1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Tài chính ngân hàng: Ảnh hưởng của chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên (ESOP) lên hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng tại Việt Nam

91 147 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là sẽ tập trung nhằm xác định những ảnh hưởng của việc phát hành cổ phiếu ESOP tới hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Thông qua hệ thống lại lý thuyết, tổng hợp thực trạng tiến hành ESOP và đánh giá, tác động của ESOP, bài viết gợi ý các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ESOP, đề xuất triển khai tại các doanh nghiệp cũng như Ngân hàng khác tại Việt Nam.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Người hướng dẫn khoa học : TS Lê Phương Lan

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan công trình nghiên cứu "Ảnh hưởng của chương trình thưởng

cổ phiếu cho nhân viên (ESOP) lên hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng tại Việt Nam" là của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Phương Lan

Các số liệu trích dẫn, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2020

Học viên

Nguyễn Thị Thanh Hòa

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đề tài: "Ảnh hưởng của chương trình thưởng cổ

phiếu cho nhân viên (ESOP) lên hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng tại Việt Nam", mặc dù có một chút khó khăn, song nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy,

cô giáo, ban lãnh đạo và đồng nghiệp trong công ty nên tôi đã hoàn thiện được luận văn này

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Ngoại thương, Khoa Sau Đại học, Khoa Tài chính – Ngân hàng đã tạo các điều kiện tốt nhất, trang bị những kiến thức quan trọng cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường cũng như trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu đề tài

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Lê Phương Lan đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ dạy tôi trong suốt quá trình lên ý tưởng, xây dựng

đề cương và hoàn thiện đề tài này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới đồng nghiệp tại Ngân hàng TMCP Quân Đội, gia đình và bạn bè vì đã luôn hỗ trợ tôi và khuyến khích liên tục trong suốt thời gian học tập chương trình Thạc sĩ của mình

Do thời gian nghiên cứu, kiến thức và dữ liệu còn hạn chế, luận văn vẫn còn những thiếu sót khó tránh khỏi, tôi rất mong nhận được những đóng góp của thầy cô cùng các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2020

Học viên

Nguyễn Thị Thanh Hòa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU ESOP TẠI VIỆT NAM 8

1.1 Cơ sở lý luận về ESOP và hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng 8

Chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên (ESOP) 8

Hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại 14

Tác động của việc phát hành ESOP tới hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại 21

1.2 Thực trạng chương trình phát hành cổ phiếu ESOP tại Việt Nam 22

Bối cảnh nghiên cứu 22

Thực trạng hoạt động phát hành cổ phiếu ESOP cho người lao động tại các Ngân hàng TMCP ở Việt Nam 27

CHƯƠNG 2 MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH ESOP TỚI HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 36

2.1 Phương pháp nghiên cứu 36

Phương pháp luận nghiên cứu 36

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 36

2.2 Mô hình định lượng và các giả thuyết kiểm định 37

Mô hình hàm sản xuất Cobb – Douglas 37

Trang 6

Mô hình phân tích hồi quy 40

2.3 Dữ liệu 42

Mẫu 42

Nguồn dữ liệu 45

Xử lý và phân tích dữ liệu 46

2.4 Kết quả mô hình 48

Kết quả ước lượng mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas 48

Kết quả hồi quy với ROA, ROE, NIM 52

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HQKD CỦA NGÂN HÀNG THÔNG QUA PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU ESOP 58

3.1 Định hướng phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam đến năm 2030 59

3.2 Giải pháp giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động phát hành ESOP 61

Xác định mục tiêu phát triển của Ngân hàng trong từng thời kỳ 61

Tăng cường quản lý việc phát hành cổ phiếu ESOP 62

Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của việc phát hành cổ phiếu ESOP 64

Nâng cao kiến thức về chứng khoán 65

3.3 Kiến nghị đối với Nhà nước và các cơ quan chức năng 66

Hoàn thiện khung pháp lý quản lý ESOP 66

Hoàn thiện thị trường chứng khoán 67

Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa và niêm yết trên thị trường chứng khoán 68

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 76

Trang 7

DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU Danh mục hình

Hình 1.1: Mối liên kết từ ESOP, tác động đến nhân viên và kết quả của công ty 10

Hình 1.2 Quy trình phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động tại Việt Nam 25

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu về tác động của việc phát hành ESOP tới HQKD của NH TMCP 40

Danh mục bảng Bảng 1.1 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng 18

Bảng 1.2: Danh sách các Ngân hàng TMCP đã phát hành ESOP 29

Bảng 1.3: Số lượng NH TMCP thông báo phát hành ESOP 31

Bảng 1.4 Một số chỉ tiêu tài chính của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam 33

Bảng 1.5: Một số chỉ tiêu của Ngân hàng TMCP Quân đội 34

Bảng 2.1: Danh sách các ngân hàng TMCP đã niêm yết tại Việt Nam 43

Bảng 2.2 Bảng tổng hợp dữ liệu nghiên cứu và dấu kỳ vọng 45

Bảng 2.3: Thống kê mô tả các biến của mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas 48

Bảng 2.4: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 49

Bảng 2.5: Kết quả chạy mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas 50

Bảng 2.6: Kết quả chạy mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas (biến trễ) 51

Bảng 2.7: Bảng tổng hợp kiểm định mô hình 52

Bảng 2.8: Kết quả hồi quy ROA 53

Bảng 2.9: Kết quả hồi quy ROA (bỏ biến TETA) 53

Bảng 2.10: Kết quả hồi quy ROE 54

Bảng 2.11: Kết quả hồi quy ROE (bỏ biến TETA) 55

Bảng 2.12: Kết quả hồi quy NIM 56

Danh mục biểu đồ Biểu 1.1: Khối lượng CP của các NHTM đang niêm yết trên sàn chứng khoán 30

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

- Tiếng Việt:

Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam BCTC Báo cáo tài chính

BIDV Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Đầu tư và Phát triển Việt Nam

ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông

HĐQT Hội đồng quản trị

HQKD Hiệu quả kinh doanh

MB Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Quân đội

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTW Ngân hàng Trung ương

SeABank Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

SGDCK Sở giao dịch chứng khoán

TCTD Tổ chức tín dụng

Techcombank Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Kỹ thương Việt Nam

UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

VIB Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Quốc tế Việt Nam

Vietcombank Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Ngoại thương Việt Nam Vietinbank Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Công Thương Việt Nam VPBank Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Việt Nam Thịnh Vượng

Trang 9

- Tiếng Anh:

Từ viết tắt Tên tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

CAR Capital Adequacy Ratio Hệ số an toàn vốn

EAT Earnings After Taxes Lợi nhuận sau thuế

EBT Earnings Before Taxes Lợi nhuận trước thuế

ESOP Employee Stock

Ownership Plan Chương trình người lao động sở hữu cổ phần EPS Earning per share Thu nhập trên một cổ phần

IPO Initial Public Offering Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng NIM Net Interest Margin Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

NPL Nonperforming Loan Tỷ lệ nợ xấu

OLS Ordinary least squares Hồi quy bình phương nhỏ nhất

ROA Return on Assets Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

ROE Return on Equity Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

Trang 10

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Dựa trên kết quả kinh doanh của 18 Ngân hàng Thương mại cổ phần tại Việt Nam từ năm 2015 đến năm năm 2019, trong đó có 6 Ngân hàng đã thực hiện phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn người lao động, tác đã đã tìm thấy bằng chứng về ảnh hưởng tích cực lên hiệu quả kinh doanh khi Ngân hàng TMCP thực hiện phát hành ESOP

Tác giả đã hệ thống hóa các lý thuyết về ESOP trên thế giới cũng như thực tế đang áp dụng tại Việt Nam mà cụ thể là hệ thống ngân hàng TMCP Từ đó có thể nhận thấy những hạn chế chung ở toàn bộ các doanh nghiệp thực hiện ESOP như: đối tượng được hưởng ESOP chưa rõ ràng, minh bạch; không hạn chế chuyển nhượng gây biến dạng mục đích ban đầu của ESOP,… Các ngân hàng chưa thực sự quan tâm tới ESOP cũng như có chiến lược lâu dài trong việc quản lý, phát huy hiệu quả của chương trình này,…

Bằng việc mô hình hóa dựa trên các chỉ tiêu tài chính cơ bản, tác giả đã tìm ra mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào là phát hành ESOP với đầu ra hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng như giá trị gia tăng, ROA, ROE, NIM Từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để chương trình ESOP thực sự đem lại hiệu quả cho cả người lao động, ngân hàng và các cổ đông

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết, lý do lựa chọn của đề tài

Nhân tố người lao động (NLĐ) luôn là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của doanh nghiệp Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt về nguồn nhân lực chất lượng cao như hiện nay, các doanh nghiệp luôn phải tìm các phương pháp để giữ chân nhân sự nhưng vẫn phải đảm bảo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Bên cạnh một số phương pháp truyền thống như tăng lương, thưởng, đãi ngộ,… thì rất nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các công ty cổ phần đang áp dụng chương trình “thưởng” cổ phiếu cho nhân viên (Employee Stock Ownership Plan – ESOP)

ESOP là chương trình mà doanh nghiệp tạo điều kiện cho nhân viên tham gia

sở hữu cổ phần thông qua các ưu đãi về giá hay điều kiện thanh toán Thông qua chương trình này, nhân viên được tham gia vào việc sở hữu doanh nghiệp, gắn liền lợi ích của họ với lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra trong tương lai Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu về ESOP trên thế giới cũng đã khẳng định những ảnh hưởng tích cực của ESOP tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, ở Việt Nam, khi thị trường chứng khoán (TTCK) ngày càng phát triển thì cũng ngày càng nhiều các công ty đã tiến hành ESOP hoặc thông báo sẽ thực hiện ESOP trong tương lai Trên thị trường tài chính, Ngân hàng hay cụ thể là hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần (NH TMCP) vẫn luôn là một định chế quan trọng thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế Trong đó đã có rất nhiều Ngân hàng thực hiện ESOP như VPBank, VietBank, VIB, TechcomBank, SeABank, MBBank, Mặc dù có nhiều Ngân hàng và cả doanh nghiệp áp dụng, nhưng ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu định lượng về tác động của việc phát hành cổ phiếu ESOP cho nhân viên đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Chính vì vậy, học viên đã chọn

lựa đề tài: "Ảnh hưởng của chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên

(ESOP) lên hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng tại Việt Nam" làm đề tài

luận văn thạc sỹ của mình

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Trên thế giới

Lần đầu tiên khái niệm ESOP được ra đời ở Mỹ vào năm 1956 bởi Louis Kelso, luật sư và chủ ngân hàng đầu tư người San Francisco, khi ông đăng bài trên một tờ báo ở San Francisco về việc phát hành cổ phiếu cho nhân viên (thường được biết đến với tên gọi là kế hoạch Kelso) Năm 1958, ông đã hợp tác với nhà triết học Mortimer Adler để viết một tuyên bố về chủ nghĩa tư bản đề cập đến nhiều khía cạnh của kinh tế, xã hội và lợi ích chính trị Ông lập luận rằng hệ thống tư bản sẽ mạnh hơn nếu tất cả những người làm công, không phải chỉ là một số cổ đông, có thể chia sẻ việc sở hữu "các tài sản có thể tạo ra vốn" Vào năm 1973, Kelso đã thuyết phục được các nhà làm luật đưa ra một đạo luật Liên bang khuyến khích việc phát triển ESOP và năm 1974 luật ERISA (Employee Retirement Income Security Act) ra đời điều chỉnh các "kế hoạch tạo nên lợi ích" cho nhân viên và thiết lập khung pháp lý cơ bản cho ESOP

Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên giúp tăng năng suất của công ty nhưng cũng có một số nghiên cứu lại thấy rằng ESOP ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả của doanh nghiệp hoặc không có mối liên hệ trực tiếp giữa chúng Hầu hết các nghiên cứu này đều được thực hiện ở các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu, Nhật Bản,… nơi mà thị trường tài chính đã phát triển Như ở Hoa Kỳ, nghiên cứu cho thấy ESOP rất phổ biến ở các công ty, Trung tâm quốc gia về quyền sở hữu của nhân viên (The National Center for Employee Ownership - NCEO) ước tính có khoảng 10.500 công

ty tư nhân và công ty công đang sử dụng ESOP, trong đó có 0,25 triệu người sở hữu ESOP vào năm 1975 và con số này đã tăng lên 5 triệu người tham gia vào năm 1990

và đến năm 2007 là 13 triệu người (Hu và Izumida, 2008)

Một số nghiên cứu tiêu biểu cho thấy ESOP hoặc các chương trình tương tự có liên quan đến mức năng suất cao hơn ở các công ty như Kumbhakar và Dunbar (1993), Hallock và cộng sự (2004), Robinson và Wilson (2006), Sesil và cộng sự (2007); Kramer (2008), Kim và Ouimet (2009), … Marsh và McAllister (1981) cho rằng các doanh nghiệp sử dụng ESOP có xu hướng tăng trưởng hàng năm nhanh

Trang 13

hơn so với những doanh nghiệp không sử dụng ESOP Quarrey và Rosen (1987) sau khi đánh giá hiệu quả hoạt động của 45 công ty áp dụng ESOP và đối chiếu từng công ty với khoảng 5 công ty không áp dụng ESOP khác đã chỉ ra rằng các công ty

áp dụng ESOP tăng trưởng nhanh hơn các công ty tương tự nhưng không áp dụng ESOP khoảng 3,6% mỗi năm Tuy nhiên, điều thực sự đáng nói là kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các công ty áp dụng ESOP và đồng thời có sự tham gia tích cực của nhân viên vào các quyết định quản lý và các quyết định quan trọng khác sẽ tăng trưởng với tốc độ 8% đến 11% nhanh hơn các công ty không áp dụng ESOP Jones

và Kato (1995) đã sử dụng dữ liệu bảng để ước tính các chức năng sản xuất và báo cáo việc quyền sở hữu của nhân viên trung bình dẫn đến tăng năng suất 4 - 5% trong các công ty Nhật Bản Mehran (1999) đánh giá tác động của ESOP lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán (sử dụng 382 thông báo ESOP ghi lại giữa năm 1971 và năm 1995) cho thấy các doanh nghiệp thực hiện ESOP có ROA cao hơn 2,7% so với những doanh nghiệp không áp dụng ESOP Blair và Ali (2000), Park, Kruse và Sesil (2004) nhận thấy các doanh nghiệp sử dụng ESOP có khả năng sinh tồn tốt hơn các doanh nghiệp không có ESOP

Kruse và cộng sự (2011) đã phân tích tác động quyền sở hữu của nhân viên, chia sẻ lợi nhuận, tài sản và quyền cổ phiếu trên diện rộng (chủ nghĩa tư bản chia sẻ) đối với thái độ, tỉ lệ nghỉ việc và hiệu suất của nhân viên trong số ứng viên trong cuộc cạnh tranh 100 công ty làm việc tốt nhất tại Mỹ và tìm ra rằng chủ nghĩa tư bản chia sẻ có tác động tích cực đến ý định ở lại của nhân viên và tăng hiệu suất công ty Nhưng hầu hết các nghiên cứu này chỉ tập trung tại Mỹ và các quốc gia phát triển khác Zhu, Hoffmire, Hoffmire và Wang (2013) cũng nghiên cứu ESOP nhưng tiến hành ở một quốc gia tương đối đặc biệt là Trung Quốc, nghiên cứu được thực hiện tại Huawei và ZTE Ở đây ESOP cũng đem lại hiệu quả tốt hơn cho doanh nghiệp nhưng việc nhân viên nắm giữ cổ phần của công ty không đồng nghĩa với việc họ có quyền đóng góp trong các quyết định của công ty đó

Bên cạnh những nghiên cứu cho thấy những tác động tích cực của ESOP đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vẫn còn có các nghiên cứu khác chỉ ra rằng

Trang 14

ESOP không có ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của doanh nghiệp, cụ thể:

Davidson và Worrel (1994) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng không

có cải thiện về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong hai năm sau khi có phát hành ESOP Ng (1999) nhận thấy rằng mặc dù thị trường chứng khoán có phản ứng đáng kể với việc phát hành ESOP, tuy nhiên hiệu quả hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã giảm nhẹ sau đó Yeo và cộng sự (1999) đã kiểm tra kết quả hoạt động của 54 doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Singapore trong thời gian ba năm trước và sau khi phát hành ESOP và nhận thấy rằng không có cải thiện đáng kể về hiệu quả hoạt động sau khi áp dụng ESOP Trebucq và d’Arcimoles (2002), sử dụng mẫu gồm 102 doanh nghiệp (51 doanh nghiệp có ESOP và 51 doanh nghiệp không có ESOP) đã kết luận rằng các Doanh nghiệp có ESOP có lợi nhuận thấp hơn những Doanh nghiệp không có ESOP Sengupta và cộng sự (2007) chỉ ra rằng việc áp dụng ESOP không làm tăng mức độ gắn kết và thu hút người lao động Obiyathulla và cộng sự (2009) nhận thấy rằng hiệu quả hoạt động xấu đi đối với các doanh nghiệp ESOP Các nhà nghiên cứu cho rằng lý do làm giảm hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ có thể do nhóm quản lý chiếm nhiều lợi ích hơn cho chính bản thân họ với chi phí của các cổ đông bên ngoài Meng và cộng sự (2010) so sánh hiệu quả giữa các doanh nghiệp ESOP với các doanh nghiệp không phải là ESOP và kết luận rằng quyền sở hữu vốn cổ phần có tính lan rộng trong số nhân viên gây ra vấn đề rắc rối về sở hữu, không có ảnh hưởng đến động lực của nhân viên và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Các nghiên cứu khác cho thấy không có sự gia tăng năng suất trực tiếp từ ESOP (Pugh và cộng sự, 2000; Bakan và cộng sự, 2004; Bryson và Freeman, 2004) Ohkusa và Ohtake (1997) lại cho thấy hiệu quả của quyền sở hữu nhân viên đối với hiệu quả của doanh nghiệp là có điều kiện Họ phát hiện ra rằng ESOP không tính đến hiệu suất của nhân viên và ESOP được đưa ra như một phần của kế hoạch lương hưu không khuyến khích năng suất ở mức độ giống như các ESOP chia sẻ lợi nhuận trực tiếp trong thời gian ngắn Bryson và Freeman (2004) đã tìm thấy mối liên hệ tương tự giữa quyền sở hữu của nhân viên và năng suất lao động chỉ khi áp dụng kế hoạch chia sẻ lợi nhuận, và hơn

Trang 15

nữa thấy rằng hiệu ứng này tỷ lệ thuận với tỷ lệ phần trăm nhân viên được bảo hiểm theo chương trình chia sẻ lợi nhuận

Ngoài các nghiên cứu về ảnh hưởng của ESOP tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, một số nhà nghiên cứu lại tìm hiểu mối liên hệ tích cực giữa ESOP

và cam kết công việc của nhân viên như Park và Seng (1995), O'Halloran (2012)

Họ lập luận rằng cam kết công việc và sự hài lòng trong công việc chịu ảnh hưởng tích cực đáng kể do ESOP Green và Heywood (2008) đã xác nhận rằng động lực của nhân viên bị ảnh hưởng bởi ESOP ở một mức độ nào đó Ngược lại, Freeman (1978) đã tìm thấy mối tương quan tiêu cực giữa cam kết công việc và ESOP Hay Curme và Stefanec (2007) đã phản đối mối tương quan giữa các ESOP và doanh thu của nhân viên

Tuy nhiên, như đã đề cập, tất cả các nghiên cứu này chỉ giới hạn ở các nền kinh tế phát triển trong khi hầu như chưa có kết luận, bằng chứng từ các nền kinh tế mới nổi để giải thích bản chất và sức mạnh của các ESOP

2.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, việc phát hành cổ phiếu cho nhân viên đã được thực hiện từ nhiều năm nay, tuy nhiên gần như không có các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của hoạt động phát hành cổ phiếu này đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Các nghiên cứu ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở bước khuyến cáo các doanh nghiệp sử dụng hình thức phát hành cổ phiếu lựa chọn cho người lao động như một cách để thu hút và duy trì nguồn nhân lực cho chất lượng của doanh nghiệp (Lưu Hữu Đức, 2014; Nguyễn Minh Tâm, 2009) Hoặc cũng có một số luận văn thạc sĩ cũng đã đề cập đến ảnh hưởng của ESOP tới hiệu quả của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán như Nguyễn Thị Thu (2007), nhưng bài luận văn chỉ giới thiệu về ESOP như là một phương pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động mà không

đi sâu giới thiệu về ESOP và những tác động của chương trình này

Mới đây nhất, luận văn thạc sĩ của học viên Nguyễn Văn Bắc (2018) đã xây dựng tương đối cụ thể về ảnh hưởng của ESOP tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đã niêm yết trên sàn chứng khoán HNX và HOSE Bắc đã sử

Trang 16

dụng kiểm định T-Test trung bình hai mẫu phối hợp cặp đôi trên 122 doanh nghiệp

có phát hành ESOP và 122 doanh nghiệp cùng ngành tương đương về quy mô và tài sản mà không sử dụng ESOP Từ đó ra kết luận là ESOP thực sự có ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đã niêm yết

Nhìn chung, các nghiên cứu trên được thực hiện trong các bối cảnh kinh tế khác nhau, nơi các doanh nghiệp hoạt động trong các môi trường kinh doanh đa dạng và cạnh tranh gay gắt nên cũng cho các kết quả nghiên cứu khác nhau Trong

đề tài nghiên cứu này, tôi sẽ tập trung vào việc xem xét ảnh hưởng của việc phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho nhân viên (ESOP) đối với hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng TMCP đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ tập trung nhằm xác định những ảnh hưởng của việc phát hành

cổ phiếu ESOP tới hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam Thông qua hệ thống lại lý thuyết, tổng hợp thực trạng tiến hành ESOP và đánh giá, tác động của ESOP, bài viết gợi ý các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ESOP, đề xuất triển khai tại các doanh nghiệp cũng như Ngân hàng khác tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của ESOP tới hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng TMCP trong giai đoạn vừa qua

Về mặt thời gian, không gian: Bài viết phân tích chương trình phát hành cổ phiếu thưởng cho nhân viên và hiệu quả kinh doanh của 18 Ngân hàng TMCP đã thực hiện niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, đặc biệt là 6 Ngân hàng đã thực hiện ESOP trong giai đoạn từ năm 2015 đến nay Từ đó xác định những ưu điểm nhược điểm của chương trình và đề xuất kiến nghị triển khai tại các ngân hàng hoặc các doanh nghiệp khác

Trang 17

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện, bài viết vận dụng mô hình sản xuất Cobb-Douglass,

mô hình hồi quy OLS với số liệu và thông tin thứ cấp được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau như báo cáo tài chính (BCTC), sách, báo, internet và các bài nghiên cứu khác

Bên cạnh đó, bài viết cũng sử dụng những phương pháp cơ bản như thực nghiệm, thu thập số liệu, phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh để làm sáng tỏ vấn đề

• Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, thu thập các số liệu thực tế: dựa trên các nghiên cứu trước đó về ảnh hưởng của việc phát hành cổ phiếu thưởng cho nhân viên tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thu thập các số liệu về lợi nhuận, tổng tài sản, các chỉ số hoạt động như ROA, ROE, NIM,… của Ngân hàng

để tiến hành kiểm nghiệm

• Phương pháp thống kê: tập hợp các số liệu thu được, sử dụng các phân tích định lượng để phân tích dữ liệu Các dữ liệu thu thập được thực hiện thông qua

mô hình hồi quy khác nhau để đưa ra ảnh hưởng của thay đổi ESOP đối với hoạt động tài chính của ngân hàng

6 Kết quả nghiên cứu dự kiến

Từ việc phân tích, đánh giá ảnh hưởng của việc phát hành ESOP tới hiệu quả kinh doanh của NH TMCP, bài viết đề xuất các chính sách phát triển và nâng cao hiệu quả của chương trình ESOP

7 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng chương trình phát hành cổ phiếu ESOP

tại Việt Nam

Chương 2: Mô hình xác định ảnh hưởng của chương trình ESOP tới hiệu quả

kinh doanh của Ngân hàng

Chương 3: Các giải pháp tăng cường hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng

thông qua phát hành cổ phiếu ESOP

Trang 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH

PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU ESOP TẠI VIỆT NAM

1.1 Cơ sở lý luận về ESOP và hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng

Chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên (ESOP)

1.1.1.1 Khái niệm

Chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên, tên tiếng Anh là Employee

Stock Ownership Plan – ESOP, tạm dịch sang tiếng Việt là chương trình người lao động sở hữu cổ phần Có rất nhiều lý do để thực hiện ESOP, cũng như tên gọi chưa

có sự thống nhất hoàn toàn vì thế cách hiểu về ESOP cũng rất đa dạng

Theo định nghĩa được đăng tải trên Thời báo Kinh tế (The Economic Times),

Chương trình người lao động sở hữu cổ phần (ESOP) là một loại kế hoạch phúc lợi cho người lao động nhằm khuyến khích người lao động có được cổ phiếu hoặc quyền sở hữu trong công ty Khái niệm này chính là sự diễn giải các từ ngữ trong thuật ngữ ESOP Đối tượng được hưởng phúc lợi là người lao động của doanh nghiệp thông qua việc sở hữu cổ phiếu của công ty

Theo khái niệm của Viện Wealth Preservation (Mỹ) thì Chương trình người lao động sở hữu cổ phần (ESOP) là một loại kế hoạch phúc lợi đặc biệt dành cho người lao động (được điều chỉnh bởi Luật Bảo đảm thu nhập khi về hưu người lao động ERISA - Employee Retirement Income Security Act, 1974) cho phép người lao động có quyền sở hữu trong công ty mà không cần đầu tư bằng tiền của họ Theo Investopedia, Chương trình người lao động sở hữu cổ phần là một chương trình tiêu chuẩn về phúc lợi cho người lao động, trong đó sự đóng góp cổ phiếu của chủ công ty là chính Chương trình ESOP tiêu chuẩn được hiểu theo nghĩa công ty tài trợ ESOP, cổ đông bán cổ phiếu và người tham gia chương trình đều được nhận lợi ích về thuế Các công ty thường sử dụng ESOP như một chiến lược tài chính doanh nghiệp và hài hòa lợi ích của người lao động và cổ đông góp vốn

Ở Việt Nam, cổ phiếu ESOP ở có sự khác biệt với thông lệ quốc tế Áp dụng theo Thông tư số 162/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà

Trang 19

nước (UBCKNN) và các công ty niêm yết thường gọi là “Phát hành cổ phiếu theo

Chương trình lựa chọn người lao động” Đây là cách thức các công ty sử dụng để

trao quyền sở hữu cổ phần cho nhân viên thông qua các tiêu chí lựa chọn nhất định Bên cạnh việc mua cổ phiếu trực tiếp từ công ty thì thông qua ESOP, người lao động cũng đồng thời trở thành chủ sở hữu của chính doanh nghiệp đó, gắn liền lợi ích của công ty với lợi ích của chính bản thân họ; góp phần gắn bó, thúc đẩy hoạt động kinh doanh của công ty sau này

Có rất nhiều tiêu chí được lựa chọn để phân bổ cổ phiếu ESOP cho nhân viên như thâm niên, vị trí công việc đảm nhiệm, hiệu quả làm việc… Thông qua chương trình này, doanh nghiệp cho phép những nhân viên xứng đáng có quyền mua cổ phiếu vào một thời điểm nhất định trong tương lai tại mức giá ưu đãi đã được xác định trước Các nhân viên đủ điều kiện được tự do mua cổ phiếu trong thời gian thực hiện theo định mức đã được phân bổ nhưng thường đi kèm một số điều kiện

hạn chế chuyển nhượng (nếu có) Bên cạnh cổ tức được chi trả khi doanh nghiệp đạt

lợi nhuận thì khoản chênh lệch giữa giá chuyển nhượng và giá mua ban đầu chính là khoản thưởng mà doanh nghiệp tặng cho người lao động

Khi người lao động rời khỏi doanh nghiệp, tùy theo điều kiện quy định trong ESOP, họ có thể tiếp tục nắm giữ cổ phiếu doanh nghiệp có được từ ESOP hoặc doanh nghiệp phải cam kết mua lại lượng cổ phiếu này theo giá thực tế trên thị trường tại thời điểm giao dịch

Trang 20

1.1.1.2 Mục đích phát hành cổ phiếu ESOP

Hình 1.1: Mối liên kết từ ESOP, tác động đến nhân viên và kết quả của công ty

Nguồn: Michie và Oughton, 2001

• Khen thưởng, khích lệ người lao động

ESOP được phát hành thông qua các tiêu chí lựa chọn nhằm thu hút và giữ chân người lao động, đặc biệt là những lao động giỏi, có năng lực (Hall và Murphy, 2002) ESOP tạo ra một tinh thần làm chủ, nhân viên nghĩ và hành động giống như người chủ bởi vì họ thực sự là chủ sở hữu của doanh nghiệp Từ đó, nâng cao vai trò trách nhiệm, tăng thêm động lực và sự gắn kết của nhân viên với công ty, năng suất cũng như hiệu quả làm việc được cải thiện

Vấn đề lương thưởng luôn dành được sự quan tâm hàng đầu của người lao động tại doanh nghiệp Thông thường các công ty sử dụng tiền mặt hoặc trong một

số trường hợp đặc biệt là hiện vật để thưởng cho những đóng góp của người lao động trong kết quả hoạt động chung của doanh nghiệp Nhưng đặc biệt đối với các công ty cổ phần, nhà quản lý có thêm lựa chọn là thưởng thông qua phát hành cổ phiếu ESOP Vì được phát hành để thưởng, bán với giá ưu đãi nên so với hình thức thưởng thông thường, thưởng cổ phiếu đem lại nhiều giá trị hơn cho người lao động đặc biệt là đối với các công ty mà cổ phiếu tăng trưởng ổn định

và lợi nhuận

Giảm nghỉ việc

4 Kết quả

Trang 21

• Giảm thuế thu nhập cá nhân cho người lao động

Đối với người lao động, cùng là hình thức thưởng nhưng thưởng cổ phiếu ESOP giúp nhân viên giảm đáng kể khoản thuế thu nhập cá nhân phải nộp so với hình thức tặng thưởng tiền mặt Ở Việt Nam, doanh nghiệp thưởng tiền mặt trực tiếp cho nhân viên, phần thuế thu nhập cá nhân được áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần đã được Bộ Tài chính quy định cho các khoản thu nhập có tính chất tiền lương, tiền công Những trường hợp cán bộ quản lý cấp cao, nhân viên xuất sắc có mức thưởng cao thì mức thuế tối đa phải chịu lên tới 35% Nhưng nếu thưởng ESOP, sẽ được ghi nhận là một loại thu nhập từ đầu tư vốn, người lao động chỉ chịu mức thuế 5% đối với cổ tức nhận được từ cổ phiếu ESOP (Điều 10 Thông tư số 111/2013/TT-BTC) Sau khi hết thời gian hạn chế chuyển nhượng thì việc bán cổ phiếu chỉ chịu mức thuế 0,1% giá chuyển nhượng (Điều 16 Thông tư số 92/2015/TT-BTC) và trả phí giao dịch chỉ khoảng 0,15% tùy thuộc vào Công ty chứng khoán

• Tăng vốn chủ sở hữu cho doanh nghiệp

Phát hành cổ phiếu trong đó có cổ phiếu ESOP là kênh huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp cổ phần Như ở Việt Nam, ngoại trừ một số trường hợp phát hành

cổ phiếu ESOP với giá 0 đồng như CTCP Đầu tư Thế giới di động (mã chứng khoán: MWG) đã làm trong năm 2015 hoặc thưởng cổ phiếu cho nhân viên từ cổ phiếu quỹ như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (mã chứng khoán: VIB) thực hiện trong năm 2019 thì các chương trình ESOP khác mặc dù bán

ra với giá rất thấp (thường chỉ bằng mệnh giá cổ phiếu 10.000 VND) vẫn sẽ tạo ra một dòng tiền vào cho doanh nghiệp Vì giá cổ phiếu ESOP thấp hơn so với giá giao dịch trên thị trường nên khi được thưởng theo hình thức này, người lao động sẽ

có nhiều động lực bỏ ra một khoản tiền để mua cổ phiếu Và khi đó doanh nghiệp sẽ huy động được vốn để tái đầu tư, sản xuất và kinh doanh

Trang 22

• Tránh việc bị thâu tóm, sáp nhập

Khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu thưởng cho nhân viên, vừa huy động được vốn nhưng cũng vừa tránh được việc chia sẻ quyền quản lý, kiểm soát công ty của cổ đông mới hoặc sự thôn tính/thâu tóm của đối thủ cạnh tranh

Việc phát hành cổ phiếu nhằm mục đích thưởng cho nhân viên, trong một số trường hợp cũng là cách để gia tăng quyền kiểm soát của Ban lãnh đạo công ty và chống lại việc nguy cơ bị thâu tóm bới các công ty khác

1.1.1.3 Ảnh hưởng của việc phát hành ESOP

• Ảnh hưởng pha loãng cổ phiếu

Mặc dù mục đích phát hành ESOP nhằm khích lệ và giữ chân nhân tài từ đó tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp trong tương lai Nhưng thời điểm ban đầu khi phát hành cổ phiếu thì ảnh hưởng dễ thấy nhất đó là pha loãng cổ phiếu Điều

này thể hiện rõ rệt qua chỉ số EPS Thu nhập trên một cổ phần trong tiếng Anh gọi là Earning per share, viết tắt là EPS Đó là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ

cho mỗi cổ phần thường đang được lưu hành trên thị trường

EPS = Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ đông ưu đãi

Tổng số cổ phần thường đang lưu hành

Việc phát hành ESOP với giá rẻ hơn giá thị trường chính là việc cắt một phần

sở hữu của các cổ đông hiện hữu chia cho lãnh đạo và người lao động Khi phát hành ESOP, mặc dù giá cổ phiếu có thể không thay đổi nhưng tổng số cổ phiếu đang lưu hành tăng lên khiến cho tỷ lệ sở hữu công ty của các cổ đông hiện hữu bị giảm xuống Trong khi đó lợi nhuận chưa thay đổi ngay lập tức nên thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) cũng bị sụt giảm theo Điều này khiến các cổ đông hiện hữu cảm thấy rằng giá trị của họ trong công ty đang giảm dần

Thậm chí, trong tương lai dài hạn, chính người lao động được hưởng lợi từ việc mua cổ phiếu ESOP cũng có thể gặp bất lợi do họ phải tuân thủ thời gian hạn chế chuyển nhượng Khi viễn cảnh lợi nhuận tương lai xấu đi, lợi nhuận bị sụt giảm

Trang 23

làm EPS cũng bị sụt giảm theo, có thể thấp hơn cả giá trị lúc họ đầu tư cho cổ phiếu này

Mặt khác, nhà đầu tư có thể kỳ vọng chương trình ESOP sẽ làm giảm độ cô đặc về sở hữu cổ phiếu trong công ty, từ đó đa dạng hóa và tăng số lượng cổ đông Điều này đồng nghĩa với việc tăng cấu trúc sở hữu vốn cổ phần Tuy nhiên, khi áp dụng ESOP thực tế, phần nắm giữ của nhân viên chiếm tỷ trọng ngày càng cao hơn

và yếu tố không kém phần nhạy cảm là gia tăng sở hữu cho các lãnh đạo và quản lý cấp cao đang nắm giữ vai trò cổ đông lớn của doanh nghiệp Tại Việt Nam, để phát hành ESOP phải được sự tán thành của ĐHĐCĐ Theo quy định, việc biểu quyết liên quan đến vấn đề này phải loại bỏ những người có quyền lợi liên quan như Tổng Giám đốc, Ban Giám đốc, Nhưng khi HĐQT đề xuất thông qua chương trình thì chưa có quy định điều kiện cụ thể đối tượng được phân bổ cổ phiếu nên Lãnh đạo cấp cao đang nắm giữ nhiều cổ phiếu của công ty vẫn có thể tham gia biểu quyết và chèn ép các cổ đông nhỏ để thông qua các chương trình ESOP

• Ảnh hưởng xấu tới đầu tư

Thông thường, khi doanh nghiệp thưởng tiền mặt cho nhân viên công ty sẽ phải hạch toán chi phí cho các khoản chi thưởng này Khoản chi phí này là một khoản chi hợp lý và được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp

Ngược lại với các khoản thường bằng tiền, việc phát hành cổ phiếu ESOP làm biến dạng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Thay vì ghi nhận chi phí nhân viên thì việc phát hành cổ phiếu ESOP thường sử dụng nguồn thặng dư vốn hoặc lợi nhuận chưa phân phối Vì vậy không tác động đến báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, làm thổi phồng lợi nhuận của doanh nghiệp

Trong hầu hết các trường hợp, lãnh đạo là người được lợi nhiều hơn khi tham gia mua cổ phiếu ESOP do họ thường được phân bổ số lượng cổ phiếu lớn tương ứng với khoản thưởng lớn hơn Đồng thời họ ở vị trí nắm được nhiều thông tin hơn,

có thể dự phòng những rủi ro xấu với cố phiếu họ đang nắm giữ để có những quyết định kịp thời tránh thua lỗ Vì thế, ban lãnh đạo công ty có thể bằng mọi cách tạo lợi nhuận trong ngắn hạn để đạt đủ tiêu chuẩn phát hành ESOP Ví dụ như cắt giảm

Trang 24

chi phí nghiên cứu, phát triển; chi phí quảng cáo, xây dựng thương hiệu… Điều này

có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng trong dài hạn của doanh nghiệp Và quan trọng là làm sai lệch các thông tin kết quả hoạt động dẫn đến các nhà đầu tư đánh giá sai về tiềm năng của doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm

• Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một định chế có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương, chủ thể tham gia nói riêng Mọi sự thay đổi của NHTM đều có ảnh hưởng đến nền kinh tế NHTM ra đời cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, được coi là một sản phẩm được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Với chức năng trung gian tài chính trong nền kinh tế, NHTM là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn, hay nói cách khác vừa là nhà “cung vốn” và vừa là nhà “cầu vốn” Một nền kinh tế lành mạnh, có tốc độ tăng trưởng cao, bền vững thì không thể thiếu

hệ thống NHTM hoạt động hiệu quả

Cho đến nay có rất nhiều khái niệm về NHTM, có thể kể đến như:

+ Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941: “Ngân hàng là những xí nghiệp hay

cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký gửi hay hình thức ký thác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”

+ Luật pháp nước Mỹ: “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu như bằng viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem

là một ngân hàng”

+ Nhà kinh tế học Peter S Rose (2008): NHTM được coi là nơi cung cấp đầy đủ nhất sản phẩm tài chính “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm,

Trang 25

dịch vụ thanh toán và cũng thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”

+ Ở Việt Nam, tại Điều 4, Luật các TCTD số 47/2010/QH12 được Quốc

hội khóa XVII thông qua ngày 16/6/2010 quy định: “NHTM là loại ngân hàng được

thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Cũng theo Luật này thì hoạt động

ngân hàng bao gồm: “việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hay một số nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản”

Thông qua một số khái niệm có thể khái quát: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, thực hiện đầy đủ chức năng để thực hiện kinh doanh như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán nhằm mục tiêu lợi nhuận

• Hoạt động kinh doanh của NHTM

Kinh doanh là một dạng hoạt động cơ bản của con người và được hiểu theo nghĩa chung nhất là cách làm giàu của con người trên thương trường Theo Luật Doanh nghiệp (2014): “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất

cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”

Xuất phát từ khái niệm kinh doanh và khái niệm NTHM được trình bày ở trên

để đưa ra cách hiểu chung nhất về hoạt động kinh doanh của NHTM: là toàn bộ

hoạt động của NHTM liên quan đến dịch vụ và giao dịch của ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận

Khác với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại, hoạt động kinh doanh của NHTM có đặc thù riêng và mang những đặc điểm cơ bản:

+ Hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn huy động

+ Các hoạt động kinh doanh chính của NHTM gồm kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ, trong đó cho vay chiếm tỷ trọng lớn

Trang 26

+ Hoạt động kinh doanh của ngân hàng diễn ra liên tục theo thời gian

+ Giữa các hoạt động kinh doanh của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, tạo

ra dòng lưu chuyển tiền tệ trong ngân hàng

+ Hoạt động kinh doanh liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng khách hàng

+ Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu quản lý của Ngân hàng Trung ương (NHTW) thông qua việc thực hiện chính sách tiền tệ

• Hiệu quả kinh doanh của NHTM

NHTM là một định chế tài chính trung gian quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu (Peter S.Rose, 2014),

vì vậy kinh doanh có hiệu quả là yêu cầu cũng là thách thức đối với mỗi ngân hàng Hiệu quả kinh doanh (HQKD) của NHTM chính là khả năng tạo ra lợi nhuận, đồng thời vẫn đảm bảo an toàn cho các hoạt động của Ngân hàng theo quỹ đạo nhất định, hạn chế rủi ro HQKD giữ một vai trò quản trọng nhằm xác định năng lực và mức

độ đáp ứng các nhiệm vụ của ngân hàng

Khi xem xét HQKD của NHTM, các bài nghiên cứu thường xem xét ở 2 góc độ: hiệu quả kinh tế (lợi nhuận, chi phí, ) và hiệu quả xã hội (các mục tiêu an sinh

xã hội, ) Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, bài viết chỉ dựa trên các tiêu chuẩn kinh tế để đánh giá đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

Nhóm nhà kinh tế học Peter S Rose, Sylvia C Hudgins đề cập trong giáo trình Quản trị Ngân hàng và dịch vụ tài chính: “Hiệu quả của các tổ chức tài chính đáp ứng tốt nhất nhu cầu của cổ đông, người lao động, người gửi tiền và khách hàng vay tiền; đồng thời các tổ chức tài chính tuân thủ những quy định của Chính phủ về quy chế hoạt động, cho vay và đầu tư”

Berger và cộng sự đưa ra quan điểm: “Hiệu quả sử dụng nguồn lực của NHTM thể hiện qua mối quan hệ giữa doanh thu đầu ra và chi phí sử dụng các nguồn lực đầu vào hay chính là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các đầu

ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh của NHTM”

Trang 27

Theo Từ điển Toán kinh tế, thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt: Hiệu quả

được định nghĩa là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa dịch vụ Đối với NHTM, đầu vào là các nguồn lực như: lao động, cơ sở

vật chất, nguồn tài chính, cho các hoạt động đầu ra chính là: nhận tiền gửi, cho vay và đầu tư Đây là căn cứ để xác định mức độ hiệu quả và yếu tố tác động đến hiệu quả của NHTM

Tương tự như vậy, trong nhiều nghiên cứu về hoạt động ngân hàng, một số tác giả tiếp cận ngân hàng như là đơn vị sản xuất, kết hợp với vai trò trung gian tài chính của nó mà đưa ra cách tiếp cận đầu ra theo giá trị gia tăng Berger, Hanweck

và Humphrey (1987), cho rằng các số liệu trên bảng cân đối kế toán (tài sản hoặc nợ phải trả) như là đầu ra, đóng góp vào giá trị gia tăng của ngân hàng Theo cách tiếp cận này, các hạng mục chính của các khoản tiền gửi (tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn) và cho vay (cho vay khách hàng, cho vay các TCTD khác, tiền gửi tại các TCTD khác) là kết quả đầu ra vì chúng thể hiện giá trị gia tăng của ngân hàng

Tóm lại, có nhiều quan điểm về HQKD của NHTM, giữa chúng không có sự mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau Mỗi quan điểm đều có sự hợp lý ở góc nhìn khác nhau Với mục đích nghiên cứu của đề tài này Từ phân tích và mục tiêu nghiên cứu

của đề tài, bài viết sử dụng khái niệm về HQKD như sau: “HQKD của NHTM là

phạm trù phản ánh khả năng biến đổi đầu vào thành đầu ra, xem xét trong mối quan hệ giữa đầu ra như giá trị gia tăng của ngân hàng với đầu vào là vốn, tài sản, lao động, chi phí, để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo an toàn.”

1.1.2.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng

Việc đánh giá HQKD của NHTM trong nền kinh tế thị trường là một việc làm phức tạp vì hoạt động này có tính đặc thù, liên quan đến nhiều nhóm chủ thể, phụ thuộc nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, hiệu quả là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả

Trang 28

năng biến đổi đầu vào thành đầu ra Để tính toán hiệu quả đúng cần xác định đầu vào, đầu ra đảm bảo chính xác, thực chất và khách quan

Các hệ số tài chính là công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá, phân tích và phản ánh hiệu quả hoạt động của các NHTM ở cấp ngành và cấp quản

lý của Chính phủ Mỗi hệ số là một chỉ tiêu cho biết mối quan hệ giữa hai biến số tài chính qua đó cho phép phân tích và so sánh giữa các chi nhánh, giữa các ngân hàng và phân tích xu hướng biến động của các biến số này theo thời gian Có nhiều loại hệ số tài chính được sử dụng để đánh giá các khía cạnh hoạt động khác nhau của một ngân hàng Theo Thái Văn Đại (2012) trong giáo trình Quản trị Ngân hàng Thương mại, các hệ số tài chính để đánh giá HQHĐ của NHTM chia thành 2 nhóm chỉ tiêu: phản ánh khả năng sinh lời và phản ảnh rủi ro tài chính Các chỉ tiêu được tính toán có mối quan hệ và tác động qua lại, chuyển hóa cho nhau và tạo nên mối quan hệ nhân quả

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng STT Chỉ tiêu Ý nghĩa

(I) Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

1 Lợi nhuận

trước thuế

(EBT)

Lợi nhuận trước thuế = (Thu lãi – Chi lãi) + (Thu khác – Chi khác)

• Chỉ tiêu phản ánh chi tiết về lợi nhuận, tính toán trên chỉ tiêu thu lãi và chi lãi, thu khác và chi khác

• Thu lãi và chi lãi là kết quả của hai hoạt động cơ bản của ngân hàng là cho vay và huy động vốn Thu khác và chi khác,

là kết quả thu nhập và chi phí của hoạt động dịch vụ, mua bán chứng khoán kinh doanh, mua bán chứng khoán đầu tư và hoạt động chung của NHTM

2 Lợi nhuận

sau thuế

(EAT)

Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế TNDN

• Chỉ tiêu này phản ánh kết quả cuối cùng của NHTM sau khi thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước

• Chỉ tiêu nói lên hiệu quả xã hội của NHTM thông qua mức đóng góp của NHTM vào ngân sách nhà nước

Trang 29

ra ROE ≥ 12% - 15% Tại Việt Nam: tốt nếu trong khoảng 14% - 17%

• Chỉ tiêu này cao khi vốn chủ sở hữu chưa thay đổi, được đánh giá là tốt vì chứng tỏ khả năng tạo lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng là tốt, ngân hàng sử dụng tối ưu vốn chủ sở hữu của mình Ngược lại, nếu ROE tương đối thấp

so với ngân hàng khác thì làm giảm khả năng thu hút vốn cần thiết để mở rộng kinh doanh

• Kết quả của chỉ tiêu này càng lớn với hàm ý HQKD của ngân hàng tốt, khả năng tạo lợi nhuận dựa vào phần tài sản của ngân hàng là cao trong kỳ

Tổng tài sản có sinh lời

• Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả trong việc tạo vốn và sử dụng vốn của ngân hàng Chỉ tiêu càng cao càng chứng tỏ ngân hàng kinh doanh hiệu quả và ngược lại

• Ngân hàng có thể đạt được NIM cao thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn

có chi phí thấp

Trang 30

• NPL là một thước đo đánh giá Rủi ro tín dụng

• Chỉ tiêu phản ánh chất lượng tài sản cho vay, phản ánh mức độ rủi ro của tài sản trong danh mục cho vay Nợ xấu là khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 Chỉ số này càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng càng cao Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ này ≤ 2% đối với các nước phát triển, ở Việt Nam tỷ lệ này ≤ 3% đối với các nước đang phát triển

3 Hệ số an

toàn vốn

(CAR)

CAR = Vốn chủ sở hữu

Tài sản có điều chỉnh theo hệ số rủi ro

• Chỉ tiêu quan trọng đo lường mức độ an toàn vốn tối thiểu trong hoạt động của NHTM

• Chỉ tiêu đánh giá HQKD gắn với vấn đề an toàn trong hoạt động của NHTM, phản ánh khả năng sử dụng vốn để bù đắp các tổn thất của tài sản có rủi ro, chống lại những cú sốc về tài chính CAR ≥ 8% (theo quy định của Basel II); CAR ≥ 9% (theo quy định ở Việt Nam)

Trang 31

Tác động của việc phát hành ESOP tới hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại

Theo kết quả điều tra, tại Việt Nam thời điểm tháng 09/2019, 22,55% ngân hàng thiếu lao động cần thiết và có gần 60% tổ chức tín dụng tuyển thêm lao động trong quý IV/2019 Mức lương bình quân mà các ngân hàng chi trả cho nhân viên tăng lên nhanh chóng trong các năm gần đây và ở mặt bằng cao trên thị trường Tính bình quân 9 tháng đầu năm 2019, đã có 3 ngân hàng chi trả cho nhân viên mức thu nhập bình quân hơn 30 triệu đồng/tháng Để giảm áp lực tăng lương tăng thưởng mà vẫn giữ chân được người lao động đặc biệt là nhóm cán bộ cấp cao, nhiều Ngân hàng tiến hành sử dụng ESOP

Về cơ bản, cũng giống như các loại hình doanh nghiệp khác, Ngân hàng phát hành cổ phiếu ESOP với mục đích ban đầu là giữ chân nhân viên, khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân, tập thể từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Không chỉ đem lại lợi ích cho người lao động, ESOP còn giúp các Ngân hàng không phải ghi nhận một khoản chi phí lương thưởng khi chi trả bằng tiền Ngân hàng khi phát hành ESOP sẽ không chi thưởng bằng tiền mà sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại hoặc thặng dư vốn để phát hành Vì vậy, “thưởng” cho cán bộ nhân viên bằng ESOP không ảnh hưởng đến dòng tiền phục vụ các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng, càng đặc biệt quan trọng khi Ngân hàng là ngành nghề đặc biệt chuyên kinh doanh về tiền

Bên cạnh việc khen thưởng khích lệ người lao động, Ngân hàng phát hành cổ phiếu ESOP cho người lao động để tăng vốn chủ sở hữu Là một định chế tài chính đặc biệt, vốn chủ sở hữu của NHTM mang một số điểm riêng có như về thành phần của vốn, vai trò của vốn,… Với chức năng là trung gian tín dụng, NHTM chỉ lấy vốn chủ sở hữu làm bàn đạp ban đầu; còn lại, NHTM không ngừng huy động tiền của các chủ thể khác trong xã hội và nền kinh tế để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của mình Nhưng vốn chủ sở hữu có vai trò hết sức quan trọng là tấm đệm chống đỡ rủi ro, bảo vệ người gửi tiền/ký thác và các quỹ bảo hiểm tiền gửi; tạo niềm tin cho người gửi tiền, thu hút tiền gửi; cung cấp nguồn lực tài chính cho sự

Trang 32

tăng trưởng và phát triển,… Nhằm đảm bảo NHTM kinh doanh an toàn, có rất nhiều quy định cho hoạt động của các trung gian tài chính này liên quan chặt chẽ và trực tiếp đến vốn chủ sở hữu Trong đó, nếu quy mô vốn chủ sở hữu của NHTM quá nhỏ, ngân hàng sẽ thực sự rơi vào trạng thái ngột ngạt và khó có khả năng xoay sở khi bị trói buộc trong những định mức, giới hạn ấy Để sự tăng trưởng của một ngân hàng có thể được duy trì ổn định và lâu dài, các cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính thường yêu cầu vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và các tài sản rủi ro khác, sao cho tương xứng với quy mô rủi ro của ngân hàng Vì vậy, đặc biệt với các Ngân hàng lớn, phát hành ESOP là một biện pháp hữu hiệu vừa để giữ chân nhân sự, khuyến khích năng suất lao động mà vẫn tăng được vốn để hoạt động kinh doanh

Như đã trình bày, có rất nhiều các chỉ tiêu đo lường HQKD của Ngân hàng phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu Trong đó, ROA, ROE và NIM là các chỉ tiêu phổ biến có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đánh giá lợi nhuận của doanh nghiệp

Vì vậy, trong phạm vi bài nghiên cứu, tác giả sử dụng chính 3 chỉ tiêu ROA, ROE

và NIM để đánh giá HQKD của các NHTM CP

1.2 Thực trạng chương trình phát hành cổ phiếu ESOP tại Việt Nam

Bối cảnh nghiên cứu

1.2.1.1 Hệ thống khung pháp lý

Ở Việt Nam, có rất ít các văn bản quy định trực tiếp về hoạt động phát hành cổ phiếu để thưởng cho nhân viên Văn bản quan trọng nhất là Thông tư số 162/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính về hướng dẫn việc chào bán chứng khoán ra công chúng, chào bán cổ phiếu để hoán đổi, phát hành thêm cổ phiếu, mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ và chào mua công khai cổ phiếu Thông tư này điều chỉnh

việc: phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn người lao động

Ngoài ra, ESOP là hoạt động phát hành cổ phiếu nên sẽ được thực hiện theo các quy định quản lý của chứng khoán như:

Trang 33

- Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2006;

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán số 62/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010;

- Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 của Chỉnh phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán;

- Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

1.2.1.2 Điều kiện phát hành cổ phiếu ESOP cho người lao động

Căn cứ theo Điều 35, Thông tư số 162/2016/TT-BTC thì quy định chung để được phát hành cổ phiếu ESOP bao gồm:

- Có chương trình lựa chọn và kế hoạch phát hành cổ phiếu được ĐHĐCĐ thông qua

- Tổng số cổ phiếu phát hành theo chương trình trong mỗi 12 tháng không được vượt quá 5% số cổ phần đang lưu hành của công ty

- HĐQT phải công bố rõ những nội dung sau:

+ Các tiêu chuẩn và danh sách người lao động được tham gia chương trình + Nguyên tắc xác định giá bán

+ Nguyên tắc xác định số cổ phiếu được phân phối cho từng đối tượng và thời gian thực hiện

Bên cạnh đó, để phát hành cổ phiếu thưởng cho người lao động thì công ty phải có đủ nguồn vốn để thực hiện chương trình Nguồn vốn bao gồm: thặng dư vốn, quỹ đầu tư phát triển, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, quỹ khác (nếu có) được sử dụng để bổ sung vốn điều lệ Các nguồn vốn này được thể hiện trên báo cáo tài chính kiểm toán gần nhất theo quy định Tổng giá trị các nguồn phải đảm bảo

Trang 34

không thấp hơn tổng giá trị vốn cổ phần tăng thêm theo phương án được ĐHĐCĐ thông qua

➢ Phát hành từ nguồn lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

Nguồn vốn thực hiện không được vượt quá mức lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên báo cáo tài chính hợp nhất được kiểm toán

Nếu nguồn vốn thực hiện sử dụng thấp hơn lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên báo cáo tài chính hợp nhất và cao hơn mức lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên báo cáo tài chính của công ty mẹ thì Công ty chỉ được sử dụng lợi nhuận sau thuế chưa phân phối sau khi đã điều chuyển lợi nhuận từ các công ty con về công ty

mẹ theo hướng dẫn về phân phối lợi nhuận của chế độ kế toán doanh nghiệp

➢ Phát hành từ các nguồn khác

Nguồn vốn thực hiện được căn cứ trên báo cáo tài chính của công ty mẹ

1.2.1.3 Quy định về báo cáo và công bố thông tin về việc phát hành cổ phiếu ESOP

cho người lao động

Trang 35

Hình 1.2 Quy trình phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người

lao động tại Việt Nam

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Căn cứ theo Điều 37, Thông tư số 162/2016/TT-BTC thì các công ty thực hiện phát hành cổ phiếu ESOP phải thực hiện đầy đủ việc báo cáo và công bố thông tin như sau:

Quy trình phát hành ESOP

Doanh nghiệp xây dựng ESOP

Trình Đại Hội đồng cổ đông

ĐHĐCĐ biểu quyết

Bác bỏ

Dừng ESOP

Thông qua

Tiến hành ESOP

Chuẩn bị tài liệu báo cáo phát hành ESOP

Báo cáo kết quả phát hành ESOP

hồ sơ

Công bố kết quả ra công chúng Đăng tải thông tin

Đăng ký, niêm yết bổ sung

cổ phiếu ESOP Gửi kết quả phát hành cho đơn vị,

SGDCK, TT Lưu ký CK

Trang 36

➢ Báo cáo về Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

• Báo cáo phát hành thêm cổ phiếu

Tài liệu báo cáo bao gồm:

(1) Báo cáo phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty;

(2) Quyết định của ĐHĐCĐ thông qua chương trình lựa chọn và kế hoạch phát hành cho NLĐ Những người có quyền lợi liên quan đến đợt phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty thì không được tham gia biểu quyết thông qua Nghị quyết của ĐHĐCĐ về việc phát hành này;

(3) Quyết định của ĐHĐCĐ hoặc HĐQT thông qua tiêu chuẩn và danh sách NLĐ được tham gia chương trình, nguyên tắc xác định giá bán, nguyên tắc xác định

số cổ phiếu được phân phối cho từng đối tượng và thời gian thực hiện;

(4) Quyết định của HĐQT thông qua việc triển khai thực hiện phương án phát hành Phương án phát hành phải bao gồm đầy đủ các nội dung: loại cổ phiếu, giá phát hành, số lượng cổ phiếu phát hành, tỷ lệ cổ phiếu phát hành, tổng giá trị phát hành, nguồn vốn (trong trường hợp phát hành cổ phiếu thưởng cho NLĐ), hạn chế chuyển nhượng (nếu có), thời gian hiệu lực thực hiện,

(5) Báo cáo tài chính gần nhất được kiểm toán theo quy định trong trường hợp phát hành cổ phiếu thưởng cho NLĐ trong công ty;

(6) Tài liệu chứng minh việc đã điều chuyển lợi nhuận từ các công ty con về công ty mẹ theo hướng dẫn về phân phối lợi nhuận của chế độ kế toán doanh nghiệp trong trường hợp sử dụng lợi nhuận sau thuế chưa phân phối làm nguồn để phát hành cổ phiếu thưởng cho NLĐ và nguồn vốn thực hiện thấp hơn lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên BCTC hợp nhất, cao hơn mức lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên BCTC của công ty mẹ

• Báo cáo kết quả phát hành cổ phiếu

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc việc thu tiền mua cổ phiếu hoặc ngày chuyển quyền sở hữu cổ phiếu thưởng cho người lao động, đơn vị phát hành

Trang 37

phải báo cáo kết quả phát hành cổ phiếu có kèm theo danh sách NLĐ tham gia chương trình, trong đó nêu cụ thể về số lượng cổ phần của từng NLĐ được tham gia

➢ Công bố thông tin

- Kể từ ngày UBCKNN thông báo về việc nhận được đầy đủ tài liệu báo cáo phát hành thêm cổ phiếu:

+ Trong thời hạn bảy 7 ngày làm việc, tổ chức phát hành phải công bố thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ Việc công bố thông tin phải được thực hiện ít nhất bảy 7 ngày làm việc trước ngày kết thúc việc thu tiền mua cổ phiếu hoặc ngày chuyển quyền sở hữu cổ phiếu thưởng

+ Trong thời hạn 45 ngày, phải kết thúc việc thu tiền mua cổ phiếu hoặc chuyển quyền sở hữu cổ phiếu thưởng

- Khi gửi báo cáo kết quả phát hành cho UBCKNN, đồng thời tổ chức phát hành phải thực hiện công bố thông tin ra công chúng

- Trong thời hạn 15 ngày sau khi UBCKNN thông báo về nhận được đẩy đủ tài liệu báo cáo kết quả phát hành, công ty phải tiến hành đăng ký niêm yết bổ sung với Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) đối với số lượng cổ phiếu đã phát hành

Thực trạng hoạt động phát hành cổ phiếu ESOP cho người lao động tại các Ngân hàng TMCP ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động cũng đã có từ nhiều năm nay ở cả cơ quan doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa và doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Đối với các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty Cổ phần (cổ phần hóa): Theo quy định tại Nghị định số 187/2004/NĐ-CP, các doanh nghiệp nhà nước khi chuyển đổi thành công ty cổ phần, người lao động sẽ được mua 100 cổ phần cho mỗi năm làm việc thực tế với mức giảm giá là 40% so với giá đấu giá thành công bình quân

Trang 38

Trong lĩnh vực Ngân hàng, đó là sự cổ phần hóa của 3 Ngân hàng nhà nước: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank – Mã chứng khoán: VCB) đã phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chứng (Initial Public Offering – IPO) vào ngày 26/12/2007, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank – Mã chứng khoán: CTG) đã IPO vào ngày 25/12/2008 và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV – Mã chứng khoán: BID) đã IPO vào ngày 28/12/2011 Xét trong hệ thống NHTM thì trong 2 năm 2009 và 2010 cũng đã ghi nhận 2 trường hợp đầu tiên thực hiện ESOP Đó là Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank – Mã chứng khoán: TCB) và Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB – Mã chứng khoán: SCB) đều sử dụng nguồn thặng dư vốn để phát hành cổ phiếu tặng thưởng cho cán bộ nhân viên

Từ năm 2015 khi thông tư 162/2015 của Bộ Tài chính chính thức có hiệu lực thì cũng ghi nhận thêm nhiều Ngân hàng phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động

Ở Việt Nam có 31 Ngân hàng TMCP đang hoạt động, nhưng chỉ khoảng 6 ngân hàng đã từng sử dụng ESOP hoặc thông báo sẽ sử dụng ESOP Bên cạnh đó, khi tiến hành nghiên cứu các ngân hàng đã được niệm yết trên sàn giao dịch thì số lượng này lại càng hạn chế

Trang 39

Bảng 1.2: Danh sách các Ngân hàng TMCP đã phát hành ESOP

Giai đoạn: Từ năm 2015 đến nay

Stt Ngân hàng Mã

CK Năm Số CP ESOP

phát hành

Số CP đang lưu hành Tỷ lệ

Nguồn: Dữ liệu tài chính và công cụ đầu tư chứng khoán

Ghi chú: * VIB tiến hành ESOP bằng cách thưởng cổ phiếu quỹ cho nhân viên

Đề án "Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến

năm 2020 và định hướng đến năm 2025" được Thủ tướng phê duyệt ngày

28/02/2019 đã đề ra một loạt các giải pháp cơ cấu lại thị trường Trong đó có yêu cầu bắt buộc các NH TMCP đến hết năm 2020 phải thực hiện việc niêm yết, đăng

ký giao dịch cổ phiếu trên thị trường chính thức như HoSE, HNX và UPCoM

Trang 40

Nhưng đến thời điểm hiện tại mới chỉ có 18 trên tổng số 31 NH TMCP đã thực hiện niêm yết

Biểu 1.1: Khối lượng CP của các NHTM đang niêm yết trên sàn chứng khoán

Đơn vị: triệu cổ phiếu

Nguồn: Dữ liệu tài chính và công cụ đầu tư chứng khoán

Nhìn về tổng thể, sàn HoSE vượt trội hơn cả 2 sàn HNX và sàn UPCoM về số lượng ngân hàng niêm yết cũng như tổng khối lượng cổ phiếu đang giao dịch, có 10

NH TMCP đang niêm yết trên sàn HoSE với tổng số cổ phiếu là trên 24,8 tỷ cổ phiếu tương ứng 78,43% toàn bộ số cổ phiếu của ngành ngân hàng Tất cả các Ngân hàng đã thực hiện phát hành ESOP từ năm 2015 đến năm 2019 đều được niêm yết trên sàn HoSE

1,663

1,455

410

4,022 3,723 3,709

Ngày đăng: 22/01/2021, 08:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Thị Thu, Nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết nhằm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết nhằm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
1. Ali, Tariq, The Blair Kirsch project, New York Vol. 51, Iss. 8, 2000, p. 13-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Blair Kirsch project
2. Bakan, I., Suseno, Y., Pinnington, A., & Money, A., The influence of financial participation and participation in decision-making on employee job attitudes, International Journal of Human Resource Management, 15, 3, 2004, p. 587-616 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The influence of financial participation and participation in decision-making on employee job attitudes
3. Bryson, A., & Freeman, R., Doing the right thing? Does fair share capitalism improve workplace performance?, Employment Relations Research Series, 81, 2004, p. 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doing the right thing? Does fair share capitalism improve workplace performance
4. Curme, M. & Stefanec, N., “Worker quality and labor market sorting”, Economic Letters, 96(2) , 2007, p. 202‐208 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Worker quality and labor market sorting”
5. Davidson W. & Worell D., A Comparison and Test of the Use of Accounting and Stock Market Data in Relating Corporate Social Responsibility and Financial Performance, Ak- ron Business and Economic Review, vol. 21, 1994, p. 7-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Comparison and Test of the Use of Accounting and Stock Market Data in Relating Corporate Social Responsibility and Financial Performance
6. Freeman, R.B., “Job satisfaction as an economic variable”, American Economic Review, 68(2) , 1978, p. 135‐41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Job satisfaction as an economic variable”
7. Green, C. and Heywood, J.S., Does performance pay increase job satisfaction?, Economica, 75(300), 2008, p. 710‐728 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Does performance pay increase job satisfaction
8. Hu, Y., & Izumida, S., The Relationship between Ownership and Performance: A Review of Theory and Evidence, International Business Research, 1(4) , 2009, p. 72-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Relationship between Ownership and Performance: A Review of Theory and Evidence
9. Hallock, D. E., Salazar, R.J., & Venneman, S., Demographic and attitudinal correlates of employee satisfaction with an ESOP, British Journal of Management, 15, 4, 2004, p. 321-333 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Demographic and attitudinal correlates of employee satisfaction with an ESOP
10. Jones, D.C., & Kato, T., The productivity effects of employee stock ownership plans and bonuses: Evidence from Japanese panel data, American Economic Review, 85,3, 1995, p. 391– 414 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The productivity effects of employee stock ownership plans and bonuses: Evidence from Japanese panel data
11. Kumbhakar, S.C., & Dunbar, A.E., The elusive ESOP productivity link: Evidence from U.S. firm-level data, Journal of Public Economics, 52, 1993, p. 273- 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The elusive ESOP productivity link: "Evidence from U.S. firm-level data
12. Kramer, B., Employee ownership and participation effects on firm outcomes‖, A dissertation submitted to the Graduate Faculty in Economics in partial fulfillment of the requirements for the degree of Doctor of Philosophy, The City University of New York, 126 pp, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Employee ownership and participation effects on firm outcomes‖, A dissertation submitted to the Graduate Faculty in Economics in partial fulfillment of the requirements for the degree of Doctor of Philosophy
13. Kim, E.H., & Ouimet, P., Employee capitalism or corporate socialism? Broad-based employee stock ownership‖, US Census Bureau Center for Economic Studies, CES-WP- 09-44, 52, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Employee capitalism or corporate socialism? "Broad-based employee stock ownership‖, US Census Bureau Center for Economic Studies
14. Kruse, D., Blasi,J., & Freeman,R., Does shared capitalism help the best firms do even better?, NBER Working Paper No.17745,http://www.nber.org/papers/w17745, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Does shared capitalism help the best firms "do even better
15. Louis O Kelso, The distributive dynamics of capitalism, self-published, 2nd edition, 1956 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The distributive dynamics of capitalism
17. M. Quarry and C.M. Rosen, Employee ownership and corporate performance, NCEO, 1991.18. Mehran, NCEO, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Employee ownership and corporate performance
19. Meng, R., Ning, X., Zhou, X., & Zhu, H., Do ESOPs enhance firm performance? Evidence from China’s reform experiment, Journal of Banking &Finance, 35(6), 2011, p. 1541-1551 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Do ESOPs enhance firm performance? Evidence from China’s reform experiment
21. Ng, W. C., The Impact of Employees’ Share Option Schemes in Singapore, Academic Exercise, University of Singapore, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Impact of Employees’ Share Option Schemes in Singapore
22. Obiyathulla, I. B, Sharifah-Raihan, S. M. Z., Mohd-Eskandar, S. M. R & Azhar, M., Granting Employee Stock Options (ESOs), Market Reaction and Financial Performance, Asian Academy of Management Journal of Accounting and Finance, 5(1) , 2009, p. 117-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Granting Employee Stock Options (ESOs), Market Reaction and Financial Performance

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w