Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về DNXH, hoạt động của DNXH tại Việt Nam, đề tài chỉ ra những bất cập trong hoạt động của DNXH tại Việt Nam trong thời gian qua và đề xuất giải pháp nhằm phát triển hoạt động DNXH trong thời gian tới.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Họ và tên học viên: Tăng Thị Thanh Hằng
Người hướng dẫn: GS TS Nguyễn Thị Mơ
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Sau đại học xem xét để tôi bảo vệ Luận văn thạc sĩ
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Tăng Thị Thanh Hằng
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại doanh nghiệp xã hội 6
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp xã hội 6
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam 8
1.1.3 Phân loại doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam 9
1.1.3.1 Dựa trên tình trạng pháp lý của doanh nghiệp xã hội 9
1.1.3.2 Dựa trên lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp xã hội 11
1.1.4 Vai trò của doanh nghiệp xã hội 12
1.2 Tổng quan về hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam 14
1.2.1 Cơ sở pháp lý 14
1.2.2 Các loại hình hoạt động của doanh nghiệp xã hội 14
1.2.2.1 Công ty trách nhiệm xã hội một thành viên 15
1.2.2.2 Công ty trách nhiệm xã hội hai thành viên trở lên 16
1.2.2.3 Công ty cổ phần 17
1.2.3 Các mô hình hoạt động của doanh nghiệp xã hội 18
1.2.3.1 Hợp tác xã 18
1.2.3.2 Doanh nghiệp xã hội được điều hành bởi các doanh nhân xã hội 19 1.2.3.3 Doanh nghiệp xã hội được ươm tạo từ những vườn ươm 21
1.2.3.4 Doanh nghiệp xã hội chuyển đổi từ các tổ chức phi chính phủ địa phương 23
1.2.4 Một số tổ chức có khả năng chuyển đổi sang doanh nghiệp xã hội 24 1.2.4.1 Doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích 24
Trang 51.2.4.2 Cơ sở ngoài công lập 25
1.2.4.3 Đơn vị sự nghiệp công lập và Tổ chức khoa học và công nghệ công lập 26
1.3 Nghiên cứu kinh nghiệm từ nước ngoài 27
1.3.1 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 27
1.3.1.1 Cách hiểu về doanh nghiệp xã hội 27
1.3.1.2 Môi trường thể chế của doanh nghiệp xã hội 28
1.3.1.3 Những khó khăn đối với doanh nghiệp xã hội 28
1.3.1.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 29
1.3.2 Kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu 30
1.3.2.1 Sự hình thành và phát triển doanh nghiệp xã hội 30
1.3.2.2 Môi trường thể chế của doanh nghiệp xã hội 31
1.3.2.3 Những khó khăn đối với doanh nghiệp xã hội 32
1.3.2.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 32
Kết luận chương 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 34
2.1 Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam 34
2.1.1 Giai đoạn trước Đổi mới (1986) 34
2.1.2 Từ 1986 đến 2010 35
2.1.2.1 Chính sách mở cửa thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế 35
2.1.2.2 Hoạt động của doanh nghiệp xã hội được tác động của Chính sách 37
2.1.3 Giai đoạn từ 2010 đến nay 38
2.1.3.1 Thực trạng về mô hình hoạt động của doanh nghiệp xã hội 38
2.1.3.2 Tình hình hoạt động chung 41
2.1.3.3 Thực trạng về các lãnh đạo của doanh nghiệp xã hội 42
2.1.3.4 Thực trạng về hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội 45
2.1.3.5 Các mục tiêu và ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp xã hội 46
2.1.3.6 Hoạt động của doanh nghiệp xã hội trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 50
Trang 62.2 Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp xã hội từ thực hiện của
KOTO và Tò he 52
2.2.1 Trung tâm dậy nghề nhân đạo KOTO 52
2.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 52
2.2.1.2 Cách thức hoạt động 53
2.2.1.3 Mô hình kinh doanh 54
2.2.2 Công ty cổ phần Tò he 55
2.2.2.1 Sự hình thành và phát triển 55
2.2.2.2 Cách thức hoạt động 56
2.2.2.3 Mô hình kinh doanh 57
2.3 Nhận xét về hoạt động của doanh nghiệp xã hội trong thời gian qua 58 2.3.1 Những kết quả đạt được 58
2.3.2 Các khó khăn/ rào cản mà doanh nghiệp xã hội gặp phải 60
2.3.2.1 Các khó khăn từ nội tại doanh nghiệp xã hội 60
2.3.2.2 Các rào cản từ bên ngoài 65
2.3.3 Những yếu kém và nguyên nhân 67
2.3.3.1 Doanh nghiệp xã hội chưa đăng ký tư cách pháp nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 67
2.3.3.2 Doanh nghiệp xã hội chưa khai thác hiệu quả các chính sách của Nhà nước về phát triển doanh nghiệp xã hội 68
2.3.3.3 Doanh nghiệp xã hội chưa phát huy được hết vai trò của mình do nhận thức của cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp xã hội còn hạn chế 68
Kết luận chương 2 69
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 70
3.1 Phân tích về tiềm năng phát triển của các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới 70
Trang 73.1.1 Doanh nghiệp xã hội Việt Nam có nhiều khả năng phát triển trong
tương lai 70
3.1.2 Các vấn đề về xã hội và nguồn lực xã hội ở Việt Nam đang phát triển theo hướng có lợi cho doanh nghiệp xã hội 71
3.1.2.1 Các vấn đề xã hội phát triển theo hướng tích cực 71
3.1.2.2 Nguồn lực xã hội cũng là tiềm năng để doanh nghiệp xã hội Việt Nam phát triển 75
3.2 Nhóm giải pháp và kiến nghị thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới 78
3.2.1 Giải pháp đối với doanh nghiệp xã hội 78
3.2.1.1 Doanh nghiệp xã hội Việt Nam cần xây dựng chiến lược kinh doanh cụ thể, phù hợp 78
3.2.1.2 Doanh nghiệp xã hội cần đảm bảo nguồn vốn và tìm kiếm được các hỗ trợ tài chính cần thiết 79
3.2.1.3 Các doanh nghiệp xã hội Việt Nam tập trung vào chất lượng sản phẩm và dịch vụ 79
3.2.1.4 Các doanh nghiệp xã hội nâng cao năng lực quản trị của mình 80
3.2.2 Các kiến nghị đối với Nhà nước 82
3.2.2.1 Hoàn thiện, xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp xã hội 82
3.2.2.2 Thành lập một bộ phận, cơ quan chuyên trách thực hiện quản lý nhà nước về doanh nghiệp xã hội thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp xã hội 84
3.2.2.3 Nhà nước cần tăng cường hợp tác quốc tế về phát triển doanh nghiệp xã hội 85
3.2.3 Các kiến nghị khác 85
Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CIEM Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương
CSIP Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phát triển Cộng đồng
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNXH Doanh nghiệp xã hội
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU Hình:
Hình 2.1: Độ tuổi trung bình lãnh đạo DNXH 42
Hình 2.2: Trình độ học vấn của lãnh đạo DNXH 43
Hình 2.3: Địa bàn hoạt động của DNXH 44
Hình 2.4: Tình trạng pháp lý của doanh nghiệp xã hội 46
Hình 2.5: Mục tiêu của doanh nghiệp xã hội 47
Hình 2.6: Các ngành nghề DNXH hoạt động chính 48
Hình 2.7: Các nhóm người hưởng lợi trực tiếp được hỗ trợ bởi các doanh nghiệp xã hội 49
Hình 2.8: Doanh thu của doanh nghiệp xã hội (VND) 50
Hình 2.9: Rào cản đối với tăng trưởng 61
Hình 2.10: Hạn chế tài chính của doanh nghiệp xã hội 64
Hình 2.11: Nguồn vốn của doanh nghiệp xã hội 66
Hình 3.1: Kế hoạch tăng trưởng 70
Bảng: Bảng 2.1: Tỷ lệ phổ biến và số lượng doanh nghiệp xã hội ước tính giữa các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và tổ chức phi chính phủ 41
Bảng: Biểu đồ 1.1 Sự khác biệt của DN truyền thống và DN xã hội 8
Biểu đồ 2.2: Tổng vốn viện trợ chính thức ODA ở Việt Nam (2000-2017) 36
Trang 10TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Doanh nghiệp xã hội đang được đánh giá là lực lượng quan trọng trong khả năng hỗ trợ Chính phủ giải quyết các vấn đề về khoảng cách xã hội như xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm cho nhóm yếu thế, cung cấp các dịch vụ công nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế, nước, xử lý rác thải Việt Nam đã có một hệ sinh thái để hỗ trợ phát triển cho khu vực doanh nghiệp xã hội bao gồm khung pháp lý, các vườn ươm, các chính sách về khởi nghiệp đang nở rộ cũng như
sự ủng hộ của cộng đồng, các hoạt động đào tạo nghiên cứu, tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng nhiều chính sách cụ thể từ nhà nước cũng như sự vận động từ chính nội tại doanh nghiệp để phát triển DNXH Các doanh nghiệp xã hội đang nuôi dưỡng không gian cho phụ nữ và những người trẻ tuổi đảm nhận vai trò lãnh đạo Các nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam còn khá trẻ với nhóm các nhà lãnh đạo doanh nghiệp xã hội lớn nhất (58%) trong độ tuổi từ 25 đến 44 tuổi Gần một nửa các nhà lãnh đạo doanh nghiệp xã hội là phụ nữ lớn hơn nhiều so với 37% các doanh nghiệp vừa và nhỏ Mặc dù vậy, hoạt động của các DNXH tại Việt Nam trong thời gian qua chưa phát huy được hết tiềm năng sẵn có Để tìm ra nguyên nhân và có giải pháp đối với vấn đề này Luận văn đã nghiên cứu về thực trạng hoạt động của DNXH trong thời gian qua và đề xuất các giải pháp cụ thể
Luận văn có kết cấu 3 chương Chương 1 nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến DNXH và hoạt động của DNXH Tại chương 1, sau khi phân tích để chỉ ra khái niệm, đặc điểm của DNXH, luận văn nêu bật vai trò của DNXH đồng thời giới thiệu tổng quát các hoạt động của DNXH ở Việt Nam, phân tích hoạt động của DNXH tại Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu để rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam Chương 2 phân tích thực trạng hoạt động của DNXH tại Việt Nam trong thời gian qua và chỉ ra những thành công, kết quả cùng những yếu kém và nguyên nhân của những yếu kém như DNXH chưa tiếp cận được với các nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng do tiềm năng lợi nhuận không đủ hấp dẫn, chưa tiếp cận được các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài
Chương 3 luận văn xây dựng các giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm phát triển hoạt động của DNXH Việt Nam trong thời gian tới căn cứ các phân tích ở trên về thực trạng hoạt động của doanh nghiệp
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam hiện đang xây dựng một hệ thống sinh thái phát triển để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, song song với đó là hàng loạt các vấn đề xã hội phát sinh
về môi trường, quá tải hệ thống giáo dục y tế, ô nhiễm môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo tồn văn hóa Sự đồng hành của Chính phủ và doanh nghiệp để giải quyết các vấn đề xã hội là điều cần thiết Do đó, DNXH đang là xu hướng trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội một cách bền vững, góp phần đạt được sự phát triển kinh tế ổn định
Dân số Việt Nam đạt 95 triệu vào năm 2018, dự kiến tăng lên 120 triệu vào năm 2050 Hiện tại, 70% dân số dưới 35 tuổi, tuổi thọ trung bình là 73 tuổi Tuy nhiên hồ sơ dân số đang già đi nhanh chóng Có một tầng lớp trung lưu mới nổi, hiện chiếm 13% dân số, và con số này dự kiến sẽ đạt 26% vào năm 20261
Lực lượng lao động ở Việt Nam là 50 triệu người, với tỷ lệ thất nghiệp thấp chỉ có 2% Khi Việt Nam nỗ lực chuẩn bị lực lượng lao động cho xu hướng thị trường lao động trong tương lai, WB đã gợi ý rằng việc làm trong tương lai tại Việt Nam vẫn
sẽ phụ thuộc vào sự pha trộn giữa các ngành truyền thống và mới nổi WB cũng đã khuyến cáo rằng Chính phủ Việt Nam nên quan tâm nhiều hơn đến môi trường kinh doanh để giúp tạo điều kiện đổi mới, thu hút chất lượng cao đầu tư trực tiếp nước ngoài, và đảm bảo các doanh nghiệp trong nước có thể đóng một vai trò lớn hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực
Ở Việt Nam, DNXH đã có những đóng góp quan trọng trong nhiều lĩnh vực phát triển xã hội Tuy nhiên hoạt động của các DNXH còn đơn lẻ, chưa tạo ra phong trào mạnh mẽ trong xã hội Một trong những nguyên nhân hạn chế sự phát triển của phong trào là việc cộng đồng thiếu sự hiểu biết về vai trò của DNXH trong việc phát triển xã hội nói chung và giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể nói riêng Từ
đó dẫn đến tình trạng các DNXH thiếu cơ sở pháp lý để hoạt động, thiếu sự hỗ trợ của xã hội cả về tổ chức, kỹ thuật cũng như tinh thần phát triển
1 World Bank: https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/overview, truy cập ngày 27/4/2020
Trang 12Vì sao hoạt động của các DNXH ở Việt Nam lại ở trong tình trạng như vậy Giải pháp nào để thúc đẩy hoạt động của DNXH ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi dịch bệnh Covid-19 đang bùng phát mạnh mẽ Để trả lời các câu hỏi này, cần có sự nghiên cứu vấn đề này một cách cụ thể Đây chính là ly do mà
tác giả chọn vấn đề: “Hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, khi mà số lượng và chất lượng của DNXH đang tăng nhanh và là
xu thế tất yếu cũng như đang ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng thế giới nói chung và người dân Việt Nam nói riêng thì việc tìm hiểu quá trình hoạt động của các DNXH tại Việt Nam cũng như một số nước tiêu biểu trên thế giới đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Cụ thể như sau:
Năm 2012, để giới thiệu và gia tăng nhận thức về giá trị của DNXH ở Việt Nam, Hội đồng Anh cùng với Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Trung tâm Hỗ trơ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) đã tổ chức hội thảo để công bố nghiên cứu của nhóm các tác giả Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh, Trần Thị Hồng Gấm về “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, bối cảnh và chính sách Nghiên cứu này đã phân tích bối cảnh xã hội và thực trạng hoạt động của DNXH tại Việt Nam giai đoạn trước khi DNXH chính thức được công nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, chỉ ra những bất cập trong chính sách phát triển DNXH của Việt Nam trong giai đoạn này
Từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 đưa ra quy định về DNXH, đến năm
2016, khi trào lưu DNXH bùng nổ ở nước ta, CIEM và Hội đồng Anh cùng Trường đại học Kinh tế Quốc dân đã nghiên cứu và công bố những ví dụ về điển hình DNXH tại Việt Nam như Công ty Cổ phần Kym Việt, Công ty TNHH Một thành viên du lịch Sapa O’Chau, Công ty Cổ phần Dịch vụ Trí Đức
Năm 2018, Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông đã xuất bản sách “Phát triển doanh nghiệp xã hội ở việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của các tác giả Hoàng Ngọc Hải, Hồ Sỹ Ngọc, Phạm Tý Tài, Phan Sỹ Cường, Trần Quốc
Trang 13Bảo Cũng trong năm này, Tiến sĩ Đỗ Hải Hoàn đã hoàn thành luận án tiến sĩ kinh
tế về Hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp xã hội ở Việt Nam Các tác giả đều đưa ra quan điểm DNXH sử dụng hình thức kinh doanh như một công cụ để thực hiện các mục tiêu xã hội
Năm 2019, CIEM, Hội đồng Anh và Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên hiệp Quốc đã thực hiện một cuộc khảo sát cơ bản về tình hình hoạt động của DNXH tại Việt Nam như một phần của chương trình hoạt động DNXH trên toàn cầu Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ đưa ra các ý kiến nhận xét, đánh giá của một số DNXH tại Việt Nam và đánh giá về thực trạng các hoạt động cụ thể của DNXH tại Việt Nam trong thời gian qua
Chính vì vậy, Luận văn này là Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh đầu tiên nghiên cứu một cách cụ thế về thực trạng hoạt động của DNXH tại Việt Nam trong
thời gian gần đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về DNXH, hoạt động của DNXH tại Việt Nam, đề tài chỉ ra những bất cập trong hoạt động của DNXH tại Việt Nam trong thời gian qua và đề xuất giải pháp nhằm phát triển hoạt động DNXH trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu để làm rõ khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò và ý nghĩa của DNXH tại Việt Nam
- Chỉ ra những hoạt động chủ yếu của DNXH và vai trò của các hoạt động này
- Phân tích thực trạng hoạt động của DNXH tại Việt Nam nhằm chỉ ra những yếu kém và nguyên nhân của các yếu kém đó
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị để thúc đẩy sự phát triển hoạt động của DNXH tại Việt Nam trong giai đoạn tới
Trang 144 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến DNXH nói chung và hoạt động của DNXH tại Việt Nam nói riêng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về các loại hình
và mô hình hoạt động của DNXH và các mô hình phát triển của một số DNXH tiêu biểu ở Việt Nam
- Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu DNXH ở Việt Nam
và so sánh với một số mô hình DNXH ở Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ
- Phạm vi về thời gian: Giới hạn ở quá trình hình thành và phát triển của
DNXH tại Việt Năm trong 35 năm, từ năm 1986 – năm Việt Nam mở cửa nền kinh
tế cho đến hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: Phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, và phương pháp tổng hợp Cụ thể như sau:
- Phương pháp hệ thống và phương pháp tổng hợp: Tác giả đã hệ thống hóa thông tin về hoạt động của DNXH từ các quy định pháp luật, các báo cáo, các bài viết đã được công bố tại Việt Nam để xây dựng hệ thống lý luận về hoạt động của doanh nghiệp xã hội Các phương pháp này được áp dụng tại Chương 1
- Phương pháp phân tích: Tác giả căn cứ các số liệu thực tế được thu thập từ các nguồn dữ liệu đáng tin cậy khác nhau để phân tích tình hình hoạt động, đánh giá thực trạng và những thành tựu DNXH đạt được, những khó khăn và rào cản mà DNXH tại Việt Nam gặp phải Phương pháp này được áp dụng tại Chương 3 của Luận văn Tại chương 2 này, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê để phân tích số liệu về thực trạng hoạt động của DNXH tại Việt Nam
Trang 15- Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp được
sử dụng tại chương 3: tác giả sử dụng nhằm so sánh các khó khăn mà DNXH tại Hoa Kỳ và Châu Âu gặp phải và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động DNXH trong thời gian tới (Chương III)
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động của doanh nghiệp xã hội
Chương 2: Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt nam
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị phát triển hoạt động của các doanh nghiệp
xã hội tại Việt Nam trong thời gian tới
Trang 16CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP XÃ HỘI
1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại doanh nghiệp xã hội
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp xã hội
Doanh nghiệp xã hội (DNXH) đầu tiên xuất hiện tại London vào năm 1665 khi ông Thomas Firmin thành lập doanh nghiệp cá nhân bằng nguồn tiền của cá nhân ông để duy trì công việc cho khoảng 2000 công nhân đang thất nghiệp, đồng thời toàn bộ tiền lợi nhuận sẽ được ông chuyển vào các quỹ từ thiện (Simon Denny and Frederick Seddon, 2014, tr.8) Tuy nhiên, đến năm 1979, DNXH thực sự trở thành phong trào tại Anh và trên toàn thế giới khi Thủ tướng Anh Margaret Thatcher chủ trương thu hẹp vai trò của Nhà nước, chia sẻ việc giải quyết các vấn đề xã hội với khu vực xã hội dân sự2 Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa có cách hiểu thống nhất
về doanh nghiệp xã hội
Có nhiều định nghĩa khác nhau về DNXH Theo quan điểm của Chính phủ Anh, Luật Công ty năm 2006 của Vương Quốc Anh quy định DNXH là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu Theo đó, DNXH được định nghĩa là mô hình kinh doanh, và thực hiện mục tiêu chính là mang lại lợi ích cho cộng đồng, xã hội thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho chủ sở hữu như các doanh nghiệp thông thường Cách định nghĩa này nhấn mạnh vào đặc điểm DNXH: DNXH không nhất thiết phải hoạt động theo hình thức một công ty vì đây vốn có thể coi là hình thức của một tổ chức Định nghĩa này đặt vai tròhoạt động của DNXH là vì xã hội và phân bố lợi nhuận cho cộng đồng thay vì cá nhân/ tập thể sở hữu doanh nghiệp Có thể nói, định nghĩa này chú trọng đến cách thức hoạt động của DNXH hơn là cấu trúc hoạt động
OCED định nghĩa: “DNXH là những tổ chức họat động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế DNXH thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm
2 https://successoriginsecret.wordpress.com/tag/margaret-thatcher/, truy cập ngày 15/3/2020
Trang 17cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn Ngoài ra, DNXH còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường”3 Định nghĩa này đặt mục tiêu xã hội và kinh tế là hai mục tiêu song song khi thành lập DNXH, thậm chí khía cạnh xã hội còn được chú trọng hơn khi DNXH có thể cung cấp cả nghĩa vụ trong lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường Tuy nhiên, định nghĩa này chưa làm nổi bật vai trò hoạt động xã hội của DNXH là sứ mệnh hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra, khái niệm này dễ đánh đồng DNXH đối với các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội (CSR) tốt Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội tốt tuy nhiên sau khi họ đã gây dựng thành công doanh nghiệp, và các hoạt động này hoàn toàn có thể bị bỏ qua nếu doanh nghiệp thấy chưa mang lại các ý nghĩa nhất định đối với doanh nghiệp của họ
Theo CSIP: “DNXH là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể DNXH lấy lợi ích xã hội làm mục tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội/ môi trường và mục tiêu kinh tế” (CSIP, Hội đồng Anh Việt Nam, Trung tâm Spark, 2011, tr.18) Có thể nói khái niệm của CSIP khá rộng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc khoanh vùng, phát triển DNXH
Cụ thể, CSIP nhấn mạnh vai trò của người sáng lập DNXH là doanh nhân xã hội, những người kết hợp được sáng kiến xã hội và tinh thần doanh nhân Thứ hai, định nghĩa của CSIP không giới hạn về các hình thức tổ chức và điều kiện hoạt động hay giới hạn về địa lý nhằm phù hợp với sự đa dạng của các tổ chức hoạt động hỗ trợ xã hội tại Việt Nam hiện nay Cuối cùng, DNXH phải theo đuổi đồng thời cả 2 mục tiêu
xã hội và kinh tế Tuy nhiên, vấn đề phân bổ lợi nhuận không được đề cập rõ ràng trong định nghĩa này Tác giả cho rằng, đây là 1 điểm yếu của cách định nghĩa về DNXH của CSIP so với khái niệm của Chính phủ Anh
Từ những phân tích ở trên, người viết cho rằng DNXH là DN hoạt động không vì lợi nhuận mà vì lợi ích của xã hội, của cộng đồng
3 https://www.oecd.org/cfe/leed/socialenterprises.htm, truy cập ngày 30/3/2020
Trang 181.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam
Từ định nghĩa về DNXH ở trên, có thể thấy, DNXH có 3 đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất là, DNXH đặt mục tiêu phục vụ lợi ích cộng đồng, lợi ích của xã hội lên hàng đầu Ngay từ khi thành lập, phát triển, các DNXH phải luôn ý thức hướng tới sứ mệnh đem lại lợi ích và những giá trị tốt đẹp cho xã hội Đó là lí do tồn tại và cũng là kim chỉ nam định hướng cho mọi hoạt động của DNXH Có thể nói so với doanh nghiệp truyền thống - tức các doanh nghiệp kinh doanh vì mục đích sinh lời nhằm tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu thì DNXH sử dụng hình thức kinh doanh như một công cụ để phục vụ lợi ích, mục tiêu xã hội của mình (xem Biểu đồ 1.1)
Nguồn: tác giả tự tổng hợp
Biểu đồ 1.1 Sự khác biệt của DN truyền thống và DN xã hội
Thứ hai là, DNXH phải có hoạt động kinh doanh Mặc dù là DNXH nhưng DNXH không thể thiếu các hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh là nét đặc thù của DNXH so với các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận chỉ đơn thuần nhận tài trợ và thực hiện các chương trình xã hội DNXH cũng cạnh tranh công bằng và bình đẳng với doanh nghiệp truyền thống khi phải cung cấp các sản phẩm hàng hóa
và dịch vụ với chất lượng phù hợp với yêu cầu của thị trường Chỉ có điều, hoạt động kinh doanh của DNXH không đặt lợi nhuận lên trên hết mà đặt lợi ích của XH lên trước tiên
Thứ ba là, đặc điểm để làm rõ chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh của DNXH là thực sự vì xã hội thay vì lợi nhuận cho các cổ đông nên phần lớn lợi nhuận của
Trang 19DNXH được tái phân bổ cho các hoạt động của doanh nghiệp và cho cộng đồng Đặc điểm này là tiêu chỉ để giúp phân định rõ đặc điểm “vì - lợi nhuận” hay “vì - xã hội” của doanh nghiệp truyền thống hay DNXH
1.1.3 Phân loại doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam
Có một số cách để phân loại mô hình DNXH tại Việt Nam, tùy thuộc vào tình trạng pháp lý của doanh nghiệp hay sự hình thành, phát triển DNXH qua các thời
kỳ Ngoài ra, DNXH cũng hoạt động đa dạng trên các lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế - xã hội tùy thuộc vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp Có 4 loại hình DNXH được phận loại chủ yếu dựa vào các tiêu chí sau đây:
1.1.3.1 Dựa trên tình trạng pháp lý của doanh nghiệp xã hội
DNXH ở Việt Nam có thể phân thành ba nhóm chính, chủ yếu dựa trên tình trạng pháp lý của họ: i) DNXH phi lợi nhuận; ii) DNXH phục vụ công ích; iii) DNXH hoạt động có lợi nhuận
i) Các DNXH phi lợi nhuận (Non-Profit social Enterprises)
Các DNXH phi lợi nhuận thường hoạt động dưới các hình thức như: Trung tâm, hội, quỹ, câu lạc bộ, tổ/nhóm tự nguyện của người khuyết tật, người chung sống với HIV/AIDS, phụ nữ bị bạo hành Hầu hết các DNXH phi lợi nhuận được phát triển lên từ nền tảng các tổ chức phi lợi nhuận (NGO), bên cạnh đó cũng có một số xác định được mô hình ngay từ khi thành lập Do vậy, tuy rất giống với các
tổ chức NGO truyền thống, nhưng điểm khác biệt ở các DNXH phi lợi nhuận là khả năng đưa ra được những giải pháp mới và sáng tạo để giải quyết các vấn đề mà cả
xã hội đang quan tâm nên có thể thu hút vốn đầu tư của những cá nhân và tổ chức đầu tư vì tác động xã hội
ii) Doanh nghiệp xã hội hoạt động không vì lợi nhuận
Đa số các doanh nghiệp loại này do doanh nghiệp hoạt động xã hội sáng lập nhằm mục đích phục sự sứ mệnh xã hội được công bố rõ ràng Ngay từ đầu, doanh nghiệp hoạt động không vì lợi nhuận đã xác định rõ sự kết hợp bền vững giữa sứ mệnh xã hội với mục tiêu kinh tế, trong đó mục tiêu kinh tế là phương tiện để đạt
Trang 20mục tiêu tối cao là phát triển xã hội Do đó, các doanh nghiệp này có nguồn thu bền vững từ các hoạt động kinh doanh và dịch vụ của họ, lợi nhuận doanh nghiệp thu được sử dụng để tái đầu tư hoặc để mở rộng tác động xã hội của doanh nghiệp Ví
dụ, Công ty phục vụ năng lượng mặt trời (Solar Serve) có nguồn thu đến từ các sản phẩm sản xuất, dịch vụ tư vấn và một phần từ việc tài trợ Cơ cấu nguồn thu đến từ 3 nguồn thu của doanh nghiệp đạt năm 2014, tư vấn 50%, bán hàng: 20%, tài trợ: 30%, năm 2015, tư vấn: tư vấn 30%, bán hàng: 40%, tài trợ: 30% (Hội đồng Anh, CIEM, Đại học Kinh tế quốc dân, 2016, tr.11) Việc đưa ra các giải pháp sáng tạo và áp dụng đòn bẩy của thị trường để giải quyết vấn đề xã hội và các thách thức trong lĩnh vực môi trường là điểm khác biệt so với các tổ chức xã hội từ thiện hay các doanh nghiệp thông thường Có thể nói, đây là loại hình DN khá đặc thù của DNXH Họ có
kế hoạch kinh doanh cụ thể để gọi vốn đầu tư từ các nhà đầu tư hoặc nhà đầu tư hoạt động vì xã hội, các kế hoạch kinh doanh đều được xây dựng từ cơ hội tạo ra giá trị lợi ích cho cộng đồng như các sản phẩm, dịch vụ giàu nhân văn mà họ cung cấp để đáp ứng một số nhu cầu thiết yếu cho xã hội Việc hoạt động như một công ty với những sản phẩm, dịch vụ riêng và có nguồn thu ổn định, được dùng để tự tái đầu tư vào các
dự án khác của doanh nghiệp hoặc hỗ trợ cộng đồng giúp họ có nguồn vốn ổn định và
cơ hội kinh doanh đa dạng hơn là một tổ chức từ thiện đơn thuần và không phải đi xin lòng từ thiện của các cá nhân, tổ chức khác
iii) Doanh nghiệp có định hướng xã hội, có lợi nhuận
Doanh nghiệp xã hội loại hình này có sứ mệnh tạo ra thay đổi xã hội tích cực trong khi cung cấp cổ tức cho cổ đông và quan trọng hơn là chia sẻ sứ mệnh xã hội với tất cả họ Các doanh nghiệp xã hội loại này thường hoạt động dưới các hình thức pháp lý của công ty TNHH, các tổ chức tài chính vi mô Tuy nhiên, trên thực
tế, việc phân loại các mô hình DNXH có lợi nhuận là một thách thức, do sự thiếu minh bạch trong hồ sơ tài chính và báo cáo Thông tin về lợi nhuận thường không được kiểm toán và công bố rõ ràng
Khác với mô hình DNXH phi lợi nhuận và không vì lợi nhuận, các DNXH có định hướng xã hội, có lợi nhuận ngay từ ban đầu đã nhìn thấy cơ hội và chủ trương xây dựng mình trở thành doanh nghiệp có lợi nhuận với sứ mệnh tạo động lực cho những biến đổi mạnh mẽ trong xã hội hoặc bảo vệ môi trường
Trang 21Mặc dù có tạo ra lợi nhuận và cổ đông được chia lợi tức, nhưng các DNXH này không bị chi phối bởi lợi nhuận Nói cách khác mục đích chính của nó không phải là tối đa hóa thu nhập tài chính cho các cổ đông, thay vào đó là mục tiêu xã hội/ môi trường mà mọi cổ đông đều chia sẻ giá trị chung Nói cách khác, lợi nhuận hay cổ tức có nhưng không ở mức tối đa mà được chia sẻ cho mục tiêu phát triển môi trường, hỗ trợ xã hôi
1.1.3.2 Dựa trên lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp xã hội
Dựa trên lĩnh vực hoạt động, DNXH được phân loại như sau:
- Doanh nghiệp xã hội cung cấp dịch vụ
Daonh nghiệp xã hội cung cấp dịch vụ có hiệu quả cao trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và được một một bên thứ ba thường là cộng đồng, hoặc nhà đầu
tư xã hội tài trợ cho các hoạt động đó Nói cách khác, DNXH hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ này hoạt động như một người làm thuê độc lập, tự chủ, đóng vai trò xúc tác, kết nối nguồn lực và mục tiêu xã hội Các doanh nghiệp này thường cung cấp dịch vụ y tế, chăm sóc trẻ em, dịch vụ cho người già hoặc hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn
- DNXH hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm công:
DNXH hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm với mục tiêu đem hàng hóa/dịch vụ công tới những người chịu thiệt thòi và dễ bị tổn thương nhất về kinh
tế, những người không được tiếp cận hay không đủ khả năng chi trả cho các dịch vụ theo mức giá thông thường Mục tiêu của những doanh nghiệp này là đáp ứng yêu cầu và quyền của người dân đang bị những mô hình kinh doanh và cơ chế hiện tại
bỏ qua Các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất thường là liên quan đến bảo vệ môi trường, tái chế rác thải, nông nghiệp, y tế
- Doanh nghiệp tạo việc làm cho những nhóm yếu thế
Doanh nghiệp tạo việc làm cho những nhóm yếu thế của xã hội như những người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS, người mãn hạn tù…phần lớn các doanh nghiệp xã hội thuộc loại này đổi mới từ tổ chức NGO bằng cách thành lập thêm một
Trang 22nhánh kinh doanh bên trong tổ chức, hoặc thành lập một doanh nghiệp kinh doanh, với lợi nhuận được sử dụng để tài trợ một phần chi phí của tổ chức
- Doanh nghiệp xã hội bản địa
DNXH bản địa là các DNXH thường được thành lập ở địa phương, do những người dân am hiểu về khu vực với mong muốn phát triển/ phục hồi truyền thống, kinh tế, văn hóa địa phương sáng lập nhằm góp phần thay đổi tích cực kinh tế và xã hội tại cộng đồng địa phương, vùng sâu vùng xã Do địa bàn hoạt động lớn trong khi nguồn nhân lực chất lượng có hạn, nên các doanh nghiệp này thường tập trung xây dựng dự án, đề án và tìm kiếm cơ hội kết nối với các nguồn lực trong và ngoài nước hỗ trợ cho các DNXH để duy trì hoạt động phát triển
1.1.4 Vai trò của doanh nghiệp xã hội
DNXH có đặc điểm về cơ cấu sở hữu và quản lý của DNXH có sự tham gia của cộng đồng hoặc các bên hưởng lợi từ doanh nghiệp Trên thực tế, đa phần DNXH đều có cấu trúc quản lý cởi mở và dân chủ do yêu cầu gắn kết với cộng đồng nhằm thu hút số lượng đối tác tham gia nên DNXH sẵn sàng chia sẻ, lắng nghe các đóng góp ý kiến nhằm điều chỉnh hành vi của mình để đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp DNXH ngày càng khẳng định tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa nhờ những vai trò cơ bản mà các doanh nghiệp đảm bảo như sau:
- DNXH cung cấp các dịch vụ xã hội như chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục – đào tạo, cư trú, phục hồi chức năng với giá cả phù hợp nhưng không được các cơ quan nhà nước đáp ứng đủ hoặc công dân chưa đủ điều kiện để hưởng lợi ích công DNXH cung cấp việc làm và sự hòa nhập xã hội cho những người yếu thế như đào tạo và cung cấp công việc cho các cá nhân bị kì thị bởi xã hội Những nhân viên làm công tác xã hội đã trở thành nghề nghiệp riêng biệt và được trả lương công bằng như những nhân viên làm nghề nghiệp khác trong xã hội
- DNXH trực tiếp giải quyết các vấn đề xã hội và góp phần làm tăng những giá trị tốt đẹp mang bản sắc chung của toàn xã hội thông qua hàng hóa, dịch vụ hoặc hỗ trợ những người gặp hoàn cảnh khó khăn nhưng được doanh nghiệp tuyển dụng Các vấn đề xã hội thường được quan tâm là bảo vệ giá trị văn hóa, tôn trọng các
Trang 23quan hệ xã hội, bảo vệ môi trường, cứu trợ, quyên góp, hỗ trợ đối tượng gặp khó khăn, giải quyết các xung đột trong gia đình, cộng đồng…hoặc làm lành mạnh các quan hệ xã hội nhưng chúng không phải là những tổ chức từ thiện hoặc tổ chức
“cứu tế cứu đói” thuần túy
- DNXH tạo nguồn thu đáng kể từ các hoạt động mang tính kinh doanh Đây là
điểm gần như tương đồng với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hoặc cả các tổ chức phi lợi nhuận hoặc với doanh nghiệp có mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, các doanh nghiệp xã hội có quyền hành kinh doanh để bù đắp chi phí và phát triển các giá trị xã hội, tuyệt nhiên không phải để tối đa hóa lợi nhuận Do đó, các doanh nghiệp này cũng cần có chiến lược vận hành nói chung và chiến lược phát triển tổng thể nói chung khác cơ bản so với các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận
- DNXH lấy việc mang lại những giá trị tốt đẹp đối với toàn xã hội làm mục tiêu cơ bản và bản chất doanh nghiệp cũng như lợi thế so với loại doanh nghiệp khác Những giá trị tốt đẹp của xã hội được thể hiện ở phát triển quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa người với người trong xã hội, những quy tắc ứng xử, chuẩn mực và đạo đức xã hội…được mọi người tôn trọng và tuân thủ như các hoạt động cứu trợ, từ thiện, quyên góp ủng hộ nhân dân vùng bị thảm họa thiên nhiên…
Như vậy, các DNXH có phạm vi hoạt động khá rộng và có mối liên kết rộng rãi cũng như liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau Sự tồn tại của nó gắn liền với các vấn đề xã hội và mục tiêu cơ bản của nó không phải lợi nhuận mà là để bảo
vệ và phát triển những giá trị xã hội, làm sâu sắc thêm hệ giá trị xã hội cũng như giải quyết những vấn đề phức tạp về mặt xã hội mà các doanh nghiệp hoặc tổ chức lợi nhuận không thể hoặc không thực hiện Doanh nghiệp xã hội có chức năng độc lập nhưng lại có sự phụ thuộc rất lớn vào sự ủng hộ của dư luận xã hội, Chính phủ, cộng đồng và các đối tượng hữu quan khác
Từ những đặc điểm trên, có thể thấy hoạt động của doanh nghiệp xã hội rất phức tạp vì phải đồng thời thực hiện cả mục tiêu tài chính và mục tiêu xã hội trong
đó mục tiêu xã hội được ưu tiên cao nhất
Trang 241.2 Tổng quan về hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam
1.2.1 Cơ sở pháp lý
Khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:
a) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này;
b) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng;
c) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu
tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.”
Hiện tại, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội dù có mục đích thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu xã hội nhưng trước hết vẫn là doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định bốn loại hình doanh nghiệp cơ bản và hai chế độ trách nhiệm tài sản của chủ sỡ hữu là Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh (chủ sở hữu của 2 loại hình doanh nghiệp áp dụng trách nhiệm tài sản vô hạn); Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần (thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ đông công ty cổ phần áp dụng trách nhiệm tài sản hữu hạn)
Do đó, chủ sở hữu khi thành lập DNXH phải lựa chọn một trong 4 mô hình được quy định như trên và đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh như các doanh nghiệp thông thường
Từ khái niệm về DNXH đã được phân tích ở trên và dựa trên các đặc điểm nêu trên của DNXH, người viết cho rằng, DNXH là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, được thành lập để thể hiện mục đích xã hội của doanh nghiệp như bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích cộng đồng và giải quyết các vấn đề xã hội
1.2.2 Các loại hình hoạt động của doanh nghiệp xã hội
Tương tự như doanh nghiệp thông thường, DNXH ở Việt Nam được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 dưới 3 loại hình chính: Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần
Trang 25Ngoài hồ sơ thành lập loại hình công ty như bình thường, DNXH cần thêm các cam kết thực hiện các mục tiêu xã hội và môi trường, trong đó nêu rõ 5 vấn đề cơ bản là: i) Các vấn đề xã hội hoặc môi trường được giải quyết bởi doanh nghiệp xã hội; ii) Phương pháp giải quyết các vấn đề xã hội hoặc môi trường; iii) Thời gian hoạt động
để giải quyết các vấn đề xã hội hoặc môi trường; iv) Lợi nhuận giữ lại hàng năm được tái đầu tư để giải quyết các vấn đề xã hội hoặc môi trường; v) Các nguyên tắc
và việc sử dụng các khoản đóng góp, và giải quyết các khoản đóng góp nổi bật trong trường hợp giải thể hoặc tái cấu trúc doanh nghiệp xã hội (nếu có) Và nghĩa vụ/ hạn chế đối với việc chuyển nhượng phần vốn góp
1.2.2.1 Công ty trách nhiệm xã hội một thành viên
Giống như công ty TNHH một thành viên thông thường, DNXH là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một tổ chức hoặc cá nhân có quyền và nghĩa vụ của chính DNXH đó Chủ sở hữu của DNXH một thành viên chịu trách nhiệm đối với tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi vốn điều lệ của nó DNXH chỉ
có thể giảm vốn điều lệ trong các trường hợp sau:
• Trả lại một phần vốn góp của chủ sở hữu bằng vốn điều lệ, với điều kiện doanh nghiệp đã thực hiện các hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn hai năm kể
từ ngày đăng ký doanh nghiệp và đảm bảo thanh toán tất cả các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác sau khi trả lại vốn cho chủ sở hữu;
• Vốn điều lệ không được chủ sở hữu thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu
Chủ sở hữu của DNXH chỉ được chuyển nhượng phần vốn góp của mình trong doanh nghiệp xã hội cho các tổ chức hoặc cá nhân khác thực hiện để tiếp tục thực hiện các hoạt động của DNXH cho các mục tiêu xã hội hoặc môi trường Chủ sở hữu cũng sẽ chịu trách nhiệm hoàn trả các ưu đãi, viện trợ và hỗ trợ đã nhận và bồi thường thiệt hại do vi phạm Cam kết doanh nghiệp xã hội
Một hoặc nhiều người được chỉ định làm đại diện ủy quyền của DNXH Nếu một người được bổ nhiệm, người đó sẽ là chủ tịch của DNXH sẽ được quản
lý bởi chủ tịch, một tổng giám đốc và một thanh tra viên Nếu hai hoặc nhiều người được bổ nhiệm, doanh nghiệp sẽ được quản lý bởi một hội đồng thành
Trang 26viên, tổng giám đốc và một thanh tra viên hoặc ủy ban kiểm tra Công ty TNHH hai thành viên trở lên
1.2.2.2 Công ty trách nhiệm xã hội hai thành viên trở lên
Tương tự như một Công ty TNHH hai thành viên trở lên thông thường, một doanh nghiệp xã hội dưới dạng TNHH hai thành viên trở lên là một doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều thành viên là tổ chức hoặc cá nhân DNXH có thể không có hơn 50 thành viên và mỗi thành viên phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác trong số vốn mà thành viên đã cam kết đóng góp cho doanh nghiệp DNXH có thể giảm vốn điều lệ trong các trường hợp sau:
• Doanh nghiệp trả lại một phần vốn góp của thành viên bằng vốn điều lệ, với điều kiện DNXH đã thực hiện các hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn hai năm
kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp, và đảm bảo thanh toán tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi trả lại vốn cho thành viên;
• Doanh nghiệp mua lại phần vốn góp của thành viên trong một số trường hợp được quy định theo Luật Doanh nghiệp;
• Vốn điều lệ không được các thành viên thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu
DNXH phải có một hội đồng thành viên, một chủ tịch của hội đồng thành viên, và một giám đốc hoặc tổng giám đốc Hội đồng thành viên của Hội đồng quản trị là cơ quan quyết định cao nhất của doanh nghiệp và sẽ bao gồm tất cả các thành viên của doanh nghiệp Theo quy định, một công ty, bao gồm doanh nghiệp,
có thể có nhiều đại diện pháp lý nhưng ít nhất một đại diện hợp pháp phải thường trú tại Việt Nam Một doanh nghiệp cũng có thể có một ủy ban kiểm tra và nếu một doanh nghiệp có ít nhất 11 thành viên, một ủy ban kiểm tra là bắt buộc Các nghị quyết của hội đồng phải được phê chuẩn bằng ít nhất 65% tổng số vốn của các thành viên tham dự, và tỷ lệ cao hơn có thể được quy định trong điều lệ của doanh nghiệp Xác định các quyết định đặc biệt như bán ít nhất 50% tài sản của doanh nghiệp, sửa đổi điều lệ hoặc giải thể sẽ cần 75% tổng số vốn của các thành viên tham dự phê duyệt
Trang 271.2.2.3 Công ty cổ phần
Giống như một công ty cổ phần thông thường, một doanh nghiệp xã hội thành lập như là công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau được gọi là cổ phần Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân, với yêu cầu tối thiểu ba cổ đông và không hạn chế số lượng cổ đông tối đa Một cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty chỉ trong phạm vi số vốn mà nó đã góp vào doanh nghiệp đó Với một vài ngoại lệ, các
cổ đông có thể tự do chuyển nhượng cổ phần của họ
Công ty cổ phần phải tổ chức một cuộc họp cổ đông ít nhất một lần một năm
và tất cả các cuộc họp cổ đông như vậy phải diễn ra tại Việt Nam Nếu một cuộc họp cổ đông được tổ chức đồng thời ở nhiều địa điểm, địa điểm của cuộc họp sẽ là địa điểm mà chủ tọa của cuộc họp tham dự Cuộc họp cổ đông thường niên phải diễn ra trong vòng bốn tháng hoặc sáu tháng tính từ cuối năm tài chính Nhóm đại biểu cho một cuộc họp cổ đông của ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết Việc thông qua nghị quyết của cuộc họp cũng như các vấn đề như loại cổ phần, số lượng cổ phiếu mới được chào bán, sửa đổi điều lệ, tổ chức lại hoặc giải thể doanh nghiệp và bán ít nhất 50% tài sản cần ít nhất 65% cổ phần có quyền biểu quyết Quyết định chấm dứt các mục tiêu xã hội hoặc môi trường, sửa đổi Cam kết đòi hỏi 65% cổ phần có quyền biểu quyết
Về vấn đề tài chính & gây quỹ: Dù ở loại hình doanh nghiệp nào, một doanh nghiệp xã hội được phép huy động và nhận tài / tài trợ dưới nhiều hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức Việt Nam hoặc nước ngoài khác để trang trải chi phí quản lý và điều hành của doanh nghiệp
Cụ thể, được phép nhận tài trợ dưới dạng tài sản, tiền hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ các đơn vị trong nước hoặc nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt Nam để giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường Có một hạn chế là doanh nghiệp xã hội không thể
sử dụng tài trợ gây quỹ cho các mục đích khác ngoài mục đích trang trải chi phí quản lý và điều hành để giải quyết các vấn đề xã hội hoặc môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký
Trang 281.2.3 Các mô hình hoạt động của doanh nghiệp xã hội
Sự phát triển của các mô hình DNXH khác nhau trong suốt lịch sử bị ảnh hưởng bởi bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước Trong mục 1.2.3 này, tác giả sẽ phân loại các DNXH thành bốn nhóm Đó là:
1.2.3.1 Hợp tác xã
Hợp tác xã được coi là một trong những mô hình đầu tiên của DNXH tại Việt Nam; HTX tham gia vào các hoạt động kinh doanh để đạt được các mục tiêu xã hội là mang lại lợi ích chung cho các thành viên của họ Hợp tác xã ở Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời từ những năm 1950 Họ từng là thực thể kinh tế đi đầu bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế trước năm 1986, trong đó nhà nước đóng vai trò quản lý Sau khi thực hiện chính sách Mở cửa, với sự xuất hiện của khu vực tư nhân, các hợp tác xã đã hoạt động ít phổ biến hơn và tạo ít tầm ảnh hưởng hơn Sau
đó, hợp tác xã đã phát triển thành mô hình tự trị, đảm bảo được sự độc lập và dân chủ của các xã viên trong quá trình sản xuất, ra quyết định và phân phối lợi nhuận Theo
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc), số lượng hợp tác xã giảm mạnh, từ 73.470 HTX năm 1986 xuống còn 18.607 HTX năm 1996 (Luật hợp tác xã đầu tiên) và còn 14.207 HTX năm 2003 (Luật hợp tác xã sửa đổi), sau đó số lượng HTX có tăng trở lại khoảng 18.244 vào năm 2010 Hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhưng hơn 50% hợp tác xã đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp để hỗ trợ số lượng lớn các hộ nông dân nghèo nhằm liên kết họ lại trở thành một tổ chức có sức ảnh hưởng, 14% hợp tác xã khác sử dụng người khuyết tật và các nhóm thiệt thòi khác (Thang V.Pham, Huyen T.H Nguyen and Linh Nguyen, 2016, tr.8)
Nhiệm vụ xã hội của hợp tác xã là mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và văn hóa chung cho các thành viên của mình Tất cả các thành viên hợp tác xã đều bình đẳng trong phân phối thu nhập Mục tiêu chính là tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống của các thành viên trong HTX Ngoài ra, các hợp tác xã cũng được khuyến khích thúc đẩy giáo dục, đào tạo và phát triển cộng đồng Hợp tác xã có thể huy động các nguồn vốn khác nhau cho các hoạt động kinh doanh của mình, bao gồm các thành viên đóng góp, cho vay, vốn bảo lưu, quỹ, trợ cấp của chính phủ, tài
Trang 29trợ và quyên góp của các cá nhân, tổ chức trong nước và quốc tế Trong số các nguồn lực này, các khoản đóng góp của các thành viên thường là nguồn tài chính chính cho các hoạt động và đầu tư của các hợp tác xã Mỗi thành viên có thể đóng góp tiền hoặc các khoản đóng góp bằng hiện vật như đất đai hoặc tài sản trí tuệ, nhưng phần của họ không thể vượt quá 20% vốn đăng ký
Về phân phối thu nhập, các hợp tác xã ở Việt Nam phải giữ lại ít nhất 20% thu nhập của mình cho quỹ đầu tư phát triển hợp tác xã, và ít nhất 5% cho quỹ dự phòng tài chính; phần còn lại có thể được phân phối giữa các thành viên trên cơ sở
tỷ lệ đóng góp (Hội đồng Anh, ESCAP, Social Enterprise UK, 2019, tr.9) Các hợp tác xã thường có các mục tiêu xã hội mà họ theo đuổi bằng cách đầu tư một phần lợi nhuận giao dịch của họ vào cộng đồng của họ để đáp ứng nhu cầu giáo dục, văn hóa
và xã hội của các thành viên
Hợp tác xã được sở hữu và điều hành bởi các thành viên của chính hợp tác xã
và cơ cấu quản trị phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành viên Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định tất cả các thành viên đều có quyền bầu cử như nhau, không phụ thuộc vào số lượng cổ phần; tất cả các thành viên cần được thông báo đầy đủ về hoạt động, hiệu quả kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và các hoạt động khác Hợp tác xã quản trị bao gồm hội đồng quản trị, giám đốc và ban giám sát hoặc giám sát viên
1.2.3.2 Doanh nghiệp xã hội được điều hành bởi các doanh nhân xã hội
DNXH được thành lập bởi các doanh nhân xã hội, thường là những cá nhân có tầm ảnh hưởng, những người nhận thức sâu sắc và quan tâm sâu sắc đến một hoặc một số vấn đề xã hội Các doanh nhân xã hội thường thành lập pháp nhân để giải quyết các nhu cầu xã hội mà họ đã xác định thông qua các hoạt động kinh doanh
Họ thường sử dụng kinh doanh như một công cụ và kết hợp cùng các mục tiêu xã hội với các hoạt động thương mại để duy trì hoạt động của tổ chức
Đối với DNXH được điều hành bởi doanh nhân xã hội, những người sáng lập đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập và phát triển nhờ vào ý chí, niềm đam mê và sự kiên trì của họ Mô hình này xuất hiện vào đầu những năm 1990, và nhanh chóng ghi nhấn dấu ấn của nhiều DNXH Như Mai Crafts, được thành lập
Trang 30vào năm 1990 (Thang V.Pham, Huyen T.H Nguyen and Linh Nguyen, 2016, tr.10), kinh doanh các sản phẩm thủ công được sản xuất bởi những phụ nữ nông thôn bị bỏ rơi ở những ngôi làng nhỏ xa xôi Hoa Sữa , được đăng ký vào năm 1994, cung cấp dịch vụ đào tạo nấu ăn và khách sạn cho những thanh thiếu niên nghèo và khuyết tật (Thang V.Pham, Huyen T.H Nguyen and Linh Nguyen, 2016, tr.10) Sao Mai được thành lập vào năm 1995, cung cấp sự phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ em bị thiểu năng trí tuệ (Thang V.Pham, Huyen T.H Nguyen and Linh Nguyen, 2016, tr.10) KOTO, được thành lập vào năm 1999, trao quyền cho thanh niên đường phố và những người có hoàn cảnh khó khăn thông qua đào tạo nghề về khách sạn (Thang V.Pham, Huyen T.H Nguyen and Linh Nguyen, 2016, tr.10) Một nhóm các doanh nghiệp xã hội trong mô hình này được thành lập bởi những người sáng lập xuất thân
từ hoàn cảnh khó khăn và do đó có hiểu biết sâu sắc về nhu cầu của những người dễ
bị tổn thương Một số doanh nghiệp trong nhóm này được hưởng trợ cấp và hỗ trợ của chính phủ, cũng như được đào tạo nghề miễn phí và được hưởng miễn thuế khi
sử dụng lao động là người khuyết tật hoặc dân tộc thiểu số ở vùng núi và cực kỳ khó khăn Chẳng hạn, Công ty TNHH Hồng Hà được thành lập vào năm 2005 bởi một doanh nhân khuyết tật để đào tạo nghề và tạo việc làm trong lĩnh vực may mặc cho người khuyết tật Kể từ đó, công ty đã đào tạo 250 học viên, bao gồm cả những người lao động khuyết tật và không có kỹ năng Công ty cũng thuê gần 40 nhân viên trong nhà máy may mặc của mình, trong đó hơn 50% là người khuyết tật (Thang V.Pham, Huyen T.H Nguyen and Linh Nguyen, 2016, tr.10) Sứ mệnh xã hội Các doanh nghiệp xã hội trong nhóm này thường nhằm giải quyết một hoặc một
số vấn đề cụ thể và tạo ra những tác động tích cực cho cộng đồng cần thông qua tạo việc làm cho người nghèo, người khuyết tật và đào tạo nghề cho những thanh thiếu niên gặp hoàn cảnh khó khăn
Người sáng lập có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc huy động các nguồn tài chính cho các doanh nghiệp của mình Những người sáng lập có nền tảng điều hành các tổ chức phi chính phủ hoặc kinh nghiệm trong lĩnh vực nhà nước có xu hướng nhận được nhiều sự đóng góp và hỗ trợ Mặc dù các doanh nghiệp xã hội trong nhóm này huy động các loại nguồn tài chính khác nhau, bao gồm cả doanh thu kinh
Trang 31doanh và các nguồn vốn đầu tư, nhưng tỷ lệ doanh thu kinh doanh cũng tăng trưởng theo thời gian Sau khoảng 10-20 năm hoạt động, các doanh nghiệp xã hội này giữ lại một phần lợi nhuận của họ để tái đầu tư vào sự phát triển của họ, để họ có thể tăng tác động và mở rộng quy mô kinh doanh
Các doanh nghiệp xã hội trong nhóm này thường có hơn 50 nhân viên Mặc dù một số doanh nghiệp xã hội có một ban cố vấn hoặc các quản lý tầm trung nhưng trong hầu hết các trường hợp, các doanh nhân xã hội sáng lập vẫn đóng một vai trò quan trọng trong quản trị tổ chức; họ vẫn là tác nhân trung tâm trong quá trình ra quyết định, lãnh đạo và quản lý Một cuộc khảo sát (Thang V.Pham, Huyen T.H Nguyen and Linh Nguyen, 2016, tr.11) được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Kinh tế (2014) chỉ ra rằng việc trao quyền cho nhân viên vẫn còn hạn chế trong các doanh nghiệp xã hội này Trong số 19 tổ chức được khảo sát, 17 tổ chức vẫn đang bị chi phối bởi những người sáng lập ban đầu của họ Một trong hai tổ chức còn lại được lãnh đạo bởi con trai của người sáng lập, đại diện cho một trường hợp rõ ràng về sự kế thừa gia đình Trong trường hợp đó, người sáng lập ban đầu vẫn giữ vai trò cố vấn và giám sát thông qua mối quan hệ của cô với con trai và với
tổ chức mà cô thành lập và lãnh đạo trong nhiều năm
1.2.3.3 Doanh nghiệp xã hội được ươm tạo từ những vườn ươm
Năm 2008-2009, với sự phát triển của các cơ sở ươm tạo và trung gian doanh nghiệp xã hội chuyên nghiệp như Trung tâm Xúc tiến Sáng kiến Xã hội (CSIP) và Trung tâm Phát triển Doanh nhân Xã hội (Spark), có nhiều DNXH được hình thành bởi các chương trình hỗ trợ và các tổ chức ươm tạo Từ năm 2009 đến 2014, CSIP đã
hỗ trợ và thúc đẩy 78 sáng kiến xã hội, giúp cải thiện cuộc sống của hơn 200.000 người có hoàn cảnh khó khăn Khoảng 20 doanh nghiệp xã hội khác nhận được tài trợ hạt giống và hỗ trợ xây dựng năng lực từ Spark4 Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp xã hội đã liên tục được đổi mới nhằm thúc đẩy hiệu quả sự phát triển của khu vực xã hội tại Việt Nam Các chương trình hỗ trợ ngành đổi mới cũng đã được triển khai trong các lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn như các sáng kiến đối các nhóm bị ảnh hưởng bởi HIV, các doanh nghiệp hòa nhập và các sáng kiến trong lĩnh vực y tế,
4 http://csip.vn/ve-chung-toi.html#gioi-thieu, truy cập ngày 1/4/2020
Trang 32nông nghiệp và biến đổi khí hậu Các doanh nghiệp xã hội trong nhóm này thường được đào tạo và tư vấn về các mô hình kinh doanh và đánh giá tác động từ các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp xã hội Ngoài ra, với sự năng động của một thế hệ doanh nhân
xã hội trẻ, họ có xu hướng đổi mới trong việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, thực hiện các quy trình mới và tiếp cận thị trường mới Ví dụ, Doanh nghiệp xã hội SECO bắt đầu vào năm 2012 (Thang V.Pham, Huyen T.H Nguyen and Linh Nguyen, 2016, tr.6) với mục đích thu hẹp khoảng cách thị trường cho các sản phẩm địa phương dân tộc Hồi giáo; 65% lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp được cam kết hỗ trợ trẻ em, phụ nữ và gia đình nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số thông qua học bổng cho sinh viên và hỗ trợ kỹ thuật cho các dân tộc thiểu số để cải thiện năng lực sản xuất Sapa O 'Chau (Hội đồng Anh, CIEM, Đại học Kinh tế quốc dân, 2016,
tr 49) nhằm cải thiện cuộc sống của thanh niên dân tộc thiểu số thông qua giáo dục, dạy nghề và cơ hội làm việc, đồng thời khuyến khích các gia đình địa phương khác thành lập doanh nghiệp địa phương và giữ con cái họ ở trường Nhiệm vụ xã hội trong nhóm này thường nhắm đến giải quyết các vấn đề xã hội nhất định thông qua các sáng kiến kinh doanh, sau đó được củng cố bằng các chương trình hỗ trợ của các
cơ sở ươm tạo doanh nghiệp xã hội
Các DNXH được ươm tạo thường nhận được tài trợ hạt giống và tư vấn xây dựng năng lực từ các chương trình hỗ trợ Các doanh nghiệp cũng tích cực trong việc huy động các nguồn lực khác nhau từ cả hai nguồn hỗ trợ kinh doanh và tự phát triển Nhờ các chương trình hỗ trợ, họ thường có một mô hình kinh doanh rõ ràng, trong đó phía doanh nghiệp được thúc đẩy và tăng cường mạnh mẽ Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp trong mô hình này đều còn trẻ và đang trong giai đoạn khởi nghiệp phát triển nên họ đang gặp khó khăn trong việc kinh doanh hoặc tìm kiếm các nguồn lực
để mở rộng quy mô kinh doanh Những DNXH này thường có ít hơn 10 nhân viên (Thang V.Pham, Huyen T.H Nguyen and Linh Nguyen, 2016, tr.7) Và tương tự như trường hợp trong nhóm doanh nghiệp xã hội được thành lập và điều hành bởi các doanh nhân xã hội, người sáng lập doanh nghiệp xã hội được trung gian chuyên nghiệp thường đóng vai trò là giám đốc của các công ty và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động kinh doanh hàng ngày
Trang 331.2.3.4 Doanh nghiệp xã hội chuyển đổi từ các tổ chức phi chính phủ địa phương
Năm 2010, Việt Nam được công nhận là quốc gia có thu nhập trung bình5 Nhiều
cơ quan phát triển lớn như Bộ Phát triển Quốc tế (DFID) của Vương quốc Anh hoặc
Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA) đã chấm dứt hoặc lên kế hoạch dừng các chương trình viện trợ trong nước Điều này dẫn đến viện trợ phát triển đã trở nên cạnh tranh và khan hiếm Để đối phó với tình hình này, nhiều tổ chức phi chính phủ địa phương phải tìm kiếm các nguồn vốn khác nhau Một số cung cấp dịch vụ tư vấn hoặc sản phẩm thương mại để tăng thu nhập có sẵn cho hoạt động của họ Những người khác thiết lập một cánh tay kinh doanh để tạo ra doanh thu, từ đó phục vụ các mục đích xã hội Một chương trình hỗ trợ cho các tổ chức này đã được CSIP thực hiện
từ năm 2014 43 tổ chức xã hội dân sự đã nhận được hỗ trợ xây dựng năng lực trong chương trình này; một số tổ chức cũng nhận được tài trợ hạt giống và dịch vụ tư vấn chuyên sâu Trung tâm ICS được thành lập như một tổ chức phi lợi nhuận vào năm
2008 thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh và hoạt động vì cộng đồng (Thang V.Pham, Huyen T.H Nguyen and Linh Nguyen, 2016, tr.10) đã hoạt động vì 2 triệu người ở Việt Nam trong cộng đồng LGBT (cộng đồng đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới) ICS chủ yếu dựa vào tài trợ quốc tế từ các nhà tài trợ song phương và các tổ chức phi chính phủ quốc tế như SIDA, Oxfam, USAID hoặc Đại sứ quán Hoa Kỳ Năm 2013, ICS bắt đầu cung cấp các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, bao gồm tư vấn tâm lý và pháp lý cho LGBT và gia đình của họ 100% lợi nhuận được tái đầu tư vào các hoạt động cho cộng đồng LGBT
Hầu hết các DNXH trong nhóm này có mục tiêu xã hội rõ ràng nhưng họ chưa
có mô hình kinh doanh phù hợp để duy trì nguồn vốn cho hoạt động của mình một cách bền vững Các tổ chức phi chính phủ địa phương thường có các sứ mệnh xã hội được thiết lập tốt, mà họ đã theo đuổi trong nhiều năm bằng cách sử dụng các nguồn tài trợ quốc tế
Có thể nói, các tổ chức chuyển đổi từ tổ chức phi chính phủ vẫn chủ yếu dựa vào các khoản tài trợ và quyên góp, mặc dù họ bắt đầu cung cấp một số dịch vụ như
5 viet-nam-318280.html, truy cập ngày 1/5/2020
Trang 34http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/ket-qua-va-nhan-dinh-sau-khi-danh-gia-lai-quy-mo-gdp-cua-tư vấn hoặc đào tạo để tăng thu nhập Tuy nhiên, tỷ lệ thu nhập từ hoạt động kinh doanh vẫn còn rất khiêm tốn Chỉ một số NGO có chuyên môn và kinh nghiệm mạnh mẽ mới có thể cung cấp dịch vụ đào tạo chuyên nghiệp cho cộng đồng rộng lớn hơn và thu hút khách hàng mới để tạo thêm thu nhập
Trong nhóm này, các nhà sáng lập cá nhân cũng đóng vai trò quản trị trong các doanh nghiệp của họ Tuy nhiên, các lãnh đạo NGO thường ít kinh nghiệm về tổ chức mô hình kinh doanh và kêu gọi vốn đầu tư hay gọi cách khác, họ cần được đào tạo về kinh doanh trước khi thực sự định hướng tổ chức NGO theo hướng doanh nghiệp xã hội hoạt động có lợi nhuận
1.2.4 Một số tổ chức có khả năng chuyển đổi sang doanh nghiệp xã hội
1.2.4.1 Doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích
Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước trước đây, khối DNNN được chia thành 2 nhóm: DNNN hoạt động kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận và DNNN hoạt động công ích “hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh” Tuy nhiên, cùng với quá trình cổ phần hóa, các DNNN hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận ngày càng ít cơ sở để tồn tại Quan điểm chủ đạo hiện nay là chỉ giữ lại các DNNN hoạt động trong một số lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế, và lĩnh vực cung cấp
“hàng hóa công”
Các DNNN hiện nay hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2014(với nội dung quản trị công ty như các doanh nghiệp thông thường) và Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích Theo đó, Công ty nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích là công ty nhà nước được thiết kế, đầu tư thành lập để thực hiện mục tiêu chủ yếu, thường xuyên và ổn định là sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích do nhà nước đặt hàng hoặc giao kế hoạch Mặc dù vậy, ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng hoạt động công ích không phải “trách nhiệm độc quyền” của Nhà nước Các dịch vụ cung cấp các sản phẩm công ích đó từ các doanh nghiệp, tổ chức thuộc khu vực tư nhân hoàn toàn có thể tham gia đấu thầu và cung cấp các sản phẩm đó thay cho Nhà nước
Trang 351.2.4.2 Cơ sở ngoài công lập
Xã hội hóa việc cung ứng dịch vụ công là một chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm thu hút các nguồn lực tham gia vào phát triển văn hóa, xã hội và môi trường Hiện nay, Chính phủ đã có các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích phát triển các cơ
sở ngoài công lập trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường
Trước năm 2005, các cơ sở ngoài công lập được thành lập và hoạt động theo Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ; theo đó, các cơ sở ngoài công lập gồm 3 loại hình bán công, dân lập và tư nhân Các cơ sở ngoài công lập được hưởng các chính sách khuyến khích như miễn thuế đất, thuế VAT, ưu đãi thuế TNDN, miễn giảm thuế TNDN
Đến năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao; trong đó chỉ rõ: “Phát triển mạnh các cơ sở ngoài công lập với hai loại hình: dân lập và tư nhân Tiến tới không duy trì loại hình bán công Mỗi cơ sở ngoài công lập đều có thể hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận hoặc theo cơ chế lợi nhuận Theo
cơ chế phi lợi nhuận thì ngoài phần được dùng để bảo đảm lợi ích hợp lý của các nhà đầu tư, phần để tham gia thực hiện các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, trợ giúp người nghèo, lợi nhuận chủ yếu được dùng để đầu tư phát triển Theo cơ chế lợi nhuận thì lợi nhuận có thể được chia cho các cá nhân và phải chịu thuế Nhà nước khuyến khích phát triển các cơ sở phi lợi nhuận”
Tiếp đó, năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập Nghị định này áp dụng đối với cơ sở ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, xã hội, dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em Theo đó, cơ sở ngoài công lập chỉ bao gồm hai hình thức là dân lập và tư nhân (hoặc tư thục đối với giáo dục - đào tạo)
Đến năm 2008, Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định các chính sách ưu đãi đối với đối tượng được bổ sung thêm là các tổ chức,
cá nhân hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có các dự án đầu tư, liên doanh, liên kết hoặc thành lập các cơ sở hoạt động trong các lĩnh vực xã hội hóa
Trang 36Năm 2019, Bộ Tài chính đang xây dựng chính sách khuyến khích thành lập các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập để nhằm hoàn hoàn thiện cơ chế về xã hội hóa, các bộ, ngành, địa p hương thực hiện đầy đủ chính sách ưu đãi hiện hành để khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ công
Nhờ các chính sách khuyến khích ưu đãi này, hệ thống các cơ sở cung ứng dịch
vụ công ngoài công lập đã phát triển, tạo việc làm và đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu của xã hội Cho đến nay, giáo dục được xem là lĩnh vực có nhiều biến chuyển rõ rệt nhất với mạng lưới các trường, cơ sở đào tạo, dạy nghề ngoài công lập đã được
mở rộng ở tất cả các cấp học Các cơ sở y tế ngoài công lập được thành lập ở các địa phương hoạt động chủ yếu dưới dạng bệnh viện, phòng khám, trung tâm tư vấn y tế, dịch vụ bác sĩ gia đình và các cửa hàng thuốc tư nhân, góp phần giảm tải cho các cơ
sở khám chữa bệnh công lập; đồng thời góp phần triển khai có hiệu quả lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân Tương tự, các cơ sở ngoài công lập trong lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội
Theo cách hiểu hiện nay về DNXH là một mô hình tổ chức thông qua các hoạt động kinh doanh để thực hiện các mục đích xã hội Khác với doanh nghiệp thông thường vì lợi nhuận, DNXH thường sử dụng lợi nhuận để đầu tư trở lại cho các mục tiêu xã hội của mình Khi DNXH phát triển, xã hội được hưởng lợi Trên cơ sở đó, có thể nói cơ sở ngoài công lập phi lợi nhuận và DNXH là khá tương đồng
1.2.4.3 Đơn vị sự nghiệp công lập và Tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập là “tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có
tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” Hiện nay vẫn đang tồn tại hai loại hình đã được giao và chưa được giao quyền tự chủ, tuy nhiên, xu hướng cải cách hành chính tiến tới giao quyền tự chủ hoàn toàn cho các đơn vị sự nghiệp công lập về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự
Có thể thấy các đơn vị sự nghiệp và tổ chức KH&CN đang chuyển đổi để trở thành theo mô hình gần giống Công ty nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích Văn bản pháp luật nêu rõ Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp chuyển đổi hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, cơ sở ngoài công lập; tổ chức KH&CN thành
Trang 37doanh nghiệp KH&CN Điều đó thể hiện quá trình cải cách hành chính của Nhà nước nhận thức rõ nhu cầu đưa hoạt động kinh doanh, mô hình doanh nghiệp, tinh thần doanh nhân vào các tổ chức sự nghiệp và KH&CN của nhà nước, nhằm nâng cao hiệu quả, tính chủ động, sáng tạo và khả năng tự vững của các tổ chức này
1.3 Nghiên cứu kinh nghiệm từ nước ngoài
1.3.1 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
1.3.1.1 Cách hiểu về doanh nghiệp xã hội
Khái niệm về doanh nghiệp xã hội ở Hoa Kỳ nói chung rộng hơn và tập trung nhiều hơn vào doanh nghiệp vì mục đích tạo doanh thu so với các định nghĩa ở các nước khác DNXH được hiểu là bao gồm các tổ chức từ các doanh nghiệp định hướng lợi nhuận tham gia vào các hoạt động có lợi cho xã hội (kể cả hoạt động từ thiện của công ty hay trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp) và các doanh nghiệp
có mục đích kép làm trung gian cho các mục tiêu lợi nhuận với các mục tiêu xã hội như các tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào hoạt động thương mại hỗ trợ sứ mệnh (các tổ chức xã hội) (Janelle A Kerlin, 2006) Ngoài ra, còn có các tổ chức
có mục đích xã hội, hoạt động thương mại hỗ trợ sứ mệnh có thể chỉ bao gồm việc tạo doanh thu hỗ trợ hoạt động khác trong tổ chức phi lợi nhuận hoặc hoạt động đồng thời tạo doanh thu và cung cấp chương trình đáp ứng các mục tiêu xã hội Doanh nghiệp xã hội tham gia bởi các tổ chức phi lợi nhuận có thể có một số hình thức tổ chức khác nhau bao gồm cả nội bộ liên doanh thương mại, các công ty con
vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, và quan hệ đối tác với doanh nghiệp liên quan đến hoạt động tiếp thị Ngoài ra, bên cạnh các công ty doanh nghiệp xã hội tư vấn và học thuật, ở Mỹ, các tổ chức phi lợi nhuận vẫn tập trung vào việc tạo doanh thu Doanh nghiệp xã hội tham gia bởi các tổ chức phi lợi nhuận có thể có một số hình thức tổ chức khác nhau bao gồm cả nội bộ liên doanh thương mại, các công
ty con vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, và quan hệ đối tác với doanh nghiệp liên quan đến hoạt động tiếp thị Ngoài ra, bên cạnh các công ty doanh nghiệp xã hội
tư vấn và học thuật, ở Hoa Kỳ, các tổ chức phi lợi nhuận vẫn tập trung vào việc tạo doanh thu
Trang 381.3.1.2 Môi trường thể chế của doanh nghiệp xã hội
Tại Hoa Kỳ, chiến lược phát triển doanh nghiệp xã hội hỗ trợ nền tảng tư nhân của doanh nghiệp xã hội phát triển được bắt đầu từ những năm 1980 – 1990 (Janelle A Kerlin, 2016) Một số tập trung vào việc thu thập thông tin cơ bản về doanh nghiệp xã hội và tạo ra các quỹ hỗ trợ (Quỹ Kellogg, Quỹ Kauffman, Quỹ Surdna, Quỹ Rockefeller) Những người khác chuyển sự hỗ trợ của họ sang khởi nghiệp doanh nghiệp xã hội (Quỹ phát triển doanh nghiệp Roberts), kinh doanh doanh nghiệp xã hội, các cuộc thi (Quỹ Goldman Sachs, Quỹ tín thác từ thiện) và ngày càng nhiều doanh nhân xã hội thông qua các chương trình giáo dục chuyên sâu hoặc tài trợ một số trong đó có tính chất quốc tế (Quỹ Draper Richards, Quỹ Skoll, Echoing Green, Ashoka, Schwab Foundation) Mặc dù ít về số lượng, nhưng các tổ chức phi lợi nhuận đã cung cấp tư vấn trực tiếp, tài trợ hạt giống, công cụ kinh doanh và kết nối với các bên liên quan chính trong cộng đồng doanh nghiệp xã hội như nhà cung cấp dịch vụ, nguồn tài trợ, cơ quan nhà nước và chương trình đại học Nền tảng đa dạng của nhân viên và thành viên hội đồng tư vấn giúp tạo điều kiện kết nối trong cộng đồng Đối với những tổ chức phi lợi nhuận và doanh nghiệp xã hội sẵn sàng trả tiền, một số công ty tư vấn đã sẵn sàng
hỗ trợ các doanh nghiệp xã hội về phía hoạt động và kinh doanh
Từ những năm 1950, chính phủ liên bang Hoa Kỳ đã sử dụng Thuế thu nhập doanh nghiệp không liên quan (UBIT) để tính thuế doanh thu phi lợi nhuận không liên quan đến các tổ chức miễn thuế do đáp ứng mục tiêu cụ thể Cụ thể, IRS định nghĩa thuế thu nhập doanh nghiệp không liên quan là thu nhập từ một hoạt động thương mại hoặc doanh nghiệp, thường xuyên được thực hiện, không liên quan đáng kể đến hiệu suất hoạt động của tổ chức ngoại trừ việc tổ chức cần lợi nhuận thu được từ hoạt động này
1.3.1.3 Những khó khăn đối với doanh nghiệp xã hội
Ở Hoa Kỳ, mặc dù DNXH đang có sự tăng trưởng nhanh nhưng DNXH gặp nhiều khó khăn thách thức từ việc loại trừ các nhóm cụ thể, sự suy yếu của kinh tế
xã hội và thiếu sự quan tâm của chính phủ
Trang 39Các loại hình doanh nghiệp xã hội cụ thể có thể có gặp phải những tình huống ngoài ý muốn dẫn đến việc loại trừ thêm các nhóm đã bị thiệt thòi Ví dụ: Doanh thu được tạo ra từ việc thu phí dịch vụ là một loại phổ biến hoạt động doanh nghiệp
xã hội Tuy nhiên, khi chiến lược này được áp dụng trong các tổ chức phi lợi nhuận dịch vụ xã hội, người hưởng lợi tiềm năng của các dịch vụ này sẽ tự động bị loại ra dịch vụ vì họ không thể trả tiền cho họ Một cách khác mà các nhóm dễ bị tổn thương có thể bị loại trừ là khi các hoạt động của các DNXH hướng đến tạo ra lợi nhuận hoặc một số hoạt động tạo doanh thu được ưu tiên thực hiện vì mang lại giá trị lợi ích cao hơn
Hơn nữa, có bằng chứng cho thấy các tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào các hoạt động thị trường ngày càng tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng cá nhân thay vì những người thiệt thòi thông qua việc cung cấp hàng hóa công cộng Doanh nghiệp xã hội ở Mỹ lo lắng rằng định hướng thị trường ngày càng tăng của các tổ chức phi lợi nhuận sẽ khiến họ đi khác mục tiêu xã hội ban đầu của doanh nghiệp
1.3.1.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hoa Kỳ có chủ nghĩa cá nhân lớn hơn rất nhiều so với Việt Nam Bên cạnh đó, người dân Hoa Kỳ cũng được khuyến khích phát triển đam mê cá nhân và sự tự do trong hành động Theo khảo sát, các DNXH Hoa Kỳ cũng định hướng mục tiêu vật chất cao hơn so Việt Nam Tuy nhiên, bản thân doanh nghiệp Hoa Kỳ cảm thấy sự không chắc chắn trong hoạt động kinh doanh Ngược lại, Việt Nam là đất nước có chủ nghĩa cá nhân thấp, khoảng cách quyền lực lớn và chưa khuyến khích phát triển đam
mê, định hướng cá nhân Văn hóa Việt Nam cũng đề cao định hướng lâu dài cũng như quan tâm nhiều đến giá trị cuộc sống hơn là giá trị vật chất Có thể thấy, Chính phủ Hoa Kỳ không quy định rõ ràng về DNXH mà có sự pha trộn giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh nghiệp hoạt động vì mục đích của xã hội, hoạt động xã hội của doanh nghiệp, các tổ chức từ thiện Do đó, các doanh nghiệp cũng tập trung nhiều vào tạo ra doanh thu để đạt được lợi nhuận, tùy vào định hướng của doanh nghiệp, có thể đóng góp cho xã hội hoặc không Ngoài ra, nhu cầu về định nghĩa pháp lý rõ ràng hơn cho các tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào các hoạt động tạo doanh thu cũng
Trang 40đang là rào cản của DNXH Nếu Chính phủ Mỹ quan tâm nhiều hơn với doanh nghiệp xã hội thì DNXH còn rất nhiều cơ hội để phát triển Hiện tại, Việt Nam đã
có quy định về DNXH cũng như đưa ra những yêu cầu để đảm bảo trách nhiệm pháp lý ràng buộc của doanh nghiệp Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam chưa có quy định về thuế như Hoa Kỳ để hỗ trợ các DNXH hoạt động ổn định và phát triển Và đây chính là bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam: Việt Nam cần xây dựng quy định, áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế dảnh riêng cho các DNXH để một mặt Chỉnh phủ có cơ sở xác định hiệu quả hoạt động của DNXH, mặt khác với thuế này
là công cụ quản lý vĩ mô của Chính phủ khi các DNXH phát triển
1.3.2 Kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu
1.3.2.1 Sự hình thành và phát triển doanh nghiệp xã hội
Ở EU, các doanh nghiệp xã hội có nhiều hình thức bao gồm ủy thác phát triển nhân viên, công ty xã hội, tổ chức thị trường lao động trung gian, doanh nghiệp cộng đồng hoặc tổ chức giao dịch từ thiện
Ở EU, doanh nghiệp xã hội xuất hiện muộn hơn ở Hoa Kỳ và tập trung vào phát triển đồng thời các dịch vụ và đa dạng hóa việc tạo doanh thu trong khu vực người thiệt thòi và không thể tìm được việc làm trong các doanh nghiệp thông thường Với sự sụt giảm trong tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp gia tăng bắt đầu từ cuối những năm 1970 và tiếp tục vào những năm 1990, nhiều quốc gia phúc lợi EU
đã rơi vào khủng hoảng khi nhiều quốc gia trong EU đã trải qua sự gia tăng tỷ lệ
thất nghiệp từ 3% hoặc 4% lên hơn 10% (Jacques Defourny, 2008,tr.202-tr.228)
Trong những năm 1990, hơn 40% người thất nghiệp ở châu Ầu (không có việc làm trong hơn một năm) cao hơn rất nhiều so với 12% ở Hoa Kỳ và 15% ở Nhật Bản (Jacques Defourny, 2016) Do tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng, một số nhu cầu dịch vụ xã hội đã nảy sinh mà không có các chương trình chính sách công phù hợp Các doanh nghiệp xã hội, , bắt đầu đáp ứng các nhu cầu như giải quyết các vấn đề nhà ở của các nhóm người thiệt thòi, dịch vụ chăm sóc trẻ em để đáp ứng nhu cầu mới do thay đổi kinh tế xã hội, dịch vụ mới cho người già do dân số già hóa nhanh chóng và những thay đổi trong cấu trúc gia đình, các sáng kiến tái tạo đô thị, các chương trình việc làm cho những người thất nghiệp dài hạn, Hầu hết các doanh nghiệp xã hội tiên phong ở EU được thành lập vào những năm 1980 bởi các cá