tận gốc những bức xúc khó khăn của người nghèo, phá vỡ vòng luẩn quẩn của “Nghèo đói – không có đầu tư – không có thu nhập – hoặc thu nhập thấp – nghèo khó” Cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô trực tiếp cho người nghèo để họ đi lên bằng chính đôi chân của mình là rất phù hợp với chiến lược kinh tế xã hội của chính phủ trong việc giúp nhân dân để họ tự giúp chính bản thân mình
Hiện nay, tại Tp Hồ Chí Minh tài chính vi mô cho người nghèo còn là một vấn đề rất mới mẻ, chưa có nhiều tổ chức tài chính vi mô chuyên nghiệp
để thực hiện trên diện rộng chiến lược xoá đói giảm nghèo Phương thức hoạt động còn nhiều khó khăn, lúng túng khi mở rộng khả năng tiếp cận những hộ nghèo, cụ thể, hạn chế về khả năng quản lý sử dụng vốn của người nghèo, nợ quá hạn chiếm tỷ lệ cao và những người nghèo nhất vẫn chưa được tiếp cận với nguồn lực tài chính Mặt khác, hầu hết các tổ chức tài chính vi mô đều không có khả năng phát triển bền vững và tự cung về tài chính Ngân sách Nhà nước hàng năm vẫn phải bù lỗ rất lớn cho những hoạt động này, như vậy
về lâu dài, đây là vấn đề khó khăn và nan giải nhất
Trang 11Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Trên thực tế, đa số các hoạt động của một số tổ chức trên địa bàn thành phố còn mang tính tự phát và chưa được thể chế hoá Do vậy, thách thức lớn nhất hiện nay để thực hiện chiến lược giảm nghèo là đẩy mạnh hệ thống tài chính vi mô cho người nghèo và làm thế nào để các tổ chức này cùng lúc có
thể đạt 2 mục tiêu: mở rộng khả năng tiếp cận và cung cấp dịch vụ tín
dụng tiết kiệm nhỏ đến một số lượng lớn người nghèo và nghèo nhất
trong khi đạt đến sự bền vững, tự cung đầy đủ về tài chính (Tự cung đầy
đủ về tài chính của tổ chức tài chính vi mô hiểu theo nghĩa đầy đủ là thu nhập
từ hoạt động tín dụng cho người nghèo đủ để trang trải tất cả các chi phí hoạt động điều hành Chi phí dự phòng rủi ro mất vốn và các chi phí hành chính khác, sau khi đã điều chỉnh tất cả các yếu tố bao cấp, trợ giá, lạm phát v v )
Xuất phát từ tình hình thực tế trên và tính cấp thiết cho yêu cầu xây dựng một mô hình tài chính vi mô bền vững và hoạt động hiệu quả để thực hiện thành công chiến lược xoá đói giảm nghèo tại Tp Hồ Chí Minh nói riêng và
cả nước nói chung, chúng tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp đẩy mạnh và
hoàn thiện hoạt động tài chính vi mô trong chiến lược xoá đói giảm nghèo tại Tp Hồ Chí Minh”
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm giải quyết vấn đề thách thức của tài chính vi mô để phát huy tiềm năng mạnh mẽ của công cụ này, góp phần thực hiện thành công xoá đói giảm nghèo Trong phạm vi đề tài, chúng tôi đặt
ra các câu hỏi nghiên cứu như sau: (i) một mô hình tổ chức tài chính vi mô như thế nào là thích hợp và hiệu quả trong điều kiện hiện nay? (ii) Cần xây dựng hệ thống quản lý chung cho mô hình trên như thế nào? (iii) để thực hiện giảm nghèo một cách bền vững thì liệu rằng cơ chế tín dụng bao cấp như hiện nay có phải là cơ chế tốt nhất cho người nghèo hiện nay không? Và một khi
Trang 12Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
câu trả lời là không thì (iv) tổ chức tài chính vi mô cần lựa chọn phương pháp
tiếp cận và phát triển sản phẩm của tài chính vi mô như thế nào để có thể áp
dụng một chính sách lãi suất hợp lý cho người nghèo và đảm bảo hoạt động tự
cung về tài chính? (v) Chính phủ cần quan tâm tạo điều kiện gì để tạo lập một
môi trường hoạt động mang tính pháp lý thuận lợi cho việc phát triển hoạt động
tài chính vi mô gắn với chiến lược xóa đói giảm nghèo? v…v…
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tổ chức hoạt động tài chính vi mô
chính thức và bán chính thức tại Tp Hồ Chí Minh có quy mô nguồn vốn từ 10
tỷ trở lên và có số khách hàng nghèo trên 10.000 người
Ngoài ra tập trung vào việc đưa ra những giải pháp giúp tháo gỡ những
khó khăn bức xúc nhất hiện nay về vấn đề xây dựng mô hình tài chính vi mô
và quản trị chiến lược mô hình
4.Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu liên quan đến thách thức hiện nay của các tổ chức tài
chính vi mô rằng các tổ chức tài chính vi mô có thể bền vững và đạt tự cung
đầy đủ về tài chính trong khi vẫn giữ vững được các cam kết phục vụ những
hộ nghèo nhất
Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào khảo sát thực trạng
về hoạt động tài chính vi mô tại Tp Hồ Chí Minh Trên cơ sở thực trạng này,
vận dụng những lý thuyết cơ sở của tài chính vi mô, các triết lý, kinh nghiệm
phương pháp quản lý của các nước thành công trong chiến lược xóa đói giảm
nghèo sử dụng công cụ tài chính vi mô để đề xuất các giải pháp phù hợp với
tình hình thực tế tại Tp Hồ Chí Minh Do vậy chúng tôi sử dụng phương
Trang 13Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
pháp mô tả để nghiên cứu là chủ yếu đồng thời kết hợp với phương pháp tương quan và phương pháp phân tích, tổng hợp
5.Những đóng góp của luận án
Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm hoạt động tài chính vi mô trong chiến lược giảm nghèo của các nước trên thế giới trong gần 3 thập niên, qua phân tích đánh giá thực trạng hoạt động tài chính vi mô cho người nghèo những năm qua của một số tổ chức tiêu biểu tại Tp Hồ Chí Minh chúng tôi tập trung nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp chiến lược để giải đáp các vấn đề nghiên cứu đã đặt ra ở trên Từ đó, góp phần xây dựng các tổ chức tài chính vi mô hoạt động thực sự hiệu quả, bền vững, tự cung đầy đủ về tài chính để ngày càng nâng cao năng lực, mở rộng tầm hoạt động phục vụ ngày càng nhiều người nghèo vượt khỏi nghèo khó, thực hiện thành công công cuộc xoá đói giảm nghèo tại Tp Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung
6.Nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về chiến lược xoá đói giảm nghèo và hoạt
động tài chính vi mô
Chương 2: Thực trạng hoạt động tài chính vi mô trong chiến lược xoá đói
giảm nghèo tại Tp Hồ Chí Minh
Chương 3: Các giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện hoạt động tài chính vi mô
trong chiến lược xóa đói giảm nghèo tại Tp Hồ Chí Minh
7.Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Cơ sở khoa học của đề tài: Các giải pháp đề xuất được dựa trên cơ sở phân tích thực trạng tổng kết thực tiễn và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của các nước thành công trên thế giới trong việc thực hiện giảm nghèo thông qua công cụ tài chính vi mô
Trang 14Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Đề tài được xây dựng trên cơ sở bức xúc thực tế và yêu cầu về một mô hình tài chính vi mô thích hợp cho người nghèo hiện nay tại Tp Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung Kết quả nghiên cứu sẽ là một phần đóng góp vào việc thực hiện thành công chiến lược Xoá đói giảm nghèo
Trang 15Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ HOẠT ĐỘNG
TÀI CHÍNH VI MÔ 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1.1 Quan điểm và mục tiêu của chiến lược xóa đói giảm nghèo ở nước
ta
1.1.1.1 Quan điểm chung của Đảng và Nhà nước ta
Phát triển nền kinh tế hàng hoá từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, đói nghèo vẫn là một thách thức lớn nhất đối với nước ta trên con đường hội nhập với mục tiêu vừa bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn liền với mục tiêu thực hiện công bằng xã hội, xây dựng sự nghiệp “Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh” Xóa đói giảm nghèo hay “Diệt giặc đói” như Bác Hồ đã nói vào năm 1945 là thực hiện công bằng xã hội, chống nguy
cơ tụt hậu ngày càng xa đối với các nước trong khu vực, góp phần ổn định tình hình chính trị xã hội tạo đà cho kinh tế phát triển bền vững lâu dài Vì vậy văn kiện Đại hội VIII đã đề ra chương trình xoá đói giảm nghèo là một trong 11 chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi ngưỡng cửa sự nghèo nàn và nền kinh tế hàng hoá chưa thật sự phát triển mạnh mẽ Theo đánh giá của UNDP năm
2003 dựa vào các chỉ số phát triển nhân lực, nước ta xếp hạng thứ 112 trong
177 nước được nghiên cứu, mức thu nhập bình quân đầu người 553USD/năm, riêng những vùng nông thôn có khoảng 75% dân số sống với mức thu nhập hàng năm từ 60 USD đến 150USD
Trọng tâm chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta là một quá trình cải cách nhằm chuyển nền kinh tế từ hệ thống kế hoạch hoá tập trung
Trang 16Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
sang một nền kinh tế thị trường năng động hơn Mức tăng trưởng kinh tế cao
và bền vững hết sức quan trọng để khắc phục tình trạng nghèo và các vấn đề khác
Nhận thức về tầm quan trọng nói trên vào năm 1991, Chính phủ đã phát triển một chiến lược xóa đói giảm nghèo với sự can thiệp có mục tiêu nhằm
hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo và tăng cường giảm nghèo Thực hiện chiến lược giảm nghèo, tạo môi trường vĩ mô thuận lợi là hết sức cần thiết vì những
lý do chính yếu sau đây:
Thứ nhất: Một môi trường vĩ mô hiện hữu là cần thiết nhằm tạo điều
kiện cho người nghèo tự giúp mình để thực hiện giảm nghèo bền vững
Thứ hai: Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, những người nghèo nhất
chỉ thoát khỏi cảnh nghèo nhờ tự tạo việc làm thông qua việc cung cấp tín dụng vi mô
Thứ ba: Đối với những người nghèo do tàn tật không còn khả năng lao
động, già cả thì cần có một môi trường vĩ mô thuận lợi để đảm bảo toàn bộ
hệ thống có thể tạo ra thu nhập thặng dư đủ để san sẻ và phân phối lại thu nhập cho những người này thoát khỏi cảnh nghèo
Khái niệm cơ bản của chiến lược xoá đói giảm nghèo ở nước ta là đặt con người vào trung tâm của sự phát triển và thúc đẩy tiềm năng của mỗi cá nhân cộng đồng Mục tiêu tối cao là phát triển toàn diện, cân đối và lâu dài Đây là chiến lược phát triển vì dân và do dân – một chiến lược tập trung vào nhiệm
vụ phát triển tiềm năng của con người, xem con người là động lực mạnh nhất của phát triển, là năng lượng sáng tạo, là nguồn của cải vật chất và tinh thần của xã hội Đồng thời đây là một chiến lược mục tiêu, cao nhất của nó là ấm no
tự do, hạnh phúc cho con người
Trang 17Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Quan điểm chiến lược của chương trình xóa đói giảm nghèo không phải
là bao cấp cho người nghèo mà chủ yếu là hỗ trợ bằng cách cho vay vốn,
hướng dẫn làm ăn, đào tạo nghề, tạo môi trường thuận lợi để người nghèo tự vươn lên Hình thành quỹ xoá đói giảm nghèo ở từng địa phương trên cơ sở Nhà nước giúp dân để nhân dân tự giúp mình và tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong nước và quốc tế
1.1.1.2 Quan điểm chỉ đạo chung về chiến lược xóa đói giảm nghèo tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Trong những năm đổi mới, Tp.Hồ Chí Minh là một thành phố đi đầu trong cả nước thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo Sau mười bốn năm thực hiện, chương trình xóa đói giảm nghèo đang đi vào giai đoạn mới – đã xoá được hộ đói, hiện nay chủ yếu là thực hiện chiến lược giảm nghèo Do vậy tính chất của chương trình mang tính căn bản hơn nhưng cũng phức tạp hơn, điều này đòi hỏi phải xác định đúng nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở từng loại hộ chương trình để có những chiến lược trợ giúp phù hợp, cụ thể Các giải pháp trợ giúp hộ nghèo của Thành phố phải gắn chặt với qui hoạch tổng thể chung và các chương trình phát triển kinh tế xã hội của toàn thành
phố và từng quận huyện (như qui hoạch đô thị, xây dựng nhà ở, giải quyết
việc làm…)
Quan điểm mục tiêu chỉ đạo xuyên suốt của chiến lược xoá đói giảm nghèo tại Tp Hồ Chí Minh là:
Thứ nhất: Xoá đói là một nhiệm vụ bức bách phải dứt điểm trong thời
gian ngắn, nhưng giảm nghèo, vượt nghèo, rút ngắn chênh lệch giàu nghèo là một vấn đề lâu dài, phức tạp nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay Giải quyết vấn đề này đòi hỏi một quá trình bền bỉ thực hiện nhiều
Trang 18Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
giải pháp đồng bộ trong đó giải pháp trợ giúp về kinh tế thông qua hình
thức tín dụng được xem là một giải pháp quan trọng nhằm tạo thu nhập và nâng
cao mức sống cho các hộ nghèo
Thứ hai: Xóa đói giảm nghèo là một vấn đề tổng hợp về kinh tế, xã hội
nên khi thực hiện phải lồng ghép, kết hợp với một số chương trình phát triển kinh tế xã hội khác, nhưng đồng thời lại là một chương trình độc lập có mục tiêu riêng, nguồn lực riêng, qui trình vận hành riêng
Thứ ba: Yếu tố quyết định thành công của chiến lược xóa đói giảm
nghèo là phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, chính quyền và toàn dân, đặc biệt phải chú ý đến việc tương trợ giúp đỡ trong những người nghèo với nhau, Bác Hồ đã nói: “Muốn chống nạn đói cũng phải huy động và tổ chức tất cả lực lượng của toàn thể đồng bào….chỗ nào nhân dân tổ chức giúp đỡ nhau thì kết quả hơn chỗ cấp phát”
1.1.1.3 Mục tiêu
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế của nước ta đề ra chủ trương khuyến khích mọi công dân làm giàu hợp pháp, coi một bộ phận dân cư giàu trước, một vùng giàu trước là cần thiết cho sự phát triển và tiến bộ chung; đồng thời có chính sách đặc biệt trợ giúp người nghèo, nhằm xóa bỏ hộ nghèo, dần dần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo Chính sách trợ giúp của Chính phủ về lâu dài không phải là bao cấp mà chỉ tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp người lao động nghèo tự vươn lên Riêng đối với các hộ nghèo không còn khả năng lao động sẽ được Nhà nước trợ cấp
Trang 19Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
1.1.2 Nội dung hoạt động và các giải pháp để thực hiện chiến lược xóa đói giảm nghèo:
1.1.2.1 Thực trạng và nguyên nhân của đói nghèo:
Để thực hiện thành công xoá đói giảm nghèo, điều kiện tiên quyết là phải xác định đúng thực trạng và nguyên nhân của đói nghèo để có những chính sách giải pháp đồng bộ Mặc dù đã đạt những thành tựu đáng kể về giảm nghèo trong những năm qua, theo kết quả điều tra còn 20,39 triệu người (chiếm 24,87% dân số) còn dưới mức thu nhập tối thiểu cần thiết để có được mức sống hợp lý (Tổng cục thống kê, 2004) Theo báo cáo đánh giá của Liên hiệp quốc năm 2005 về “Xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam” và đánh giá của Ban Chỉ Đạo Xoá Đói Giảm Nghèo TP Hồ Chí Minh sau 5 năm thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo của Thành phố 2000 – 2004, có thể rút ra 3 nhóm nguyên nhân chủ yếu thường xuyên lặp lại và có mối quan hệ mật thiết với nhau dẫn đến tình trạng nghèo ở nước ta nói chung và Tp Hồ Chí Minh nói riêng Những nguyên nhân và hạn chế này đang ngăn cản người nghèo không được tham gia vào môi trường thuận lợi của sự tăng trưởng, công bằng
và ổn định, bao gồm:
Các nguyên nhân khách quan do môi trường sống và điều kiện tự nhiên không thuận lợi: ở nông thôn bị thiên tai, dịch bệnh, đất đai nhiễm phèn mặn,
cơ sở vật chất, hạ tầng thấp kém, những tập quán lạc hậu Ngoài ra quá trình
đô thị hoá diễn ra nhanh và mở rộng…đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất làm ăn, cải thiện mức sống của nông dân nghèo Việc quy hoạch, cải tạo, thực hiện di dời, tái định cư và tình trạng tăng dân số cơ học ở thành phố…chứa đựng nhiều bất trắc đối với người nghèo ở nội thành
Trang 20Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Các nguyên nhân do bản thân của người nghèo thiếu điều kiện để làm ăn sinh sống bao gồm: không có vốn làm ăn hoặc thiếu vốn (chiếm tỷ lệ 70 – 80% số hộ chương trình); Thiếu kiến thức kinh nghiệm làm ăn (30-40%) ; thiếu ruộng đất canh tác (5%); Việc làm không ổn định và không có việc làm (48%); Thiếu công cụ phương tiện làm ăn (20-30%) Ngoài ra hộ nghèo thường gặp những bất trắc, rủi ro trong cuộc sống, ốm đau, bệnh tật, hoả hoạn, tai nạn… (3-4%); trình độ văn hoá thấp; đông con; và kể cả những trường hợp chây lười lao động, thậm chí mắc phải các tệ nạn xã hội (rượu chè
cờ bạc, trộm cắp)… (3-4%) (Theo tài liệu hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện chương trình xoá đói giam nghèo của UBND Tp HCM)
Các nguyên nhân do cơ chế chính sách: Bị tác động bởi cơ chế cũ và khi chuyển đổi cơ chế mới, xoá dần các khoản bao cấp của Nhà nước nhưng lại thiếu các chính sách, giải pháp trực tiếp phù hợp khuyến khích sản xuất, chăm
lo đời sống cho dân nghèo, thiếu các cơ hội cho người nghèo được tiếp cận với những nguồn lực sẵn có đặc biệt là đất đai, tín dụng, chưa huy động sức mạnh của cộng động xã hội và thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành để trợ giúp cho người nghèo một cách hiệu quả, thiếu tính bền vững về tài chính và môi trường, thiếu sự tham gia của nhân dân vào quá trình hoạch định và thực hiện các chương trình của Chính phủ
1.1.2.2 Nội dung hoạt động của chương trình xoá đói giảm nghèo:
Từ những thực trạng và nguyên nhân trên, khi điều hành hoạt động chương trình xoá đói giảm nghèo, để đạt kết quả rõ, phải phân loại các phương thức tiếp cận, các hoạt động theo tính chất và mức độ tác động đến mục tiêu
Chúng ta có thể chia các nội dung hoạt động thành 3 nhóm:
Trang 21Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Hoạt động trực tiếp làm giảm nhanh tỷ lệ hộ đói nghèo
Những hoạt động gián tiếp làm giảm bớt tỷ lệ hộ đói nghèo
Những hoạt động vừa trực tiếp vừa gián tiếp nhưng phải mất một thời gian tương đối dài mới phát huy hiệu qủa của chương trình xoá đói giảm nghèo
Những hoạt động trực tiếp làm giảm nhanh tỷ lệ hộ đói nghèo:
Trước hết là việc đảm bảo cho người nghèo đói ở vùng nông thôn sống bằng nghề nông phải có đất canh tác Đồng thời đi đôi với hướng dẫn cách làm ăn, cách giữ đất, phát huy tiềm năng của đất Đối với những hộ nghèo ở thành thị do giải toả di dời cần phải có chính sách đền bù thoả đáng để không bị rơi vào tình trạng đói
Thứ hai là việc hỗ trợ tài chính, tín dụng cho các hộ nghèo ở thành thị và nông thôn Theo nguồn số liệu thì hiện nay còn khoảng 25-30% hộ nghèo chưa tiếp cận được với nguồn tín dụng ưu đãi của chính phủ Tuy nhiên có một nghịch lý là những nơi nghèo đói nhất, thiếu vốn nhất lại không vay vì rất nhiều hộ nghèo không biết vay vốn để làm gì
Ngoài ra, song song với hỗ trợ tín dụng, việc đào tạo hướng dẫn kỹ thuật, nghề cho người lao động nghèo cũng hết sức cần thiết
Những hoạt động gián tiếp làm giảm bớt tỷ lệ đói nghèo:
Những hoạt động này gồm hai việc chính là hỗ trợ các hộ nghèo về y tế
và giáo dục
Những hoạt động vừa trực tiếp vừa gián tiếp với thời gian dài:
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, sắp xếp lại dân cư
Trang 22Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Định canh, định cư, di dân xây dựng kinh tế mới
Nâng cao năng lực cán bộ xoá đói giảm nghèo và cán bộ các xã miền núi, với yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản về kinh tế xã hội và các chính sách liên quan đến xoá đói giảm nghèo, nâng cao năng lực quản
lý, triển khai công việc có hiệu quả ở cơ sở
1.1.2.3 Các giải pháp chính để thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo:
Giải pháp tăng cường giảm nghèo còn có nghĩa là tăng những lựa chọn
và cơ hội hiện có cho người nghèo bằng cách (i) tiếp tục phát triển và mở rộng môi trường thuận lợi cho tăng trưởng, ổn định và công bằng, những vùng nông thôn đang trong hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đô thị hoá và những nơi hẻo lánh hoăc (ii) cho phép người nghèo được di cư đến những môi
trường thuận lợi hơn (thường tâp trung ở các trung tâm thành thị), hoặc (iii)
một số cách kết hợp cân bằng hai phương án này
Phương án thứ nhất là phát triển hơn nữa môi trường thuận lợi bao gồm
những biện pháp nhiều mặt kể cả làm sâu sắc hơn các cải cách vĩ mô (kinh tế,
luật pháp, thể chế), tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng tại các vùng nông thôn
nghèo, nâng cao trình độ văn hoá, đưa các nguồn thông tin đến người nghèo Đồng thời tăng sự tham gia của người nghèo vào việc xác định những nhu cầu
ưu tiên và đề ra giải pháp thông qua việc phi tập trung hoá tài chính đúng mức
và đưa ra những quyết định liên quan
Đặc biệt là tăng sự tiếp cận các nguồn lực hiện có như: đất đai, tín dụng,
các dịch vụ khuyến nông, kỹ năng, công nghệ, trong đó giải pháp về cung
cấp các dịch vụ tài chính vĩ mô được xem là một giải pháp trực tiếp hết sức quan trọng
Trang 23Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Phương án thứ hai cho phép một số người nghèo di chuyển đến những
môi trường thuận lợi và có nhiều cơ hội việc làm hơn tại các trung tâm thành
phố Với phương pháp này, tài chính vĩ mô cũng không kém phần quan
trọng trong việc tự tạo việc làm cho những người nghèo nhập cư Tuy
nhiên điều này đòi hỏi phải có sự hoạch định đặc biệt để đảm bảo rằng mức di chuyển này không làm quá tải thị trường lao động, các dịch vụ xã hội và cơ sở
hạ tầng thành phố, hoặc dẫn đến đầu tư thái quá vào quá trình đô thị hoá với cái giá phải trả là chi phí cơ hội của đầu tư vào nông thôn có tỷ suất lợi nhuận
và khả năng tạo việc làm cao hơn
Phương pháp thứ ba là một số giải pháp kết hợp cả hai phương án trên 1.2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ – CÔNG CỤ CHIẾN LƯỢC TRONG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO:
Như trên đã đề cập, một trong những giải pháp hiệu quả và nhanh chóng nhất để thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo là tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn lực và các cơ hội thuận lợi để người nghèo có thể hội nhập nhanh chóng vào sự phát triển kinh tế của xã hội Tài chính vi mô là một phần căn bản của nguồn lực nói trên, tạo ra cơ hội cho người nghèo tự tạo việc làm
và tăng thu nhập, xây dựng lòng tin, tinh thần tự lực để vượt qua nghèo khó Tuy nhiên cho đến nay, mặc dù đã hơn hai mươi năm kể từ ngày Ngân hàng Grammeen – Bangladesh khởi xướng phong trào tín dụng tiết kiệm cho người nghèo, vẫn còn một số quan điểm khác nhau về người nghèo và tài chính vi
mô cho người nghèo như làm thế nào nhận dạng người nghèo một cách tích cực và chủ động, người nghèo có khả năng sử dụng nguồn tín dụng với lãi suất thị trường một cách hiệu quả không, tổ chức tài chính vi mô có thể tự bền vững về tài chính trong khi cam kết phục vụ những người nghèo nhất hay
Trang 24Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
không v v…Để hiểu rõ hơn về tài chính vi mô và người nghèo, trước tiên cần
bàn đến phương pháp luận cơ bản của tài chính vi mô
1.2.1 Phương pháp luận của tài chính vi mô
1.2.1.1 Định nghĩa về tài chính vi mô
Tài chính vi mô liên quan đến những giao dịch tài chính nhỏ, theo định nghĩa tại Hội nghị Thượng Đỉnh vi tín dụng (Microcredit Summit) của thế giới tổ chức tại Washington D.C, tài chính vi mô bao gồm tín dụng nhỏ và các dịch vụ tài chính căn bản như tiết kiệm và hỗ trợ kỹ thuật cho người nghèo Khái niệm này cũng được sử dụng phổ biến ở nước ta Tuy nhiên, định nghĩa thông dụng về tài chính vi mô tại Việt Nam được xét trên 3 khía cạnh: nhóm mục tiêu, tín dụng và tiết kiệm nhỏ, và cơ chế được sử dụng để cung cấp các dịch vụ đến khách hàng
• Nhóm mục tiêu: Tín dụng và tiết kiệm được cung cấp trên cơ sở các
nhóm khách hàng nghèo đã được xác định, điều này có nghĩa là khách hàng nghèo phải được tổ chức theo nhóm, theo cộng đồng trước khi thực hiện các giao dịch tài chính
• Tín dụng nhỏ được quy định bao gồm các yếu tố như: các khoản vay có
qui mô nhỏ, ví dụ như các món vay ban đầu khoảng 60 USD tại Bangladeh, 500 USD tại Mỹ và ≤ 2.000.000 đồng tại Tp HCM Ngoài
ra, các khoản cho vay thường là ngắn hạn (dưới một năm), thường cho
mục đích sản xuất và các hoạt động tăng thu nhập Và đặc biệt là không
yêu cầu tài sản thế chấp từ người nghèo cho các khoản vay
• Các dịch vụ tài chính cơ bản đi kèm với tín dụng nhỏ bao gồm:
Trang 25Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Tiết kiệm: Thực hiện tiết kiệm là một yêu cầu được khuyến khích với
người nghèo khi được hưởng các khoản tín dụng vi mô
Hỗ trợ kỹ thuật: Đây là một khái niệm hoàn toàn khác khái niệm
“Tài chính” về phương pháp tiếp cận: dựa trên cơ sở nhóm, cộng đồng, từ đó giải quyết các vấn đề của người nghèo (thiếu kiến thức, thiếu các bí quyết công nghệ, cách làm ăn…)
• Cơ chế thực hiện và giao dịch tài chính: Hầu hết hoàn trả các khoản
vay và thực hiện tiết kiệm đều được thực hiện tại cộng đồng (khách hàng không phải tới Ngân hàng) và hoàn trả theo phương thức chia nhỏ (góp hàng tuần hoặc hàng tháng)
1.2.1.2 Mục tiêu xoá đói giảm nghèo thông qua công cụ tài chính vi mô
Chiến lược xoá đói giảm nghèo thông qua công cụ tài chính vi mô phải
nhắm vào hai mục tiêu: tiếp cận những người nghèo nhất và đạt sự bền
vững về tài chính
Quan điểm về nhiều nhà tài chính Ngân hàng cho rằng đây là một sự đánh đổi (trade-off), không thể cùng một lúc đạt được cả hai mục tiêu tự cung đầy đủ về tài chính trong khi cam kết phục vụ những người nghèo nhất Thực
tế ở nước ta cho thấy với chính sách tín dụng bao cấp, các tổ chức tài chính vi
mô cho người nghèo như Ngân hàng phục vụ người nghèo ở Việt Nam không thể đạt được tự cung về tài chính, thay vào đó ngân sách Nhà nước hàng năm phải bù lỗ hàng chục tỷ đồng Trong tài chính vi mô chúng ta cần được biết chúng ta đang tiến gần đến đường giới hạn sản xuất như thế nào? Nếu chúng
ta đang đến gần, tức là có sự đánh đổi trực tiếp giữa phục vụ ngày càng nhiều người nghèo và bền vững về tài chính
Trang 26Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Như vậy lý thuyết cơ sở cho thấy nếu tổ chức tài chính vi mô đặt mục tiêu chuyên cung cấp dịch vụ tín dụng nhỏ ngày càng nhiều cho người nghèo, điều đó cũng có nghĩa là không thể tự cung đầy đủ về tài chính vì những lý do
cơ bản sau: (i) rủi ro cao vì cho vay không có thế chấp; (ii) người nghèo
thiếu vốn, thiếu kiến thức, thường làm ăn kém hiệu quả, tính rủi ro rất cao;
(iii) chi phí quản lý điều hành cao, kém lợi nhuận vì số lượng khách hàng nghèo rất lớn trong khi các món cho vay lại rất nhỏ và nhiều, do đó chi phí
cung cấp dịch vụ tài chính đến người nghèo rất cao
Tuy nhiên thực tiễn thành công của rất nhiều tổ chức tài chính vi mô
hàng đầu trên thế giới trong thập niên qua đã chứng minh rằng không có mối
liên hệ giữa mức độ nghèo của khách hàng và tài chính vi mô Thậm chí
ngay trong những bối cảnh tương quan không lợi nhuận, những tổ chức này
đã phát triển những phương pháp cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô một cách thích hợp, đúng lúc và chân thành với khách hàng, hiệu quả đến nỗi những khách hàng nghèo nhất cũng có thể trả đầy đủ các chi phí cho những dịch vụ mà họ họ được cung cấp
Do vậy có thể khẳng định các tổ chức tài chính vi mô sẽ thực hiện được
cả hai mục tiêu nếu đứng trên quan điểm rằng việc cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô là một loại hình kinh doanh khác về cơ bản so với các nghiệp vụ Ngân hàng thương mại tiêu chuẩn Và như vậy, cần phải (i) thiết kế các sản phẩm tài chính vi mô và giá cả của các sản phẩm này một cách đặc biệt; (ii) Chú trọng công tác quản trị nhân sự, huấn luyện cán bộ, huấn luyện thành viên vay vốn (iii) Xây dựng hệ thống giám sát, kế toán, báo cáo riêng biệt, hệ thống quản lý thông tin cần được thiết kế theo kiểu cách đặc thù, phù hợp với yêu cầu quản trị tài chính vi mô; (iv) Áp dụng cơ chế khuyến khích thích hợp
Trang 27Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
cho cả nhân viên và thành viên vay vốn v v để có thể đảm bảo cho các tổ chức tài chính vi mô hoạt động đạt hiệu quả cao
1.2.1.3 Những rủi ro của tài chính vi mô
Tài chính vi mô đóng vai trò quyết định đối với việc giúp người nghèo tiếp cận các dịch vụ tài chính Tuy nhiên cho tới nay vẫn còn các trường hợp thất bại khi tổ chức tài chính vi mô triển khai và mở rộng hoạt động, những rủi ro có thể dẫn đưa đến thất bại được thống kê như sau:
• Một số tổ chức tài chính vi mô chỉ tập trung vào một nhón dân cư trong khi nhóm này không có khả năng tiếp cận các cơ hội kinh doanh do thiếu thị trường, đầu vào và nhu cầu, ví dụ chỉ tập trung vào sản phẩm tín dụng như tín dụng sản xuất, rõ ràng là không có tác dụng đối với nhóm đối tượng khi họ không có đầu vào cần thiết khác
• Nhiều tổ chức tài chính vi mô không thể đạt được quy mô hoạt động tối thiểu hoặc mức độ hiệu quả cần thiết để bù đắp chi phí
• Một tổ chức tài chính vi mô phải hoạt động trong môi trường chính sách không thuận lợi và phải đối mặt với những thách thức gay gắt về kinh tế, xã hội
• Một tổ chức tài chính vi mô không thể quản lý nguồn vốn của mình một cách hợp lý để có thể đáp ứng nhu cầu chi trả tiền mặt của mình trong tương lai, và do vậy họ gặp phải những khó khăn về khả năng thanh khoản
• Một số khác hoạt động không hình thành một hệ thống quản lý tài chính hoặc những kỹ năng cần thiết để có thể đảm bảo hoạt động thành công
Trang 28Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
• Việc nhân rộng các mô hình thành công gặp nhiều khó khăn, do sự khác biệt về hoàn cảnh xã hội và thiếu sự điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh địa phương
1.2.2 Vai trò của tài chính vi mô – công cụ quan trọng và cơ bản về kinh
tế trong chiến lược xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
1.2.2.1 Cung cấp phương tiện sản xuất – tạo việc làm và giúp người nghèo quen với nền sản xuất hàng hóa
Dựa trên kết luận của các quan sát viên về hoạt động kinh tế hàng ngày ở các cộng đồng nghèo, đa số người nghèo làm việc chăm chỉ để mong thoát khỏi cảnh nghèo Tuy nhiên khi có cơ hội tăng thêm thu nhập, ước muốn nắm lấy cơ hội của người nghèo thường bị ngăn cản bởi sự thiếu vốn đầu tư Tín dụng nhỏ thật sự là một cứu cánh cung cấp cho người nghèo những gì họ cần để
tự tạo ra công ăn việc làm
Tài chính vi mô đóng vai trò đặc biệt quan trọng và đầy quyền năng trong việc giúp người lao động nghèo tự tạo việc làm – một trong những quyền thiêng liêng và cơ bản nhất của con người, giúp người nghèo vượt lên khỏi số phận và vòng lẩn quẩn già cỗi của sự nghèo khó Đó là vòng luẩn quẩn của
“Thu nhập thấp – tiết kiệm thấp – đầu tư thấp – thu nhập thấp – nghèo đói” Với tín dụng và tiết kiệm cho người nghèo, vòng luẩn quẩn trên bị được đảo ngược thành một hệ thống mở rộng của “Thu nhập thấp – tín dụng – đầu tư – tăng thu nhập – tăng tín dụng – tăng đầu tư – tăng thu nhập” Như vậy tài chính vi mô đã cung cấp phương tiện sản xuất, làm cho người nghèo quen với nền sản xuất hàng hoá
Trang 29Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
1.2.2.2 Thông qua phương pháp tiếp cận của tài chính vi mô theo cơ sở nhóm cộng đồng giúp chúng ta hiểu được nhu cầu và phát hiện tiềm năng lao động sáng tạo của người nghèo
Tài chính vi mô hoạt động trên cơ sở nền tảng của nó là nhóm cụm và cộng đồng qua sinh hoạt định kỳ của nhóm cụm tại cộng đồng, những nhu cầu cũng như khả năng sáng tạo của người nghèo được phát hiện Qua hoạt động tín dụng tiết kiệm và phát triển cộng đồng tạo dựnmg lòng tự tin, tinh thần tự lực, một yếu tố cơ bản duy nhất có thể giúp người nghèo đi lên bằng chính sức lao động, trí tuệ của mình Do đó, tài chính vi mô thực sự là chìa khoá để tìm hiểu nhu cầu và khơi dậy tiềm năng sáng tạo trong người nghèo
1.2.2.3 Giúp tăng cường sự tham gia của người nghèo, củng cố địa vị và nâng cao vị trí quyền lực cho người phụ nữ nghèo trong gia đình
Qua hoạt động thực tiễn cho thấy người nghèo đáng được tin cậy, đáng được ngân hàng cho vay và tích cực trong việc xóa nghèo hơn là những quan điểm truyền thống đánh giá về họ
Với sự tiếp cận tài chính vi mô tăng cường sự tham gia của phụ nữ nghèo trong các hoạt động kinh tế và tăng thu nhập của họ Hơn thế, tài chính vi mô, đặc biệt tại các nước đang phát triển có thể tạo ra quyền lực cho phụ nữ nghèo những người đóng góp nhiều nhất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội nhưng đồng thời cũng là những người chịu số phận thiệt thòi nhất cho họ địa
vị và tiếng nói trong gia đình và trong cộng đồng
Trang 30Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
1.2.2.4 Tài chính vi mô tạo điều kiện bảo đảm mức độ an toàn về tài chính cho người nghèo và là một công cụ hiệu quả huy động nguồn vốn trong người nghèo
Song song với tín dụng, thông qua cơ chế tiết kiệm bắt buộc hoặc khuyến khích, tài chính vi mô giúp thay đổi một ý thức hệ ăn sâu bám rễ khá lâu nay khi cho rằng người nghèo không thể tiết kiệm
Nếu cho rằng thu nhập thấp không cho phép người nghèo tiết kiệm là hoàn toàn sai Thực tế hoạt động tại phần lớn các tổ chức tài chính vi mô đều cho thấy một khả năng và nhu cầu tiết kiệm từ phía người nghèo Ví dụ cụ thể như mô hình tài chính nông thôn cho người nông dân có thu nhập thấp ở Inđonesia, chúng tôi đã nhận thấy những minh chứng hùng hồn của tiềm năng
to lớn về tiết kiệm từ người nghèo Trong hệ thống của Ngân hàng nhân dân Indonesia – B.R.I (một ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước với 329 chi nhánh, 3.569 đơn vị ngân hàng bán lẻ và 431 trạm dịch vụ để phục vụ cho người nghèo nông thôn) đã cho thấy sự thặng dư về tiết kiệm khá lớn trên tín dụng
và sự thặng dư về vốn ( chủ yếu là tiết kiệm) này đã được chuyển nhượng từ đơn vị này sang đơn vị khác của BRI và sự chuyển nhượng này có lãi suất (cao hơn lãi suất mà BRI huy động tiền gửi tiết kiệm) điều này cho phép các đơn vị BRI thặng dư vốn vẫn có lợi nhuận cao Một thí dụ cụ thể tại Chi Nhánh Ngân hàng CIBINONG (tây JAVA) – một trong những chi nhánh hoạt động có hiệu quả của BRI, là đơn vị có thặng dư vốn tiết kiệm trên rất cao Theo số liệu thực tế đến tháng 05/1997, số dư có tài khoản tiết kiệm lên đến 14,2 tỷ Rp – lớn gần gấp 11 lần so với số dư nợ tài khoản cho vay tại chi nhánh (1,3 tỷ Rp Đạt lợi nhuận ròng 212 triệu Rp Ngoài ra tại những đơn vị tín dụng tiết kiệm làng xã (Làng Gelgel, làng Lembaga) mà chúng tôi được tham quan đều có số dư tiết kiệm khá cao Một điều thú vị là chính từ số
Trang 31Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
lượng lớn các tài khoản tiền gửi từ các nhóm, các đơn vị tín dụng tiết kiệm ở nông thôn này đã đóng vai trò cung cấp nguồn quỹ ổn định cho các dự án đầu
tư lớn cho chính phủ
Nguồn tiết kiệm bắt buộc trong hoạt động tài chính vi mô đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm mức độ an toàn về tài chính nhất định cho người nghèo trong những thời kỳ khó khăn nhất như: bệnh tật, tai nạn, mất mùa, thiên tai….Nhờ đó làm dịu đi những thiếu hụt trong cuộc sống để họ không phải đi vay nặng lãi, một hiện tượng khá phổ biến trong người nghèo
Mặt khác, đa số các tổ chức tài chính vi mô đều nhận thức rõ về tầm quan trọng của tiết kiệm trong hoạt động Với cơ chế một phần tiết kiệm của khách hàng luôn được ký quỹ tại tổ chức tài chính vi mô cho phép giảm thiểu rủi ro của khoản cho vay đến người nghèo Quan trọng hơn cả là nguồn tiết kiệm từ khách hàng có thể tạo dựng một nguồn vốn khá hợp lý cho tổ chức vì bao giờ lãi suất tiết kiệm phải trả cho khách hàng bao giờ cũng nhỏ hơn lãi suất mà tổ chức tài chính vi mô phải trả cho việc vay mượn các nguồn vốn với lãi suất thương mại
Với vai trò và tác động mạnh mẽ của hoạt động tài chính vi mô trong việc giảm nghèo có thể khẳng định đây là một trong những công cụ quan trọng và
cơ bản trong chiến lược xoá đói giảm nghèo tại nước ta
1.3 KINH NGHIỆM TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH
Trang 32Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Vào năm 1976, giáo sư Muhammad Yunus – giáo sư trường Đại học Chitagong đã tiến hành những bước thử nghiệm đầu tiên ở Bangladesh để thí điểm tín dụng cho người nghèo Ông đưa ra một chương trình nghiên cứu hoạt động tài chính vi mô cho người nghèo để thử nghiệm giả thuyết: Nếu nguồn tài chính có thể đáp ứng cho người nghèo với những quy định và điều kiện hợp lý, họ sẽ có thể tự tạo ra công ăn việc làm mà không cần nhận sự cứu trợ thường xuyên
Đối tượng của GB là những người nghèo nhất trong số người nghèo Bangladesh Nguyên tắc cơ bản của GB là:
Người vay phải là người nghèo
Những người vay phải được tổ chức thành nhóm
Phải được huấn luyện và thử thách trước khi vay
Phải tham gia sinh hoạt thường kỳ hàng tuần
Phải xem tiết kiệm là mục tiêu quan trọng
Qui mô vốn vay đi từ nhỏ đấn lớn
Các dự án đều phải nhằm vào mục đích hoạt động phát sinh lợi tức
Giả thiết của Giáo sư Yunus đã được thực tế chứng minh qua việc thực hiện thành công dự án thí điểm “Grameen Bank Project” ở Chitagong (1976-1979), rồi mở rộng đến Tanggail (1979) Dhaka, Rangpur và Patuakhalic (1982-1983) và kết quả cuối cùng vào tháng 10/1983 dự án đã được chuyển đổi thành một Ngân hàng hoạt động độc lập: Ngân hàng Grameen tiếng Bangladesh có nghĩa là Ngân hàng Nông thôn) Chính phủ cung cấp 60% vốn hoạt động ban đầu dưới hình thức cổ phần, 40% cổ phần còn lại do người vay
sở hữu cổ phần
Trang 33Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
Từ đó đến nay, hệ thống Grameen Bank đã phát triển một cách mạnh mẽ, đào tạo được một đội ngũ nhân viên có năng lực với số lượng khoảng 8.000 người Một điều kỳ diệu đã được thực hiện ở Grameen Bank, đó là tỷ lệ sở
hữu nguồn vốn đã bị đảo ngược so với ngày đầu thành lập, đến nay 92%
được sở hữu bởi những người nghèo nông thôn Bangladesh và chỉ 8% còn
lại sở hữu bởi chính phủ Đến 12/1999 GB đã hoạt động trên ¾ lãnh thổ Bangladesh , phục vụ gần 2,4 triệu khách hàng nghèo; Tổng số tín dụng cấp
ra lên tới 2,95 tỷ USD Trong đó, tỷ lệ đóng góp từ tiết kiệm của thành viên chiếm 10% Tỷ lệ hoàn vốn đạt lớn hơn 98%
GB cũng khẳng định được tính bền vững của mình và được đánh giá là một mô hình nổi tiếng thành công trên thế giới, từ đó mô hình GB đã được vận dụng tại 58 nước trên thế giới, trong đó có cả Mỹ, canada, Pháp, Anh, và đặc biệt phổ biến ở các nước đang phát triển tại Châu Phi, Châu Á trong đó có Việt Nam
1.3.1.2 Những đặc điểm thành công của các công trình tài chính vi mô trên thế giới
Học tập phương pháp cơ bản của mô hình tài chính vi mô chuyên nghiệp
“Grameen Bank” ở Bangladesh, rất nhiều nước trên thế giới đã thực hiện chiến lược xóa đói giảm nghèo, sử dụng công cụ tài chính vi mô Mô hình của
GB đã được vận dụng một cách sáng tạo khác nhau ở các nước khác nhau trên thế giới Có rất nhiều tổ chức tài chính vi mô đã thành công như Ngân hàng cho người nghèo không đất CARD tại Philippine, tổ chức IKHTIA tại Malaysia hay FINDA tại Uganda… Ngoài ra, trên thế giới còn nhiều triết lý khác nhau, hướng tiếp cận và tiến hành hoạt động tài chính vi mô theo nhiều phương pháp khác nhau, như mô hình “Village Bank” điển hình ở Nepal dựa trên cơ cấu tự tổ chức của làng, xã, mô hình P4K của Indonesia tấn công vào
Trang 34Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
xóa đói giảm nghèo dựa trên 4 công cụ tín dụng, tiết kiệm, huấn luyện và hướng dẫn kỹ htuật hay mô hình “Linking Bank and Self –help Group” trên
cơ sở nối kết giữa Ngân hàng và các nhóm cụm tự quản tại làng xã tại Indonesia v v…
Tổng kết đặc điểm thành công của các nước chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết các tổ chức thành công trong chiến lược xóa đói giảm nghèo sử dụng công cụ tài chính vi mô đều có những điểm cơ bản chung như sau:
1 Pham vi tiếp cận tốt: Các chương trình này có thể tiếp cận nhiều
người (tiếp cận chiều rộng) và nhiều người nghèo (tiếp cận chiều sâu)
các chương trình này đặc biệt chú trọng đến hỗ trợ phụ nữ nghèo
2 Tính hiệu quả trong hoạt động: Các chương trình này có thể bù đắp
chi phí thu nhập của mình
3 Có khả năng đảm bảo tính bền vững và tự cung đầy đủ về tài chính
(sau khi đã điều chỉnh mọi yếu tố lạm phát, bao cấp…) hoàn toàn : bên
cạnh tính hiệu quả về hoạt động, các chương trình này có thể vay vốn với lãi suất thị trường, trích lập quỹ dự trữ bù đắp rủi ro, và bù đắp mức
lạm phát
4 Chi phí được quản lý chặt chẽ: Các chương trình này có xu hướng
tính lãi suất cao đối với các khoản cho vay (so với lĩnh vực chính thức)
và trả lương thấp (so với thu nhập bình quân đầu người)
5 Chi mô khoản vay thường nhỏ (so với mức trung bình của Ngân hàng)
6 Môi trường hoạt động thường rất năng động và môi trường pháp chế
thường rất thuận lợi hoặc ít nhất cũng đạt mức công bằng
Trang 35Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
1.3.2 Những kinh nghiệm rút ra từ các mô hình tài chính vi mô trên thế giới
Trên cơ sở nghiên cứu và được tham quan thực tế một số mô hình trên,
chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm của các mô hình tài chính vi mô như sau:
1.3.2.1 Làm việc trực tiếp tại cộng đồng, các thủ tục áp dụng đơn giản, cấp tín dụng nhanh chóng
Đây là bài học đầu tiên, cán bộ tín dụng của tổ chức tài chính vi mô nên
theo sát thực tế hoạt động hàng ngày tại các làng, xã và những người nghèo, thăm khách hàng đang vay và giải thích những yêu cầu đối với khách hàng tiềm năng Họ cần những buổi họp tại cộng đồng Nếu như địa bàn hoạt động tại nông thôn, tổ chức tài chính vi mô nên khuyến khích khách hàng người nghèo tham gia sinh họat hàng tuần
Có một sự khác biệt rất nhỏ về tỉ lệ hoàn trả vốn vay giữa các dự án mà
đề nghị khách hàng xin vay vốn điền vào rất nhiều mẫu đơn từ với những thuật ngữ khó hiểu và những dự án giản đơn xin vay vốn xuống chỉ còn 1 đến
2 trang Ở mức độ vi mô, phụ thuộc vào bạn bè, đồng nghiệp là để chọn một khách hàng là một công cụ hữu hiệu đảm bảo tính an toàn của khoản vay
Những người xin vay vốn trở nên ít quan tâm hơn nếu như họ phải chờ đợi hàng tháng cho đến khi yêu cầu của họ được đáp ứng Họ đã quá quen với việc những người cho vay nặng lãi mà có thể cho vay ngay lập tức vào bất kỳ địa điểm nào Các dự án được quản lý tốt thường cấp tín dụng trong vòng 10 ngày hoặc 1 tuần ngay sau khi được yêu cầu Những khoản cho vay tiếp theo còn giải ngân nhanh hơn
Trang 36Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
1.3.2.2 Không yêu cầu phải có kế hoạch kinh doanh hoặc sổ sách phức tạp, không yêu cầu tài sản thế chấp
Do chỉ một tỷ lệ nhỏ nông dân, thương gia và các nhà sản xuất nhỏ có hệ thống sổ sách cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, việc đề nghị xem
sổ sách ít xảy ra trong những dự án thành công
Các cơ chế thay thế, ví dụ như cho vay qua nhóm như đã được mô tả, trong đó những người nghèo khởi xướng hoạt động sản xuất kinh doanh phải cùng chịu trách nhiệm hoàn trả vốn vay đã thay thế một cách thành công các hình thức bảo lãnh thông thường Uy tín của một cá nhân trong cộng đồng còn quan trọng hơn tài sản thế chấp
1.3.2.3 Khuyến khích người nghèo khởi sự một hoạt động kinh tế bất kỳ,
dù nó có qui mô rất nhỏ, tập trung vào thị trường địa phương
Đối với người nghèo cần hỗ trợ các hoạt động kinh tế mới hình thành phù hợp với cộng đồng và đi từ qui mô rất nhỏ Việc khởi sự các họat động kinh
tế có quy mô lớn cho người nghèo thường ít khi thành công và đòi hỏi những đầu vào diện rộng và cần một thời gian dài Các chủ doanh nghiệp và nông dân có thể nhận biết được “Những thị trường chưa được khai thác” mà các chuyên gia thường lại không nhận biết được Các nỗ lực tìm kiếm thị trường mới thường tốn kém và khó khăn
1.3.2.4 Cho vay món nhỏ có thời gian ngắn chủ yếu cho mục đích bổ sung vốn lưu động cho vay món mới lớn hơn trên cơ sở hoàn trả đầy đủ
Các khoản vay nhỏ, ngắn hạn không chỉ “kiểm tra” cam kết hoàn trả của khách hàng mà còn cho phép khách hàng biết được khoản vay có thể thực sự giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ phát triển hay không Các
Trang 37Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
khoản vay này thường theo nguyên tắc được hoàn trả theo những khoản tiền
Cuối cùng, sự tham gia của hệ thống tài chính chính thức là yếu tố quan trọng nếu như muốn đạt được mục tiêu bao phủ một phần đáng kể người nghèo nông thôn và đô thị
Trang 38Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI
CHÍNH VI MÔ TRONG CHIẾN LƯỢC XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO TẠI TP HỒ CHÍ MINH
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ MÔI TRƯỜNG TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM
2.1.1 Khái quát chung về hoạt động xóa đói giảm nghèo và phương pháp phân loại đánh giá hộ nghèo tại Việt Nam:
2.1.1.1 Khái quát chung về bối cảnh kinh tế xã hội và thành tựu xóa đói giảm nghèo ở nước ta:
Từ đầu thập niên 90, chương trình Xóa Đói Giảm Nghèo đã được Nhà nước chủ trương là một trong 11 chương trình trọng tâm để phát triển đất nước, hoạt động tài chính vi mô cho người nghèo trở nên mạnh mẽ trên cả nước Theo số liệu thống kê, nếu như vào giữa thập niên 80, cứ 10 người dân Việt Nam có 7 người sống trong tình trạng nghèo đói thì một thập niên sau – thập niên của thời kỳ đổi mới – con số này giảm đi một nửa Tỷ lệ dân số có mức chi tiêu đầu người dưới mức nghèo đã giảm một cách kỳ diệu từ 58% vào năm 1993 xuống còn 37% vào năm 1998 còn 28,9% vào năm 2001-2002
và còn 24,1% vào năm 2003-2004 (nguồn tổng cục thống kê tháng 9 năm
2004)
Có thể nói, xét về hầu hết các chỉ số tổng hợp về kinh tế vĩ mô và xã hội, thành tích của Việt Nam những năm gần đây thật đáng kể Trên mặt trận kinh tế, nước ta đã vượt qua khỏi cơn khủng hoảng kinh tế xã hội trong suốt nửa cuối thập kỷ 90, tỷ lệ tăng trưởng GDP cao, đạt bình quân 8,1%/năm giai
đoạn 2000 – 2004 (số liệu tổng cục thống kê 2000 – 2004), tỷ lệ lạm phát
hàng năm giảm và cung ứng tiền tệ quản lý tương đối chặt, đặc biệt là chi tiêu
Trang 39Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
thực về xã hội tính theo đầu người cao hơn những năm cao điểm trước đây, các chỉ số về y tế giáo dục nói chung được cải thiện đối với đại đa số người Việt Nam và tình trạng nghèo đói đã được giảm đáng kể so với thời kỳ trước đổi mới Nếu năm 1992 tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm 30,1% thì năm 1993 đã giảm xuống còn 26%, 23% năm 1994, 20% vào năm 1995, 19% vào năm
1996, cuối năm 99 chiếm 15,7% và cuối năm 2004 chiếm tỷ lệ 12,41% trên tổng dân số quốc gia Cả nước có 15 tỉnh thành đạt tỷ lệ hộ đói nghèo xấp xỉ hoặc dưới 10% Trong đó có thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1.2 Các phương pháp đánh giá và phân loại hộ nghèo hiện nay ở nước ta
Mặc dù đạt được tỷ lệ tăng trưởng cao và thực hiện giảm nghèo một cách đáng kể trong những năm gần đây, nhưng so với các nước trong khu vực và thế giới – Việt Nam – nước đông dân đứng hàng thứ 13 trên thế giới với tổng dân số khoảng 82 triệu người vẫn bị liệt kê vào danh sách những nước nghèo nhất trên thế giới Kết quả cuộc khảo sát mức sống người dân Việt Nam do Liên Hiệp quốc tiến hành 2004 cho thấy mức nghèo ở nước ta rất cao: khoảng 45,7% dân số vẫn ở dưới mức nghèo của thế giới và 20% nghèo theo nghĩa thiếu ăn, không đủ lượng calorie đáp ứng hàng ngày cho hoạt động Tuy nhiên nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc không dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá cụ thể và cho đến nay định nghĩa về tình trạng nghèo và mức nghèo ở nước ta vẫn chưa thống nhất do đứng trên nhiều quan điểm và các tiêu chí đánh giá khác nhau, phân loại hộ nghèo khác nhau giữa các tổ chức khác nhau như Ngân hàng thế giới, UNDP, các tổ chức phi chính phủ quốc tế và chính phủ Việt Nam
Theo chúng tôi, bước đầu tiên và quan trọng trong hoạt động tài chính vi
mô là nhận ra người nghèo Làm cách nào mang lại lợi ích cho người nghèo nếu chúng ta không xác định chính xác họ là ai? Làm cách nào để chứng minh
Trang 40Học viên thực hiện : Nguyễn Văn Hùng Khoa kinh tế và quản lý
được chúng ta đang trợ giúp người nghèo khi chúng ta không có công cụ định lượng điều này Rõ ràng cần phải định nghĩa và nhận diện người nghèo một cách tích cực nếu không thì chúng ta sẽ không thể hỗ trợ tín dụng nhỏ cho họ một cách tích cực được
Theo tiêu chuẩn quốc tế, hộ nghèo (hộ thu nhập thấp) được định nghĩa:
- Hộ sống dưới mức nghèo đói của một quốc gia
- Có hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ
- Tự tạo việc làm hoặc cùng các thành viên gia đình sản xuất kinh doanh
Hiện nay, có nhiều tổ chức với nhiều tiêu chí và cách đánh giá phân loại chuẩn mực hộ nghèo, do vậy để làm cơ sở cho các tổ chức tài chính vi mô nhận diện hộ nghèo một cách toàn diện và tích cực, chúng tôi thống kê và phân tích điểm mạnh, yếu của từng cách phân loại đánh giá như sau:
Bảng 2.1: Các phương pháp đánh giá, phân loại hộ nghèo tại Việt Nam
Ngân hàng
thế giới
+ Khu vực nông thôn
99USD/năm + Khu vực thành thị 120USD/năm
Ở một mức độ nhất định, khái niệm này là một chỉ số để so sánh
tỉ lệ nghèo đói giữa các quốc gia
và giúp các nhà hoạch định chính sách tiến hành xác định các chính sách phát triển dài hạn
+ Chỉ số này không thể giúp nhận dạng chính xác mức độ nghèo đói của người nghèo + Các tổ chức cho vay không thể áp dụng chỉ số này để xác định các nhóm khách hàng mục tiêu, ví dụ như giữa các
hộ gia đình có thu nhập thấp với các người nghèo
UNDP + Không có một tiêu
chí cụ thể nào + Thay vào đó, người
+ Đây không thể là một công
cụ hữu hiệu để định lượng mức độ nghèo đói tại các khu vực nông thôn