1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Tài chính ngân hàng: Nghiên cứu các quy định về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của Singapore và những vấn đề cần lưu ý cho Việt Nam

126 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của Singapore song song với việc nghiên cứu các quy định về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của Việt Nam, đặc biệt tập trung vào các quy định phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, từ đó đƣa ra các lưu ý nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của Việt Nam.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi có sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn là PGS TS Đặng Thị Nhàn Các nội dung nghiên cứu, các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng về kết quả luận văn của mình

Người cam đoan

Vương Phương Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ, tôi đã nhận được rất nhiều sự trợ giúp đến từ các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu, Thư viện nhà trường, khoa Sau đại học, khoa Tài chính - Ngân hàng trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Đặc biệt, cho phép tôi được bày tỏ lòng trân quý và biết ơn tới PGS TS Đặng Thị Nhàn vì đã luôn tận tình, tâm huyết hướng dẫn tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn thạc sĩ

Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Bắc Giang, phòng Thanh tra giám sát ngân hàng và hệ thống các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện hỗ trợ về thông tin, dữ liệu và tài liệu trong quá trình tôi thực hiện luận văn thạc sĩ

Sau cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh ủng

hộ, động viên về mặt tinh thần, đồng thời tạo điều kiện về thời gian để giúp tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ

Trong bản luận văn chắc hẳn không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tôi mong muốn nhận được nhiều đóng góp quý báu đến từ các thầy cô giáo và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn nữa và có ý nghĩa thiết thực để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1

DANH MỤC SƠ ĐỒ 2

DANH MỤC BẢNG BIỂU 3

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ KHỦNG BỐ 11

1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ RỬA TIỀN VÀ TTKB 11

1.1.1 Khái niệm rửa tiền và TTKB 11

1.1.2 So sánh “rửa tiền” và “tài trợ khủng bố” 15

1.1.3 Quy trình và phương thức rửa tiền 17

1.1.4 Quy trình và phương thức tài trợ khủng bố 20

1.1.5 Tác động của rửa tiền và TTKB đến nền kinh tế 23

1.2.CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ KHỦNG BỐ 25

1.2.1.Quy định về PCRT và TTKB của Liên hợp quốc 25

1.2.2 Quy định về PCRT và TTKB của lực lượng đặc nhiệm tài chính FATF 26

1.2.3.Quy định về PCRT và TTKB của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng 27

1.2.4.Quy định về PCRT và TTKB của một số tổ chức quốc tế khác 28

CHƯƠNG II - QUY ĐỊNH VỀ PHÕNG CHỐNG RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ KHÙNG BỔ CỦA SINGAPORE 31

2.1 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ PCRT & TTKB CỦA SINGAPORE 31

2.2 PHÁP LUẬT VỀ PCRT& TTKB ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH CỦA SINGAPORE 33

2.3 CÁC QUY ĐỊNH CHỦ YẾU CỦA CDSA 34

2.3.1 Định nghĩa về “tội rửa tiền” 34

2.3.2 Khái niệm “Hành vi phạm tội” 34

2.3.3 Quy định về tội rửa tiền liên quan đến trốn thuế 35

2.3.4 Nghĩa vụ báo cáo và cung cấp thông tin của TCTD 35 2.4 CÁC THÔNG BÁO VÀ HƯỚNG DẪN CỦA CƠ QUAN TIỀN TỆ

Trang 6

SINGAPORE 36

2.4.1 Hướng dẫn số 626 về PCRTvà TTKB trong lĩnh vực ngân hàng 38

2.4.2 Chỉ dẫn về PCRT và TTKB trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế và ngân hàng đại lý 41

2.4.3 Hướng dẫn kiểm soát việc giám sát các giao dịch nhằm chống rửa tiền và tài trợ khủng bố 44

2.4.4 Các tập quán hiệu quả trong việc phát hiện và giảm thiểu rủi ro rửa tiền và TTKB dành cho ngân hàng 54

2.5 PHÂN TÍCH MỘT SỐ TÌNH HUỐNG VỀ PCRT VÀ TTKB CỦA SINGAPORE 59

2.5.1 Rửa tiền qua giao dịch chuyển tiếp 60

2.5.2 Rửa tiền qua giao dịch xoay vòng 63

2.5.3 Rửa tiền qua gian lận thuế đáng ngờ 65

2.5.4 Rửa tiền qua các định chế phi ngân hàng/chuyển tiền mặt qua biên giới 66

2.5.5 Rửa tiền qua các mối quan hệ ẩn giấu 69

2.5.6 Rửa tiền ở các doanh nghiệp sử dụng tên tương tự như nhau 71

2.6 BÀI HỌC RÖT RA CHO VIỆT NAM NHÌN TỪ KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE 76

CHƯƠNG III - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý CHO VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN PHÕNG CHỐNG RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ KHỦNG BỐ NHÌN TỪ KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE 82

3.1 QUY ĐỊNH VỀ PHÕNG CHỐNG RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ KHÙNG BỔ CỦA VIỆT NAM 82

3.1.1.Chủ trương PCRT & TTKB của Việt Nam 82

3.1.2.Môi trường pháp lý về PCRT & TTKB của Việt Nam 84

3.1.3 Những bất cập trong hệ thống pháp luật về PCRT & TTKB ở Việt Nam và nguyên nhân 87

3.1.4 Bất cập trong công tác PCRT& TTKB trong lĩnh vực ngân hàng và nguyên nhân89 3.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý NHÌN TỪ KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE 94

Trang 7

3.2.1 Đối với các NHTM và các định chế tài chính 96

3.2.2 Đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền 98

3.2.3 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 103

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 01 112

PHỤ LỤC 02 117

Trang 8

2 APG Nhóm Châu Á Thái Bình Dương về chống rửa tiền (Asia

Pacific Group on money laundering)

Đạo luật về Tham nhũng, Buôn bán bất hợp pháp ma tuý và các tội phạm nghiêm trọng khác (The Corruption, Drug Trafficking and Other Serious Crimes Act)

4 DDC Thủ tục nhận biết khách hàng (Due Diligence Checks)

5 FATF Lực lượng đặc nhiệm tài chính về phòng chống rửa tiền

(Financial Action Task Force)

6 FIU Đơn vị tình báo tài chính (Financial Intelligence Unit)

7 MAS Cơ quan tiền tệ Singapore (Monetary Authority of

Singapore)

8 NLA Phân tích mạng lưới công ty (Network Link Analysis)

9 NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

10 NHTM Ngân hàng thương mại

11 PCRT Phòng, chống rửa tiền

12 PEP Cá nhân có ảnh hưởng chính trị (Politically Exposed

Persons)

13 QA Chương trình đảm bảo chất lượng (Quality Assurance)

14 STRO Cơ quan nhận báo cáo về giao dịch đáng ngờ Singapore

(Suspicious Transaction Reporting Office)

15 STRs Báo cáo các giao dịch đáng ngờ (Suspisious Transactions

Reports)

16 TCTD Tổ chức tín dụng

17 TTKB Tài trợ khủng bố

18 TTTMQT Tài trợ thương mại quốc tế

19 UBO Chủ sở hữu hưởng lợi cao nhất (Ultimate Benificial Owner)

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

trang

Sơ đồ 2.1 Phương pháp phát hiện và giảm thiểu rủi ro rửa tiền và

Sơ đồ 2.2 Rửa tiền qua giao dịch chuyển tiếp sử dụng tiền mặt 60

Sơ đồ 2.3 Rửa tiền sử dụng giao dịch chuyển tiếp và giao dịch được

Sơ đồ 2.4 Rửa tiền qua giao dịch chuyển tiền xoay vòng 63

Sơ đồ 2.5 Rửa tiền qua giao dịch xoay vòng đáng ngờ 64

Sơ đồ 2.6 Rửa tiền qua gian lận thuế đáng ngờ 66

Sơ đồ 2.7 Rửa tiền qua các định chế phi ngân hàng 67

Sơ đồ 2.8 Rửa tiền qua chuyển tiền mặt qua biên giới 68

Sơ đồ 2.10 Rửa tiền ở các doanh nghiệp sử dụng tên tương tự như

Trang 10

Bảng 2.3 Rửa tiền sử dụng giao dịch chuyển tiếp và giao dịch đƣợc

Trang 11

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 01 của luận văn nghiên cứu cơ sở pháp lý về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của Liên hợp quốc, Lực lượng đặc nhiệm tài chính FATF,

Ủy ban Basel và một số tổ chức quốc tế khác, làm rõ khái niệm, quy trình, phương thức rửa tiền, tài trợ khủng bố và tác động của vấn đề này đến kinh tế- xã hội

Trong chương 02 tác giả đã đi sâu phân tích các quy định về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của Singapore, chọn lọc phân tích một số văn bản luật về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố tiêu biểu; phân tích một số tình huống có nguy cơ rửa tiền cao theo các văn bản hướng dẫn của Cơ quan tiền tệ Singapore

Từ những nghiên cứu trong chương 2, chương 3 trình bày các quy định về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của Việt Nam và thực trạng công tác phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố trong nước, sau đó đặt ra những vấn đề cần lưu ý nhìn từ kinh nghiệm của Singapore và đưa ra một số kiến nghị, đề xuất cụ thể đến các cơ quan có liên quan

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rửa tiền và tài trợ khủng bố đã và đang trở thành vấn nạn mang tính toàn cầu, chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố đang trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia và các tổ chức quốc tế Trong xu thế hội nhập, tự do hóa, toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các phương thức, thủ đoạn rửa tiền ngày càng tinh vi, phức tạp, tội phạm rửa tiền đã trở thành tội phạm xuyên quốc gia Hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố có ảnh hưởng tiêu cực bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, làm gia tăng tội phạm và gia tăng tham nhũng, làm giảm uy tín

và đầu tư nước ngoài, làm suy yếu các định chế tài chính, làm tổn thương khu vực kinh tế tư nhân Đặc biệt đối với hệ thống ngân hàng- mục tiêu số một mà tội phạm rửa tiền nhắm đến, hoạt động rửa tiền gây ra những nguy hại về uy tín, nghiệp vụ, pháp lý cho từng ngân hàng từ đó ảnh hưởng đến sự ổn định hệ thống tài chính của một quốc gia

Trong thời gian gần đây, giới tài chính thế giới đã chấn động vì vụ việc cựu Thủ tướng Malaysia Najib Razak và những người thân của ông bị bắt và điều tra về tội tham nhũng và rửa tiền, đối diện với cáo buộc tham nhũng số tiền khổng lồ của quỹ đầu tư quốc gia “1Malaysia Development Berhad” (Quỹ 1MDB) Vụ việc đã dấy lên mối quan ngại về vấn đề rửa tiền và tài trợ khủng bố ở các nước trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á Tại Việt Nam, theo Báo cáo chỉ số chống rửa tiền năm 2018 do Ủy ban Basel ban hành ngày 09/10/2018, Việt Nam có chỉ số nguy cơ rửa tiền và tài trợ khủng bố là 7,37 - xếp thứ 10 trên tổng số 129 nước được khảo sát, tức là ở mức nguy cơ cao so với các nước trên thế giới Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động phòng, chống rửa tiền, trong thời gian qua, Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động hợp tác quốc

tế trong lĩnh vực chống rửa tiền và tài trợ khủng bố; tập trung xây dựng cơ chế phòng, chống rửa tiền bằng cách hoàn thiện những văn bản luật và dưới luật nhằm phòng chống rửa tiền Tuy nhiên, do vẫn còn khá mới ở Việt Nam nên hoạt động phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố nước ta vẫn được đánh giá là thiếu

Trang 13

kinh nghiệm và nguồn lực còn hạn chế, trong khi các nước phát triển trên thế giới

đã thực hiện công tác phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố trong nhiều năm và gặt hái được những thành công nhất định, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá

Là một trong những quốc gia có hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền

và chống tài trợ khủng bố tương đối hoàn thiện, đảm bảo tuân thủ hầu hết các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về phòng chống rửa tiền FATF, Singapore đã trở thành quốc gia đi đầu lĩnh vực phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố trong khu vực Đông Nam Á Vấn đề đặt ra là làm thế nào để Việt Nam có thể học tập và phát huy một cách có chọn lọc các kinh nghiệm này trong công tác phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố ? Chính vì vậy tác giả chọn đề tài

luận văn: “Nghiên cứu các quy định về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của Singapore và những vấn đề cần lưu ý cho Việt Nam” với hy vọng

đề tài sẽ đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc phòng, chống rửa tiền của Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trong thời gian qua, nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng, chống rửa tiền (PCRT) vả tài trợ khủng bố (TTKB), trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu các quy định của pháp luật về PCRT & TTKB, kinh nghiệm PCRT và

TTKB ở các quốc gia, tiêu biểu có thể kể đến:

Sách “Money Laundering: A New International Law Enforcement Model” (Guy Stessens, 2008) đã đưa ra những phân tích về các vấn đề pháp lý trong cuộc chiến chống rửa tiền, trên cơ sở so sánh pháp luật về rửa tiền ở các quốc gia trên thế giới, cung cấp tổng quan về các quy tắc và thông lệ quốc tế trong vấn đề chống rửa tiền, và các câu hỏi thường gặp của các quốc gia trong vấn đề này

Sách “So sánh khung pháp lý về chống rửa tiền và TTKB ở một số nước trên thế giới” (Anti-money laundering and counter-terrorism financing across the globe:

A comparative study of regulatory action) của nhóm tác giả: Julie Walters, Carolyn Budd, Russell G Smith, Kim-Kwang Raymond Choo, Rob McCusker và David

Trang 14

Rees (2011) Qua việc phân tích và so sánh khung pháp lý về PCRT & TTKB của các quốc gia trong Liên minh châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Bỉ), ở Châu Á (Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore), Hoa Kỳ và Öc, nhóm tác giả đã đề xuất các khuyến

nghị nhằm đưa ra chính sách quản lý tốt hơn đối với công tác PCRT & TTKB

Sách “Vấn nạn rửa tiền, liệu đây có phải một vòng tròn bất tận?” (Money Laundering – An Endless Cycle?) của tác giả Nicholas Ryder- Trưởng khoa Luật thương mại, Đại học University of the West of England (2012): Tài liệu này đã so sánh chính sách chống rửa tiền của Mỹ, Anh, Öc và Canada, chỉ ra cách thức mà

các quốc gia này đã áp dụng thành công trong cuộc chiến chống rửa tiền

Nghiên cứu định lượng: “Các nhân tố ảnh hưởng đến rửa tiền – Bài học cho các nước đang phát triển” (Factors affecting money laundering: Lessons for developing countries) bởi Santha Vaithilingam và Mahendhiran Nair (2007), với nội dung xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến rửa tiền (bao gồm công nghệ thông tin, nguồn lực con người, hiệu quả khung pháp lý, hành vi đạo đức của doanh nghiệp và động lực đổi mới) ở 88 quốc gia phát triển và đang phát triển, từ đó rút ra kết quả là một quốc gia với khung pháp lý hiệu quả và nền quản trị tốt sẽ có ít nguy

cơ xảy ra hoạt động rửa tiền hơn

Bên cạnh đó, có rất nhiều các nghiên cứu về kinh nghiệm phòng, chống rửa tiền và TTKB của các quốc gia khác như: Kinh nghiệm phòng chống rửa tiền của Anh tại tài liệu “Statutory obligations for banks to comply with the anti-money laundering legislation in Malaysia: Lessons from the United Kingdom” bởi Norhashimah Mohd Yasin (2014); pháp luật về phòng chống rửa tiền và TTKB của liên minh châu Âu tại tài liệu “The EU Legislative Framework Against Money Laundering and Terrorist Finance: A Critical Analysis in the Light of Evolving Global Standards” bởi Valsamis Mitsilegas và Bill Gilmore (2008); nghiên cứu pháp luật về PCRT & TTKB của Mỹ tại tài liệu “Money laundering, Terrorism, Regulation, Laws and legislation” bởi Cassella và Stefan D (2004); nghiên cứu pháp luật về PCRT của Brazil tại tài liệu “Proposed Brazilian Money Laundering Legislation: Analysis and Recommendations” bởi Paulina L Jerez (1997); nghiên cứu pháp luật về PCRT của Indonesia tại tài liệu “Indonesian stakeholder

Trang 15

viewpoints of Indonesia‟s anti-money laundering legislation” bởi Rusmin Rusmin

và Alistair M Brown (2008)…

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Luận án “International Anti-Money Laundering Standards and their implementation by VietNam” của Chat Le Nguyen (2014) phân tích các chuẩn mực chống rửa tiền của quốc tế và so sánh sự khác biệt với hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền của Việt Nam, từ đó đưa ra một số đề xuất về cải cách pháp luật để thu hẹ khoảng cách giữa pháp luật phòng chống rửa tiền của Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế

Trên khía cạnh tội phạm học và pháp luật hình sự, Luận án “Đấu tranh phòng, chống tội rửa tiền ở Việt Nam” của Trần Xuân Huệ (2016) đã tập trung nghiên cứu

về “tội rửa tiền” (tình trạng, diễn biến, cơ cấu, đặc điểm, nhân thân người phạm tội, nguyên nhân và điều kiện của tội rửa tiền), so sánh tội rửa tiền trong Bộ luật hình sự Việt Nam với một số nước trên thế giới (Trung Quốc, Liên bang Nga), từ đó đề ra các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội rửa tiền ở Việt Nam

Một số tài liệu phân tích kinh nghiệm PCRT ở các quốc gia trên thế giới từ đó đưa ra bài học cho Việt Nam như: “Kinh nghiệm phòng, chống rửa tiền của một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam” (Vũ Văn Thực, 2017); “Hoàn thiện quy định về tội rửa tiền trong Luật Hình sự Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế” (Trần Văn Tuân, 2013); “Phòng chống rửa tiền: kinh nghiệm của các nước

và bài học cho Việt Nam” (Văn Tạo & Kim Anh, 2010); “Phòng chống rửa tiền: Những vấn đề còn nan giải” (Lê Thị Mận, Nguyễn Thanh Giang, 2013); “Phòng chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam” (Nguyễn Thị Loan, 2016),

“Phòng, chống rửa tiền qua các tổ chức tín dụng theo pháp luật của Hoa Kỳ, Singapore” (Vũ Hồng Anh –Nguyễn Hải Yến, 2018)…

2.3 Nhận xét chung

Tóm lại, trên thế giới cũng như trong nước ta đã có nhiều tác giả nghiên cứu các quy định của pháp luật về PCRT và TTKB một cách hệ thống, đặc biệt là nghiên cứu pháp luật về PCRT và TTKB của Mỹ và các nước châu Âu Tuy nhiên,

Trang 16

theo quan điểm của tác giả, các nghiên cứu kể trên vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu trên thế giới đã cung cấp cái nhìn tổng quan về

khung pháp lý đối với công tác PCRT & TTKB, từ đó đưa ra nhiều bài học có giá trị Tuy nhiên, những bài học nói trên để áp dụng vào Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt nhất định về vị trí, hoàn cảnh, điều kiện chính trị- xã hội của mỗi quốc gia

Thứ hai, phần lớn các nghiên cứu trong nước về hệ thống pháp luật PCRT &

TTKB đã chỉ ra các tồn tại, hạn chế trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, tuy nhiên do hệ thống các văn bản pháp luật thường xuyên được sửa đổi, bổ sung để khắc phục những thiếu sót trước đây nên tính đến thời điểm hiện tại nhiều quy định

về PCRT & TTKB đã thay đổi, vì vậy một số kiến nghị, đề xuất tại các nghiên cứu trước đây chỉ còn mang tính tham khảo

Thứ ba, các quy định về PCRT & TTKB của Singapore chưa được nghiên cứu

một cách đầy đủ và có hệ thống, trong khi Singapore là một trong những quốc gia

có hệ thống pháp luật về PCRT & TTKB tương đối hoàn thiện, tuân thủ hầu hết các khuyến nghị của FATF

Trong phạm vi hiểu biết của tác giả, trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu của các nghiên cứu đi trước, luận văn sẽ cố gắng khắc phục những bất cập nêu trên để nghiên cứu những kinh nghiệm trong xây dựng và thực thi pháp luật về PCRT & TTKB, từ đó rút ra những vấn đề cần lưu ý cho Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng

bố của Singapore song song với việc nghiên cứu các quy định về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của Việt Nam, đặc biệt tập trung vào các quy định phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, từ đó đưa ra các lưu ý nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 17

Một là, làm rõ khái niệm rửa tiền và tài trợ khủng bố, quy trình và phương thức rửa tiền và tài trợ khủng bố

Hai là, nghiên cứu các quy định về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố của Singapore và Việt Nam

Ba là, đề xuất những vấn đề cần lưu ý cho Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm của

Singapore

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền

ở Singapore và Việt Nam, từ đó đưa ra những vấn đề cần lưu ý cho Việt Nam nhìn

từ kinh nghiệm của Singapore

Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: nghiên cứu hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố của Singapore và Việt Nam (chủ yếu tập trung vào pháp luật về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng), từ đó rút ra những vấn đề cần lưu ý cho Việt Nam

- Về thời gian: số liệu phục vụ cho nghiên cứu từ năm 1999 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính: phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh để làm

rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố Luận văn sử dụng các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp: Dữ liệu sơ cấp thu thập từ bảng hỏi với các đối tượng là cán bộ các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; dữ liệu thứ cấp được thu thập, khai thác từ các báo cáo, các văn bản hiện hành của Ngân hàng Nhà nước, Cơ quan Tiền tệ Singapore và các cơ quan có liên quan Luận văn sử dụng các bảng biểu, sơ đồ để biểu diễn, mô tả các kết quả phân tích

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về rửa tiền và tài trợ khủng bố;

Chương 2 Quy định về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố của Singapore; Chương 3 Một số vấn đề về cần lưu ý cho Việt Nam liên quan đến phòng

chống rửa tiền và tài trượ khủng bố nhìn từ kinh nghiệm của Singapore

Trang 18

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RỬA TIỀN VÀTÀI TRỢ

KHỦNG BỐ

1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ RỬA TIỀN VÀ TTKB

1.1.1 Khái niệm rửa tiền và TTKB

1.1.1.1 Khái niệm rửa tiền

Rửa tiền (“money laundering”) được hiểu một cách chung nhất là hành vi của

cá nhân hay tổ chức tìm cách hợp pháp hóa các khoản tiền có được từ hành vi phạm tội Khái niệm “rửa tiền” lần đầu tiên được định nghĩa trong Công ước của Liên hợp quốc về Chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần năm

1988 (Công ước Viên 1988), bao gồm các hành vi: “Chuyển hoán hoặc chuyển nhượng tài sản khi biết tài sản đó có nguồn gốc từ bất kỳ hành vi phạm tội nào, hoặc

từ việc tham gia vào hành vi tội phạm đó nhằm mục đích giấu giếm hoặc che đậy nguồn gốc phi pháp của tài sản, hoặc tiếp tay cho bất kỳ cá nhân nào có dính líu đến việc thực hiện hành vi tội phạm nói trên để tránh cho người đó phải chịu hậu quả pháp lý cho hành động của mình Giấu giếm hoặc che đậy bản chất thực, nguồn gốc, địa điểm, việc định đoạt, sự chuyển dịch, các quyền liên quan đến tài sản hoặc quyền sở hữu tài sản khi biết tài sản đó có được từ hành vi phạm tội”

Đến năm 1990, FATF đưa ra định nghĩa: “Rửa tiền là toàn bộ những hoạt động được tiến hành nhằm cố ý hợp thức hóa những khoản tiền, tài sản có nguồn gốc từ các hành vi phạm tội”

Theo Công ước Palermo về Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên hợp quốc năm 2000, “rửa tiền” là hành vi “Chuyển đổi hay chuyển nhượng tài sản, cho dù biết đó là tài sản do phạm tội mà có, nhằm che giấu hoặc ngụy trang nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản đó hoặc nhằm giúp đỡ bất kỳ ai có liên quan đến việc phạm tội để lẩn tránh trách nhiệm pháp lý do hành vi của người này mang lại; che giấu hoặc ngụy trang bản chất thực sự, nguồn gốc, địa điểm sự chuyển nhượng, sự vận chuyển hoặc sở hữu hoặc các quyền liên quan đến tài sản dù biết tài sản đó do phạm tội mà có; nhận, sở hữu hoặc sử dụng tài sản mà biết rằng tài sản đó

do phạm tội mà có; tham gia, phối hợp hoặc giúp sức, xúi giục, tạo điều kiện thuận

Trang 19

lợi và lập kế hoạch để thực hiện bất kỳ một tội nào tương ứng với quy định tại điều này khi biết rõ là tài sản do phạm tội buôn bán ma túy mà có”

Ở Việt Nam, Điều 4 Luật Phòng, chống rửa tiền số 07/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2012 quy định:

“1 Rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có, bao gồm:

a) Hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự;

b) Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có; c) Chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản.”

Điều 324 Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 quy định về “tội rửa tiền” như sau:

“1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có; b) Sử dụng tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết

là do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

c) Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó;

d) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối với tiền, tài sản biết là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có”

Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rửa tiền nhưng về bản chất,

“rửa tiền” là hành vi cố tình hợp pháp hóa các khoản thu nhập do phạm tội mà

Trang 20

có Hoạt động rửa tiền ngày càng tinh vi và khó nhận biết, nên cần nắm được những

đặc điểm của hoạt động rửa tiền để có biện pháp phòng, chống rửa tiền

1.1.1.2 Khái niệm tài trợ khủng bố

Khái niệm “khủng bố”: có khá nhiều định nghĩa khác nhau về khủng bố tùy thuộc vào điều kiện chính trị, tôn giáo và kinh tế của mỗi quốc gia nhưng nhìn chung, “khủng bố” là hành vi chủ ý, có tính toán tấn công, đe doạ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người dân, của một nhóm người hoặc một cá nhân cụ thể và các mục tiêu dân sự khác gây hoảng loạn trong cộng đồng dân cư nhằm đạt được mục đích chính trị (ép buộc chính phủ, tổ chức, cá nhân hành động hoặc không được thực hiện hành động nào đó vì lí do tôn giáo; tư tưởng hoặc các lý do khác…) do các cá nhân hoặc tổ chức tội phạm thực hiện Hoạt động này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến từng cá nhân mà còn phương hại tới an ninh trên tầm quốc gia, khu vực và trên cả bình diện quốc tế

Khái niệm“tài trợ cho khủng bố”: Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa về “tài trợ khủng bố” và được chấp nhận ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, cụ thể như sau:

- Liên hợp quốc đã thông qua Công ước quốc tế về chống tài trợ cho khủng bố (năm 1999) trong đó quy định: “Người bị coi là phạm tội theo Công ước này nếu cung cấp hoặc huy động tiền bạc dưới bất kỳ hình thức nào, trực tiếp hoặc gián tiếp, bất hợp pháp và cố ý với mục đích hoặc biết là một phần hoặc toàn bộ tiền bạc đó sẽ được sử dụng nhằm thực hiện:

(a) Hành vi cấu thành một tội trong phạm vi và được định nghĩa trong một trong các điều ước quốc tế liệt kê trong phụ lục, hoặc:

(b) Hành vi khác với ý định giết hại hoặc làm bị thương nặng cho thường dân hoặc người khác không tham gia tích cực vào hoạt động thù địch trong trường hợp

có xung đột vũ trang khi xét về bản chất hoặc hoàn cảnh xẩy ra thì hành vi đó có mục đích khủng bố dân cư hoặc ép buộc một chính phủ hoặc một tổ chức quốc tế làm hoặc không làm một việc gì

Một hành vi được coi là cấu thành một tội nêu tại Khoản 1 kể cả trong trường hợp khoản tiền liên quan thực tế chưa được sử dụng để thực hiện một tội nêu tại điểm a hoặc điểm b khoản 1”

Trang 21

- Tuy nhiên, không phải tất cả các nước trên thế giới đã thông qua Công ước này đều nhất trí về những hành vi cấu thành tội khủng bố, do có sự khác biệt lớn về quan điểm chính trị, tôn giáo giữa các nước FATF cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể về thuật ngữ “tài trợ khủng bố” trong chín khuyến nghị đặc biệt về chống tài trợ cho khủng bố, tuy nhiên FATF luôn cố gắng thuyết phục các đơn vị thông qua và thực hiện Công ước quốc tế về chống tài trợ cho khủng bố, do đó định nghĩa nêu trên được hầu hết các nước chấp thuận

- Ở Việt Nam, Điều 3 Luật Phòng, chống khủng bố số 28/2013/QH13 ngày 12/6/2013 quy định:

“1 Khủng bố là một, một số hoặc tất cả hành vi sau đây của tổ chức, cá nhân nhằm chống chính quyền nhân dân, ép buộc chính quyền nhân dân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc gây ra tình trạng hoảng loạn trong công chúng:

a) Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, uy hiếp tinh thần của người khác;

b) Chiếm giữ, làm hư hại, phá hủy hoặc đe dọa phá hủy tài sản; tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

c) Hướng dẫn chế tạo, sản xuất, sử dụng hoặc chế tạo, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán vũ khí, vật liệu nổ, chất phóng xạ, chất độc, chất cháy và các công

cụ, phương tiện khác nhằm phục vụ cho việc thực hiện hành vi quy định tại điểm a

và điểm b khoản 1 Điều này;

d) Tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục, cưỡng bức, thuê mướn hoặc tạo điều kiện, giúp sức cho việc thực hiện hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này;

đ) Thành lập, tham gia tổ chức, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện đối tượng nhằm thực hiện hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

e) Các hành vi khác được coi là khủng bố theo quy định của điều ước quốc tế

về phòng, chống khủng bố mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Trang 22

2 Tài trợ khủng bố là hành vi huy động, hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho tổ chức, cá nhân khủng bố

3 Phòng, chống khủng bố bao gồm các hoạt động phòng ngừa khủng bố, phòng ngừa tài trợ khủng bố, chống khủng bố và chống tài trợ khủng bố”

Đồng thời, theo quy định tại Điều 300 – Bộ luật hình sự năm 2015, tội “tài trợ khủng bố” được quy định như sau:

“1 Người nào huy động, hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho tổ chức, cá nhân khủng bố, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

2 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

3 Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, về cơ bản, “tài trợ khủng bố” là hành vi huy động, hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho tổ chức, cá nhân khủng bố Thuật ngữ này có

thể mang hàm ý chính trị, tôn giáo ở các quốc gia khác nhau

1.1.2 So sánh “rửa tiền” và “tài trợ khủng bố”

1.1.2.1 Điểm giống nhau

Thứ nhất, điểm giống nhau giữa “rửa tiền” và “tài trợ khủng bố” là cách thức giao dịch giống nhau và phần lớn đều có thủ đoạn che đậy Những kẻ rửa tiền sẽ gửi tiền có nguồn gốc tội phạm qua các kênh hợp pháp để che giấu nguồn gốc phạm tội của chúng, còn những kẻ tài trợ cho khủng bố thì chuyển tiền với nguồn gốc có thể

là hợp pháp hoặc bất hợp pháp để che đậy nguồn gốc và mục đích sử dụng cuối cùng của số tiền này: hỗ trợ cho khủng bố Khi các đồng tiền đã được rửa sạch thì những kẻ phạm tội này thu được lợi từ hành động của chúng, được “thưởng” vì đã ngụy trang được nguồn gốc của những đồng tiền phi pháp, hoặc che đậy được sự hỗ trợ về tài chính cho âm mưu tấn công khủng bố Do đó, việc xác định mục đích được che đậy của việc chuyển tiền là rất quan trọng, nếu không kịp thời phát hiện

có thể gây rủi ro cho ngân hàng và nguy hại cho cả một quốc gia Ví dụ, các cuộc điều tra đã cho thấy hầu hết các khoản tiền cho hoạt động khủng bố tại Mỹ ngày 11/9 là những khoản tiền nhỏ hơn 10.000 đô la Mỹ và được che đậy dưới hình thức các giao dịch chuyển tiền thông thường, người thụ hưởng là sinh viên du học tại

Mỹ, giao dịch được coi là bình thường và không cần thiết phải điều tra kỹ (Trịnh

Trang 23

Thanh Huyền, Nguyễn Thị Mai, Ngăn chặn rửa tiền và tài trợ khủng bố, Tạp chí

Bảng 1.1: Nguồn tài chính của tội phạm khủng bố Nguồn hợp pháp Nguồn bất hợp pháp

Doanh nghiệp hợp pháp Buôn lậu ma túy và các chất hướng thần

Tổ chức phi chính phủ Bắt cóc tống tiền

Hỗ trợ từ chính phủ Lừa đảo

Hỗ trợ từ các chủ thể giàu có Đánh bạc, tổ chức đánh bạc

Đóng góp từ người tự nguyện Buôn lậu hàng giả, hàng cấm…

Doanh thu sách báo và ấn phẩm…

(Nguồn: Trịnh Thanh Huyền, Nguyễn Thị Mai, Ngăn chặn rửa tiền và tài trợ khủng

bố, Tạp chí Tài chính, tháng 04/2015)

b) Về mục đích chuyển tiền: các đối tượng tài trợ khủng bố chuyển tiền với mục đích cuối cùng là để hỗ trợ cho các hoạt động khủng bố, trong khi hoạt động rửa tiền ban đầu có thể chỉ nhằm mục đích hợp pháp hóa nguồn tiền có nguồn gốc tội phạm Trong nhiều trường hợp số tiền có được từ hoạt động rửa tiền vẫn có thể

Trang 24

được dùng vào các hoạt động tài trợ cho khủng bố trong tương lai Chính vì mối quan hệ có liên quan đến nhau này nên hoạt động tài trợ khủng bố từng được nhắc tới như là “rửa tiền ngược” (reverse money laundering), bởi mục đích của hoạt động

“rửa tiền” là tìm cách hợp pháp hóa khoản tiền có nguồn gốc phi pháp trong khi mục đích của hoạt động “tài trợ khủng bố” là sử dụng tiền có nguồn gốc hợp pháp vào hoạt động phi pháp (DeltaNet International, 2018)

1.1.3 Quy trình và phương thức rửa tiền

Sơ đồ 1.1: Quy trình rửa tiền

(Nguồn: FATF, tại địa chỉ https://www.fatf-gafi.org/faq/moneylaundering/)

1.1.3.1 Quy trình rửa tiền

Giai đoạn Sắp xếp- Đưa “tiền bẩn” vào hệ thống tài chính

Đây là giai đoạn đầu tiên trong quy trình rửa tiền, tội phạm đưa tiền bất hợp pháp vào hệ thống tài chính Việc này có thể được thực hiện bằng cách gửi tiền vào các tài khoản ngân hàng hoặc dùng tiền mặt để mua chứng khoán, hợp đồng bảo hiểm Để tránh sự chú ý và nghi ngờ của nhân viên ngân hàng, các khoản tiền mặt lớn có thể được chia thành các khoản tiền nhỏ hơn và được gửi dần vào các chi nhánh khác nhau của các ngân hàng Việc đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác hoặc đổi từ mệnh giá nhỏ sang mệnh giá lớn cũng có thể được thực hiện trong giai đoạn này Ngoài ra, tiền bất hợp pháp có thể được chuyển thành các công cụ tài chính như hối phiếu, séc, lệnh chuyển tiền hoặc cũng có thể được trộn lẫn với các khoản tiền hợp pháp đem gửi ngân hàng để đánh lạc hướng hoặc giảm sự chú ý Giai đoạn đầu tiên được đánh giá là có khả năng phát hiện ra các giao dịch liên quan đến rửa tiền là cao nhất vì theo quy định, các định chế tài chính phải thực hiện việc ghi chép, hạch toán các giao dịch phát sinh và lưu giữ hồ sơ tài liệu liên quan đến các giao dịch trong một thời gian nhất định Việc này giúp dựng lại các giao

Sắp xếp (Placement )

Trang 25

dịch tài chính để phân tích, phát hiện ra các giao dịch bất thường, không phù hợp với bản chất kinh doanh của khách hàng và giúp cơ quan điều tra có được chứng cứ

để chứng minh các khoản tiền đó có nguồn gốc từ hoạt động bất hợp pháp

Giai đoạn Phân tán- Chuyển đổi các khoản tiền bất hợp pháp

Các khoản tiền, chứng khoán hoặc hợp đồng bảo hiểm được chuyển sang các

tổ chức khác nhằm tiếp tục tách chúng khỏi nguồn gốc phạm tội Các khoản tiền có thể được tiếp tục chuyển đến những tài khoản khác nhau ở các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau; chuyển từ định chế tài chính này sang định chế tài chính khác để che giấu nguồn gốc và chủ sở hữu thực sự của khoản tiền đó Về bản chất, đây là quy trình tạo ra một chuỗi các giao dịch để tách các khoản tiền có được do phạm tội ra khỏi nguồn gốc ban đầu của chúng để tránh bị lực lượng thực thi pháp luật phát hiện

Giai đoạn Quy tụ- Dùng tiền đã được rửa vào đầu tư hợp pháp

Đây là giai đoạn cuối cùng của quy trình rửa tiền, là lúc tội phạm sử dụng tiền, tài sản đã được “rửa” để đầu tư một cách hợp pháp vào hoạt động sản xuất kinh doanh dưới các hình thức như: góp vốn vào doanh nghiệp, mua cổ phiếu, bất động sản, hoặc mua hàng hóa xa xỉ để phục vụ tiêu cùng cá nhân Đây là giai đoạn khó khăn để có thể xác định hành vi cấu thành tội phạm

Quy trình rửa tiền về cơ bản có ba giai đoạn nêu trên, tuy nhiên không phải vụ việc rửa tiền nào cũng có đủ ba giai đoạn Ba giai đoạn này có thể xảy ra riêng rẽ, nhưng trong nhiều vụ việc chúng xảy ra đồng thời, từng giai đoạn được sử dụng phụ thuộc vào phương thức, thủ đoạn mà tội phạm lựa chọn thực hiện

1.1.3.2 Phương thức rửa tiền

Các thủ đoạn rửa tiền rất phong phú và đa dạng, thông qua thị trường chứng khoán, bảo hiểm, vàng… song đều có đặc điểm chung là tận dụng những khe hở trong hệ thống pháp luật mỗi nước, nhất là pháp luật về tài chính ngân hàng Các phương thức, thủ đoạn rửa tiền chủ yếu là:

Trang 26

Sơ đồ 1.2: Các phương thức rửa tiền

(Nguồn: FATF, tại địa chỉ https://www.fatf-gafi.org/ )

- Rửa tiền qua đầu tư nước ngoài: Lợi dụng việc pháp luật đầu tư nước ngoài của các nước đang phát triển ngày càng thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, các tội phạm đã thực hiện hành vi rửa tiền thông qua một số hình thức như: mua bất động sản, mua nhà máy, thành lập doanh nghiệp mới…

- Rửa tiền qua các hợp đồng bảo hiểm: Thông qua việc sử dụng tiền mua các hợp đồng bảo hiểm, các đối tượng đã che giấu được nguồn gốc của tiền bẩn vì các định chế tài chính thường không chú ý đến các khoản thanh toán có nguồn gốc từ công ty bảo hiểm (thường trả qua đại lý, người môi giới… là những đối tượng không hoạt động dưới sự giám sát trực tiếp của các công ty bảo hiểm); hoặc dưới hình thức: người thụ hưởng bảo hiểm có thể không phải là người bảo hiểm, mà là các đối tượng có liên quan của tội phạm rửa tiền

- Rửa tiền qua đầu tư chứng khoán: Thị trường chứng khoán toàn cầu là kênh đầu tư hấp dẫn đối với các tội phạm rửa tiền do đặc điểm: giao dịch được thực hiện

dễ dàng, không ngăn cản giao dịch khối lượng lớn, không ngăn cản về biên giới…Sau một thời gian mua vào các cổ phiếu, tội phạm sẽ bán ra để chốt lời, hoặc thậm chí bán với giá thấp hơn giá mua vào, miễn là che giấu được nguồn gốc của tiền bất hợp pháp

- Rửa tiền tại các sòng bạc, trò chơi giải trí có thưởng: Do người chơi tại các sòng bạc không dùng tiền thật mà dùng thẻ để chơi (đổi tiền thật lấy thẻ), tội phạm rửa tiền sẽ dùng tiền mặt mua một số lượng lớn các loại thẻ nhưng chỉ đánh bạc

Đầu tư nước ngoài Hợp đồng bảo hiểm Đầu tư chứng khoán Sòng bạc, trò chơi Công ty bình phong

Hệ thống ngân hàng

Trang 27

hoặc đặt cược một số tiền không đáng kể, sau đó trả lại thẻ và nhận lại tiền mặt hoặc séc

- Rửa tiền qua công ty bình phong (shell company): Tội phạm rửa tiền lập ra các công ty vỏ bọc (công ty ma) bằng cách nhờ người đứng tên, ký kết các hợp đồng không có thật, xuất hóa đơn khống để phục vụ các mục đích rửa tiền, trốn thuế, buôn lậu…

- Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng: Ngân hàng là kênh thường xuyên được sử dụng nhất của tội phạm rửa tiền Tội phạm thường tìm cách chuyển tiền lòng vòng

để che giấu nguồn gốc của tiền, hoặc lợi dụng các phương thức thanh toán như: nhờ thu, ứng trước, bảo lãnh , đặc biệt ở các nước mà quy định về phòng chống rửa tiền còn chưa đầy đủ, chặt chẽ

1.1.4 Quy trình và phương thức tài trợ khủng bố

Những kẻ khủng bố có thể kiếm tiền bằng một loạt các hoạt động phi pháp như: bắt cóc đòi tiền chuộc, cướp, buôn bán ma túy và kim cương giả Ví dụ như, những kẻ khủng bố ở các nước Hồi giáo như Iraq và Levante (ISIL) đã kiếm tiềm từ bốn nguồn: kiểm soát trữ lượng dầu, bắt cóc đòi tiền chuộc, nhận tài trợ từ các nhà hảo tâm ở nước ngoài và buôn bán cổ vật Nhóm nổi dậy Hồi giáo tại Somalia là Al Shabaab có được nguồn tài trợ từ việc buôn lậu ngà voi, xuất khẩu than bất hợp pháp và buôn lậu đường Nhóm khủng bố ở Tây Phi là Boko Haram được tài trợ bởi các nguồn: hoạt động quyên góp từ thiện của các nhà tài trợ tư nhân, buôn bán hàng hóa và các hoạt động sinh lợi khác, nhận đóng góp từ các thành, tống tiền thường

dân bằng cách đe dọa, buôn lậu vũ khí…(Nicholas Ryder, Written evidence, 2018)

Để ngăn ngừa và tăng khả năng phát hiện các vụ khủng bố, việc hình dung ra các bước trong quy trình tài trợ tiền cho khủng bố dể kịp thời đưa ra biện pháp ngăn chặn là vô cùng cần thiết Xét về bản chất, một quy trình tài trợ cho khủng bố cũng bao gồm ba bước chính tương tự như quy trình rửa tiền (Sắp xếp – Phân tán – Quy tụ), tuy nhiên cũng có thể chia thành các bước nhỏ hơn (Tạo nguồn tiền – Chuyển tiền – Giữ tiền – Sử dụng tiền).Có thể minh hoạ mối quan hệ giữa các bước trong quy trình qua sơ đồ sau đây:

Trang 28

Sơ đồ 1.3: Quy trình tài trợ cho khủng bố

(Nguồn: Dennis M Lormel, tại địa chỉ financing-visualizing-funding-flows/ ,2018)

https://www.acamstoday.org/terrorist-Bước 1: Tạo nguồn tiền (Raise): Như đã phân tích ở Bảng 01, tiền tài trợ cho

khủng bố có thể tạo ra từ nguồn hợp pháp hoặc bất hợp pháp Nguồn tài trợ hợp pháp bao gồm tiền ủng hộ của các cá nhân hoặc tiền từ các doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp; trong khi nguồn tài trợ bất hợp pháp bao gồm các hoạt động tội phạm từ trộm cắp, buôn lậu, buôn bán ma túy, bắt cóc tống tiền, trốn thuế…

Bước 2: Chuyển tiền bằng các cách thức khác nhau (Move): Những kẻ khủng

bố có thể chuyển tiền sử dụng cả hệ thống tài chính chính thức và không chính thức

để đảm bảo luôn có đủ dòng tiền duy trì hoạt động của chúng Bước này bao gồm các phương thức khác nhau như: (i) Sử dụng tiền mặt với số lượng lớn; sử dụng tiền vào buôn bán hoặc trao đổi hàng hóa; đổi tiền…; (ii) Sử dụng hệ thống chuyển tiền ngầm “hawala” hoặc các kênh chuyển tiền bất hợp pháp khác; đồng thời sử dụng dịch vụ của các tổ chức tài chính hợp pháp (bao gồm ngân hàng, đại lý chuyển tiền

và các doanh nghiệp được phép kinh doanh tiền tệ) với các hình thức: chuyển khoản thanh toán; sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các loại thẻ có giá trị khác, sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử (internet banking và mobile banking), sử dụng tiền ảo;

Trang 29

(iii) Sửdụng các phương tiện khác để phục vụ cho hoạt động của các công ty vỏ bọc (công ty bình phong) hoặc tổ chức từ thiện hay các loại hình doanh nghiệp khác…

Bước 3:Giữ tiền ở 3 kênh khác nhau (Store): Dòng tiền tài trợ cho khủng bố

sau khi đi qua hệ thống tài chính sẽ chuyển vào 3 kênh giữ tiền chủ yếu như sau (Dennis M Lormel, 2018):

- Kênh giữ tiền thứ nhất là chuyểnthẳng tiền vào trụ sở chính của một tổ chức khủng bố Số tiền này có thể dao động từ $ 25 đến hàng triệu đô la, vì để duy trì một

tổ chức khủng bố đòi hỏi một lượng tiền tương đối lớn

- Kênh giữ tiền thứ hai là chuyển tiền từ một tổ chức khủng bố đến tài trợ cho một hoạt động cụ thể phục vụ cho mục đích khủng bố Số tiền này thường dao động

từ vài nghìn đô la đến hàng nghìn đô la

- Kênh giữ tiền thứ ba là chuyển tiền từ một tổ chức khủng bố đến một cá nhân, hợp tác xã hoặc nhóm liên kết để phục vụ cho mục đích khủng bố Số tiền này thường dao động từ hàng trăm đến hàng nghìn đô la

Trong thực tế, có thể có rất nhiều biến thể của các kênh chuyển tiền chính nói trên Vấn đề khó khăn là tìm cách để xác định điểm xuất phát ban đầu và điểm đến cuối cùng của số tiền tài trợ cho khủng bố

Bước 4: Sử dụng tiền (Spend): Cuối cùng, tiền sau khi đã chuyển đến các kênh

giữ tiền sẽ được sử dụng vào các mục đích khủng bố đã xác định trước theo kế hoạch Việc hiểu và tìm cáchxác định ba luồng chuyển tiền chính cũng như điểm đến cuối cùng của dòng tiền sẽ làm tăng khả năng phát hiện các vụ khủng bố, làm chậm hoặc ngăn chặn quá trình thực hiện kế hoạch khủng bố

Với đặc điểm nói trên, các tổ chức tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện các nguồn tiền phục vụ khủng bố Hệ thống pháp luật về phòng, chống rửa tiền và TTKB cần phải xây dựng trên cơ sở xem xét các cách thức, thủ đoạn rửa tiền và TTKB khác nhau để kịp thời ngăn ngừa khả năng rửa tiền và chuyển tiền tài trợ khủng bố, đặc biệt là khi số tiền này được đi qua hệ thống tài chính chính thức Do về bản chất hoạt động “rửa tiền”, “tài trợ khủng bố” hay “rửa tiền ngược” đều có những phương thức, thủ đoạn tương tự như nhau (đã phân tích ở trên), nên hệ thống pháp luật ở các quốc gia trên thế giới đều quy định chung cho cả

Trang 30

hai hoạt động “rửa tiền” và “tài trợ khủng bố” Đây là hai vấn đề có liên quan mật thiết và luôn tồn tại song hành cùng nhau trong cuộc chiến chống tội phạm tài chính

ở bất cứ quốc gia nào Trên cơ sở đó, các văn bản pháp luật mà luận văn chọn phân tích ở chương 2 và chương 3 cũng đều quy định chung cho cả hai vấn đề phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố

1.1.5 Tác động của rửa tiền và TTKB đến nền kinh tế

Rửa tiền và TTKB có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào, nhưng chúng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với các nước đang phát triển bởi những quốc gia này có hệ thống tài chính yếu ớt và dễ bị tổn thương Theo Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế (2007), một số tác động nghiêm trọng của rửa tiền và TTKB có thể kể đến như sau:

1.1.5.1 Làm tăng tội phạm và tham nhũng

Việc rửa tiền thành công sẽ giúp cho tội phạm nhận được tiền thưởng, do đó quốc gia nào là nơi ẩn náu cho hoạt động rửa tiền thì nơi đó có nhiều khả năng tồn tại nhiều tội phạm Các quốc gia đó thường có đặc điểm: hệ thống pháp luật về PCRT & TTKB yếu kém, một số loại hình tài chính chưa được điều chỉnh bởi khuôn khổ pháp luật về PCRT & TTKB, ít tuân theo hoặc tuân thủ không đầy đủ các khuyến nghị về PCRT & TTKB, các chế tài xử phạt không hiệu quả hoặc gây khó khăn trong việc áp dụng Đồng thời, nước nào cóhoạt động rửa tiền phổ biến thì

sẽ làm gia tăng tình trạng tham nhũng ở nước đó Một số cơ quan, bộ phận rất dễ nhận hối lộ để bỏ lọt tội phạm rửa tiền như: nhân viên và cán bộ quản lý các tổ chức tài chính, luật sư, tòa án và các cơ quan pháp luật, cơ quan giám sát, cảnh sát

1.1.5.2 Ảnh hưởng tới quá trình hợp tác quốc tế và đầu tư nước ngoài

Các tổ chức tài chính nước ngoài có thể hạn chế giao dịch với những tổ chức

là nơi ẩn náu cho tội phạm rửa tiền; hoặc những giao dịch đó phải chịu sự kiểm soát gắt gao hơn, từ đó làm gia tăng chi phí Ngược lại, với những quốc gia nổi tiếng trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn PCRT& TTKB sẽ thu hút đầu tư nước ngoài cao hơn Trên thực tế FATF đã đưa ra một danh sách các quốc gia không tuân thủ các yêu cầu về PCRT & TTKB, các quốc gia này sẽ phải chịu tác động tiêu cực đối với việc hợp tác quốc tế

Trang 31

1.1.5.3 Làm suy yếu các tổ chức tài chính

Rửa tiền và TTKB có thể gây nguy hại đối với khu vực tài chính của một đất nước, từ ngân hàng đến các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, các hãng quản lý đầu tư… Các tổ chức này phải chịu một số rủi ro như: mất đi hoạt động kinh doanh sinh lợi, cắt đứt quan hệ với các ngân hàng đại lý, tốn thêm chi phí điều tra và chi phí nộp phạt, bị thu giữ tài sản, tổn thất do không thu hồi được nợ, và quan trọng là sự sụt giảm giá trị cổ phiếu và mất uy tín dẫn đến rủi ro thanh khoản khi khách hàng rút tiền gửi hàng loạt

Rủi ro về uy tín là rủi ro nghiêm trọng nhất, khi tổ chức tài chính bị cho là có liên quan đến hoạt động rửa tiền, khách hàng, các nhà đầu tư sẽ ngừng hợp tác với ngân hàng, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả kinh doanh và mọi mặt hoạt động của ngân hàng đó Bên cạnh đó, các khoản tiền lớn sau khi được rửa thường được rút ra một cách bất ngờ khiến ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng

Rủi ro pháp lý cũng tiềm ẩn do những vụ kiện, phán quyết bất lợi của toàn án,

từ đó gây ra việc gia tăng chi phí từ tiền phạt và các hình phạt khác Tất cả các rủi

ro đều có thể khiến ngân hàng dẫn đến rủi ro cuối cùng là rủi ro phá sản Do đó, các thủ tục về nhận biết khách hàng và nhận biết chủ sở hữu hưởng lợi của một tài khoản là vô cùng quan trọng, giúp bảo vệ ngân hàng trước các mối quan hệ kinh doanh với những nhân vật hư cấu hoặc các công ty trá hình của những kẻ rửa tiền

và khủng bố Các thủ tục về chú ý xác đáng cũng giúp ngân hàng hiểu rõ bản chất của hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của khách hàng

1.1.5.4 Làm tổn thương nền kinh tế và khu vực tư nhân

Tội phạm rửa tiền rất hay sử dụng “công ty bình phong” (hoặc “công ty vỏ bọc”)- là những doanh nghiệp có vẻ bề ngoài hợp pháp và tham gia vào hoạt động kinh doanh hợp pháp nhưng trên thực tế do tội phạm kiểm soát Các công ty này hòa trộn các nguồn tiền phi pháp và hợp pháp để che giấu những khoản tiền phi pháp Do có thêm nguồn tiền phi pháp nên chúng có khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thấp hơn giá trị trường, do vậy các doanh nghiệp lành mạnh sẽ khó

Trang 32

cạnh tranh với chúng, khi mục đích cao nhất của chúng là bảo vệ những khoản tiền bất hợp pháp chứ không nhằm tạo ra nhiều lợi nhuận

Trên thực tế, với việc duy trì hoạt động của các công ty bình phong và dùng tiền để đầu tư vào các công ty hợp pháp, các khoản tiền thu được có thể được dùng

để kiểm soát nhiều ngành hoặc khu vực kinh tế ở một số nước Điều này làm gia tăng sự bất ổn định của nền kinh tế, đồng thời tạo ra cơ chế để trốn thuế, làm cạn kiệt nguồn thu của đất nước

Cuối cùng, tội phạm rửa tiền là mối đe dọa đối với những nỗ lực cải tổ nền kinh tế thông qua việc tư nhân hóa của nhiều quốc gia Những tổ chức của tội phạm

có thể trả giá cao hơn trong các phiên đấu thầu cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước Khi đầu tư theo cách này, những khoản tiền bất chính sẽ được hợp thức hóa

và tội phạm sẽ tăng khả năng thực hiện các hoạt động phạm tội hơn, dẫn đến tham nhũng nhiều hơn

1.2.CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ KHỦNG BỐ

Rửa tiền và tài trợ khủng bố là vấn nạn toàn cầu Rửa tiền và tài trợ khủng bố

đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế thế giới, do đó cần sự chung tay của tất cả các quốc gia để hợp tác giải quyết Các quốc gia trên thế giới đã cùng nhau thành lập các tổ chức và đưa ra các quy định chung nhất về phòng chống rửa tiền Tiêu biểu có thể kể đến các quy định quốc tế về phòng chống rửa tiền của Liên hợp quốc, Lực lượng đặc nhiệm tài chính về phòng chống rửa tiền (FATF), Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng và một số tổ chức quốc tế khác, cụ thể như sau:

1.2.1 Quy định về PCRT và TTKB của Liên hợp quốc

Liên hợp quốc là tổ chức quốc tế đầu tiên hành động vì mục tiêu phòng chống rửa tiền trên phạm vi toàn cầu, với khả năng thông qua công ước quốc tế có hiệu lực như hệ thống pháp luật của bất cứ quốc gia nào đã tham gia ký cam kết, bao gồm: Công ước Viên (1988) với sự tham gia ký kết của 169 quốc gia: đề cập đến điều khoản chống buôn bán ma túy bất hợp pháp và khái niệm “rửa tiền”, tuy nhiên công ướ10c chưa đề cập đến các khía cạnh cụ thể trong việc phòng chống rửa tiền Công ước Palermo (2000) với sự tham gia ký kết của 147 quốc gia: bao gồm nhiều điều khoản về chống tội phạm có tổ chức và bắt buộc các nước phải: Hình sự hóa tội rửa tiền, quy định tất cả các tội nghiêm trọng là tội phạm nguồn của tội rửa tiền

Trang 33

(bất kể phạm tội ở trong nước hay nước ngoài); Xây dựng các biện pháp phòng ngừa và phát hiện mọi hành vi rửa tiền (nhận diện khách hàng, lưu giữ hồ sơ, báo cáo giao dịch đáng ngờ…); Tăng cường hợp tác và trao đổi thông tin giữa các cơ quan pháp luật và các cơ quan khác ở trong nước và quốc tế, xem xét việc thành lập một đơn vị tình báo tài chính để thu thập và phổ biến thông tin tội phạm

Chương trình toàn cầu về chống rửa tiền (Global Program Against Money Laundering) là dự án nghiên cứu của Liên hợp quốc với mục tiêu tăng cường hiệu quả phòng chống rửa tiền thông qua việc: tăng cường nhận thức về phòng chống rửa tiền cho các thành viên Liên hợp quốc; trợ giúp về mặt pháp lý cho các quốc gia trong công tác phòng chống rửa tiền; thiết lập đơn vị tình báo tài chính; đào tạo về phòng chống rửa tiền; duy trì cơ sở dữ liệu thông tin về phòng chống rửa tiền

1.2.2 Quy định về PCRT và TTKB của lực lượng đặc nhiệm tài chính FATF

Lực lượng đặc nhiệm tài chính về phòng chống rửa tiền (Financial Action Task Force- FATF) là một cơ quan liên chính phủ được thành lập năm 1989 bởi Hội nghị thượng đỉnh các nước G7 tổ chức tại Paris, Pháp Nhận thức được mối đe dọa đối với hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính, Ủy ban châu Âu đã thành lập FATF từ các quốc gia thành viên G7, Ủy ban châu Âu và tám quốc gia khác với mục tiêu thiết lập các tiêu chuẩn và thúc đẩy việc thực hiện có hiệu quả khuôn khổ pháp lý trong hoạt động chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và các mối đe dọa khác liên quan đến hệ thống tài chính quốc tế Đến nay FATF đã có sự tham gia của 37 quốc gia thành viên và 2 tổ chức khu vực

Vào tháng 4 năm 1990, chưa đầy một năm sau khi thành lập, FATF đã ban hành một báo cáo có chứa một bộ gồm “Bốn mươi khuyến nghị” nhằm cung cấp một kế hoạch hành động toàn diện để phòng chống rửa tiền Tháng 10 năm 2004 FATF đã bổ sung thêm “Chín khuyến nghị đặc biệt” nhằm tăng cường các tiêu chuẩn quốc tế trong công tác chống rửa tiền vàtài trợ khủng bố Tháng 12 năm

2012, FATF đã tiến hành rà soát kỹ lưỡng và công bố các tiêu chuẩn trong bộ “Bốn mươi cộng chín khuyến nghị” với nội dung chính như sau:

Từ khuyến nghị 1 đến 3 quy định hệ thống pháp lý chung, gồm phạm vi của tội rửa tiền, các biện pháp tạm thời và tịch thu tài sản Từ khuyến nghị 4 đến 25 đưa racác biện pháp nhằm ngăn ngừa hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố của các định

Trang 34

chế tài chính như: cập nhật, theo dõi thông tin về khách hàng và lưu trữ hồ sơ; báo cáo các giao dịch đáng ngờ; các biện pháp ngăn chặn rửa tiền và tài trợ khủng bố; các biện pháp đối với các quốc gia không tuân thủ các khuyến nghị; cácbiện pháp quản lý và giám sát Từ khuyến nghị 26 đến 34 đưa racác biện pháp khác để chống rửa tiền và tài trợ khủng bố của các cơ quan có thẩm quyền Từ khuyến nghị 35 đến

40 đưa racác điều khoản về hợp tác quốc tế và các hình thức hỗ trợ pháp lý đa phương Chín khuyến nghị đặc biệt gồm: Phê chuẩn và thực hiện các văn kiện của Liên hợp quốc; Hình sự hóa hành vi tài trợ khủng bố và rửa tiền; Phong tỏa và tịch thu tài sản của các đối tượng khủng bố; Báo cáo giao dịch đáng ngờ liên quan đến khủngbố; Hợp tác quốc tế; Chuyển tiền thay thế; Chuyển tiền điện tử; Các tổ chức phi lợi nhuận; Vận chuyển tiền mặt qua biên giới

1.2.3 Quy định về PCRT và TTKB của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng

Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng được thành lập năm 1974 bởi Thống đốc Ngân hàng trung ương của nhóm 10 nước Hiện nay, các thành viên của Ủy ban gồm đại diện ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý Ủy ban được nhóm họp 4 lần trong một năm.Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Basel, gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên Ủy ban Basel xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát, khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên.Trong

số các tiêu chuẩn của Ủy ban Basel có ba tiêu chuẩn liên quan đến vấn đề rửa tiền:

1.2.3.1 Bản tuyên bố các nguyên tắc về rửa tiền

Ủy ban Basel đã ban hành tuyên bố các nguyên tắc ngăn ngừa rửa tiền, đưa ra các thủ tục cơ bản mà ban giám đốc ngân hàng cần bảo đảm có sẵn trong tổ chức của mình để chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Tuyên bố này coi hàng rào phòng chống rửa tiền đầu tiên và quan trọng nhất là “tính liêm chính của chính ban quản lý ngân hàng và sự quyết tâm ngăn không cho tổ chức của mình dính líu vào tội phạm hoặc bị sử dụng như một kênh rửa tiền” Về cơ bản có 4 nguyên tắc đưa ra

Trang 35

trong tuyên bố này là: Nhận dạng khách hàng đúng cách; Tiêu chuẩn đạo đức cao

và tuân thủ luật pháp;Hợp tác với các cơ quan thi hành pháp luật;Các chính sách và thủ tục để bảo đảm tuân thủ bản tuyên bố này Ngoài ra, các ngân hàng cần đảm bảo rằng tất cả các cán bộ, nhân viên đều nhận thức được các chính sách này của ngân hàng và đều được tập huấn cẩn thận về các chính sách này

1.2.3.2 Các nguyên tắc cốt lõi dành cho ngân hàng

Ủy ban Basel đã ban hành bộ 25 nguyên tắc cốt lõi để giám sát ngân hàng hiệu quả, trong đó có nguyên tắc số 15 là xử lý vấn đề rửa tiền: “Các giám sát viên ngành ngân hàng phải đảm bảo rằng các ngân hàng có sẵn những chính sách, phương pháp và thủ tục thích hợp, bao gồm các quy tắc nghiêm ngặt về hiểu biết khách hàng của mình nhằm thúc đẩy các tiêu chuẩn và đạo đức nghề nghiệp cao trong khu vực tài chính và ngăn ngừa việc ngân hàng bị các phần tử phạm tội lợi dụng một cách vô ý hay cố ý” Bên cạnh đó, Ủy ban Basel còn ban hành Phương pháp cho các nguyên tắc cốt lõi bao gồm 11 tiêu chí cụ thể và 5 tiêu chí bổ sung để

hỗ trợ cho việc đánh giá tính phù hợp của các chính sách và thủ tục nhận biết khách hàng

1.2.3.3 Chú ý xác đáng tới khách hàng

Năm 2001 Ủy ban Basel ban hành một tài liệu về các nguyên tắc nhận biết khách hàng có tên “Sự chú ý xác đáng tới khách hàng của ngân hàng” nhằm khắc phục những tồn tại trong vấn đề nhận biết khách hàng, bảo vệ sự an toàn và lành mạnh của các ngân hàng, ủng hộ mạnh mẽ việc thực hiện các khuyến nghị của FATF

1.2.4 Quy định về PCRT và TTKB của một số tổ chức quốc tế khác

Do những quan ngại ngày càng gia tăng đối với các hoạt động rửa tiền và khủng bố, cộng đồng quốc tế đã hành động trên nhiều mặt trận Nhiều tổ chức quốc

tế khác cũng ban hành các quy định về PCRT và TTKB như:

- Hiệp hội quốc tế các giám sát viên bảo hiểm (IAIS) là hiệp hội thành lập năm

1994 của các giám sát viên ngân hàng đến từ hơn 100 nước và vùng lãnh thổ, đã ban hành Tài liệu hướng dẫn số 5 (năm 2002): “Những điểm hướng dẫn về chống rửa tiền dành cho các giám sát viên và các tổ chức bảo hiểm” về vấn đề chống rửa

Trang 36

tiền trong ngành bảo hiểm Các hướng dẫn này cũng tương đương với 4 nguyên tắc của Uy ban Basel và 40 khuyến nghị của FATF

- Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (IOSCO) là một tổ chức của các ủy viên hội đồng và các nhà quản lý chứng khoán với nhiệm vụ quản lý chứng khoán trong đất nước của họ, đến từ 105 nước, đã thông qua “Nghị quyết về rửa tiền” (năm 1992) với nội dung tương tự như Ủy ban Basel

- Nhóm các đơn vị tình báo tài chính Egmont (FIUs): là diễn đàn (họp mỗi năm một lần) của các đơn vị tình báo tài chính đến từ 94 quốc gia, nhằm tăng cường

hỗ trợ cho các chương trình chống rửa tiền và tăng cường trao đổi các sáng kiến liên quan đến chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, mở rộng và hệ thống hóa việc trao đổi thông tin tình báo tài chính, tăng cường kỹ năng chuyên môn

- Nhóm các ngân hàng Wolfsberg: là hiệp hội 12 ngân hàng toàn cầu, chủ yếu đại diện cho các ngân hàng tư nhân quốc tế, đã đưa ra 4 bộ nguyên tắc liên quan đến chống rửa tiền và tài trợ khủng bố: (i) Bộ nguyên tắc chống rửa tiền với 11 nguyên tắc liên quan đến việc nhận diện khách hàng, bao gồm việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi của tất cả các tài khoản và các tình huống liên quan đến việc phải tăng cường các thủ tục nhận biết khách hàng; (ii) Bộ nguyên tắc về chống tài trợ cho khủng bố yêu cầu các ngân hàng cần đóng vai trò tích cực trong việc giúp các chính phủ bằng cách chú ý tới khách hàng bất cứ khi nào phát hiện thấy hành vi đáng ngờ; (iii) Bộ nguyên tắc chống rửa tiền trong hệ thống ngân hàng đại lý với 14 nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc cấm các ngân hàng giao dịch với “ngân hàng trá hình”

và có các thủ tục liên quan đến nhận biết khách hàng của các ngân hàn; (iv) Bộ nguyên tắc về theo dõi, kiểm tra và tìm kiếm, theo đó các tổ chức tài chính nên có sẵn các quy trình thích hợp để nhận dạng các hoạt động bất thường và các kiểu giao dịch bất thường, khuyến khích việc sử dụng cách tiếp cận dựa trên rủi ro trong các hoạt động theo dõi, các biện pháp sàng lọc như việc kiểm tra các giao dịch trước khi chúng được phê duyệt, các biện pháp theo dõi giao dịch dựa trên việc xây dựng các

mô hình rủi ro và xách định rủi ro tiềm năng đối với hoạt động rửa tiền, cũng như cung cấp các công cụ cho việc xếp hạng các rủi ro, so sánh các thông tin giao dịch

Trang 37

với những rủi ro đã được nhận diện về các thủ đoạn rửa tiền khác nhau và các hoạt động trái pháp luật khác để xác định xem giao dịch đó có đáng ngờ hay không

- Ban thư ký khối thịnh vượng chung: là một hiệp hội tự nguyện gồm 53 nhà nước có chủ quyền, thực hiện tư vấn và hợp tác vì lợi ích chung của nhân dân trên các chủ đề, trong đó có việc thúc đẩy sự hiểu biết quốc tế và hòa bình của thế giới Ban đã hỗ trợ các nước thực hiện 40 + 9 khuyến nghị của FATF và xuất bản cuốn

“Sổ tay những phương pháp tốt nhất về chống rửa tiền trong khu vực tài chính” dành cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý của các chính phủ và các tổ chức tài chính

Tóm lại, chương 1 đã khái quát được các lý luận cơ bản về rửa tiền và tài trợ

khủng bố, bao gồm các quy định chung, khái niệm, quy trình rửa tiền & TTKB; các phương thức, thủ đoạn rửa tiền & TTKB và tác động của vấn nạn này lên nền kinh

tế

Trang 38

CHƯƠNG II QUY ĐỊNH VỀ PHÕNG CHỐNG RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ KHÙNG BỐ

CỦA SINGAPORE

2.1 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ PCRT & TTKB CỦA SINGAPORE

Là một trong những quốc gia có hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền

và TTKB tương đối hoàn thiện, đảm bảo tuân thủ hầu hết các khuyến nghị của FATF, Singapore đã trở thành quốc gia đi đầu lĩnh vực phòng, chống rửa tiền và TTKB trong khu vực Đông Nam Á.Hệ thống văn bản pháp lý về vấn đề chống rửa tiền và TTKBở Singapore về cơ bản bao gồm các văn bản sau:

- Đạo luật về Tham nhũng, Buôn bán bất hợp pháp ma tuý và các tội phạm nghiêm trọng khác(The Corruption, Drug Trafficking and Other Serious Crimes Act – CDSA) được ban hành ngày 6/7/1999 Trên cơ sở các khuyến nghị của FATF, nhằm mở rộng phạm vi tội rửa tiền, xác định rõ nghĩa vụ báo cáo các giao dịch nghi vấn, tạo cơ chế báo cáo các hoạt động chuyển tiền xuyên quốc gia cũng như tăng hình phạt đối với các tội rửa tiền được quy định trong CDSA, Singapore đã ban hành Đạo luật sửa đổi, bổ sung CDSA vào năm 2007và năm 2014 Đây cũng là văn bản pháp lý quan trọng nhất về chống rửa tiền trong hệ thống pháp luật của Singapore hiện hành Các quy định về chống rửa tiền được ghi nhận chủ yếu tại Phần VI của CDSA, trong đó điều chỉnh đồng thời việc rửa tiền liên quan đến mua bán ma tuý và các tội phạm nghiêm trọng khác

- Đạo luật về tội phạm có tổ chức 2015 (OCA): Đạo luật này hình sự hóa các tội được thực hiện bởi nhóm tội phạm có tổ chức, phạm những tội nghiêm trọng như rửa tiền, và tước quyền của những cá nhân có liên quan đến việc được hưởng lợi từ việc rửa tiền

- Đạo luật tương trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự (MACMA): Đạo luật này đề ra khung pháp lý cho việc hỗ trợ lẫn nhau một cách hợp pháp trong các vụ việc hình sự

- Các đạo luật và các quy định về PCRT của cơ quan quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực Ví dụ như Cơ quan tiền tệ Singapore (Monetary Authority of

Trang 39

Singapore- MAS) đưa các quy định về phòng chống rửa tiền và chống TTKBđối với các tổ chức tài chính, Cơ quan quản lý sòng bạc đưa ra quy định về kiểm soát sòng bạc nhằm ngăn ngửa nguy cơ rửa tiền và TTKB Cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Hệ thống pháp luật về PCRT & TTKB của Singapore

lý chuyển tiền, công ty bảo hiểm, người môi giới bảo hiểm, các định chế tham gia thị trường vốn, công ty

ủy thác, công ty tư vấn tài chính, tổ chức nhận tiền gửi, người nắm giữ giấy tờ

có giá

02 đạo luật (Luật của Cơ quan tiền tệ Singapore Chương 186; luật chống tài trợ khủng bố); 09 thông tư; 09 bộ quy tắc; 07 tư vấn; 05 chỉ dẫn; 20 thông báo và 16 hướng dẫn thực hiện tương ứng với 20 thông báo

Quy định về kế toán và doanh nghiệp 2015; Hướng dẫn với những tổ chức được phép đăng ký thành lập doanh nghiệp

6 Cơ quan xã

hội pháp luật Luật sư

Đạo luật luật sư hợp pháp Quy định hành nghề hợp pháp

2015 (về chống rửa tiền và TTKB)

Trang 40

7 Bộ Tư pháp Người cho vay

Đạo luật cho vay tiền Quy tắc cho vay tiền nhằm chống rửa tiền và TTKB 2009

8 ACRA Người hành nghề kế toán

công

Thông báo về chuẩn mực đạo đức 200 bởi Hiệp hội các nhà

kế toán Singapore nhằm chống rửa tiền và TTKB (ISCA)

12 Hiệp hội từ

thiện

Tổ chức từ thiện được phép

Hướng dẫn chống rửa tiền và TTKB

singapore/ )

- Các quy định và chỉ dẫn về PCRT & TTKB của MAS: Đây là hệ thống các quy định, thông báo và hướng dẫn nhằm hướng dẫn thi hành các quy định về chống rửa tiền được quy định trong CDSA đối với các tổ chức tài chính Thông qua các

Ngày đăng: 22/01/2021, 08:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w