+ Xác định sự việc, chi tiết tiêu biểu trong đoạn văn tự sự; xác định phương pháp thuyết minh trong bài văn thuyết minh. + Xác định những phương thức biểu đạt chính dùng trong văn bản. [r]
Trang 1LÊ THỊ PHƯƠNG LAN – PHAN SỸ QUÝ – NGÔ THU HIỀN
Trích đoạn
CÔNG PHÁ ĐỀ THI THPT QUỐC GIA 2018
MÔN NGỮ VĂN BÁM SÁT ĐỀ MINH HỌA CỦA BGD PHÁT HÀNH NGÀY 14/01/2018
Trang 2Công phá đề thi THPT quốc gia 2018 môn Ngữ văn More than a book
MỤC LỤC
Phần 1: Phương pháp và kỹ năng công phá đề thi 11
A Công phá các dạng đề đọc – hiểu 11
B Công phá các dạng đề bài nghị luận xã hội 34
C Công phá các dạng bài nghị luận văn học 45
Phần 2: Đề minh họa kì thi THPT quốc gia 2018 77
Đề thi minh họa – Bộ giáo dục và đào tạo 2018 77
Đề số 1 83
Đề số 2 90
Đề số 3 96
Đề số 4 103
Đề số 5 112
Đề số 6 119
Đề số 7 127
Đề số 8 136
Đề số 9 144
Đề số 10 153
Đề số 11 160
Đề số 12 170
Đề số 13 176
Trang 3Đề số 15 189
Đề số 16 195
Đề số 17 203
Đề số 18 212
Đề số 19 220
Đề số 20 228
Đề số 21 236
Đề số 22 244
Đề số 23 253
Đề số 24 268
Đề số 25 276
Đề số 26 285
Đề số 27 294
Đề số 28 305
Đề số 29 313
Đề số 30 325
Đề số 31 334
Phần 3: Sơ đồ tư duy các tác phẩm văn học 341
Trang 4Công phá đề thi THPT quốc gia 2018 môn Ngữ văn More than a book
PHẦN 1: PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ NĂNG CÔNG PHÁ ĐỀ THI
A CÔNG PHÁ CÁC DẠNG ĐỀ ĐỌC – HIỂU
I NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN CHÚ Ý KHI ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1 Mục đích, yêu cầu của bài đọc hiểu
- Nhận biết đúng, chính xác về văn bản: nhận biết về các phương thức biểu đạt, phong cách chức năng ngôn ngữ, các hình thức ngôn ngữ, biện pháp tu từ, thao tác lập luận, kiểu liên kết hay các lỗi diễn đạt…trong văn bản
- Thông hiểu văn bản:
+ Xác định nội dung chính của văn bản hay một đoạn văn trong văn bản
+ Phân tích được những đặc sắc của văn bản (cách dùng từ, đặt câu, hình ảnh, biện pháp tu từ…) + Dựa vào nội dung văn bản để lí giải các từ ngữ, hình ảnh, chi tiết trong văn bản
- Vận dụng (thấp, cao)
+ Dựa vào văn bản để giải quyết các tình huống, các vấn đề trong văn bản
+ Liên hệ mở rộng, thể hiện quan điểm của bản thân trước một vấn đề đặt ra từ văn bản hoặc vận dụng văn bản để đề xuất phương phương hướng, biện pháp giải quyết một vấn đề cụ thể của đời sống xã hội
2 Phạm vi văn bản đọc - hiểu
- Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật):
+ Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các văn bản đọc thêm)
+ Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản đồng dạng với các văn bản được học trong chương trình)
- Văn bản nhật dụng (Loại văn bản có nội dung gần gũi, đề cập đến những vấn đề bức thiết, vấn đề thời sự,
vấn đề “nóng”, vấn đề có ý nghĩa, giá trị lớn trong đời sống con người, đặc biệt là con người hiện đại như:
Vấn dề chủ quyền biển đảo, thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý, Văn bản
nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản song có thể nghiêng nhiều về loại văn bản nghị luận và văn bản báo chí)
3 Các dạng đọc - hiểu cơ bản nhất
- Yêu cầu kiến thức phần Tiếng Việt:
+ Hoàn thành chính tả với văn bản (các từ viết hoa, các dấu chấm câu)
+ Phát hiện, sửa lỗi sai về từ ngữ, ngữ pháp trong đoạn văn
+ Giải thích một số từ ngữ trong đoạn văn bản Cho một số câu giải thích, chỉ ra cách giải thích đúng nhất + Xác định các thành phần câu, xác định kiểu câu; nghĩa tường minh, hàm ý trong câu; nghĩa sự việc, nghĩa tình thái
+ Chỉ ra và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ
+ Xác định các phép liên kết trong đoạn văn
+ Xác định các kiểu kết cấu đoạn văn
+ Nhận diện phong cách ngôn ngữ của văn bản
+ Xác định các yếu tố liên quan đến hoạt động giao tiếp
- Yêu cầu kiến thức phần Làm văn:
+ Xác định sự việc, chi tiết tiêu biểu trong đoạn văn tự sự; xác định phương pháp thuyết minh trong bài văn thuyết minh
+ Xác định những phương thức biểu đạt chính dùng trong văn bản
+ Giải thích, phân tích một ý của văn bản
+ Khái quát nội dung, tư tưởng, đề tài, chủ đề của văn bản
4 Các bước đọc - hiểu
- Bước 1: Đọc thật kĩ toàn bộ văn bản được cho (nhan đề, phần nội dung, phần xuất xứ - tác giả, nguồn
Trang 5LOVEBOOK.VN| 12
- Bước 2: Tìm hiểu, định hình ý nghĩa của các từ, các câu trong văn bản Nếu có từ mới thì phải xác định được nghĩa của từ trong tổng thể văn bản Từ đó, xác định nội dung cơ bản của văn bản (Viết về vấn đề gì, hiện tượng gì, thái độ cảm xúc của người viết )
- Bước 3: Thực hiện theo các yêu cầu của đề bài
- Bước 4: Rà soát lại tổng thể văn bản, đối chiếu với các câu trả lời, sửa chữa, bổ sung nếu cần thiết
II HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT VÀ LÀM VĂN
1 Kiến thức Tiếng Việt
1.1 Từ
1.1.1 Phân loại theo cấu tạo của từ
a) Kĩ năng
– Cần nắm được nội dung khái niệm và nhận diện chính xác từng loại từ
– Chú ý giá trị biểu cảm của lớp từ láy trong tiếng Việt, đặc biệt là trong ngôn ngữ thơ Trước hết cần nắm vững nghĩa từ vựng, trên cơ sở đó, phân tích ý nghĩa của từ trong văn cảnh cụ thể
b) Kiến thức
– Từ đơn là từ chỉ gồm một tiếng Ví dụ: ăn, ngủ, học, bàn, ghế,
– Từ phức là từ có hai tiếng trở lên Từ phức được chia thành từ ghép và từ láy
+ Từ ghép là những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có nghĩa với nhau Ví dụ: xe đạp,
thơm ngát, bà ngoại, nhà cửa, Từ ghép được chia thành từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ
Ví dụ xe máy, bà nội, đỏ tươi, sách vở, áo quần, nhà cửa,
+ Từ láy là những từ phức được tạo ra nhờ phép láy âm Ví dụ: xanh xanh, long lanh, Từ láy được chia
thành từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận
TỪ (Xét theo cấu tạo)
Từ ghép đẳng lập Từ ghép chính phụ
Từ láy toàn bộ Từ láy bộ phận
Từ láy âm đầu Từ láy vần
Trang 6Công phá đề thi THPT quốc gia 2018 môn Ngữ văn More than a book
Từ láy toàn bộ Từ láy bộ phận
Đặc điểm
cấu tạo
Các tiếng trong từ láy toàn bộ có thể:
– Giống nhau hoàn toàn: xanh xanh, vàng vàng,
+ Nghĩa của từ láy có tính chất gợi hình ảnh, giá trị tượng thanh, tượng hình cao
+ Nghĩa của từ láy có những sắc thái nhất định khác với nghĩa của tiếng gốc Những sắc thái đó có thể là:
Giảm nhẹ: xanh xanh, đo đỏ,
Nhấn mạnh: sạch sành sanh, no nê,
Lặp lại: ngày ngày, gật gật,
Và nhiều sắc thái đa dạng khác
1.1.2 Phân loại theo nguồn gốc của từ
a) Kĩ năng
– Cần nắm được nội dung của các khái niệm: Từ thuần Việt, từ mượn, từ Hán Việt,
– Hiểu được cách vay mượn từ ngữ của các ngôn ngữ khác để vừa làm giàu vừa bảo vệ được sự trong sáng của tiếng Việt
– Biết giải nghĩa và sử dụng từ Hán Việt một cách chính xác
Từ thuần Việt Từ mượn
Từ mượn tiếng Hán Từ mượn các ngôn ngữ khác
Từ gốc Hán đã Việt hoá
Từ Hán Việt
Trang 7LOVEBOOK.VN| 77
PHẦN 2: ĐỀ MINH HỌA KÌ THI THPT QUỐC GIA 2018
ĐỀ THI MINH HỌA 2018 – BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Sự trưởng thành của con người luôn song hành cùng những vấp ngã và sai lầm Vì thế, hãy chấp nhận điều đó như một lẽ tự nhiên Khi trẻ học nói, học đi hay bất cứ điều gì, chúng đều phải nếm trải những va vấp Chúng ta cũng vậy, có thể đằng sau những tư tưởng vừa lĩnh hội, hoặc sau sự chín chắn rèn giũa được
là một thất bại, hay một bước lùi nào đó Tuy nhiên, đừng đánh đồng những sai lầm ấy với việc ta không thể trưởng thành Hãy hiểu rằng, như một lẽ tự nhiên, sau một bước tiến xa luôn tồn tại một bước lùi gần
và hãy tin tưởng rằng mọi trải nghiệm đều đem lại cho ta những bài học quý giá nếu ta biết trân trọng nó Chính vì vậy, đừng giữ thái độ cầu toàn trong mọi sự Dĩ nhiên, để đạt được điều mình mong muốn, ta phải không ngừng nỗ lực Nhưng đừng yêu cầu cuộc đời phải viên mãn thì ta mới hài lòng và cũng đừng đòi hỏi mọi mối quan hệ phải hoàn hảo thì ta mới nâng niu trân trọng Hoàn hảo là một điều không tưởng Trên đời, chẳng có gì là hoàn thiện, hoàn mĩ cả […]
Khi kiếm tìm sự hoàn hảo, người ta dễ trở nên hà khắc, hay phán xét bản thân và mọi người Bởi vậy, trên con đường trưởng thành của mình, mỗi người cần phải học cách chấp nhận người khác và chấp nhận bản thân như vốn có
(Theo Quên hôm qua sống cho ngày mai - Tian Dayton, Ph D, biên dịch:
Thu Trang – Minh Tươi, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2014, tr.68 - 69)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản
Câu 2: Theo tác giả, vì sao đừng giữ thái độ cầu toàn trong mọi sự?
Câu 3: Anh/ Chị hiểu như thế nào về ý kiến: như một lẽ tự nhiên, sau một bước tiến xa luôn tồn tại một
bước lùi gần?
Câu 4: Anh/ Chị có đồng tình với quan niệm: trên con đường trưởng thành của mình, mỗi người cần phải
học cách chấp nhận người khác và chấp nhận bản thân như vốn có? Vì sao?
II LÀM VĂN (7.0 điểm)
nhận xét quan niệm của nhà văn về vẻ đẹp con người
- HẾT -
Trang 8Phần 2: Đề minh họa kì thi THPT quốc gia 2018 Nhà sách Lovebook
PHÂN TÍCH ĐỀ THI MINH HỌA THPT QUỐC GIA NĂM 2018
1 Nhận xét chung
1.1 Về mặt cấu trúc:
Cấu trúc đề thi được giữ nguyên so với kì thi THPT Quốc gia 2017 Đề thi gồm hai phần
- Phần I Đọc – hiểu (3,0 điểm): Gồm một văn bản/đoạn văn bản ngoài chương trình và bộ câu hỏi gồm 4 câu được thiết kế theo nấc thang năng lực
- Phần II Làm văn (7,0 điểm): Gồm hai câu hỏi thuộc dạng văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học + Câu hỏi nghị luận xã hội (2,0 điểm): Yêu cầu viết đoạn văn nghị luận xã hội có độ dài khoảng 200 chữ + Câu hỏi nghị luận văn học (5,0 điểm): Yêu cầu viết bài văn nghị luận văn học
- Thời gian làm bài: 120 phút
- Câu 1: Đề yêu cầu nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản vì thế trong sáu phương thức biểu đạt là: miêu tả, biểu cảm, tự sự, thuyết minh, nghị luận, hành chính các em chỉ được chọn một phương thức được thể hiện rõ nhất trong văn bản
vậy câu trả lời có thể diễn đạt theo ý hiểu của bản thân hoặc trích lại nguyên văn một số câu văn trong văn bản vẫn được điểm tối đa Các em cần đọc kĩ văn bản, tìm lý lẽ mà tác giả đưa ra để lý giải vấn đề được nêu
hiểu được hai cụm từ cơ bản bước tiến xa và bước lùi gần có nghĩa là gì? Khi giải thích được ý nghĩa của
hai cụm từ này sẽ thấy được ý nghĩa, thông điệp mà tác giả gửi gắm qua câu văn mà đề yêu cầu giải thích
- Câu 4: Câu hỏi thuộc mức độ vận dụng, yêu cầu thí sinh bày tỏ ý kiến về một quan niệm của tác giả được nêu ra trong văn bản Đây là một câu hỏi mở, câu trả lời có thể đồng tình hoặc không đồng tình, hoặc chỉ đồng tình một phần Tuy nhiên, các em cần đưa ra lí lẽ, dẫn chứng hợp lí, chặt chẽ để thuyết phục giám khảo về quan điểm của mình
- Một số vấn đề cần lưu ý khi làm dạng bài này:
+ Phân phối thời gian hợp lí (khoảng 20 - 25 phút)
+ Đảm bảo dung lượng (200 chữ tương đương với khoảng 20 dòng)
+ Đảm bảo hình thức của đoạn văn (một đoạn văn, không tách rời thành nhiều đoạn văn)
Trang 9LOVEBOOK.VN| 79
Câu 2 (5,0 điểm):
- Như đã đề cập ở phần I, đây là câu hỏi có nhiều điểm mới trong đề thi minh họa năm nay, không chỉ vì phạm vi kiến thức nằm ở cả chương trình lớp 11 và 12 mà yêu cầu về phương pháp, kĩ năng làm bài cũng cần thay đổi Khi gặp dạng câu hỏi này các em cần lưu ý:
+ Tránh nhầm lẫn dạng đề này với dạng đề so sánh 2 nhân vật, 2 đoạn trích ở 2 tác phẩm khác nhau Nếu
đề yêu cầu là cảm nhận của anh/chị về hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác (“Người lái đò
sông Đà” - Nguyễn Tuân) và hình tượng Huấn Cao trong cảnh cho chữ (“Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân) thì nghĩa là việc phân tích hai nhân vật trong hai cảnh tượng trên sẽ có mức điểm tương tương nhau
Tuy nhiên, với đề minh họa lần này thì yêu cầu trọng tâm vẫn là hình tượng người lái đò trong cảnh vượt
thác, phần cảm nhận về hình tượng Huấn Cao trong cảnh cho chữ chỉ là một ý nhỏ để làm nổi bật quan
niệm của nhà văn về vẻ đẹp của con người
+ Xác định đúng phạm vi của đề yêu cầu: hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác và hình tượng Huấn Cao trong cảnh cho chữ Một số đáp án tham khảo trên các trang mạng xã hội yêu cầu phân tích cả
hình tượng người lái đò sau khi vượt thác, hình tượng Huấn Cao trước cảnh cho chữ… là chưa đúng Việc làm này vừa mất thời gian, lại vừa thể hiện kĩ năng xác định yêu cầu đề còn yếu
- Từ câu hỏi trong đề minh họa, chúng ta có thể rút ra: xu hướng ra đề năm nay của Bộ có thể sẽ yêu cầu cảm nhận về 1 nhân vật, 1 đoạn trích, 1 vấn đề thuộc phương diện nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm thuộc chuơng trình 12, từ đó liên hệ với 1 nhân vật, 1 đoạn trích… trong chương trình lớp 11 để làm nổi bật một vấn đề nào đó Vì thế, khi ôn tập các tác phẩm trong chương trình lớp 11 và 12, các em cần chú ý đến các tác phẩm có quan hệ gần gũi về: phong cách tác giả, chủ đề, đề tài, cảm hứng, phương pháp sáng tác…
- Đây là câu hỏi chiếm nhiều điểm nhất trong đề thi, các em nên dành khoảng 70 đến 80 phút để làm hoàn thiện câu hỏi
ĐÁP ÁN THAM KHẢO ĐỀ THI MINH HỌA THPT QUỐC GIA NĂM 2018
I ĐỌC HIỂU
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản: nghị luận/ Phương thức nghị luận
Câu 2: Theo tác giả, đừng giữ thái độ cầu toàn trong mọi sự vì:
- Sự trưởng thành của con người luôn song hành cùng những vấp ngã và sai lầm
- Mọi trải nghiệm đều đem lại cho ta những bài học quý giá nếu ta biết trân trọng nó
- Hoàn hảo là một điều không tưởng Trên đời, chẳng có gì là hoàn thiện, hoàn mĩ cả
- Khi kiếm tìm sự hoàn hảo, người ta dễ hà khắc, hay phán xét bản thân và mọi người
(Thí sinh có thể ghi lại những câu văn như trên hoặc trình bày theo ý hiểu của bản thân)
Câu 3:
- Bước tiến xa là những thành công lớn mà con người đạt được, bước lùi gần là những thất bại tạm thời, là
những khoảng lặng cần thiết để con người nhìn nhận lại những gì đã trải qua
- Ý kiến “như một lẽ tự nhiên, sau một bước tiến xa luôn tồn tại một bước lùi gần” có thể hiểu: Đây là một
quy luật trong cuộc sống, không ai có thể chiến thắng liên tiếp, thất bại luôn song hành cùng với thành công Sau mỗi thành công, sau mỗi bước tiến dài trong sự nghiệp, công việc, con người cần chuẩn bị tinh thần để đối diện với khó khăn, cần có những phút giây suy ngẫm, chiêm nghiệm lại để thấy mình đã làm được gì và rút ra những bài học cần thiết cho bản thân
Trang 10Phần 2: Đề minh họa kì thi THPT quốc gia 2018 Nhà sách Lovebook
trưởng thành và chín chắn hơn; biết quan tâm, chia sẻ và yêu thương những người xung quanh hơn Nếu không biết “chấp nhận”, con người rất dễ rơi vào trạng thái tuyệt vọng, bế tắc trong cuộc sống…
+ Nếu lập luận theo hướng không đồng tình, phủ định ý kiến trên, cần nhấn mạnh: Cuộc sống muôn hình vạn trạng luôn đổi thay, sự “chấp nhận người khác và chấp nhận bản thân như vốn có” có thể biến con người trở nên dễ dãi, tự bằng lòng với chính mình và người khác Từ đó, chúng ta sẽ trở nên lạc hậu, trì trệ, không bắt kịp xu thế của thời đại Điều đó sẽ cản trở sự phát triển chung của xã hội loài người + Nếu lập luận cả theo hướng chỉ đồng tình một phần thì cần kết hợp cả hai nội dung trên
II LÀM VĂN
Câu 1 (2,0 điểm)
a Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Ý nghĩa của sự trải nghiệm đối với cuộc sống của con người
c Triển khai vấn đề cần nghị luận
Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề cần nghị luận nhưng cần làm rõ ý nghĩa của sự trải nghiệm đối với cuộc sống của con người Có thể theo hướng sau:
- Giải thích: Trải nghiệm là quá trình tham gia, tìm hiểu, dấn thân, thực hành các công việc khác nhau trong
bất kì lĩnh vực nào của cuộc sống, từ đó có tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm sống
- Suy nghĩ, bàn luận:
+ Sự trải nhiệm có ý nghĩa quan trọng và tích cực đối với cuộc sống của mỗi con người: đem lại hiểu biết và kinh nghiệm thực tế; rèn luyện các kĩ năng sống; tôi luyện bản lĩnh, ý chí; giúp chúng ta mau chóng trưởng thành; đồng thời xây dựng các mối quan hệ xã hội, giúp chúng ta biết khoan dung hơn với chính mình và những người xung quanh, tránh được những áp lực không cần thiết trong cuộc sống
+ Thực tế, nhiều bạn trẻ chưa coi trọng hoạt động trải nghiệm để bản thân trưởng thành Đó là những người chỉ chú ý vào việc học tập, thi cử mà chưa chủ động, tích cực trải nghiệm, rèn kĩ năng sống Một số khác lại đắm chìm trong thế giới ảo Đặc biệt hơn nữa, có những bạn trẻ lại lao vào thử nghiệm những điều không lành mạnh, sa vào tệ nạn
- Liên hệ rút ra bài học cho bản thân: nhận thức về tầm quan trọng của các hoạt động trải nghiệm, tích cực xây dựng kế hoạch trải nghiệm…
d Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt
e Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận
Câu 2 (5,0 điểm)
a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Có đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài Mở bài giới thiệu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn
đề, Kết bài khái quát được vấn đề
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Cảm nhận về hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác, liên hệ với nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ để nhận xét quan niệm của Nguyễn Tuân về vẻ đẹp của con người
c Triển khai vấn đề cần nghị luận
Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề cần nghị luận:
- Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ suốt đời săn tim và sùng bái cái đẹp Nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của ông là luôn tiếp cận và phản ánh đối tượng ở phương diện văn hóa thẩm mĩ, nhìn cuộc sống qua lăng kính của cái đẹp
Trang 11LOVEBOOK.VN| 81
- Người lái đò sông Đà là thành quả đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi thực tế
tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi Hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác là một điểm hình tượng
trung tâm của tác phẩm So với hình tượng Huấn Cao trong cảnh cho chữ (Chữ người tử tù, sáng tác trước
cách mạng tháng Tám) ta có thể thấy được những đổi mới trong quan niệm của Nguyễn Tuân về vẻ đẹp của con người
* Cảm nhận ông lái đò trong cảnh vượt thác:
- Vẻ đẹp trí dũng: Người lái đò phải đứng trước một trận chiến không cân sức, đối đầu với dòng sông hung
bạo với đủ tướng dữ quân tợn, có đá mai phục từ hàng nghìn năm nay, ông chỉ có con thuyền độc mộc với
sáu bơi chèo Nguyễn Tuân đã miêu tả cuộc vượt thác của người lái đò qua ba trùng vi thạch trận, mỗi trùng
vi lại làm sáng lên vẻ đẹp của nhân vật
+ Trùng vi 1:
++ Sông Đà: tung ra lực lượng đông đảo, hùng hậu nhất như muốn lấn át đối thủ ngay từ vòng đấu đầu
tiên: “mặt nước hò la vang dậy”, ùa vào định “bẻ gãy cán chèo võ khí” trên tay người lái đò “Sóng nước
như thể quân liều mạng” xông vào “đá trái”, “thúc gối vào bụng và hông thuyền” Nước như một đô vật
“túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt” rồi đánh miếng
“đòn hiểm” vào chỗ “hạ bộ” => mặt sông như bãi chiến trường hỗn loạn
++ Ông lái đò: Bị bủa vây từ mọi phía nhưng không hề nao núng mà “cho thuyền phóng thẳng vào” Trong cuộc chiến đấu với sông Đà quái ác, mặc dù phải chiụ đau đớn (mặt méo bệch đi) nhưng ông đã vượt lên nỗi đau vô hạn ấy, bình tĩnh, tỉnh táo điều khiển con thuyền (“cố nén vết thương”, “hai chân vẫn kẹp
chặt cuống lái”, “tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo" …)
Ông lái đò thông minh, lẫm liệt như một dũng tướng lâm trận, luôn bình tĩnh, dũng cảm, biết nén mọi đau thương để chiến đấu và chiến thắng
+ Trùng vi 2:
++ Sông Đà thay đổi chiến thuật: tăng thêm nhiều cửa tử, bố trí lệch cửa sinh sang phía bờ hữu ngạn
để đánh lừa con thuyền
++ Người lái đò: hiện lên như một vị tướng lão luyện kinh nghiệm, đã nắm chắc binh pháp của thần
sông thần đá, đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước Vì thế ông ứng phó rất chủ động: khi thì
dũng mãnh, hào hùng như Võ Tòng đánh hổ năm xưa (hình ảnh so sánh cưỡi lên thác sông Đà phải cưỡi
đến cùng như là cưỡi hổ), lúc lại thay đổi chiến thuật linh hoạt (đứa thì ông tránh, đứa thì ông đè sấn lên…)
Vẻ đẹp của một vị tướng chỉ huy dày dặn kinh nghiệm, quyết đoán và tài giỏi
+ Trùng vi 3:
++ Sông Đà: thay đổi chiến thuật lần cuối, quyết tâm tiêu diệt chiếc thuyền (ít cửa hơn, bên phải bên
trái đều là luồng chết cả)
++ Người lái đò: Chính giữa ranh giới của sự sống và cái chết ấy tài nghệ, bản lĩnh chèo đò của nhân
vật càng được thể hiện rõ nét “Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó” mà vượt qua “cổng đá,
cánh mở, cánh khép”; “Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng” …
Những câu văn ngắn với nhịp văn nhanh, dồn dập diễn tả động tác dứt khoát, khẩn trương; con người như đang đua tranh với thiên nhiên để giành sự sống
=> Tiểu kết: Hình tượng người lái đò sông Đà là một con người bình dị mà phi thường được Nguyễn Tuân
khắc hoạ như một biểu tượng đẹp của con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước Đó là một cách nhìn, một cách khám phá và khẳng định vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời đại mới Ông lái
đò chính là “thứ vàng mười đã qua thử lửa” của con người Tây Bắc Qua hình tượng này, Nguyễn Tuân muốn phát biểu quan niệm: người anh hùng không phải chỉ có trong chiến đấu mà còn có cả trong cuộc sống lao động thường ngày
- Vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ:
+ Tài hoa: Với nhà văn, tài hoa là khi con người đạt tới trình độ điêu luyện, thuần thục trong công việc của mình, đến độ có thể sáng tạo được, có thể vươn tới tự do và hơn thế nữa ở bất kì lĩnh vực nào chỉ cần đạt tới trình độ trác tuyệt trong nghề nghiệp của mình ấy là con người tài hoa Chính vì vậy, Nguyễn Tuân đã
Trang 12Phần 2: Đề minh họa kì thi THPT quốc gia 2018 Nhà sách Lovebook
tập trung bút lực ca ngợi hình ảnh ông lái băng băng trên dòng thác sông Đà một cách ung dung, bình tĩnh,
tự tại trong cuộc chiến đầy cam go nhưng cũng thật hào hùng
+ Nghệ sĩ: Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, người lái đò đã trở thành một nghệ sĩ thực thụ trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh Mỗi động tác của người lái đò giống như một đường cọ trên bức tranh sông nước mênh mông…
Qua ba lần vượt thác của người lái đò, còn cho thấy quan niệm về sự tài hoa, nghệ sĩ của Nguyễn Tuân được hiểu theo nghĩa rộng nhất: không chỉ những người làm nghề liên quan đến nghệ thuật như họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ… mới được gọi là nghệ sĩ mà bất kì ai, làm trong bất kì lĩnh vực nào nếu đạt đến trình độ tài hoa điêu luyện đều có thể coi là nghệ sĩ
* Liên hệ với nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ để làm sáng tỏ quan niệm của Nguyễn Tuân về
vẻ đẹp của con người
- Giới thiệu khái quát về nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ: hội tụ cả vẻ đẹp tài hoa, khí phách, thiên lương
- Với hai nhân vật Huấn Cao và người lái đò đã cho thấy quan niệm độc đáo của Nguyễn Tuân về vẻ đẹp của con người:
+ Vẻ đẹp của con người trước hết đó là vẻ đẹp của sự tài hoa, nghệ sĩ Nguyễn Tuân luôn đề cao chất nghệ
sĩ ở mỗi nghề nghiệp, mỗi con người
++ Huấn Cao:
Trong cảnh ngục tù tối tăm, ông vẫn viết chữ, viết sáng tạo ra cái Đẹp Huấn Cao đã dành những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình để viết chữ => Cái Đẹp lớn lao khi Huấn Cao vượt được lên mọi lẽ sống chết ở đời
Hình ảnh người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, tay dậm tô từng nét chữ gợi hình ảnh một con người tuy bị xiềng xích về thể xác nhưng tự do, phóng khoáng về tâm hồn
=> Cái Đẹp đã nâng con người lên trên hoàn cảnh, làm cho con người vĩ đại hơn
++ Người lái đò: dù làm công việc mưu sinh thường ngày nhưng ông vượt thác với sự say mê Nó không còn là cuộc vật lộn giành sự sống mà ông lão lái đò được miêu tả với những động tác điệu nghệ như người nghệ sĩ đang biểu diễn trên sân khấu sông nước
+ Bên cạnh sự thống nhất đó, quan niệm về vẻ đẹp của con người của Nguyễn Tuân cũng có sự vận động, đổi mới:
++ Huấn Cao mang vẻ đẹp của con người một thời vang bóng, là hình mẫu nghệ thuật lí tưởng trong các sáng tác của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám: đó là những “con người đặc tuyển, những tính
d Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt
e Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận
Trang 13LOVEBOOK.VN| 83
ĐỀ SỐ 1
I ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
(1)Người ta gọi ông là “Hiệp khùng” Ông có một chuỗi phòng trọ ở cổng viện Nhi TW - và chỉ thu 15.000 đồng/người/ngày Nhà trọ của ông Hiệp dành cho những gia đình bệnh nhi khó khăn, những đồng bào dân tộc hay người từ quê lên phải điều trị dài ngày Nếu có ai khó khăn quá, ông sẽ miễn luôn cả tiền trọ, rồi tự đi chạy vạy quyên góp để giúp đỡ các cháu điều trị Mà ông Hiệp vẫn tự hào, rằng dù chỉ thu 15.000 đồng, nhưng nhà trọ của ông không thiếu thứ gì, có quạt điện, wifi, nước lạnh, bếp đun người ở chỉ còn phải mua mỗi xà phòng
(2)…Có một điểm đặc biệt ở ông Hiệp: người chủ nhà trọ thừa nhận rằng mình đang kinh doanh Còn chính những người ở trọ nghèo khó cũng nói về ông như một nhà từ thiện Nhưng không, ông có một bài toán kinh doanh rất rạch ròi
(3)Ông vừa dùng nhà mình, vừa đi thuê nhà khác làm phòng trọ, mướn người làm, một tháng hết
80 triệu Nhưng ông tính, nếu lúc nào phòng cũng kín, thì một tháng ông thu về hơn 80 triệu một chút…Dư
ra một chút để ông Hiệp tự sống trong căn phòng 6 mét vuông ông dành lại cho bản thân…Đó là một bài toán kinh doanh rất thực tế Nó chỉ khác những bài toán kinh doanh phổ biến khác, ở một điểm, là chủ doanh nghiệp không đặt lợi nhuận lên trước Ông đặt lợi ích của “khách hàng” - tức là những bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn - lên đầu Ông gần như không lấy lãi
(4) Mười lăm nghìn đồng ấy, nằm chênh vênh giữa ranh giới của một cuộc kinh doanh và một sự giúp đỡ Mười lăm nghìn đồng ấy, nằm giữa đường biên của một thương nhân lão luyện và một nhà hoạt động xã hội
(5) Tôi không nói với ông, nhưng cái ông đang làm, là một mô hình doanh nghiệp xã hội mẫu mực
Đó là một mô hình phổ biến ở nhiều quốc gia phát triển, nhưng vẫn còn rất hiếm ở nước ta: những cuộc từ thiện thường chỉ trông vào nguồn tài trợ mà không thể tự nuôi sống được mình lâu dài; còn những cuộc kinh doanh, thì hay rơi vào cảnh cực đoan chạy theo lợi nhuận
(6) Trong sự nghiệp của mình, chúng ta sẽ rất nhiều lần gặp một “điểm cân bằng” như 15 nghìn đồng của ông Hiệp Đó là lúc ta sẽ lựa chọn giữa lợi ích tuyệt đối của bản thân, và việc san sẻ lợi ích với cộng đồng
Đức Hoàng(vnexpress.net 03/05/2017)
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?
Câu 2: Dựa vào văn bản, hãy giải thích thế nào là “doanh nghiệp xã hội”?
Câu 3: Theo anh/chị, vì sao nhân vật chính được nói đến trong đoạn văn bản lại có biệt danh là
“Hiệp khùng”?
Câu 4: Thông điệp mà tác giả muốn đưa ra khi nói tới số tiền mười lăm nghìn đồng trong đoạn văn (4) là gì?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) thể hiện suy nghĩ của anh/chị về việc “lựa chọn giữa lợi ích tuyệt đối của bản thân và san sẻ lợi ích với cộng đồng”
Câu 2 (5,0 điểm): Cảm nhận về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua hai bài thơ “Tự tình
II” (Hồ Xuân Hương) và “Thương vợ” (Tú Xương) (SGK Ngữ văn 11, tập Một).Vẻ đẹp xưa của người
phụ nữ đã được tiếp nối ở nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” như
thế nào?
Trang 14Phần 2 – Đề số 1 Nhà sách Lovebook
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
I ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
(1) Người ta gọi ông là “Hiệp khùng” Ông có một chuỗi phòng trọ ở cổng
viện Nhi TW - và chỉ thu 15.000 đồng/người/ngày Nhà trọ của ông Hiệp dành cho những gia đình bệnh nhi khó khăn, những đồng bào dân tộc hay người từ quê lên phải điều trị dài ngày Nếu có ai khó khăn quá, ông sẽ miễn luôn cả tiền trọ, rồi tự đi chạy vạy quyên góp để giúp đỡ các cháu điều trị Mà ông Hiệp vẫn tự hào, rằng dù chỉ thu 15.000 đồng, nhưng nhà trọ của ông không thiếu thứ gì, có quạt điện, wifi, nước lạnh, bếp đun người ở chỉ còn phải mua mỗi xà phòng (2)…Có một điểm đặc biệt ở ông Hiệp: người chủ nhà trọ thừa nhận rằng mình đang kinh doanh Còn chính những người ở trọ nghèo khó cũng nói về ông như một nhà từ thiện Nhưng không, ông có một bài toán kinh doanh rất rạch ròi (3) Ông vừa dùng nhà mình, vừa đi thuê nhà khác làm phòng trọ, mướn người làm, một tháng hết 80 triệu Nhưng ông tính, nếu lúc nào phòng cũng kín, thì một tháng ông thu về hơn 80 triệu một chút…Dư ra một chút để ông Hiệp tự sống trong căn phòng 6 mét vuông ông dành lại cho bản thân…Đó là một bài toán kinh doanh rất thực tế Nó chỉ khác những bài toán kinh doanh phổ biến khác, ở một điểm, là chủ doanh nghiệp không đặt lợi nhuận lên trước Ông đặt lợi ích của
“khách hàng” - tức là những bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn - lên đầu Ông gần như không lấy lãi
(4) Mười lăm nghìn đồng ấy, nằm chênh vênh giữa ranh giới của một cuộc kinh doanh và một sự giúp đỡ Mười lăm nghìn đồng ấy, nằm giữa đường biên của một thương nhân lão luyện và một nhà hoạt động xã hội
(5) Tôi không nói với ông, nhưng cái ông đang làm, là một mô hình doanh nghiệp xã hội mẫu mực Đó là một mô hình phổ biến ở nhiều quốc gia phát triển, nhưng vẫn còn rất hiếm ở nước ta: những cuộc từ thiện thường chỉ trông vào nguồn tài trợ mà không thể tự nuôi sống được mình lâu dài; còn những cuộc kinh doanh, thì hay rơi vào cảnh cực đoan chạy theo lợi nhuận
(6) Trong sự nghiệp của mình, chúng ta sẽ rất nhiều lần gặp một “điểm cân bằng” như 15 nghìn đồng của ông Hiệp Đó là lúc ta sẽ lựa chọn giữa lợi ích tuyệt đối của bản thân, và việc san sẻ lợi ích với cộng đồng
Đức Hoàng (vnexpress.net 03/05/2017)
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?
Câu 2: Dựa vào văn bản, hãy giải thích thế nào là “doanh nghiệp xã hội”?
Câu 3: Theo anh/chị, vì sao nhân vật chính được nói đến trong đoạn văn bản lại
có biệt danh là “Hiệp khùng”?
Câu 4: Thông điệp mà tác giả muốn đưa ra khi nói tới số tiền mười lăm nghìn đồng trong đoạn văn (4) là gì?
Trong câu hỏi 2 và câu hỏi
3, đối với dạng yêu cầu
giải thích cho một khái
niệm, một biệt danh, một
cách gọi, các em cần chú
ý:
- Khai thác thông tin từ
văn bản: chú ý các câu văn
xuất hiện trước và sau câu
văn có xuất hiện khái
Trang 15II.LÀM VĂN (7,0 điểm):
Câu 1 (2,0 điểm): Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) thể hiện suy nghĩ của anh/chị về việc “lựa chọn giữa lợi ích tuyệt đối của bản thân và san sẻ lợi ích với cộng đồng”
Hướng dẫn:
1 Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm):
Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành…
2 Xác định đúng vấn đề cần nghị luận(0,25 điểm):
Vấn đề lựa chọn cách sống phù hợp cho bản thân
3 Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):
Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được suy nghĩ về việc lựa chọn cách sống vì cá nhân hay vì cộng đồng Có thể theo hướng sau:
- Đảm bảo lợi ích của bản thân có ý nghĩa quan trọng để mỗi cá nhân có cuộc sống tốt đẹp, có điều kiện phát triển Mỗi cá nhân cần quan tâm, cần rèn giũa trước hết chính là bản thân mình
- San sẻ lợi ích với cộng đồng là ý thức, là trách nhiệm của mọi người, bởi vì không ai tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ Cộng đồng phát triển sẽ tạo điều kiện cho cá nhân phát triển (dẫn chứng từ các hoạt động từ thiện, hoạt động ủng hộ, quyên góp giúp đỡ cộng đồng )
- Cần có sự cân bằng, hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng tuỳ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
- Liên hệ thực tế, rút ra bài học chân thành, thiết thực cho bản thân: là một người trẻ tuổi đã rèn luyện cá nhân như thế nào; đã giúp đỡ cộng đồng bằng những hành động gì
Đối với dạng đề nghị luận
xã hội: xuất hiện hai vấn
đề cần bàn luận được đặt
trong mối quan hệ với
nhau (ở đây là: lựa chọn
lợi ích tuyệt đối của bản
thân và san sẻ lợi ích với
- Chương trình “Trái tim
cho em” với sự tham gia
quyên góp của hàng vạn
người đã mang lại cơ hội
mổ tim miễn phí cho hơn
3500 em nhỏ
- Chương trình “Cặp lá
yêu thương” đã nhận được
sự sẻ chia của hơn 2000
“lá lành” đến với những
mảnh đời bất hạnh, cho
các em cơ hội được đến
trường…
Trang 16Phần 2 – Đề số 1 Nhà sách Lovebook
Câu 2 (5,0 điểm): Cảm nhận về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua
hai bài thơ “Tự tình II” (Hồ Xuân Hương) và “Thương vợ” (Tú Xương) (SGK
Ngữ văn 11, tập Một).Vẻ đẹp xưa của người phụ nữ đã được tiếp nối ở nhân vật
người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” như thế nào?
Hướng dẫn:
1 Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):
Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân
2 Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):
Cảm nhận về hình tượng người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua hai bài thơ: Tự
tình II của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Tú Xương; sự tiếp nối vẻ đẹp xưa
ở nhân vật người đàn bà hàng chài
3 Triển khai vấn đề nghị luận:
Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ
a Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):
Hồ Xuân Hương được mệnh danh là bà Chúa thơ Nôm Thơ của Hồ Xuân Hương vừa trào phúng, vừa trữ tình, vừa thanh, vừa tục, là tiếng nói tâm hồn của người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh, khát khao đòi quyền sống, tự do, bình đẳng, quyền hưởng tình yêu và hạnh phúc “Tự tình II” là một trong ba bài thơ thuộc chùm thơ “Tự tình” thể hiện nỗi đau đớn, buồn tủi về duyên phận và khát khao hạnh phúc mãnh liệt của Hồ Xuân Hương
Tú Xương là nhà thơ của thành Nam, là nhà thơ trào phúng – trữ tình lớn của nước ta cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX “Thương vợ” là một trong những bài thơ hay nhất mà Tú Xương viết về vợ của mình ngay khi bà còn sống
b Cảm nhận về hình ảnh người phụ nữ thời xưa qua hai bài thơ (2 điểm)
Có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đáp ứng những nội dung sau:
- Hình ảnh người phụ nữ trong bài thơ “Tự tình” – Hồ Xuân Hương:
+ Khái quát về bài thơ:
Thơ của Hồ Xuân Hương là những lời than thân từ nỗi niềm riêng của một cá thể, chất chứa những vấn đề mang tầm phổ quát của thân phận người phụ nữ Hay nói cách khác, bằng việc viết lên tiếng nói cá nhân, Hồ Xuân Hương làm sống
lên hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa Bài thơ Tự tình II là những nỗi niềm
thầm kín, riêng tư của tác giả thể hiện nỗi thương mình trong cô đơn, lẽ mọn, khao khát hạnh phúc tuổi xuân, đó cũng là nỗi thương người, sự sẻ chia với bao người phụ nữ khác cùng cảnh ngộ
+ Bài thơ đã khắc họa hình ảnh một người phụ nữ với tâm trạng đầy âu lo, trăn trở, với nỗi xót xa trong cảnh cô đơn lẻ loi
Người phụ nữ đối diện với thời gian đêm khuya, không gian vắng lặng, chỉ có tiếng trống canh Không – thời gian gợi tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình Thời gian đêm khuya cũng là thời gian tâm trạng Nữ sĩ cảm nhận sự cô đơn trước thời gian Nhà thơ nghe “văng vẳng trống canh dồn”, đó không chỉ đơn thuần là cảm nhận âm thanh mà còn là nghe thời gian trôi Cái nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếng trống vừa là sự cảm nhận vừa là sự thể hiện bước đi dồn dập của thời gian
và sự rối bời của tâm trạng Trước không gian, thời gian đó, người phụ nữ càng
STUDY TIP
Đối với dạng đề nghị luận
văn học có yêu cầu: cảm
Trang 17LOVEBOOK.VN| 87
mang số phận hồng nhan ra để mà đay đả, cụm từ “cái hồng nhan” hàm nghĩa mỉa mai, chua chát Tìm lãng quên trong men rượu nhưng "say lại tỉnh", tỉnh ra còn đớn đau hơn Tìm vầng trăng bầu bạn thì chỉ thấy "bóng xế", "khuyết, chưa tròn"xoáy thêm vào sự lỡ dở, dang dở Cuối cùng, còn lại chỉ là một nỗi niềm ngao ngán, đắng chát khi tuổi xuân đang âm thầm trôi qua "xuân đi" mà duyên phận vẫn bị "san sẻ", không bao giờ có được hạnh phúc Số phận tủi nhục, cay đắng của người phụ nữ trong bài thơ cũng là số phận chung của biết bao người phụ nữ phải chịu cảnh lẽ mọn trong xã hội phong kiến
+ Bài thơ cũng cho thấy bản lĩnh và ý chí Hồ Xuân Hương, cũng như khát vọng hạnh phúc mãnh liệt không bao giờ nguôi ngoai:
Thái độ bứt phá, vùng vẫy của Hồ Xuân Hương được thể hiện qua hình ảnh thiên
nhiên, bằng những cụm từ gây ấn tượng mạnh mẽ: xiên ngang, đâm toạc Thiên
nhiên như mang niềm phẫn uất của con người Các động từ mạnh đi liền với bổ
ngữ: xiên – ngang, đâm – toạc nhấn mạnh sự bướng bỉnh, ngang ngạnh, sự phản
kháng, đồng thời là dấu ấn cá tính mạnh mẽ táo bạo của nữ sĩ Bức tranh thiên nhiên ở đây luôn tràn trề nhựa sống, nó uyển chuyển linh hoạt và tươi thắm sắc màu Thiên nhiên trở thành phương tiện chuyển tải tư tưởng đòi tự do, hạnh phúc cho con người
+ Đánh giá chung: Bài thơ đã cho thấy số phận bất hạnh, cay đắng của người phụ nữ trong cảnh lẽ mọn, tình cảm bị san sẻ trong xã hội phong kiến xưa; đồng thời khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ luôn bền bỉ, kiên cường, bản lĩnh và luôn mãnh liệt khát vọng hạnh phúc
- Hình ảnh người phụ nữ trong bài thơ "Thương vợ" - Tú Xương
+ Khái quát bài thơ:
“Thương vợ” là bài thơ thế sự, cũng là bài thơ tâm sự, thấm đượm nghĩa yêu thương Bài thơ từ tấm lòng tri ân với vợ của Tú Xương đã khắc hoạ chân dung tảo tần, hết mực vì chồng con của bà Tú
+ Bài thơ đã thể hiện hình ảnh người phụ nữ - người vợ với gánh nặng gia đình, với bao vất vả, lo toan của công việc bộn bề:
Câu thơ đầu tiên đã bao quát được hai chiều không gian, thời gian cùng công việc khó khăn, nguy hiểm không một phút nghỉ ngơi của bà Tú “Khi quãng vắng, buổi
đò đông”, những eo sèo bán buôn nhọc nhằn, bà đều phải bươn chải, vượt qua đề
lo cho gia đình Chữ “duyên” có một mà chữ “nợ” đến hai nên cả cuộc đời của bà
là sự vất vả, cơ cực, “năm nắng mười mưa” Đó cũng là nỗi vất vả, là gánh nặng của biết bao người phụ nữ khác trong xã hội Việt Nam xưa
+ Bài thơ cũng tô đậm chân dung của một người phụ nữ đảm đang, chung thủy, giàu tình yêu thương, hết lòng vì chồng con
Bà Tú là người rất mực chăm lo cho gia đình, lo toan chu toàn mọi việc “Nuôi
đủ năm con với một chồng” Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh con cò trong ca dao nhưng sáng tạo ở hàm ý thân phận “thân cò” để nói về người vợ suốt đời chăm chỉ, cặm cụi, chỉ lo cho chồng con mà không nghĩ đến mình Đó còn là người vợ luôn vượt lên hoàn cảnh, không lời phàn nàn trách móc, oán hận mà giàu lòng vị tha và đức hi sinh: “Năm nắng mười mưa dám quản công”; người vợ nhẫn nhịn,
tự nguyện gánh vác “giang sơn nhà chồng”: âu đành phận Phẩm hạnh của bà Tú
mang vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam nghìn đời
+ Đánh giá chung: Bài thơ nổi bật là hình ảnh bà Tú - hiện thân của cuộc đời vất vả lận đận, là hội tụ của bao đức tính tốt đẹp: tần tảo, đảm đang, nhẫn nại
người phụ nữ của xã hội
hiện đại; giàu lòng vị tha,
đức hi sinh, giàu tình yêu
thương; tần tảo, lam lũ
Trang 18Phần 2 – Đề số 1 Nhà sách Lovebook
quên mình lo toan cho cuộc sống của chồng con Đó cũng là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam xưa
c So sánh hình ảnh người phụ nữ trong hai bài thơ (0,5 điểm):
- Điểm giống nhau: Thể hiện số phận cay đắng, tủi nhục và khẳng định phẩm chất, bản lĩnh của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến Từ đó, có thể thấy được giá trị nhân văn sâu sắc trong hai bài thơ
- Khác nhau:
+ Bài thơ Tự tình II là lời thở than cho kiếp lẽ mọn, mang nỗi ngậm ngùi duyên
phận Qua đó, bài thơ cũng phản chiếu nỗi đau khổ cũng như khát vọng hạnh phúc mãnh liệt của một bộ phận người phụ nữ khi chịu cảnh chồng chung
+ Bài thơ Thương vợ là lời tâm tình, thấu hiểu của nhà thơ dành cho vợ, khắc
họa hình ảnh tiêu biểu về người vợ, người mẹ Việt Nam truyền thống tần tảo, đảm đang, giàu lòng yêu thương và đức hi sinh
d Sự tiếp nối vẻ đẹp của người phụ nữ xưa ở nhân vật người đàn bà hàng
chài (truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa) (0,5 điểm):
- Người đàn bà hàng chài là người phụ nữ của xã hội hiện đại, sống trong hoàn cảnh đất nước vừa kết thúc chiến tranh, đang bước vào xây dựng cuộc sống hòa bình
- Ở nhân vật này có sự tiếp nối vẻ đẹp của người phụ nữ xưa:
+ Đảm đang, tảo tần lo toan cho gia đình: tấm lưng áo bạc phếch, nửa thân người dưới ướt sũng, lăn lộn cùng chồng nuôi một đàn con
+ Giàu đức hi sinh, giàu tình yêu thương: hi sinh hết mình cho chồng, cho con; chấp nhận bị chồng đánh để có các con có chỗ nương tựa; vui nhất khi nhìn đàn con ăn no…
=> Vẻ đẹp tâm hồn khuất lấp, vẻ đẹp của cuộc sống đời thường và cũng mang bóng dáng của người phụ nữ Việt Nam nghìn đời
4 Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt
5 Sáng tạo (0,5 điểm):
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO Phần II – Câu 1:
Bàn về sự đồng cảm, chia sẻ (san sẻ lợi ích với cộng đồng)
"Thương người như thể thương thân" là đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta Tình thương là lẽ sống tốt đẹp của triệu triệu con người Việt Nam được truyền từ thế
hệ này qua thế hệ khác, ngày một phát triển mạnh mẽ và sâu sắc Tình thương, lòng nhân ái là một biểu hiện rõ nét về đạo đức của mỗi người Tình thương, lòng nhân ái được biểu hiện một cách cụ thể qua thái độ và hành động, đó là đồng cảm
và sẻ chia
Có thương người mới biết đồng cảm và sẻ chia Nhìn thấy người bất hạnh, tàn tật, ốm đau đói khổ, hoạn nạn, ta động lòng thương, ta rơi nước mắt, đó là đồng cảm "Một miếng khi đói bằng một gói khi no", đó là san sẻ Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bác Hồ kêu gọi toàn dân "diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" Bác Hồ cũng như hàng triệu gia đình đã giảm bớt khẩu phần hàng ngày, dành gạo đế cứu đói Chiến thắng được giặc đói lúc bấy giờ là một
Trang 19LOVEBOOK.VN| 89
Sau ba mươi năm chiến tranh, nước ta hiện có hàng chục vạn nạn nhân chất độc da cam Hàng triệu đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn sống trong cảnh nghèo khó, thiếu thốn, khó khăn Lũ lụt, bão tố xảy ra triền miên, gây ra cảnh người chết, cảnh màn trời chiếu đất cho nhiều gia đình Nhiều học sinh đến trường bị nước lũ cuốn trôi; nhiều ngư dân ra khơi đánh cá bị sóng gió cuốn mất tích Trước những cảnh đau lòng đó, ai mà chẳng động lòng thương, ai mà chẳng rơi nước mắt? Các phong trào quyên góp do Mặt trận Tổ quốc phát động để cứu giúp, để ủng hộ các nạn nhân chất độc da cam, các bệnh nhân nhiễm HIV - AIDS đã được đồng bào ta hướng ứng nhiệt liệt Nhiều Việt kiều đã gửi về hàng trăm triệu đổng đóng góp vào quỹ từ thiện được báo chí ngợi ca Phong trào giúp học sinh nghèo, học sinh khó khăn được đông đảo thầy cô giáo và các bạn trẻ tham gia nhiệt liệt Tất cả các phong trào đó đã nói lên một cách cảm động sức mạnh đoàn kết, truyền thống nhân ái vô cùng tốt đẹp của dân tộc Việt Nam chúng ta
Đồng cảm và sẻ chia đã trở thành bài ca, tiếng hát của cả cộng đồng dân tộc Đồng cảm và sẻ chia đã trở thành tiếng gọi của lương tâm Đồng cảm và sẻ chia
đã trờ thành sức mạnh đẩy lùi khó khăn, hoạn nạn
Nói đến đồng cảm và sẻ chia trong xã hội ta ngày nay, tôi không bao giờ quên câu ca mà bà nội tôi vẫn nhắc các con, các cháu:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng
kiến “trọng nam khinh nữ” Hồ Xuân Hương với bài thơ Tự tình II và Tú Xương với bài thơ Thương vợ đã góp thêm một tiếng nói đồng cảm, giúp người đọc hiểu
hơn về cuộc đời, thân phận và phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa vốn nhiều bất công, ngang trái Những phẩm chất truyền thống đó đã được
kế thừa ở nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”
2 Kết bài:
Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong hai bài thơ Tự tình II và Thương vợ
là hiện thân cho những khổ đau và kết tinh những đức tính tốt đẹp của người phụ
nữ Việt Nam qua hàng nghìn năm Hình ảnh đó vừa mang ý nghĩa tố cáo, lên án chế độ phong kiến bất công lại có giá trị của một thông điệp về việc xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, bình đẳng hơn, hạnh phúc hơn cho những người phụ nữ