1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm soát trị giá tính thuế hải quan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam

137 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn thế nữa, để đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, với tư cách là thành viên của ASEAN, bên ký kết các Hiệp định song phương, đa phương và sẽ trở thành thành viên của tổ chức

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học bách khoa hà nội

==== * ====

Luận văn thạc sỹ

Kiểm soát trị giá tính thuế

Hải quan trong quá trình hội nhập

ngành quản trị kinh doanh

Mã số :

Đỗ Huy THọ

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học : PGS.TS Trần Trọng Phúc

hà nội – 2005

Trang 2

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Mục lục

Danh mục hình vẽ

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Lời mở đầu

CHƯƠNG I : TRỊ GIÁ HẢI QUAN VÀ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC

TẾ CỦA VIỆT NAM 1

1.1 Hải quan 1

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về Hải quan 1

1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Hải quan 2 1.1.3 Vai trò của Hải quan trong nền kinh tế quốc dân 3 1.2 Trị giá hải quan 3 1.2.1 Định nghĩa 3

1.2.2 Mục đích 4

1.3 Lịch sử phát triển của trị giá hải quan 4 1.4 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 8 1.4.1 Tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á 8

1.4.2 Tham gia diễn đàn hợp tác Á - Âu 10

1.4.3 Tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương 11

1.4.4 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 12

1.4.5 Đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới 13

1.5 Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hiệp định trị giá GATT/WTO 15 1.5.1 Tổng quan về tổ chức thương mại thế giới với vai trò trong môi trường thương mại mới 15

1.5.2 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1947 và 1994 17

1.5.3 Bốn quy tắc cơ bản của GATT 1994 20

1.5.4 Lộ trình chuẩn bị gia nhập WTO của Việt Nam 21

1.6 Kinh nghiệm kiểm soát trị giá hải quan của một số nước phát triển 24 1.6.1 Kinh nghiệm kiểm soát trị giá hải quan của hải quan Nhật Bản 24

1.6.2 Kinh nghiệm kiểm soát trị giá hải quan của hải quan Malaysia 30

Trang 3

CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ

CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM 36

2.1 Hải quan Việt Nam 36 2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Hải quan việt nam 36

2.1.2 Bộ máy tổ chức của Hải quan việt nam 39

2.1.3 Chức năng nhiệm vụ của Hải quan việt nam 40

2.1.4 Địa bàn hoạt động của Hải quan 41

2.1.5 Phương châm hành động của Hải quan Việt Nam 41

2.2 Phân tích các quy định của Việt Nam về việc xác định trị giá Hải quan 41 2.2.1 Giai đoạn trước năm 2004 41

2.2.1.1 Các quy định cơ bản về xác định trị giá tính thuế 41

2.2.1.2 Đánh giá về việc kiểm soát giá tính thuế hải quan của Việt Nam giai đoạn trước năm 2004 45

2.2.2 Quy định về việc xác định trị giá từ năm 2004 đến nay 47

2.2.2.1 Phương pháp trị giá giao dịch 48

2.2.2.2 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống hệt 54

2.2.2.3 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu tương tự 54

2.2.2.3 Phương pháp trị giá khấu trừ 61

2.2.2.4 Phương pháp trị giá tính toán 64

2.2.2.5 Phương pháp khác 64

2.2.2.6 Các khoản điều chỉnh 66

2.2.3 Mô hình và cách thức kiểm soát trị giá tính thuế của hải quan Việt Nam hiện nay 80 2.2.4 Đánh giá về mô hình và cách thức kiểm soát trị giá hiện nay 83 2.3 Phân tích hiệu quả kiểm soát trị giá tính thuế của Hải quan Việt Nam hiện nay 84 2.3.1 Những mặt đã làm được 84

2.3.2 Những tồn tại 86

2.3.3 Phân tích nguyên nhân 89

2.3.4 Phân tích cơ hội và thách thức 91

2.3.4.1 Những cơ hội 91

2.3.4.2 Những nguy cơ, thách thức 92 2.4 Một số thủ đoạn gian lận thuế qua giá thường gặp 93 2.4.1 Khai báo trị giá hải quan cao hơn thực tế 93

Trang 4

2.4.2 Khai báo trị giá hải quan thấp hơn thực tế 97

CHƯƠNG III : CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM 106

3.1 Những yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả kiểm soát trị giá tính thuế 106

3.1.1 Yêu cầu hội nhập và xu hướng phát triển của hải quan quốc tế 106

3.1.2 Yêu cầu thực hiện khối lượng công việc tăng nhanh chóng 107

3.1.3 Yêu cầu quản lý của nhà nước và của cộng đồng doanh nghiệp 107

3.1.4 Sự phát triển của thương mại quốc tế cả về nội dung lẫn hình thức 108

3.1.5 Sự xuất hiện của các nguy cơ khủng bố quốc tế; hoạt động rửa tiền dưới mọi hình thức 108

3.1.6 Ý thức tuan thủ pháp luật của doanh nghiệp XNK 108

3.2 Mục tiêu của ngành Hải quan 108

3.3 Nội dung các giải pháp 109

3.3.1 Giải pháp về cơ chế chính sách pháp luật 110

3.3.2 Giải pháp về hiện đại hoá ngành hải quan và hoàn thiện cơ sở dữ liệu giá tính thuế toàn ngành 112

3.3.3 Giải pháp về quy trình nghiệp vụ 116

3.3.4 Giải pháp về tổ chức, đào tạo và nâng cao trình độ cán bộ công chức hải quan 119

3.3.5 Giải pháp về tuyên truyền tới cộng đồng doanh nghiệp 120

3.3.6 Giải pháp về phối hợp với các cơ quan chức năng trong và ngoài nước 121

3.4 Kết quả mong đợi 122

Kết Luận 123

Tài liệu tham khảo 126

Trang 5

Danh mục sơ đồ, hình vẽ

Hình vẽ 1.1 : Mô hình trao đổi thông tin của Hải quan Malaysia 34

Hình vẽ 2.1 : Sơ đồ tổ chức bộ máy của Hải quan Việt Nam 39

Hình vẽ 2.2 : Mô hình hệ thống GTT22 82

Hình vẽ 2.3 : Trường hợp gian lận trị giá số 1 98

Hình vẽ 2.4 : Trường hợp gian lận trị giá số 2 98

Hình vẽ 2.5 : Trường hợp gian lận trị giá số 3 99

Hình vẽ 2.6 : Trường hợp gian lận trị giá số 4 100

Hình vẽ 2.7 : Trường hợp gian lận trị giá số 5 101

Hình vẽ 2.8 : Trường hợp gian lận trị giá số 6 102

Hình vẽ 2.9 : Trường hợp gian lận trị giá số 7 102

Hình vẽ 2.10 : Trường hợp gian lận trị giá số 8 103

Hình vẽ 2.11 : Trường hợp gian lận trị giá số 9 104

Hình vẽ 2.12 : Trường hợp gian lận trị giá số 10 105

Hình vẽ 3.1 : Sơ đồ quy trình thông quan điện tử 113

Hình vẽ 3.2 : Mô hình hệ thống thông tin mở của Hải quan 115

Hình vẽ 3.3 : Mô hình kiểm soát trị giá tính thuế Hải quan 118

Trang 6

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

ADB : Asian Development Bank

ASEAN : Association of South East Asian Nations

AFTA : Asean Free Trade Area

ASEM : Asia Europe Meeting

APEC : Asia Pacific Economic Cooperation

WTO : World Trade Organization

VANs : Value Added Network

BDV : Brrussels Definition on Customs Valuation

BTA : Bilateral trade agreement between Vietnam and United states of

America

CEPT : Agreement on the Common Effective Preferential Tariff

CIF : Cost, Inssurance and Freight

CIS : Customs Information System

EDI : Electronic Data Interchange

FDI : Foreign Direct Investment

FOB : Free on Board

GATT : General Agreement on Tariff and Trade

GTT22 : Hệ thống thông tin dữ liệu giá tính thuế

HS : Hamornied System

IMF : International Monetary Fund

MFN : Most Favoured Nation

ODA : Official Development Assistance

TRIMs : Agreement on Trade-Related Investment Measures

TRIPs : Trade Related Aspects of Intellectual Property Rights

WB : World Bank

WCO : World Customs Organization

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trị giá tính thuế hải quan cùng với mức thuế suất là một trong hai yếu tố

cơ bản để xác định số thuế mà đơn vị xuất nhập khẩu phải nộp cho cơ quan hải quan khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá qua biên giới quốc gia Do đó, nghiệp vụ kiểm soát trị giá tính thuế của cơ quan hải quan có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ nguồn thu cho ngân sách, khuyến khích phát triển sản xuất nội địa cũng như duy trì và phát triển thương mại, ngoại giao quốc tế

Theo đà phát triển của kinh tế, thương mại thế giới và của Việt Nam, giao lưu kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch của nước ngoài với Việt Nam cũng tăng lên đáng kể, điều đó làm cho khối lượng công việc mà ngành Hải quan phải quản lý nói chung tăng lên gấp nhiều lần đồng nghĩa với việc kiểm soát giá tính thuế cũng phức tạp thêm gấp bội trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật, biên chế, trình độ cán bộ tăng lên không đáng kể Hệ thống các quy trình làm việc tuy đã được cải tiến, nâng cấp theo định hướng hiện đại hoá nhưng thực

tế vẫn chưa thoát khỏi các biện pháp thủ công truyền thống dẫn đến tình trạng quá tải đối với các công chức hải quan thực thi nhiệm vụ tại các địa điểm thông quan Chính khoảng cách bất cập giữa quy trình làm việc truyền thống với những mục tiêu yêu cầu hiện nay đã đặt ngành Hải quan trước một thách thức : nếu làm kỹ, đúng yêu cầu quản lý thì chắc chắn sẽ gây ách tắc đối với đầu tư, thương mại .; mà cứ làm hoặc làm bảo đảm tiến độ thì phải chấp nhận rủi ro có thể xảy ra, đó là chưa tính đến tiêu cực, phiền hà sẽ nảy sinh từ

cơ chế này Trong khi đó, với chính sách thu hút đầu tư, tạo thông thoáng cho các hoạt động xuất nhập khẩu của Đảng, nhà nước, hoạt động của Hải quan cũng phải phục vụ cho định hướng này, phải giảm thiểu phiền hà, tạo điều kiện tối đa cho những doanh nghiệp làm ăn chính đáng trong khi vẫn phải đảm bảo yêu cầu quản lý

Trang 8

Hơn thế nữa, để đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, với tư cách

là thành viên của ASEAN, bên ký kết các Hiệp định song phương, đa phương

và sẽ trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới trong thời gian tới, Việt Nam bắt buộc phải chuyển đổi từ việc xác định trị giá tính thuế hải quan theo phương pháp trị giá tối thiểu sang hệ thống phương pháp trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Đây là một hệ thống phương pháp xác định trị giá đòi hỏi tính kỹ thuật cao và chuyên sâu Theo phương pháp này cơ quan hải quan không có quyền áp đặt trong việc xác định trị giá mà phải tôn trọng việc tự kê khai trị giá của đơn vị xuất nhập khẩu trên cơ sở là trị giá giao dịch, với nghĩa rộng nhất trong chừng mực có thể, của hàng hoá Cơ quan hải quan chỉ có thể xác định lại trị giá trong trường hợp có đủ bằng chứng khẳng định trị giá khai báo là không trung thực nhưng trên thực tế việc này không đơn giản Do đó, khi thực hiện phương pháp này nếu cơ quan Hải quan không có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát thì gian lận chắc chắn sẽ xảy ra và ngân sách thất thu là điều tất yếu

Trên cơ sở nhận thức rằng Hải quan không thể và không bao giờ có đủ nhân lực để xác minh tính trung thực về trị giá khai báo của 100% các lô hàng xuất nhập khẩu mà chỉ có thể chọn lọc để kiểm tra theo một tỷ lệ nhất định đủ

để không gây ách tắc, đủ để yên tâm về hiệu quả quản lý hải quan, đã được giải quyết thành công, và trở thành hướng giải pháp nghiệp vụ tối ưu cho Hải quan trên thế giới trong điều kiện hiện nay

Xuất phát từ nhận thức đây là giải pháp kiểm soát cần thiết để giải quyết được yêu cầu nhiệm vụ có tính nghịch lý trên, vừa là tác nhân thúc đẩy mạnh

mẽ quá trình cải cách hành chính trong ngành Hải quan Đó chính lý do đề tài

: “Kiểm soát trị giá tính thuế Hải quan trong quá trình hội nhập kinh tế

quốc tế của Việt Nam” được đề cập đến trong luận văn này

2 Mục đích của đề tài:

Từ cơ sở lý thuyết được trang bị trong quá trình học tập tại khoa Kinh tế

và quản lý - Trường Đại học Bách khoa Hà nội, đồng thời với việc khảo sát

Trang 9

cụ thể mô hình kiểm soát trị giá tính thuế của ngành Hải quan hiện nay, đề tài trong bản luận văn này sẽ phân tích thực trạng điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội

và thách thức của hệ thống kiểm soát trị giá tính thuế ngành Hải quan và đưa

ra giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát trị giá tính thuế đáp ứng được yêu cầu quản lý của Ngành trong điều kiện mới, có khả năng hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là bộ máy tổ chức, qui trình nghiệp

vụ và từ đó đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu hệ thống kiểm soát trị giá tính thuế của ngành Hải quan

Phạm vi nghiên cứu được đề cập trong bản luận văn này là trong ngành Hải quan Việt Nam và Hải quan một số nước trong khu vực

4 Đóng góp của bản luận văn:

- Đánh giá một cách khách quan thực trạng việc kiểm soát trị giá tính thuế của Hải quan Việt Nam xuyên suốt từ trước tới nay và đi sâu phân tích những tồn tại, nguyên nhân dẫn đến việc kiểm soát trị giá kém hiệu quả hiện nay

- Kiến nghị, đề xuất các giải pháp, bước đi thích hợp phục vụ cho việc kiểm soát trị giá tính thuế hải quan trước mắt và lâu dài cũng như xây dựng các quy trình quản lý nghiệp vụ phù hợp với mô hình hải quan hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu :

Bản luận văn được hoàn thành với các phương pháp nghiên cứu:

- Chọn phương pháp tiếp cận tổng thể vấn đề để thực hiện những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

- Kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau như phân tích, tổng hợp,

so sánh để rút ra các kết luận cơ bản Khảo sát, nghiên cứu thực tiễn nghiệp

vụ để xác định hướng đề xuất

- Dựa vào phương pháp SWOT (Strengths: Điểm mạnh, Weaknesses: Điểm yếu, Opprtunities: Cơ hội, Threats: Nguy cơ) để phân tích thực trạng

Trang 10

điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hệ thống kiểm soát trị giá tính thuế ngành hải quan hiện tại Từ đó vận dụng kết hợp các yếu tố trên để đưa

ra giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát trị giá tính thuế ngành Hải quan

6 Kết cấu của bản luận văn:

Lời nói đầu

Chương I: Trị giá Hải quan và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Chương II: Phân tích thực trạng kiểm soát trị giá tính thuế của hải quan Việt nam:

Chương III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát trị giá tính thuế của Hải quan Việt Nam

Kết luận

Trong quá trình thực hiện luận văn, Tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình và đóng góp ý kiến của Thầy giáo hướng dẫn PGS TS Trần Trọng Phúc, các Thầy Cô giáo ở Trường Đại học Bách khoa Hà nội, cùng các bạn đồng nghiệp công tác trong Ngành Hải quan Qua đây tôi muốn bày tỏ sự cảm

ơn chân thành tới PGS TS Trần Trọng Phúc, các Thầy cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành bản luận văn này

Do thời gian nghiên cứu có hạn, cùng với khối lượng nghiên cứu của đề tài khá lớn nên bản luận văn chắc chắn còn không ít thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của Thầy Cô cùng các bạn đồng nghiệp

Hải phòng, ngày tháng 10 năm 2005

Người viết luận văn

Trang 11

CHƯƠNG 1 TRỊ GIÁ HẢI QUAN VÀ QUÁ TRÌNH HỘI

NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

1.1 Hải quan

Ở bất kỳ quốc gia nào trên trên thế giới đều có tổ chức Hải quan Cơ quan Hải quan thực hiện kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hoá, hành lý, phương tiện vận tải xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh qua biên giới quốc gia; tổ chức thực hiện thu thuế và các pháp luật khác về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thực hiện thống kê nhà nước về hải quan phục vụ công tác điều hành nền kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia Chính vì lẽ

đó mà Hải quan được coi là lực lượng gác cửa nền kinh tế đất nước

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về hải quan

Kiểm tra hải quan : là việc kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng từ liên quan và

kiểm tra thực tế hàng hoá, hành lý, phương tiện vận tải do cơ quan hải quan thực hiện

Giám sát hải quan : là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để

đảm bảo sự nguyên trạng của hàng hoá, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý của hải quan

Kiểm soát hải quan : là các biện pháp tuần tra, điều tra hoặc các biện pháp

nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan

Hàng hoá : bao gồm hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, hành lý ngoại

hối, tiền Việt Nam của người xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; kim khí quý, đá quý, cổ vật, văn hoá phẩm, bưu phẩm, các tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu quá cảnh hoặc lưu giữ trên địa bàn hoạt động của hải quan

Trang 12

Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh : bao gồm tất cả động sản có mã

số, tên gọi theo quy định của pháp luật được xuất khẩu, nhập khẩu quá cảnh hoặc lưu giữ trên địa bàn hoạt động của hải quan

Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh : là vật dụng cần thiết cho nhu cầu

sinh hoạt hoặc mục đích chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh

Thủ tục hải quan : là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải

quan phải thực hiện theo quy định đối với hàng hoá, phương tiện vận tải

Người khai hải quan : bao gồm chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải hoặc

người được chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải uỷ quyền

Thông quan : là việc cơ quan hải quan quyết định hàng hoá được xuất khẩu,

nhập khẩu, phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh

Tham vấn trị giá tính thuế : là một hoạt động nghiệp vụ trong quy trình thủ

tục hải quan nhằm xác định tính trung thực của trị giá khai báo của người khai hải quan trước những nghi vấn của cơ quan hải quan, trên cơ sở đó chống gian lận thương mại, bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước, tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp và đảm bảo thu đúng – thu đủ thuế cho ngân sách nhà nước

1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Hải quan

Hải quan các nước trên thế giới nói chung và hải quan Việt Nam nói riêng giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan bao gồm : Thực hiện kiểm tra, kiểm soát, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh

Phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới quốc gia Thực hiện thu thuế, lệ phí và các pháp luật khác về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Trang 13

Thực hiện thống kê nhà nước về hải quan phục vụ điều hành vĩ mô nền kinh

tế

Kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

1.1.3 Vai trò của Hải quan trong nền kinh tế quốc dân

Thông qua những hoạt động của mình, Hải quan đã góp phần đáng kể và đã khẳng định vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia bao gồm :

- Đảm bảo thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hoá,

xã hội, khoa học và công nghệ

- Bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

- Đóng góp một phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách của mỗi quốc gia (ở Việt Nam nguồn thu từ thuế do Hải quan đem lại chiếm khoảng 30% ngân sách quốc gia)

- Kiến nghị chủ trương, chính sách điều hành nền kinh tế, góp phần bảo vệ nền kinh tế,

- Điều tiết tiêu dùng, khuyến khích và bảo hộ nền sản xuất trong nước

1.2 Trị giá hải quan

1.2.1 Định nghĩa

Trị giá tính thuế Hải quan là trị giá được xác định nhằm mục đích áp dụng việc đánh thuế hàng hoá xuất nhập khẩu theo giá được xác định, hay nói cách khác, trị giá tính thuế Hải quan là cơ sở để cơ quan Hải quan tính và thu thuế một cách chính xác (trị giá tính thuế Hải quan sau đây được gọi tắt là trị giá hải quan)

Trang 14

Định nghĩa trên đây cho thấy việc xác định trị giá hải quan nhằm để cho cơ quan Hải quan thực hiện thu thuế

Công thức để xác định số thuế phải nộp đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu :

Thuế XNK = Số lượng × Trị giá hải quan × Thuế suất thuế XNK

1.2.2 Mục đích

Phân tích về mặt lý luận trị giá hải quan nhằm ba mục đích chính :

• Đối với mặt tài chính là nhằm thực hiện việc thu các loại thuế chính xác cho nguồn thu ngân sách Quốc gia

• Đối với thương mại là nhằm kích thích phát triển sự giao lưu, buôn bán quốc tế

• Thống kê chính xác kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu để có chính sách biện pháp điều tiết xuất khẩu, nhập khẩu kịp thời

1.3 Lịch sử phát triển của trị giá hải quan

Cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước, thuế ra đời như là một công

cụ đảm bảo các nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước, hơn thế nữa thuế còn đảm đương những chức năng khác nhau như điều tiết tiêu dùng bảo hộ sản xuất … Lịch sử loại người đã ghi nhận hai cách đánh thuế cơ bản mà đến nay còn được áp dụng là đánh thuế cụ thể, tức là đánh thuế theo lượng hàng hoá mà không tính đến giá trị của hàng hoá và thuế tòng giá tức là thuế đánh theo giá trị của hàng hoá với một tỷ lệ phần trăm nhất định

Ta hãy ngược dòng lịch sử qua câu chuyện được Robert L.Heilbronner mô

tả trong cuốn “các nhà kinh tế vĩ đại” (Nhà xuất bản khoa học xã hội - 1997)

“Nơi đỗ tiếp theo nước Đức – năm 1950, Andreas Ruff, một thương nhân râu rậm và mặc áo lông đã trở về nhà ở Baden; ông viết trong một bức thư gửi cho vợ ông là ông đã đến thăm 30 chợ và và đã bị yên cương làm rát bỏng hai mông Ông còn bị rắc rối nhiều hơn nữa bởi những phiền hà của thời đó trong

Trang 15

cuộc lữ hành Cứ khoảng 10 dặm lại bị chặn lại một lần để nộp thuế hải quan;

từ Basle đến Cologne, ông phải trả 31 lần thuế

Thuế hải quan đánh theo giá hàng hoá không phải là phát minh của thời đại chúng ta mà nó đã tồn tại từ thời Trung cổ, thậm trí còn trước đó nữa Song ngày xưa, việc xác định trị giá hải quan là những phương pháp ấn định giá cụ thể của từng quốc gia, các nhà nhập khẩu không thể đệ đơn khiếu nại về quyết định của Hải quan lên một cơ quan nào để giải quyết tranh chấp về vấn đề trị giá

Trên quốc tế, đã tồn tại nhiều phương pháp xác định giá hỗn độn, có khi trái ngược nhau và kém ổn định, đã tạo ra những mâu thuẫn nghiêm trọng trong quan hệ buôn bán quốc tế Dần dần thông qua các cuộc đàm phán giữa các quốc gia đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là đưa ra về mặt thuế suất hợp lý Nhưng thực tế cũng cho thấy rằng nếu như những hiệp định

về thuế quan thực hiện có hiệu quả thì phải đổi các tiêu chí xác định trị giá, bởi vì nếu duy trì hệ thống xác định trị giá hiện hành thì từng quốc gia có thể đưa ra những phương pháp xác định trị giá làm mất đi tính hiệu quả của các khoản thuế suất đã thoả thuận

Hơn nữa các thương nhân buôn bán mong muốn một sự tạo điều kiện phát triển về trao đổi, buôn bán quốc tế thì ngoài mặt thuế suất, người ta còn muốn biết được trị giá lô hàng cần trao đổi là bao nhiêu

Do vậy đầu thế kỷ 20, những lĩnh vực được quan tâm, nghiên cứu để mở rộng thương mại quốc tế là sự thay đổi hệ thống xác định trị giá tuỳ tiện bằng một

hệ thống định giá quốc tế có hiệu quả trong chính sách cạnh tranh thương mại quốc tế

Sau nhiều những cố gắng, dưới sự bảo trợ của Hiệp hội một số quốc gia, lần đầu tiên những nguyên tắc xác định trị giá Hải quan đã được nêu lên tại điều 7 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại và năm 1947, Hiệp định này được gọi tắt là GATT (General Agreement on Tariff and Trade), từ đó đến

Trang 16

nay việc hình thành và phát triển về xác định trị giá Hải quan quốc tế được chia làm ba giai đoạn :

Giai đoạn thứ nhất : Geneve năm 1947

Vào những năm đầu của thế kỷ mới, các nhóm nước quan tâm đến việc mở rộng thương mại quốc tế đã nghiên cứu việc thay thế những phương pháp xác định trị giá không ổn định đang áp dụng từ trước tới nay bằng một hệ thống xác định trị giá hiệu quả, trung hoà hơn

Sau nhiều lần áp dụng thử dưới sự bảo trợ của Hội Quốc liên (tiền thân của Liên hiệp quốc) thì lần đầu tiên tại hội nghị của Lien hiệp quốc về vấn đề thương mại và việc làm tổ chức tại Geneve năm 1947 đã có một Hiệp định về nguyên tắc chung về xác định trị giá Các kết luận của hội nghị này đã được thể hiện trong điều 7 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) với những nguyên tắc chính về xác định trị giá Hải quan là phải được tạo lập trên bản thân giá trị thực tế của hàng hoá đó

Như vậy, tại thời điểm đó, Điều 7 Hiệp định GATT cũng chỉ mới đưa ra những nguyên tắc chính mang tính chất chung chung và cung cấp thêm một

số ứng dụng thực tế chứ chưa đưa ra được những phương pháp xác định trị giá cụ thể

Giai đoại thứ 2 : Brussels 1953

Một thời kỳ trên con đường hợp tác quốc tế về xác định trị giá Hải quan, khi một nhóm nghiên cứu của Hiệp hội Hải quan các nước Tây Âu gồm 12 nước (Italia, Pháp, Tây Đức, Bỉ, Lucxămbua, Phần lan, Anh, Bắc Ailen, Hylạp, Tây ban nha, Bồ đào nha) đã nghiên cứu về xác định trị giá Hải quan với ý định hình thành một liên minh Hải quan Châu Âu

Đặc biệt nhóm nghiên cứu này đã đưa ra một định nghĩa về trị giá hải quan được áp dụng ở tầm cỡ quốc tế, đó là định nghĩa Brrussels (viết tắt là BDV) Định nghĩa này được nêu lên trong công ước về xác định trị giá Hải quan ký tại Brrusels ngày 15/12/1950 có hiệu lực ngày 28/07/1953

Trang 17

Định nghĩa về trị giá này chủ yếu dựa vào hệ thống được áp dụng thành công của một số nước thành viên qua một vài năm, đồng thời định nghĩa cũng có cân nhắc đến những nguyên tắc xác định trị giá Hải quan và thời kỳ đó vừa mới được đưa vào Hiệp định GATT

Nội dung của định nghĩa đã đưa ra được một khái niệm lý thuyết về trị giá Hải quan, trong đó đề cập đến các yếu tố về giá cả, thời gian, địa điểm, số lượng và cấp độ thương mại Đặc biệt sau khi xuất bản tập chú giải năm 1960thì Định nghĩa này nhận được sự hưởng ứng khắp nơi trên thế giới, số lượng các nước tham gia ký kết Hiệp định lên tới 33 nước và khoảng 70 nước khác công nhận áp dụng vào những năm của thập kỷ 70

Giai đoạn thứ 3 : Geneve 1973-1979 và tới nay

Một thời kỳ mới trong lịch sử về xác định trị giá Hải quan đã được nêu vào những năm từ 1973 đến 1979 thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa phương diễn ra tại Geneve, trung tâm của GATT, đặc biệt tại vòng đàm phán Tokyo đã đưa ra được những chính sách thương mại quốc tế lớn nhất trong thời đại chúng ta, nhằm mục đích tự do hoá mậu dịch ngày càng rộng lớn giữa các nước khác nhau, loại bỏ những trở ngại trong buôn bán quốc tế

Một trong những biện pháp nhằm đạt được mục đích này là việc đưa ra được

hệ thống quốc tế về xác định trị giá Hải quan để áp dụng thống nhất trên toàn thế giới Đó là việc thông qua được một Hiệp định liên quan đến việc thực hiện Điều 7 của GATT Hiệp định được thông qua vào năm 1979 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1981, gọi là Hiệp định Xác định trị giá Hải quan GATT Hiệp định này đã thiết lập được một hệ thống xác định trị giá Hải quan trên cơ

sở “trị giá giao dịch” thực tế của hàng hoá nhập khẩu, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán và tại vòng đàm phán Urugoay, năm 1994 Hiệp định lại được bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh

Trang 18

Hệ thống xác định trị giá theo Hiệp định đã đưa ra những phương pháp xác định trị giá thực tế, công minh, đồng thời loại trừ được những việc xác định trị giá tuỳ tiện hoặc giả tạo

1.4 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng ta, trong gần 20 năm qua Việt Nam đã tiến hành một số bước quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 nước, trong đó đặc biệt là khôi phục quan hệ bình thường với Trung Quốc từ tháng 11/1991 và việc bình thường hoá quan hệ, lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tháng 7/1995

- Đã thiết lập quan hệ thương mại với khoảng 160 nước và vùng lãnh thổ, thu hút đầu tư trực tiếp của các tập đoàn và công ty từ 70 nước và vùng lãnh thổ, tranh thủ viện trợ phát triển của 45 nước và các định chế tài chính quốc tế

- Tham gia các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế : IMF, WB, ADB, đưa hoạt động hợp tác ngày càng đi vào chiều sâu, có hiệu quả

- Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam được đẩy mạnh theo 4 hình thức chủ yếu đó là : Tham gia khu vực thương mại tự do (ASEAN/AFTA); Tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế (ASEM và APEC); Ký kết các hiệp định kinh tế thương mại và đầu tư song phương; đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Cụ thể như sau :

1.4.1 Tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN - Association

of South East Asian Nations)

Ngày 28/07/1995, Việt Nam đã trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và bắt đầu tham gia thực hiện Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA – Asean Free Trade Aria) Nội dung cơ bản của AFTA là hoàn thành cắt giảm thuế quan và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan

để tăng cường buôn bán nội khối và thu hút đầu tư từ bên ngoài Các nước thành viên cũ (ASEAN-6) hoàn thành AFTA từ 01/01/2002 Đối với Việt

Trang 19

Nam, thời hạn hoàn thành AFTA là 01/01/2006 Và đích đến cuối cùng là đến 2015/2018, ASEAN sẽ là một khối thị trường tự do hoàn toàn với mức thuế suất thuế nhập khẩu cho hàng hoá, sản phẩm của ASEAN là 0%

Cơ chế chính để thực hiện AFTA là Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT - Agreement On The Common Effective Preferential Tariff) CEPT là một thoả thuận giữa các nước thành viên ASEAN về việc giảm thuế quan trong nội bộ khối xuống còn 0-5% thông qua những kế hoạch giảm thuế khác nha trong vòng 5 năm sau khi đạt mức thuế ưu đãi cuối cùng, các nước thành viên sẽ tiến hành xoá bỏ các hạn ngạch nhập khẩu và các hàng rào phi thuế quan khác

ASEAN là thị trường lớn có số dân 520 triệu; tổng thu nhập khối (GDP) năm

2002 khoảng 570 tỷ USD; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 712 tỷ USD (năm 2001), trong đó thương mại nội khối năm 2001 là 160 tỷ USD Thị trường giữa Việt Nam và ASEAN luôn giữ ở mức khá ổn định, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN hàng năm chiếm khoảng 20-23% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

Việt Nam bắt đầu thực hiện lộ trình giảm thuế quan tham gia AFTA từ 01/01/1996, khi đưa 875 mặt hàng đầu tiên vào thực hiện CEPT, những mặt hàng này đèu năm ở khung thuế suất 0-5% Đầu năm 1998, Việt Nam công bố lịch trình để giảm thuế để thực hiện AFTA vào năm 2006 Trên thực tế thì đến cuối năm 2002, 5500 mặt hàng (chiếm khoảng 80% tổng số mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu) đã được đưa vào chương trình cắt giảm Toàn bộ các mặt hàng này đã ở thuế suất dưới 20% và có lộ trình cắt giảm trong thời

kỳ 2002-2006

Ngày 01/07/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2003/NĐ-CP về danh mục hàng hoá và thuế suất của Việt Nam thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) cho các năm 2003-2006 Theo nghị định này, từ ngày 01/01/2003 sẽ có thêm 1416 mặt hàng thuộc danh mục cắt giảm

Trang 20

tạm thời trong những năm trước được đưa vào cắt giảm thuế xuống mức 20%, trong đó có 17 nhóm mặt hàng có mức cắt giảm thuế cao (30-100%) Nghị định cũng công bố lộ trình cắt giảm thuế của tất cả các mặt hàng trong các năm tiếp theo (73,8 % tổng số mặt hàng đưa vào cắt giảm có mức thuế suất từ 0-5% trong năm 2003 và đến năm 2006 toàn bộ 10.150 mặt hàng trên đều có mức thuế suất 0-5%)

1.4.2 Tham gia Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM – Asia Europe Meeting)

Tháng 3/1996, Việt Nam đã tham gia Diễn đàn Hợp tác Á- Âu (ASEM) với tư cách thành viên sáng lập ASEM gồm 15 nước thuộc liên minh Châu Âu và

10 nước Châu á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và 7 nước ASEAN là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philipiné, Singapore, Thailan và Việt Nam) Các nước Châu Âu thành viên ASEM đã trở thành một trung tâm kinh tế quan trọng với việc hình thành Liên minh tiền tệ Châu Âu và việc sử dụng đồng tìên chung EURO và tháng 1/1999 Song song vơi EU, vai trò của Châu á ngày càng được củng cố trong hệ thống kinh tế và chính trị quốc tế với tiềm năm to lớn về cơ hội thương mại và đầu tư Hợp tác ASEM còn mang ý nghĩa

là tiếp tục con đường tơ lụa năm xưa hay là cầu nối thắt chặt hơn quan hệ giữa Châu Âu và Châu á, tạo ra một liên kết trong quan hệ giữa các trung tâm kinh tế lớn là EU – Mỹ – Nhật Bản

ASEM là một diễn đàn hợp tác mang tính chất đối thoại và hợp tác, hoạt động

bổ trợ cho các tổ chức hoặc diễn đàn đa phương khác Ngoài ra, hoạt động ASEM cũng có đặc trưng là hoạt động đối thoại cấp cao, theo đó mọi vấn đề

cơ bản của ASEM sẽ được thảo luận và thông qua tại Hội nghị cấp cao

Tuy nhiên giữa Châu á và Châu Âu còn sự chênh lệch lớn giữa các thành viên

về trình độ phát triển và văn hoá làm cho ASEM khó có thể hình thành ngay trong tương lai gần một mô hình hợp tác kinh tế kiểu khu vực thương mại tự

do mà ASEM đang hướng tới

Trang 21

1.4.3 Tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương

( APEC - Asia Pacific Economic Cooperation)

Việt Nam chính thức trở thành thành viên APEC vào tháng 11/1998 Mục tiêu chính của việc tham gia APEC đối với Việt Nam được xác định là : Tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hoá của Việt Nam xâm nhập thị trường các nước, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho thu hút đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá

và dịch vụ Việt Nam, bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững Việt Nam tích cực tham gia các hoạt động và chương trình hợp tác trong APEC trên hầu hết các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tài chính, hải quan, tiêu chuẩn chất lượng, sở hữu trí tuệ … và một số chương trình hợp tác của APEC như thuận lợi hoá thương mại, kinh tế kỹ thuật số, hợp tác chống khủng bố … APEC hội tụ hầu hết các đối tác thương mại và công nghiệp hàng đầu thế giới

và là đối tác thương mại chủ đạo trong chính sách đối ngoại đang phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam như Hoa Kỳ, ASEAN, Nhật Bản, Hàn quốc, Trung Quốc … Khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu, 75% đầu tư trục tiếp nước ngoài và hơn 50% viện trợ phát triển chính thức (ODA - Official Development Assistance) vào Việt Nam hiện nay là do trao đổi với các thành viên APEC APEC có vai trò quan trọng duy trì quá trình tự do hoá và tạo thuận lợi hoá cho dòng chảy thương mại và đầu tư trong khu vực Thị trường APEC cũng đang tạo nhiều cơ hội hơn cho Việt Nam trong thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI – Foreign Direct Investment)và gia tăng khối lượng thương mại với các đối tác APEC ở mức cao hơn

Việt Nam có được những kinh nghiệp quý báu từ các đối tác APEC về ngân hàng, tài chính, thu hút đầu tư nước ngoài, minh bạch hoá chính sách, thuận loại hoá thương mại và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng APEC đã hỗ

Trang 22

trợ Việt Nam một số dự án hợp tác kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng thực thi các hiệp định WTO, hài hoà hoá tiêu chuẩn hàng hoá và tham gia vào các thoả thuận thừa nhận tieu chuẩn lẫn nhau, xác định và loại bỏ hay giảm bớt được những rào cản thương mại và đầu tư, chương trình thẻ đi lại của doanh nhân

1.4.4 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA - Bilateral trade agreement between Vietnam and united states of America)

Từ tháng 9/1996 Việt Nam và Hoa Kỳ đã bắt đầu đàm phán về hiệp định thương mại song phương Ngày 13/07/2000, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết và hiệp định này chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2001

Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ mang tính tổng thể và bao quát nhất từ trước đến nay mà Việt Nam tham gia ký kết Hiệp định này không chỉ

đề cập đến vấn đề thương mại hàng hoá mà còn chứa đựng cả những điều khoản về thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại Đây cũng là hiệp định thương mại đầu tiên Việt Nam đàm phán trên cơ

sở các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Triển khai hiệp định này, ngày 12/03/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 35/2002/QĐ-TTg ban hành Chương trình hành động thực hiện hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ Đây là một chương trình hành động tổng thể

và toàn diện được ban hành nhằm đáp ứng những đòi hỏi, yêu cầu về thực thi cam kết của bản hiệp định Hiệp định này đã tạo ra bước tiến quan trọng cho hàng hoá của ta xuất khẩu vào thị trường Mỹ, tạo cơ sở cho hàng hoá của Việt Nam được hưởng chế độ đối xử tối huệ quốc (MFN) của Hoa Kỳ (đa số hàng hoá của Việt Nam được hưởng thuế suất MFN có thể cạnh tranh được với hàng hoá tương tự của các nước khác

Kể từ khi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được ký đến nay, sau hai năm thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, xuất nhập nhẩu hai

Trang 23

chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2002 đạt 2,4 tỷ USD, tăng 128%, trong

đó chú ý là các sản phẩm chế tạo đạt 1,4 tỷ USD, tăng 502 %; năm 2003 đạt 4,55 tỷ USD, tăng 50%, trong đó các sản phẩm chế tạo đạt 3,25 tỷ USD, tăng 135%

1.4.5 Đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO – World Trade Organization)

Việc trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới sẽ giúp cho Việt nam Hội nhập đầy đủ hơn vào nền kinh tế thế giới, tận dụng được những ưu đãi của các nước thành viên WTO để mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá

và dịch vụ, tranh thủ được vốn và công nghệ của các nước tiên tiến … Tháng 6/1994, Việt Nam đã chính thức đệ đơn lên GATT – tiền thân của WTO và được chấp nhận là quan sát viên Ngày 04/01/1995 ngày sau khi mới thành lập với tên gọi là WTO, WTO đã chính thức tiép nhận đơn xin gia nhập của Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam đã bước vào gia đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường Việt Nam sẽ phải tham gia đàm phán với khoảng 20 nước thành viên WTO có nhu cầu xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ và đầu tư vào thị trường Việt Nam đối với các lãnh vực sau :

- Về thuế quan : Các nước gia nhập WTO đều phải cam kết không tăng thuế vượt một mức nhất định đối với phần lớn các mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu Cam kết này gọi là cam kết “ràng buộc thuế quan” Mức cam kết này trong một số trường hợp có thể thấp hơn mức thuế đang áp dụng Vì vậy nhìn chung các nước khi gia nhập WTO đều phải giảm thuế nhập khẩu ở nhiều mặt hàng Tuy nhiên, diện mặt hàng phải giảm thuế, mức độ cắt giảm cũng như thời hạn cắt giảm còn tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể của các nước và khả năng đàm phán của ta

- Về các biện pháp phi thuế quan : Theo nguyên tắc của WTO là chỉ sử dụng thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước, Việt Nam cần xây dựng lộ trình cắt

Trang 24

giảm các hàng rào phi thuế quan một cách hợp lý Một số biến pháp bảo hộ trước nay vẫn áp dụng như quota, giấy phép nhập khẩu tuỳ ý sẽ dần được bãi

bỏ Tuy nhiên, để tránh gây những tác động đột ngột đối với sản xuất và tiêu dùng trong nước, Chính phủ cũng đang xem xét vận dụng những biện pháp phi thuế quan không trái với các quy định của WTO như biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp của nước ngoài, v.v…

- Về thương mại dịch vụ : Để gia nhập WTO, Việt Nam phải cam kết đảm bảo cho các nhà cung cấpdịch vụ nước ngoài được hoạt động ở những lĩnh vực nhất định Mức độ cam kết sẽ phụ thuộc vào quá trình đàm phán Tuy nhiên, gần như chắc chắn cạnh tranh trong nhiều ngành dịch vụ quan trọng như bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm v.v… sẽ tăng đáng kể sau khi Việt Nam gia nhập WTO

- Các chương trình hành động, chương trình xây dựng pháp luật : Bên cạnh những cam kết hết sức cụ thể về thuế quan và phi thuế quan và dịch vụ nêu trên, Việt Nam cũng phải điều chỉnh hệ thống pháp luật của mình cho phù hợp với các quy định của WTO ở nhiều lĩnh vực khác nhau như xác định trị giá tính thuế hải quan, thủ tục cấp phép nhập khẩu, kiểm dịch động thực vật, các quy định liên quan đến đầu tư và sở hữu trí tuệ … Để thực hiện các nghĩa

vụ trên, Việt Nam phải đưa ra một chương trình tổng thể cho việc xây dựng pháp luật theo các nguyên tắc của WTO Khi các quy định trên có hiệu lực, doanh nghiệp sẽ được trao quyền chủ động hơn, tránh bị một số trường hợp gây phiền nhiễu hơn trong quá trình làm thủ tục hải quan cho hàng hoá nhập khẩu

Đồng thời, trong quá trình gia nhập WTO, ta cũng sẽ phải xây dựng một kế hoạch hành động thực hiện các nghĩa vụ của WTO ở từng lĩnh vực cụ thể như : trợ cấp, cấp phép nhập khẩu, thực hiện các nghĩa vụ về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại …

Trang 25

Nhìn chung, tiến trình đam phán gia nhập WTO thường đòi hỏi kéo dài nhiều

năm Do vậy, việc dự kiến gia nhập WTO vao năm 2005 đòi hỏi cần phải có

một chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế làm cơ sở để có thể đáp ứng mục tiêu đã đặt ra

1.5 Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hiệp định trị giá GATT/WTO

Hội nhập là xu thế phát triển của thế kỷ 21 và của toàn thế giới Để thực sự hội nhập mà không hoà nhập đòi hỏi những nỗ lực to lớn của tất cả các thành phần kinh tế trong từng nước tham gia xây dựng hệ thống luật pháp quốc gia

đủ mạnh Hệ thống này vừa phải đáp ứng các cam kết của Chính phủ Việt Nam, vừa phục vụ cho lợi ích của doanh nghiệp Việt nam ở cả mức ngắn hạn

và dài hạn Bên cạnh đó, thiết lập được một cơ chế quản lý hiệu quả với chi phí ít nhất đề ra nhiệm vụ phải phổ biến những kiến thức phổ thông nhất đến mọi đối tượng xã hội

1.5.1 Tổng quan về tổ chức thương mại thế giới với vai trò trong môi trường thương mại mới

Tổ chức thương mại thế giới (từ đây trở đi gọi là WTO) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 với vai trò cơ quan quốc tế quản lý thương mại quốc tế thay thế cho Ban thư ký GATT trước đây Theo sự đánh giá nhìn nhận của nhiều chuyên gia kinh tế, WTO thành lập là bước tiến quan trọng trong nâng cao vai trò của các nước đang phát triển trong nền kinh tế và thương mại toàn cầu

So với các vòng đàm phán đã diễn ra trước đó, trong đó có vòng đàm phán Ken-nơ-đi và Vòng đàm phán Tô-ki-ô, Vòng đàm phán U-ru-goay và WTO thể hiện bước phát triển mới về phương thức nhìn nhận mới đối với thương mại quốc tế Thông qua các kết quả của vòng đàm phán U-ru-goay, WTO đã đưa toàn bộ các chủ đề trọng yếu của nền kinh tế thế giới như trao đổi thương mại về dịch vụ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, trao đổi thương mại về hàng dệt

và về hàng nông sản vào trong cùng khung pháp lý và tăng cường tính kỷ

Trang 26

luật trong thực thi những cam kết và điều ước quốc tế Thực hiện được như vậy thể hiện sự quan tâm và quyết tâm của cộng đồng kinh tế quốc tế Thực hiện được như vậy thể hiện sự quan tâm và quyết tâm của cộng đồng kinh tế quốc tế trong phát triển nền thương mại mở cửa trên toàn bộ các lĩnh vực cơ bản

WTO đồng thời tăng cường hiệu lực và hiệu quả thực hiện những cam kết trong khuôn khổ hệ thống Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (từ đây trở đi gọi là hệ thống GATT) Trong đó cơ bản là cải thiện bộ máy và cơ chế giải quyết tranh chấp cùng với sự ra đời của cơ chế Xem xét chính sách thương mại mang tính thường xuyên Qua đó, hạn chế những hành vi độc đoán trong thiết lập hệ thống quản lý đối với các sản phẩm nhạy cảm như hàng dệt may

Một lĩnh vực thành công khác là WTO đã và đang cải thiện điều kiện tham gia vào các thị trường của các nước thành viên Đồng thời có thể xem đây như

nỗ lực thiết lập nền kinh tế toàn cầu thay vì khoanh vùng trong nền kinh tế khu vực Đồng thời , WTO làm minh bạch và hiện đại mới hệ thống GATT Đây là quá trình đưa những cam kết quốc tế tổng thể vào trong khu vực thực tiễn hàng ngày của thương mại quốc tế như các điều ước quốc tế về kiểm tra trước khi xếp hàng xuống tàu, xác định trị giá hải quan cho hàng hoá nhập khẩu và về các Quy tắc xác định xuất xứ cùng nhiều Hiệp định khác

Sự ra đời của WTO đạt được mục tiêu duy trì sự thống nhất của hệ thống trao đổi thương mại thế giới tồn tại với những quyền lợi và ưu tiên khác nhau giữa Chính phủ của nhiều nước Đồng thời, cho thấy cần thiết tập trung hơn nữa giải quyết những vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp, cải cách cơ chế

và cải cách hệ thống quản lý Bên cạnh, tập trung giải quyết những nội dung liên quan đến thương mại hàng hoá, WTO đề cập và hướng tìm giải pháp cho những hình thức và đối tượng của thương mại quốc tế mà chưa thể giải quyết được bằng những quy phạm dùng cho thương mại hàng hoá Cụ thể như các

Trang 27

sản phẩm dịch vụ và đặc biệt là những hoạt động sử dụng nhiều nguồn tri thức cũng như các hoạt động liên quan đến đầu tư

Hiệp định cuối cùng của vòng đàm phán U-ru-goay, được chấp nhận tại Hội nghị Bộ trưởng tại Marrakesh, Marốc ngày 15 tháng 4 năm 1994, gồm 30 hiệp định và Bản ghi nhớ cuối cùng với 27 Quyết định và Tuyên ngôn Những văn kiện này đã làm rõ và tăng cường khuôn khổ hiệu lực cho các thoả thuận

và cam kết của các nước về thương mại, đầu tư quốc tế

1.5.2 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1947 và 1994 (GATT/WTO 1994 và GATT 1947)

GATT 1947 ra đời trong bối cảnh nền kinh tế thế giới bị tàn phá nặng nề sau Đại chiến thế giới thứ hai và sự phong toả quan hệ thương mại giữa các nước Quan hệ kinh tế giữa các nước cũng như những lý thuyết kinh tế về thương mại quốc tế trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng của những ý thức hệ khác nhau Mối quan tâm cơ bản của nhiều nhà hoạch định chính sách là cải thiện quan hệ song phương và quan hệ trong một khối kinh tế xuất phát từ yêu cầu

và nhu cầu kinh tế của các nước có liên quan cũng như đặc điểm của mỗi nền kinh tế

GATT 1947 gồm 4 phần, 38 điều cùng các phụ lục từ A đến I Chính phủ các nước tham gia thừa nhận cần tiến hành quan hệ thương mại giữa các nước nhằm nâng cao mức sống, đảm bảo công ăn việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cư, đồng thời phấn đấu nâng cao thu nhập và đạt tăng trưởng vững chắc, sử dụng đầy đủ và tốt hơn nguồn lực của Thế giới cùng với mở mang sản xuất và trao đổi hàng hoá Những biện pháp cần thiết để thực hiện các công việc trên gồm các thoả thuận tương hỗ lẫn nhau tiến tới giảm mạnh thuế hải quan, giảm các trở ngại trong thương mại và hướng tới triệt tiêu phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế

Hiệp định thành lập WTO và GATT 1994 thể hiện rõ : Chính phủ các nước thừa nhận, những mối quan hệ của họ trong lĩnh vực kinh tế và thương mại

Trang 28

phải được thực hiện với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm công ăn việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cư, đáp ứng nhu cầu thực tế và phát triển

ổn định Bên cạnh đó, nhấn mạnh đến mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá dịch vụ, đảm bảo sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường và cải thiện các biện pháp

để thực hiện theo các cách thức phù hợp với nhu cầu và quan tâm của từng nước

Đặc biệt tại GATT 1994, các nước nhấn mạnh phải có nỗ lực tích cực để bảo đảm các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này

Văn kiện này gồm 16 điều, 4 phụ lục và các Hiệp định liên quan Cụ thể :

- Về thương mại hàng hoá : GATT 1994 và các Hiệp định Nông nghiệp, Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịch động và thực vật, Hiệp định về trao đổi thương mại hàng dệt và sản phẩm may mặc, Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs), Hiệp định về thực thi Điều VI của GATT 1994 (chống bán phá giá), Hiệp định về giám định hàng hoá trước khi xếp hàng xuống phương tiện vận tải, Hiệp định về quy tắc xuất xứ, Hiệp định về cấp phép nhập khẩu, Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng và Hiệp định về các biện pháp tự vệ

- Về dịch vụ : Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ và các Phụ lục

- Về Sở hữu trí tuệ : Hiệp định chung về các khía cạnh của Quyền Sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS – Trade Related Aspects of Intellectual Property Rights)

Cả hai bản hiệp định này đều có những điểm đã được điều chỉnh cho phù hợp với nguyện vọng và sự quan tâm của các nước Thứ nhất, GATT 1994 đã dành sự quan tâm đặc biệt hơn cho các nước đang phát triển Do vậy, trong

Trang 29

những văn kiện cụ thể, nhiều quyền lợi của các nước đang phát triển được chú trọng hơn Tại đây, nêu rõ cần phải đảm bảo mức tăng trưởng thương mại quốc tế sao cho đáp ứng với nhu cầu phát triển kinh tế Quan điểm này đã thể hiện rõ trong việc dành cho những nước đang phát triển những lợi thế nhất định so với các nước phát triển trong thực hiện Hiệp định trị giá cùng các điều trong những hiệp định khác như về nông sản

Thứ hai, tinh thần của Hiệp định GATT/WTO 1994 đã đề cao nhu cầu đảm bảo phát triển bền vững bằng phát triển kinh tế gắn với gìn giữ môi trường, môi sinh cũng như các tiền đề cho phát triển như nâng cao mức sống Những

đề cập đến các khía cạnh kinh tế xã hội được nêu cụ thể hơn

Thứ ba, Hiệp định WTO đề cập đến những tiền đề hỗ trợ cho phát triển nền kinh tế của các nước đang phát triển qua những hoạt động kinh tế tạo nhiều giá trị gia tăng sử dụng tri thức Qua đây, hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế và tạo cơ hội việc làm tại các nước đang phát triển

Thứ tư, qua chùm hiệp định về thương mại hàng hoá, đã thể hiện rõ quyết tâm

và nhu cầu của cải cách cơ cấu quản lý thương mại quốc tế Đối thoại và trao đổi thông tin giữa cơ quan quản lý của từng Chính phủ với doanh nghiệp được đề cao trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm Qua đó, hình thành một sân chơi công bằng hơn cho hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp và khuyến khích quan hệ cộng tác giữa các thành phần của nền kinh tế quốc dân

Đặc điểm thứ năm thể hiện qua những Hiệp định liên quan đến thương mại hàng hoá là khuyến nghị thuế quan hoá những biện pháp phi quan thuế và nâng cao sự minh bạch trong chính sách thương mại

Những tiến bộ này của GATT 1994 đã có tác động tích cực đến gắn kết lợi ích của các nước vào nền kinh tế toàn cầu Bên cạnh đó, còn tồn tại nhiều điểm cần tiếp tục được hoàn thiện, cụ thể nhu đối với hàng dệt và may mặc và hàng nông sản Cơ chế giải quyết tranh chấp đã được cải thiện về chất lượng

Trang 30

nhưng còn phải đẩy mạnh hơn nữa vai trò của WTO trong thực thi và giám sát thực hiện những cam kết

1.5.3 Bốn quy tắc cơ bản của GATT 1994

Thực hiện điều VII của GATT 1994 là nội dung của Hiệp định trị giá gồm 24 điều, ba phụ lục Trong tương quan là một bộ phận của các hiệp định thương mại đa phương của WTO Hiệp định trị giá GATT/WTO chịu sự chi phối của bốn quy tắc cơ bản của GATT 1994 cụ thể như sau :

Quy tắc 1: Mặc dù thừa nhận tầm quan trọng đối với các nước thành viên của GATT tiến theo các chính sách mở cửa và tự do hoá thương mại, Quy tắc cho phép các nước này bảo vệ sản xuất trong nước trước cạnh tranh của nước ngoài, với điều kiện là nhưũng quy chế, chính sách bảo vệ này chỉ thực hiện thông qua biểu thuế quan và chỉ tồn tại ở mức thấp

Đáp ứng định hướng này, Quy tắc 1 nghiêm cấm các nước sử dụng bảo vệ sản xuất bằng hạn chế định lượng, trừ một vài trường hợp cụ thể

Trường hợp ngoại lệ quan trọng nhất là : các nước đang phát triển gặp khó khăn trong cán cân thanh toán được phép hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ cán cân thanh toán ngoại lai (vãng lai) và tình hình tài chính của các nước bị ảnh hưởng

Quy tắc này đề nghị các quốc gia lựa chọn, sử dụng các phương pháp dựa trên

cơ sở trị giá của hàng hoá thay vì sử dụng các biện pháp hạn chế số lượng Quy tắc 2 : Quy định về giảm bớt và loại trừ biểu thuế quan và các hàng rào đối với giao lưu thương mại thông qua đàm phán đa phương Những biểu thuế quan được hạ thấp được thể hiện trên cơ sở các dòng thuế theo biểu thuế quan trong chương trình nhân nhượng giảm thuế của từng quốc gia Những mức thuế suất thuộc các kế hoạch nhượng bộ này được hiểu là mức thuế suất cam kết Các quốc gia cam kết thực hiện nghĩa vụ không tăng thuế hải quan trên mức thuế suất cam kết như nêu tại Chương trình trên

Trang 31

Quy tắc 3 : Yêu cầu các nước tiến hành trao đổi giao dịch thương mại mà không phân biệt đối xử về nước từ đó tiến hành nhập khẩu hàng hoá về, hoặc không phân biệt đối xử với nước thực hiện xuất khẩu hàng hoá đi nước khác Quy tắc này thực hiện theo nguyên tắc MFN

Quy tắc 4: là quy tắc ứng xử quốc gia Quy tắc này yêu cầu các quốc gia không áp đặt luật lệ của họ đối với các sản phẩm nhập khẩu sau khi hàng đã nhập khẩu vào thị trường nội địa của họ về các lĩnh vực như trả thuế hải quan tại biên giới, trả các loại thuế nội địa, như thuế bán hàng hay thuế GTGT ở các mức thuế suất cao hơn các mức thuế suất đánh vào các sản phẩm nội địa tương tự

1.5.4 Lộ trình chuẩn bị gia nhập WTO của Việt Nam

Nộp đơn gia nhập từ tháng 01/1995, đến nay, Việt Nam đã qua 9 vòng đàm phán với các phiên về minh bạch hoá chính sách và mở cửa thị trường Theo

dự tính của ban công tác WTO, để đi đến đích Việt Nam còn phải tiến hành

3-4 phiên nữa

Giai đoạn 1 : Nộp đơn xin gia nhập

Tháng 1/1995, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO Đến 31/01 cùng năm

đó, Ban công tác về việc gia nhập của Việt Nam được thành lập Trong số 38 quốc gia và lãnh thổ thành viên, nhiều nước có quan tâm đến thị trường Việt Nam

Giai đoạn 2 : Gửi “Bị vong lục về Chế độ ngoại thương Việt Nam” tới Ban công tác

Tháng 8/1996, Việt Nam hoàn thành “Bị vong lục về Chế độ ngoại thương Việt Nam” và gửi tới Ban thư ký WTO để luân chuyển tới các thành viên của Ban công tác Bị vong lục không chỉ giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách, mà còn cung cấp các thông tin chi tiết về chính sách liên quan tới thương mại hàng hoá dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ

Trang 32

Giai đoạn 3 : Minh bạch hoá chính sách thương mại

Sau khi nghiên cứu “Bị vong lục về Chế độ ngoại thương Việt Nam” nhiều thành viên đặt ra câu hỏi yêu cầu trả lời để hiểu rõ chính sách, bộ máy quản

lý, thực thi chính sách của Việt Nam

Ngoài việc trả lời các câu hỏi đặt ra, Việt Nam cũng phải cung cấp nhiều thông tin khác theo biểu mẫu do WTO quy định về hỗ trợ nông nghiệp, trợ cấp trong nông nghiệp, các doanh nghiệp có đặc quyền, các biện pháp đầu tư không phù hợp với quy định của WTO, thủ tục hải quan, hệ thống tiêu chuẩn

kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ …

Ban công tác tổ chức các phiên họp tại trụ sở WTO (Genevơ Thuỵ sĩ) để đánh giá tình hình chuẩn bị của Việt Nam và tạo điều kiện để Việt Nam trực tiếp giải thích chính sách Đến tháng 5/2003 Việt Nam đã tham gia 6 phiên họp của Ban công tác Về cơ bản, Việt Nam đã hoàn thành giai đoạn làm rõ chính sách

Mặc dù vậy trong WTO, việc làm rõ chính sách là quá trình liên tục Không chỉ có các nước đang xin gia nhập phải tiến hành công việc này mà ngay cả các thành viên chính thức cũng phải thường xuyên cung cấp thông tin giải thích chính sách của mình

Giai đoạn 4 : Đưa ra các bản chào ban đầu và tiến hành đàm phán song phương

Gia nhập WTO có nghĩa là Việt Nam được quyền tiếp cận tới thị trường của tất cả các thành viên khác trên cơ sở đối xử tối huệ quốc (MFN - Most favoured nation) Trải qua nửa thế kỷ các thành viên chỉ duy trì bảo hộ sản xuất trong nước chủ yếu bằng thuế quan với thuế suất nói chung khá thấp Để được hưởng thuận lợi này Việt Nam cũng phải cam kết chấp nhận các nguyên tắc đa biên, đồng thời giảm mức bảo hộ của mình với việc cam kết thuế suất thuế nhập khẩu tối đa và có lộ trình loại bỏ các hàng rào phi thuế đặc biệt là

Trang 33

các biện pháp hạn chế định lượng như cấm nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu hay cấp phép hạn chế nhập khẩu một cách tuỳ tiện

Mặt khác, Việt Nam cũng phải mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài được tham gia kinh doanh trong nhiều lĩnh vực dịch vụ với những điều kiện thông thoáng hơn như những lĩnh vực dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ xây dựng và dịch vụ vận tải

Mức độ mở cửa thị trường tiến hành thông quan đàm phán song phương với tất cả các thành viên quan tâm

Trước hết Việt Nam đưa ra những bản chào ban đầu về mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ để tham dò phản ứng của các thành viên khác Trên cơ sở

đó, các thành viên yêu cầu Việt Nam phải giảm bớt mức độ bảo hộ ở một số lĩnh vực Việt Nam sẽ xem xét yêu cầu của họ và nếu chấp nhận được thì có thể đáp ứng hoặc đưa ra mức bảo hộ thấp hơn một chút Quá trình đàm phán như vậy đàm phán sẽ tiếp diễn cho đến khi mọi thành viên đều chấp nhận với mức độ mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ của ta

Để có thể đàm phán thành công, việc xây dựng chiến lược tổng thể phát triển kinh tế dài hạn giữ vai trò quyết định Ta phải xác định được những thế mạnh, những lĩnh vực cần được bảo hộ để có thể vươn tới trong tương lai, những ngành nào không cần bảo hộ …

Vào năm 2002 Việt Nam đã gửi bản chào ban đầu về thuế quan và bản chào ban đầu về dịch vụ tới WTO Bắt đầu từ phiên họp 5 của Ban công tác (4/2002) Việt Nam đã tiến hành đàm phán song phương với một số thành viên của Ban công tác

Việc đàm phán được tiến hành với từng nước thành viên yêu cầu đàm phán,

về toàn bộ và từng nội dung nói trên cho tới khi kết quả đàm phán thoả mãn mọi thành viên WTO

Giai đoạn 5 : Hoàn thành nghị định tư gia nhập (chưa tiến hành)

Trang 34

Một nghị định thư nêu rõ các nghĩa vụ của Việt Nam khi trở thành thành viên WTO sẽ được hoàn tất dựa trên các thoả thuận đã đạt được sau các cộc đàm phán song phương, đàm phán đa phương và tổng hợp các cam kết song phương

Giai đoạn 6 : Phê chuẩn Nghị định thư

Ba mươi ngày sau khi chủ tịch nước hoặc Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư, Việt Nam sẽ chính thức trở thành thành viên WTO

1.6 Kinh nghiệm kiểm soát trị giá hải quan của một số nước phát triển 1.6.1 Kinh nghiệm kiểm soát trị giá hải quan của hải quan Nhật Bản

Là một trong những cơ quan Hải quan hiện đại ở khu vực, Hải quan Nhật Bản

đã có quá trình và kinh nghiệm áp dụng quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định trị giá GATT/WTO Cùng với quy trình thủ tục và công nghệ hiện đại, quản lý trị giá hải quan của Nhật Bản đã góp phần chống gian lận thương mại, làm cho số thu ngân sách của cơ quan hải quan ngày càng tăng

Năm 1981, Nhật Bản bắt đầu chuyển đổi hệ thống trị giá hải quan từ phương pháp định giá Brucxell sang áp dụng Hiệp định trị giá GATT với nguyên tắc dựa vào giá giao dịch thực tế của hàng nhập khẩu Từ đó, hệ thống pháp luật trong nước về lĩnh vực trị giá hải quan được chuyển đổi dựa trên Hiệp định GATT được thể hiện cụ thể trong Luật thuế quan và các quy định của Chính Phủ Hải quan Nhật Bản tổ chức mô hình kiểm soát trị giá hải quan theo 3 cấp : trung ương, khu vực và cơ sở Cấp trung ương, Cục thuế quan Nhật Bản (Customs and tarrif Bureau) giải quyết những vấn đề chính sách và quốc tế; Trung tâm trị giá Hải quan quốc gia đặt tại Tokyo thực hiện một số chức năng quản lý trị giá hải quan Tại cấp khu vực (hải quan vùng), quản lý trị giá do Phòng trị giá và Phòng Kiểm tra sau thông quan thuộc Cục Kiểm tra sau thông quan và lãnh thổ hải quan Tại cấp cơ sở, Phòng thông quan (tại các chi

Trang 35

nhánh hải quan hoặc hải quan vùng) có nhiệm vụ kiểm tra từng tờ khai nhập khẩu để kiểm tra khai báo về trị giá hải quan

1.6.1.1 Vai trò của Trung tâm quốc gia về trị giá hải quan

Được thành lập năm 2001 tại Tokyo trực thuộc Cục thuế quan Nhật Bản, vai trò quan trọng nhất của Trung tâm này là đảm bảo một hệ thống trị giá hải quan đối với hàng nhập khẩu một cách thống nhất, công bằng và trung lập Trung tâm còn có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng các chuyên gia về trị giá hải quan; tổ chức nghiên cứu về trị giá; phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu về trị giá; hỗ trợ về kỹ thuật cho hải quan nước ngoài

Theo hải quan Nhật Bản, trên thực tế có nhiều loại giao dịch khác nhau, như giao dịch nhập khẩu của đại lý bán hàng, giao dịch giữa nhiều công ty có liên quan … Đây là những giao dịch khó xác định trị giá hải quan Ví dụ : Một công ty thương mại nhập khẩu sản phẩm từ nhà sản xuất, công ty này là đại lý bán hàng ở nước nhập khẩu và được thoả thuận là đại lý độc quyền giữa công

ty thương mại và nhà sản xuất Hải quan A xác định trị giá hải quan sản phẩm nhập khẩu đó là 1.000 yên Hải quan B xác định là 1.200 yên, bao gồm cả khoản hoa hồng do người mua nội địa trả Sự khác nhau này có thể là nguyên nhân gây ra sự tranh cãi giữa Hải quan và doanh nghiệp

Những tình huống có sự khác nhau trong cách hướng dẫn và áp dụng trị giá hải quan như trên sẽ được các Hải quan vùng hỏi ý kiến trung tâm này Sau

đó trung tâm sẽ xác định các quyết định về trị giá Chức năng quan trọng nhất của Trung tâm là chia sẽ những quyết định đó giữa 9 cơ quan hải quan vùng, điều đó giúp Hải quan Nhật thiết lập được hệ thống trị giá hải quan thống nhất

và công bằng Nếu Trung tâm khó khăn trong xác định giá thì sẽ hỏi ý kiến Cục thuế quan Nhật Bản

Để phát triển cơ sở dữ liệu về trị giá hải quan, Trung tâm này thu thập cập nhật tích luỹ vào hệ thống cơ sở dữ liệu những phát hiện của bộ phận kiểm tra sau thông quan và nhưng trường hợp gửi lấy ý kiến Trung tâm, vì vậy Hải

Trang 36

quan vùng có thể chia sẻ các quyết định giá trước đó để đảm bảo sự thống nhất và hài hoà về trị giá hải quan Hiện hải quan Nhật Bản tổng hợp cuốn tài liệu 303 ví dụ điển hình về xác định trị giá tính thuế

1.6.1.2 Hải quan vùng – xem xét tờ khai trị giá phổ biến

Theo quy định của Hải quan Nhật Bản, nếu giá mua trên hoá đơn không miêu

tả đúng trị giá giao dịch (giá thực tế đã trả hoặc phải trả), thì tại thời điểm nhập khẩu người nhập khẩu cần xuất trình một mẫu tờ khai trị giá (khác với mẫu tờ khai nhập khẩu thông thường) Có hai loại khai báo trị giá hải quan : khai báo trị giá cá biệt (Individual Valuation Declaration) và trị giá khai báo mang tính chất phổ biến (Blanket Valuation Declaration)

Tại cấp khu vực, Hải quan vùng (Phòng trị giá - Valuation Section) có chức năng quản lý các khai báo trị giá hải quan Trong hai loại khai báo trị giá hải quan trên Phòng trị giá có nhiệm vụ chấp nhận mẫu khai báo trị giá mang tính chất phổ biến do người nhập khẩu xuất trình sau khi họ hỏi ý kiến tư vấn của Hải quan Khai báo trị giá phổ biến thường được thực hiện khi có cùng loại hàng hoá do cùng các đối tác thường xuyên xuất nhập khẩu với nhau với cùng điều kiện và hoàn cảnh giao dịch Nếu có lô hàng nhập khẩu tiếp theo, người nhập khẩu chỉ cần thông báo cho hải quan về số tờ khai đã đăng ký mà không cần phải thiết lập tờ khai trị giá cá biệt cho từng lần nhập khẩu Công chức hải quan ở đây sẽ kiểm tra kỹ mẫu khai báo và các tài liệu có liên quan (như hợp đồng, thoả thuận …) và cuối cùng chấp nhận việc trị giá này mang tính phổ biến phải được xuất trình hai bản: bản chính giữ tại phòng trị giá, một bản trả lại người nhập khẩu, khi người nhập khẩu xuất trình tờ khai này thì cần đề nghị cán bộ hải quan xếp tờ khai nhập khẩu cùng với tờ khai trị giá Phòng trị giá sẽ gửi bản photo tờ khai trị giá phổ biến tới các bộ phận hải quan có liên quan Cùng thời điểm này, Phòng trị giá sẽ nhập dữ liệu của tờ khai trị giá và Hệ thống dữ liệu thông tin tình báo hải quan (CIS) để các công chức hải quan của Phòng thông quan có thể truy nhập và nắm được khi làm

Trang 37

thủ tục đối với tờ khai nhập khẩu liên quan tờ khai trị giá phổ biến đã được lập Quy định về khai báo trị giá hải quan phổ biến đã giảm bớt thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận loại cho doanh nghiệp, bởi lẽ điểm khác biệt so với

tờ khai trị giá cá bịêt là, tờ khai trị giá phổ biến có giá trị trong vòng 2 năm và

sẽ được lập tại Phòng trị giá trước khai nhập khẩu lô hàng cụ thể

Nếu phòng trị giá thuộc Cục Hải quan vùng chạm trán với những trường hợp chênh lệch trị giá hải quan với các Hải quan vùng khác, họ có thể thông báo các trường hợp đó tới Trung tâm ở Tokyo Trung tâm sẽ đưa ra lời khuyên, chỉ dẫn hoặc đưa ra quyết định liên quan đến trị giá tới tất cả các cơ quan hải quan vùng

Những thông tin phát hiện của các bộ phận kiểm tra sau thông quan sẽ được Phòng trị giá xem xét và xác minh để tránh những phiền phức và khiếu nại của nhà nhập khẩu

Điểm đáng chú ý là dịch vụ tư vấn trị giá hải quan được Hải quan Nhật tổ chức tại Phòng trị giá (Hải quan vùng) Khi người nhập khẩu hoặc người khai thuê cảm thấy khó khăn khi xác định trị giá hải quan có thể đến Phòng trị giá của Hải quan vùng để hỏi ý kiến trước khi khai báo nhập khẩu Trong quá trình kiểm tra tờ khai hải quan đối với tờ khai nhập khẩu tại Phòng thông quan hàng hoá, nếu công chức hải quan khó xác định trị giá thì cũng có thể thông báo cho Phòng Trị giá để tham khảo ý kiến Cũng như vậy bộ phận kiểm tra sau thông quan cũng thường xuyên hỏi ý kiến tư vấn tại đây

Tại Hải quan vùng cũng tổ chức đào tạo những kiến thức về trị giá hải quan cho công chức hải quan làm việc trong bộ phận thông quan, kiểm tra sau thông quan, đào tạo cho nhà nhập khẩu, người khai thuê và công chức hải quan nước ngoài trong chương trình trợ giúp kỹ thuật

1.6.1.3 Kiểm soát trị giá hải quan tại cấp cơ sở

Đối với cấp cơ sở, việc kiểm soát trị giá hải quan được thực hiện ngay tại khâu thông quan hàng hoá Nhật Bản có 9 đơn vị Hải quan vùng, mỗi Hải

Trang 38

quan vùng có một số chi nhánh Hải quan Việc thông quan hàng hoá được thực hiện tại Phòng Thông quan ở hải quan vùng hoặc Phòng thông quan của Chi nhánh Hải quan

Năm 1966 hệ thống khai báo trị giá hải quan được áp dụng tại Nhật Bản, là một phần của hệ thống tự đánh giá (self-assessment system) Hiện tại, khi khai báo nhập khẩu (hàng có thuế), người nhập khẩu cần phải khai báo trên một mẫu riêng biệt, được tách ra từ chứng từ khai báo nhập khẩu, nhằm tính toán trị giá hải quan

Theo quy định của Hải quan Nhật Bản, người khai hải quan phải khai báo về mối quan hệ giữa người mua và người bán có ảnh hưởng đến trị giá giao dịch; giá ghi trên hoá đơn không tương đương với giá thực tế đã trả hoặc phải trả; những điều chỉnh hoặc khấu trừ theo phương pháp trị giá giao dịch; Trị giá hải quan đã được xác định bằng phương pháp khác (phương pháp 2 đến 6) Một số trường hợp doanh nghiệp không cần phải xuất trình mẫu khai báo trị giá cho cơ quan Hải quan, gồm : hàng miễn thuế hoặc số thuế rõ ràng; trị giá hoá đơn (giá hợp đồng) nhỏ hơn 1 triệu yên – tương đương 10.000 USD (trừ những giao dịch liên tục với cùng một người xuất khẩu); những khai báo trị giá không cần sự xem xét của Cục trưởng Hải quan vùng Khi cần thiết người nhập khẩu vẫn cần phải khai báo những vấn đề về trị giá trong tờ khai nhập khẩu

Có 2 loại mẫu khai báo trị giá hải quan : mẫu 1 được sử dụng khi trị giá hải quan được xác định theo phương pháp trị giá giao dịch (theo Hiệp định trị giá GATT); mẫu 2 sử dụng khi được xác định bằng phương pháp từ 2 đến 6

Đáng chú ý tại Hải quan Nhật Bản, khai báo trị giá chia làm hai loại : khai báo trị giá cá biệt và khai báo trị giá phổ biến Mẫu khai báo trị giá cá biệt được xuất trình mỗi khi làm thủ tục hải quan cho hàng nhập khẩu cùng với tờ khai nhập khẩu cho Phòng thông quan Việc khai báo trị giá này được thực

Trang 39

hiện khi trị giá hoá đơn không phản ánh đúng trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu Nó chỉ có giá trị tương ứng với mỗi lần khai báo nhập khẩu, không có giá trị cho các lần khác Công chức hải quan sẽ kiểm tra các sự kiện thương mại liên quan giao dịch nhập khẩu vào thời điểm khai báo nhập khẩu Người nhập khẩu phải xuất trình mẫu tờ khai trị giá Các chứng từ chứng tỏ các vấn

đề liên quan tới xác định trị giá hải quan được xuất trình cùng một lúc Trước khi khai báo nhập khẩu, nếu người nhập khẩu khó xác định trị giá hải quan có thể sử dụng dịch vụ tư vấn của Phòng trị giá ở hải quan vùng

Nếu nhà nhập khẩu đã được chấp nhận tờ khai trị giá phổ biến, nếu có lô hàng nhập khẩu tiếp sau, người nhập khẩu chỉ cần thông báo cho hải quan về số tờ khai đã đăng ký mà không cần phải lập tờ khai trị giá cá biệt cho từng lần nhập khẩu như trên Tờ khai trị giá phổ biến có giá trị trong vòng 2 năm 1.6.1.4 Chia sẻ thông tin

Hải quan Nhật Bản rất chú trọng việc cập nhật, trao đổi thông tin trong quản

lý trị giá hải quan giữa bộ phận thông quan nhập khẩu, bộ phận kiểm tra sau thông quan và Bộ phận trị giá Đối với Bộ phận thông quan nhập khẩu, nếu khó xác định trị giá hải quan của lô hàng nhập khẩu nào đó vì có sự khác nhau giữa nhà nhập khẩu và công chức hải quan trong xác định trị giá hải quan thì có thể tham khảo ý kiến tại Bộ phận trị giá Qua kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hoá, nếu Bộ phận thông quan hàng hoá phát hiện gian lận trong khai báo trị giá, những chứng từ liên quan sẽ được gửi đến Bộ phận Kiểm tra sau thông quan Tại Bộ phận kiểm tra sau thông quan, trên cơ sở thông tin do Bộ phận thông quan nhập khẩu và Bộ phận trị giá gửi đến, sẽ tiến hành kiểm toán những nhà nhập khẩu có liên quan để xác minh trị giá hải quan đã khai báo Sau khi kiểm tra sau thông quan, nếu có sự khác nhau giữa nhà nhập khẩu và kiểm toán viên thì lại tiếp tục tham khảo ý kiến tư vấn của

Bộ phận trị giá Bộ phận trị giá sẽ xác minh những thông tin mà Bộ phận kiểm tra sau thông quan phát hiện được Tại Bộ phận trị giá, trong quá trình

Trang 40

quản lý khai báo trị giá hải quan, nếu có trường hợp khai báo sai hoặc gian lận, những chứng từ liên quan sẽ được gửi đến Bộ phận kiểm tra sau thông quan Để đảm bảo sự thống nhất về trị giá hải quan, Bộ phận này thực hiện dịch vụ tư vấn và đào tạo cho Bộ phận thông quan và Bộ phận Kiểm tra sau thông quan Trong quá trình tư vấn, nếu bộ phận trị giá khó khăn trong quyết định trị giá hải quan thì sẽ hỏi ý kiến Trung tâm trị giá hải quan tại Tokyo hoặc Cục thuế quan Nhật Bản thông quan trung tâm này

Làm thế nào để đảm bảo Trị giá hải quan hàng nhập khẩu được thống nhất và chính xác? Để làm được điều đó Hải quan Nhật tiến hành kiểm soát trị giá hải quan ở 3 giai đoạn : trước thông quan, trong thông quan và sau thông quan Trước khi làm thủ tục, Hải quan vùng tổ chức các khoá đào tạo về trị giá hải quan cho công chức hải quan và các doanh nghiệp, đồng thời tổ chức tư vấn cho nhà nhập khẩu trước khi họ khai báo nhập khẩu Bước vào giai đoạn thông quan hàng hoá, Phòng thông quan quản lý trị giá hải quan thông qua việc kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hoá Sau đó, Phòng kiểm tra sau thông quan quản lý trị giá hải quan thông qua việc kiểm toán, nếu số thuế gian lận lớn hoặc tính chất vi phạm nghiêm trọng (như 2 bản hoá đơn khác nhau ) thì cơ quan hải quan sẽ tiến hành điều tra sâu hơn

1.6.2 Kinh nghiệm kiểm soát trị giá hải quan của hải quan Malaysia

Hải quan Maylaysia có xuất phát điểm sau hải quan Nhật Bản trong việc áp dụng quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định trị giá GATT/WTO nhưng là một quốc gia có ứng dụng công nghệ thông tin một cách toàn diện trong việc kiểm soát trị giá tính thuế

Hải quan Malaysia trực thuộc Bộ Tài chính, là cơ quan thu thuế chủ yếu cho ngân sách với 5 nhiệm vụ chính như sau (hải quan Malaysia thu cả thuế nội địa) :

Ngày đăng: 22/01/2021, 09:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam (2001), Luật Hải Quan, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hải Quan
Tác giả: Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
2. Trịnh Hiền (2003), "Chiến lược phát triển Ngành Hải quan đến năm 2010", Nghiên cứu Hải quan, (số 3/2004), 21-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Ngành Hải quan đến năm 2010
Tác giả: Trịnh Hiền
Năm: 2003
3. Asean Customs Valuation Guide (ACVG) - Hướng dẫn xác định trị giá hải quan Asean - tài liệu của tổ chức Ban thư ký Asean – 2004 Khác
4. Cộng đồng doanh nghiệp Cơ quan hải quan và Hiệp định trị giá GATT/WTO - Tổng cục Hải quan - 5/2001 Khác
5. Hiệp định trị giá GATT/WTO và các chuẩn mực thực tiễn dành cho cộng đồng doanh nghiệp và Hải quan - Tổng cục Hải quan - 2004 Khác
6. Xác định trị giá tính thuế hải quan - Tổng cục Hải quan - Hà Nội 1999 Khác
7. Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan - Tài liệu tham khảo nghiệp vụ - lưu hành nội bộ, Hà Nội 4/2003 Khác
8. Bức xúc nạn gian lận qua giá tính thuế nhập khẩu - Tạp chí Tài chính số 7 (489) năm 2005, tr 7-8 Khác
9. Xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định GATT/WTO : Một năm nhìn lại - TS Nguyễn Văn Hiệu, ThS Nguyễn Minh Hằng - Tạp chí Tài chính số 7 (489) năm 2005, tr 50-52 Khác
10. Hệ thống các văn bản hướng dẫn xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu theo nguyên tắc thực hiện điều 7 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) - 01/2004 Khác
11. TS Nguyễn Văn Nghiến, Phó chủ nhiệm Khoa Kinh tế và quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Bài giảng môn Quản lý chiến lược Khác
12. Hải quan Việt Nam trên đường phát triển (Vietnam Customs on its path of Development) - Tổng cục Hải Quan - Hà nội 2005 Khác
13. Bộ Thương mại (2003), Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu đến 2010, Hà Nội Khác
14. Customs Valuation - A presentation by the Japan Customs Service for the Customs Administration of : Laos, Myanmar, Vietnam – 2001 Khác
15. Automation System of Malaysia Customs - Presented by : Information Technology Division, Royal Customs Department of Malaysia - February 2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w