Luận văn lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một số nền kinh tế đang phát triển và một số chính sách nhằm chống “rửa tiền” ở Việt Nam” với mong muốn đưa ra được những phân tích chuyên sâu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một số nền kinh tế đang phát triển, đánh giá chính sách chống “rửa tiền” ở các nền kinh tế này để từ đó đưa ra những đề xuất chính sách phù hợp nhằm giúp Việt Nam có thể tuân thủ tốt hơn những tiêu chuẩn quốc tế nhằm chống “rửa tiền” một cách hiệu quả.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA “RỬA TIỀN” ĐỐI VỚI MỘT SỐ NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH NHẰM CHỐNG “RỬA TIỀN” Ở VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế quốc tế
HOÀNG ĐỨC VIỆT
Hà Nội-2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA “RỬA TIỀN” ĐỐI VỚI MỘT SỐ NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH NHẰM CHỐNG “RỬA TIỀN” Ở VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 8310106
Họ và tên học viên: Hoàng Đức Việt
Người hướng dẫn: PGS TS Hoàng Xuân Bình
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng
em có sự hỗ trợ từ giảng viên hướng dẫn và không sao chép công trình nghiên cứu của người khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 05 năm 2020
Người viết
Hoàng Đức Việt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Ngoại thương đã tạo điều kiện về tinh thần và thời gian cho học viên; tới Ban chủ nhiệm Khoa Sau Đại học và toàn bộ đội ngũ cán bộ Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Ngoại Thương vì những hỗ trợ, giúp đỡ cần thiết cho học viên trong thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn đến Quý thầy cô Trường Đại học Ngoại thương, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho em trong quá trình học tập Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS TS Hoàng Xuân Bình đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 29 tháng 05 năm 2020
Người viết
Hoàng Đức Việt
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ viii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN ix
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 3
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 3
2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu: 10
7 Kết cấu luận văn 11
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ “RỬA TIỀN” 12
1.1 Khái niệm chung 12
1.1.1 Khái niệm 12
1.1.2 Nguồn gốc của “tiền bẩn” 13
1.2 Quy trình “rửa tiền” 14
1.2.1 Ký thác 14
1.2.2 Phân tán 15
1.2.3 Hội tụ 17
1.3 Đánh giá rủi ro “rửa tiền” của một quốc gia 18
1.3.1 Cách thức đánh giá 18
1.3.2 Các cơ quan phụ trách việc đánh giá rủi ro “rửa tiền” của một quốc gia và nguồn dữ liệu phục vụ việc đánh giá 20
1.4 Ảnh hưởng của “rửa tiền” đối với nền kinh tế 22
1.4.1 Đối với lĩnh vực tài chính: “Rửa tiền” làm xói mòn các tổ chức tài chính 22
1.4.2 Đối với lĩnh vực sản xuất: Rửa tiền làm giảm tăng trưởng 23
1.4.3 Đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại: “Rửa tiền” làm méo mó dòng chảy vốn và thương mại 27
Trang 61.4.4 Đối với lĩnh vực tài khóa: “Rửa tiền” làm giảm doanh thu từ thuế 30
1.5 Những xu hướng “rửa tiền” mới hiện nay 30
1.5.1 Sự gia tăng nhanh chóng của nạn “rửa tiền” xuyên quốc gia 30
1.5.2 Xu hướng chuyên nghiệp hóa hoạt động “rửa tiền” 30
1.5.3 Xu hướng “rửa tiền” qua mạng 31
1.6 Tiêu chuẩn của quốc tế về chống “rửa tiền 32
1.6.1 Các tổ chức quốc tế trong chống “rửa tiền” 32
1.6.2 Nhóm các tiêu chuẩn quốc tế về chống “rửa tiền” 33
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA “RỬA TIỀN” ĐỐI VỚI MỘT SỐ NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN 36
2.1 Ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với nền kinh tế Ukraine 36
2.1.1 Đối với lĩnh vực tài chính 36
2.1.2 Đối với lĩnh vực sản xuất 38
2.1.3 Đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại 41
2.1.4 Đối với lĩnh vực tài khóa 42
2.1.5 Chính sách chống “rửa tiền” ở Ukraine 44
2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với nền kinh tế Nigeria 50
2.2.1 Đối lĩnh vực tài chính 50
2.2.2 Đối với lĩnh vực sản xuất 51
2.2.3 Đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại 54
2.2.4 Đối với lĩnh vực tài khóa 57
2.2.5 Chính sách chống “rửa tiền” ở Nigeria 59
2.3 Ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với nền kinh tế Pakistan 65
2.3.1 Đối với lĩnh vực tài chính 65
2.3.2 Đối với lĩnh vực sản xuất 70
2.3.3 Đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại 73
2.3.4 Đối với lĩnh vực tài khóa 74
2.3.5 Chính sách chống “rửa tiền” ở Pakistan 76
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ CHÍNH SÁCH NHẰM CHỐNG “RỬA TIỀN” Ở VIỆT NAM 82
3.1 Thực trạng hoạt động “rửa tiền” ở Việt Nam 82
3.1.1 Buôn lậu tiền tệ 82
3.1.2 “Rửa tiền” thông qua FDI 82
3.1.3 “Rửa tiền” thông qua thị trường bất động sản, chứng khoán và bảo hiểm 83
Trang 73.2 Định hướng chính sách cho chống “rửa tiền” ở Việt Nam 84
3.2.1 Các tổ chức quốc tế về chống “rửa tiền” mà Việt Nam là thành viên 84
3.2.2 Định hướng chính sách 84
3.3 Một số đề xuất chính sách nhằm chống “rửa tiền” ở Việt Nam 85
3.3.1 Hình sự hóa tội “rửa tiền” 85
3.3.2 Thẩm quyền tài phán đối với “rửa tiền” xuyên quốc gia 87
3.3.3 Tịch thu tài sản tội phạm 89
3.3.4 Tương trợ tư pháp trong việc chống “rửa tiền” 91
3.3.5 Dẫn độ tội phạm “rửa tiền” 92
3.3.6 Ngăn chặn việc tội phạm sử dụng các tổ chức tài chính, các ngành nghề và doanh nghiệp phi tài chính được chỉ định cho mục đích “rửa tiền” 93
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết
tắt
Cụm từ đầy đủ Tiếng Anh
Cụm từ đầy đủ Tiếng Việt
Money Laundering
Nhóm châu Á - Thái Bình Dương về chống
“rửa tiền”
FATF Financial Action Task Force Lực lượng đặc nhiệm tài
chính chống “rửa tiền” FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước
ngoài FIU Financial Intelligence Unit Cơ quan tình báo tài
chính GIABA Inter-Governmental Action
Group Against Money Laundering in West Africa
Nhóm hành động liên chính phủ chống “rửa tiền” tại Tây Phi
and Terrorist Financing Threat Assessment
Đánh giá mối đe dọa
“rửa tiền” và tài trợ khủng bố toàn cầu IMF International Monetary
Fund
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
INSCR International Narcotics
Control Strategy Report
Báo cáo chiến lược kiểm soát ma túy quốc tế INTERP
UNODC United Nations Office on
Drugs and Crime
Văn phòng Liên Hiệp Quốc về chống Ma túy
và Tội phạm
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tình trạng tháo chạy vốn ở Nigeria từ năm 1980 đến năm 2017 55
Bảng 2.2: Ước tính tổng thiệt hại về thuế do nền kinh tế ngầm ở Nigeria từ năm 1980 đến năm 2013 59
Bảng 2.3: Ước tính quy mô của nền kinh tế ngầm (% của cả nền kinh tế) 66
Bảng 2.4: Các chỉ số kinh tế của Pakistan trong vòng 3 năm trở lại đây 72
Bảng 2.5: Báo hóa đơn thương mại sai ở Pakistan từ năm 1972 đến năm 2013 73
Bảng 2.6: Tỷ lệ các giao dịch đáng ngờ có liên quan đến trốn thuế ở Pakistan từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2018 75
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Hình 1.1: Quy trình đánh giá rủi ro “rửa tiền” quốc gia 19
Hình 1.2: Thành phần chi phí trong hoạt động kinh doanh của tội phạm 25
Hình 1.3: Tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quốc tế và tác động của chúng đối với chính sách quốc gia và tiêu chuẩn cho các tổ chức tư nhân 32
Hình 2.1: Mức độ an ninh kinh tế và quy mô nền kinh tế ngầm ở Ukraine……… 37
Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng của các giao dịch đáng ngờ và CPI 37
Hình 2.3: Tỷ lệ của các giao dịch tài chính đáng ngờ so với GDP và ngân sách của Ukraine 38
Hình 2.4: Các tội phạm nguồn của “rửa tiền” ở Ukraine 38
Hình 2.5: Hoạt động của Cục An ninh Ukraine chống lại các tổ chức tội phạm 40
Hình 2.6: Tổn thất GDP do hậu quả của hoạt động “rửa tiền” và tội phạm gia tăng ở Ukraine 41
Hình 2.7: Động lực của chỉ số giao dịch chứng khoán Ukraine giai đoạn từ 2007 - 2013 42
Hình 2.8: Tổn thất ngân sách do hậu quả của hoạt động “rửa tiền” và gia tăng trốn thuế ở Ukraine 43
Hình 2.9: Một số tỷ lệ thể hiện tình trạng không lành mạnh của hệ thống ngân hàng ở Nigeria từ 1999 - 2005 51
Hình 2.10: Nhập khẩu và sản xuất ở Nigeria từ năm 1977 - 1997 53
Hình 2.11: Tốc độ tăng trưởng GDP ở Nigeria từ năm 1980 đến năm 2000 53
Hình 2.12: Tỷ lệ đầu tư nước ngoài vào trong nước so với GDP của Ngeria từ năm 1971 đến 2000 54
Hình 2.13: Báo cáo tình hình nhập khẩu vốn từ năm 2014 đến quý 1 năm 2016 của Nigeria 56
Hình 2.14: Dự trữ ngoại hối của Pakistan từ năm 1960 đến năm 2020 67
Hình 2.15: Tốc độ tăng trưởng GDP của Pakistan từ năm 2000 - 2010 70
Hình 2.16: Đóng góp của thuế vào GDP Pakistan giai đoạn 2015 - 2019 75
Trang 11TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Xuất phát từ tính cấp bách của việc chống “rửa tiền” đang ngày càng khó khăn hơn đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, bài luận văn đã tập
trung tìm hiểu về đề tài “Ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một số nền
kinh tế đang phát triển và một số chính sách nhằm chống “rửa tiền” ở Việt Nam”
Sau quá trình nghiên cứu, phân tích, luận văn đã thực hiện được một số kết quả như sau:
Tổng hợp và xây dựng được các vấn đề lý luận chung cho “rửa tiền”;
Đánh giá được ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” ở một số quốc gia đang phát triển tiêu biểu từng chịu hậu quả nặng nề của “rửa tiền” như Ukraine, Nigeria
và Pakistan trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như lĩnh vực tài chính, lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực kinh tế đối ngoại và lĩnh vực tài khóa Tuy nhiên cũng cần lưu ý các ảnh hưởng này là trong thời gian dài;
Đánh giá được các mặt thành công và hạn chế của chính sách chống “rửa tiền” ở ba quốc gia Ukraine, Nigeria và Pakistan để rút ra bài học cho Việt Nam;
Đánh giá được quy định chống “rửa tiền ở Việt Nam hiện tại và đề ra được các đề xuất chính sách nhằm giúp Việt Nam tuân thủ tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế nhằm chống “rửa tiền” hiệu quả
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống kinh tế toàn cầu là một cơ cấu tổ chức phức tạp với rất nhiều cá thể đóng những vai trò khác nhau bao gồm cả tích cực và tiêu cực Có những chính phủ, cộng đồng, các tổ chức tư nhân và cá nhân sản xuất, buôn bán, đầu tư cùng với nhiều hoạt động khác nữa đang đóng góp cho sự phát triển chung của nền kinh tế và lớn mạnh của thị trường nội địa cũng như quốc tế một cách hợp pháp Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có không ít những tổ chức, cá nhân đang cố gắng thao túng nền kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho bản thân mình và tiến hành các hoạt động bất hợp pháp như “rửa tiền” Tất cả các tổ chức tài chính, các tổ chức quốc tế và các chính phủ đều hiểu rằng hoạt động “rửa tiền” thường gắn liền với một hoặc nhiều hoạt động tội phạm Vì vậy, “rửa tiền” là mối nguy hại ảnh hưởng tiêu cực tới tất cả mọi người bao gồm cả các doanh nghiệp, cá nhân và các chính phủ không loại trừ bất kỳ một ai Năm 1995, nhà tội phạm học người Úc John Walker ước tính 2,85 nghìn tỷ USD được “rửa” trên toàn cầu, trong đó gần một nửa (46%) ở Mỹ Năm 1998, Michel Camdessus từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ước tính khoảng 2-5% GDP trên toàn thế giới bị mất hàng năm do “rửa tiền” (Brigitte Unger, 2013, tr 10) Với số lượng khổng lồ như vậy, “rửa tiền” hoàn toàn có thể tàn phá nền kinh tế, an ninh và đem đến những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội Nó cung cấp nguồn động lực cho những đối tượng buôn ma túy, khủng bố, buôn bán vũ khí bất hợp pháp, những quan chức tham nhũng,…vận hành và mở rộng hơn nữa đế chế tội ác của mình Chính vì lý do đó mà các tổ chức tài chính, các tổ chức quốc tế và các chính phủ đã
nỗ lực thực hiện những chính sách cứng rắn nhằm giúp cho hệ thống kinh tế minh bạch, an toàn và chống lại những kẻ đang lợi dụng hệ thống tài chính để thực hiện hoạt động “rửa tiền” hòng che dấu tội ác của mình
Tuy nhiên, với nguồn lực hạn chế và những vướng mắc trong việc tuân thủ đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế, các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam chính
là những nước đang gặp nhiều khó khăn nhất và chịu những ảnh hưởng tiêu cực lớn nhất của “rửa tiền”
Trang 13Năm 2018 , Việt Nam lần đầu công bố Đánh giá rủi ro quốc gia về “rửa tiền”
và tài trợ khủng bố 2012-2017, sau khi trở thành thành viên của APG vào tháng 5
năm 2007 Theo báo cáo này, nguy cơ “rửa tiền” ở Việt Nam được xếp ở mức
Trung bình cao (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018, tr 10) Theo đó Việt Nam
đã căn cứ vào 17 tội phạm nguồn để đánh giá nguy cơ “rửa tiền” và các tội phạm nguồn có nguy cơ “rửa tiền” cao nhất ở Việt Nam bao gồm có:
Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
Vị trí địa lý của Việt Nam làm cho nước ta trở thành một địa điểm vận chuyển hấp dẫn cho những đối tượng buôn lậu ma túy từ Tam giác vàng, Campuchia và Trung Quốc đến Úc, Mỹ, Canada và các nước châu Âu theo như báo cáo của Văn phòng Liên Hiệp Quốc về chống Ma túy và Tội phạm (UNODC, 2013) Số lượng các vụ án này ở Việt Nam cũng là lớn nhất trong số các tội phạm nguồn Vì vậy mà nguy cơ “rửa tiền” đối với việc mua bán, vận chuyển ma túy ở Việt Nam được đánh giá có nguy cơ cao (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018, tr 20)
Tham nhũng
Năm 2018, Tổ chức minh bạch quốc tế xếp Việt Nam đứng thứ 117 trên tổng
số 180 nước và vùng lãnh thổ theo các chuyên gia và doanh nhân về mức độ tham nhũng của khu vực công (Tổ chức minh bạch quốc tế, 2018) Cả chính phủ và công chúng Việt Nam đều nhận ra rằng tham nhũng là mối đe dọa lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự ổn định của xã hội Tham nhũng ngày càng tinh vi và có phạm vi rộng hơn, gây ra mối đe dọa nghiêm trọng cho nền kinh tế cũng như xã hội Trong đó nghiêm trọng nhất phải kể đến tội tham ô tài sản Vì vậy mà nguy cơ “rửa tiền” đối với việc tham nhũng ở Việt Nam được đánh giá cũng có nguy cơ cao (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018, tr 18)
Trang 14các đặc điểm của nó đã được xác định bởi các cơ quan thực thi pháp luật và chuyên gia Việt Nam Từ đầu những năm 2000, sau khi đàn áp một số nhóm tội phạm có tổ chức khét tiếng, các thuật ngữ khác bao gồm tội phạm kiểu “xã hội đen” và tội phạm kiểu Mafia đã được sử dụng rộng rãi để mô tả các nhóm tội phạm có tổ chức nghiêm trọng ở Việt Nam (Hiền Thanh, 2012) Tội phạm kiểu xã hội đen hay Mafia được công nhận là một băng đảng có tổ chức tốt trong cấu trúc, hoạt động và có liên quan đến cho vay nặng lãi cướp có vũ trang, đấu giá, buôn lậu, buôn bán ma túy, mại dâm, tổ chức đánh bạc bất hợp pháp, buôn bán động vật hoang dã và thậm chí giết người theo hợp đồng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018, tr 22)
Tội phạm của người gốc Việt ở nước ngoài
Một số lượng lớn người Việt Nam sống, làm việc và học tập ở nước ngoài Họ
đã đóng góp đáng kể cho nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, một bộ phận cộng đồng người Việt sống ở nước ngoài đã tham gia vào mạng lưới tội phạm, bao gồm buôn bán ma túy, buôn bán người và “rửa tiền” Tại Vương quốc Anh, các cuộc đột kích gần đây vào việc trồng cần sa bất hợp pháp đã cho thấy sự thống trị ngày càng tăng của các nghi phạm có nguồn gốc Việt Nam (Đức Hùng, Văn Hải và Quốc Đạt, 2019) Người ta tin rằng tội phạm Việt Nam tham gia vào việc trồng cần sa bất hợp pháp đã thu được lợi nhuận khổng lồ, và một phần lớn trong số này lợi nhuận đã được chuyển về Việt Nam (Đức Hùng, 2019)
Luận văn lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một số
nền kinh tế đang phát triển và một số chính sách nhằm chống “rửa tiền” ở Việt Nam” với mong muốn đưa ra được những phân tích chuyên sâu trên cả phương
diện lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một số nền kinh tế đang phát triển, đánh giá chính sách chống “rửa tiền” ở các nền kinh tế này
để từ đó đưa ra những đề xuất chính sách phù hợp nhằm giúp Việt Nam có thể tuân thủ tốt hơn những tiêu chuẩn quốc tế nhằm chống “rửa tiền” một cách hiệu quả
2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã bước đầu tiếp cận và phân tích về tội “rửa tiền” và tác động của tội “rửa tiền” đối với nền kinh tế và an ninh
Trang 15quốc gia dưới góc độ luật thực định Bên cạnh đó cũng nêu hệ thống luật pháp liên quan đến công tác phòng, chống “rửa tiền”; vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước, nhất là quản lý kinh tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và hoạt động
“rửa tiền” Các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp ban đầu về phòng, chống tội
“rửa tiền” ở Việt Nam Các công trình, bài viết phân tích này sẽ tiếp tục được tác giả luận văn đánh giá, nghiên cứu từ đó đưa ra những nhận định riêng của mình về ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động “rửa tiền” đối với nền kinh tế cũng như để đề xuất ra các chính sách phù hợp giúp Việt Nam chống “rửa tiền”
Về thực trạng “rửa tiền” ở Việt Nam
Có một số dự án nghiên cứu về thực trạng “rửa tiền ở Việt Nam và tất cả đều
có những hạn chế đáng kể Luận án “Đấu tranh phòng chống tội “rửa tiền” ở Việt Nam” của Trần Xuân Huệ đã có những nghiên cứu về tình hình “rửa tiền” hiện tại ở
Việt Nam cả về mức độ “rửa tiền”, số vụ “rửa tiền”, các địa bàn, thành phố thường xuyên xảy ra tội “rửa tiền” cũng như các phương thức “rửa tiền” chính thường được
sử dụng ở Việt Nam Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cũng đã phân tích thực trạng
“rửa tiền” ở Việt Nam như: luận văn “Phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam” của Lê Xuân Hiền; luận văn “Lý luận và thực tiễn về phòng chống rửa tiền trong lĩnh vực hải quan” của Nguyễn Ngọc Linh, Tuy nhiên hầu hết các
nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng “rửa tiền” trong một số lĩnh vực nhất định như ngân hàng hoặc hải quan
Về chính sách chống “rửa tiền” ở Việt Nam
Mặc dù tập trung thảo luận về việc triển khai các công ước kiểm soát ma túy
của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, luận án “Legislative Implementation by Vietnam
of its Obligations under the United Nations Drug Control Conventions” của Hoa
Phuong Thi Nguyen là một trong những nghiên cứu ban đầu cung cấp một số hiểu biết về luật pháp Việt Nam liên quan đến chống “rửa tiền” và đề xuất các chính sách nhằm khắc phục những bất cập này
Năm 2014, luận án “International Anti-Money Laundering Standards and their implementation by Vietnam” của Chat Le Nguyen tiếp tục có sự phân tích sâu
về quá trình hình thành và phát triển của các tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quốc tế
Trang 16Từ các tiêu chuẩn ấy, tác giả đã phân tích sự chắt lọc các tiêu chuẩn của Việt Nam
và việc vận hành nó về cả mặt làm được và chưa làm được đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm giúp Việt Nam cải cách luật pháp theo hướng tuân thủ hơn nữa các
quy định quốc tế Bài viết “Kinh nghiệm phòng, chống rửa tiền của một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam” của Vũ Văn Thực cũng đã đưa ra các giải
pháp hữu hiệu chống hoạt động “rửa tiền” ở các nước Mỹ, Anh, Úc và Singapore Qua đó, tác giả đưa ra các kiến nghị cho cả chính phủ, cơ quan tổ chức và cá nhân ở Việt Nam
Tuy nhiên các dự án nghiên cứu này không thể xác định được rõ những bất cập hiện có trong chính sách chống “rửa tiền” ở Việt Nam và cũng không cập nhật những thông tin mới nhất về tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quốc tế
Như vậy, điểm chung của các nghiên cứu ở Việt Nam là chỉ tập trung tìm hiểu một lĩnh vực nhỏ chịu ảnh hưởng của hoạt động “rửa tiền” hoặc nghiên cứu với mục đích nhằm hoàn thiện chính sách chống “rửa tiền” mà chưa có sự đánh giá cụ thể về ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một nền kinh tế Đồng thời các chính sách trong các nghiên cứu nói chung cũng chưa có sự cập nhật đến thời điểm hiện tại các quy định chống “rửa tiền” mới nhất của Việt Nam và các tiêu chuẩn chống “rửa tiền” hiện thời của quốc tế Vì vậy mà bài luận văn sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng “rửa tiền” ở Việt Nam so với các nghiên cứu đã có đồng thời chỉ
ra những điểm còn hạn chế để từ đó đề xuất các chính sách nhằm giúp Việt nam tuân thủ tốt nhất các tiêu chuẩn chống “rửa tiền” của quốc tế hiện tại
2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Các công trình nghiên cứu nước ngoài cũng đã đưa ra cái nhìn khá toàn diện
về hoạt động “rửa tiền” được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau:
Về khái niệm, các giai đoạn và phương thức “rửa tiền”
Về khái niệm “rửa tiền”, báo cáo “Interim Report to the President and the Attorney General: The Cash Connection: Organised Crime, Financial Institutions, and Money Laundering” của Ủy ban về tội phạm có tổ chức của Tổng thống Hoa
Kỳ vào tháng 10 năm 1984 là một trong những văn bản pháp lý đầu tiên đã chính thức nêu ra khái niệm về “rửa tiền” Sau này, khái niệm “rửa tiền” tiếp tục được
Trang 17khái quát hóa và phân tích trong những nghiên cứu khác như: “The Laundrymen - Inside Money Laundering, The World's Third Largest Business” của tác giả Robinson Jeffrey hay “Fighting Money Laundering” của tác giả Cees D Schaap
Về các giai đoạn của quy trình “rửa tiền” cũng như các phương thức “rửa tiền”
đều đã được phân tích, lý giải trong các bài viết như “The consequences of money laundering and financial crime” của John McDowell và Gary Novis năm 2001;
“Understanding the Wash Cycle” của Paul Bauer năm 2001 và “Achieving a sustained response to Money Laundering” của Steven L Peterson năm 2001 Các
tác phẩm này đều phân tích và đưa ra những lý giải và phương thức tiến hành “rửa tiền” Theo các tác giả, thông thường, tiền được “tẩy rửa” qua ba bước: nhập tiền bẩn vào hệ thống kinh tế tài chính; quay vòng tiền; hội nhập tiền đã “rửa” vào hệ thống kinh tế Một số phương thức tiêu biểu là làm sai lệch hóa đơn trong giao dịch xuất nhập khẩu, chuyển tiền qua một ngân hàng hợp pháp thông qua một ngân hàng trá hình hay công ty ma ở nước ngoài
Nhìn chung các nghiên cứu này đã có sự phân tích chuyên sâu về khái niệm, các giai đoạn cũng như các phương thức “rửa tiền”, tuy nhiên mỗi nghiên cứu lại có một cách lý giải đôi chút khác nhau Vì vậy, luận văn sẽ là nghiên cứu tổng hợp lại các khái niệm, giai đoạn, phương thức để từ đó tổng quát lại khái niệm chung nhất cũng như phân tích các giai đoạn và phương thức “rửa tiền” phổ biến
Về ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với nền kinh tế
Hầu hết các nghiên cứu là nhằm mục đích định lượng mức độ của hoạt động chứ không phải là ảnh hưởng của nó và ngay cả những nghiên cứu được coi là hậu quả kinh tế của “rửa tiền” chỉ tập trung vào hệ thống tài chính toàn cầu thay vì các nền kinh tế cụ thể của một quốc gia Nổi bật trong số đó là nghiên cứu
“Macroeconomic Implications of Money Laundering” của tác giả Peter J Quirk
Nghiên cứu tập trung vào việc định lượng hay đo lường độ lớn của “rửa tiền”, xem xét các kênh tiềm năng khác nhau mà việc “rửa tiền” có thể ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế vĩ mô, bao gồm ước tính kinh tế lượng về tác động của của “rửa tiền” đối với tốc độ tăng trưởng GDP thay vì đánh giá các ảnh hưởng cụ thể đến từng lĩnh
vực của nền kinh tế Nghiên cứu “The consequences of money laundering and
Trang 18financial crime” của John McDowell đã chỉ ra những hậu quả mà “rửa tiền” mang
lại trên góc độ học thuật bao gồm đem lại các mối nguy cho các nền kinh tế mới nổi; những tác động trực tiếp của “rửa tiền” đến nền kinh tế như: Làm suy yếu tính toàn vẹn của thị trường tài chính, làm các chính sách kinh tế mất kiểm soát, làm biến dạng, và bất ổn nền kinh tế, làm giảm doanh thu từ các khoản thuế, phí, và đem đến những sự trả giá về mặt xã hội
Đến năm 2002, nghiên cứu kinh tế “The negative effects of Money Laundering
on Economic Developing” của Brent L Bartlett đã khái quát hóa và tổng hợp những
ảnh hưởng của “rửa tiền” đối với sự phát triển của kinh tế trong nhiều lĩnh vực như lĩnh vực tài chính, lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực kinh tế đối ngoại…Tuy nhiên nghiên cứu chủ yếu tổng hợp về mặt lý thuyết chứ chưa có đánh giá ảnh hưởng thực tế đến nền kinh tế của một quốc gia Theo báo cáo này, do sự thiếu hụt các nghiên cứu về ảnh hưởng thực tế của “rửa tiền” đối với các nền kinh tế đang phát triển, một số nhà nghiên cứu đã nâng cao quan điểm rằng chính phủ các nước đang phát triển không nên dành nguồn lực khan hiếm cho các chính sách được thiết kế để chống lại hoạt động “rửa tiền”, hay ngụ ý rằng hướng hành động tối ưu cho các nước đang phát triển đối với “rửa tiền” có thể được gọi là chính sách không hành động Việc bảo vệ cho chính sách không hành động được dựa trên 3 lập luận như sau, mỗi lập luận đều còn có thiếu sót:
“Các quỹ “rửa tiền” chảy từ các nền kinh tế phát triển sang các nền kinh
tế đang phát triển và do đó “rửa tiền” dẫn đến dòng vốn chảy sang các nước đang phát triển” (Brent L Bartlett, 2002, tr 1) Như sẽ được phân tích sau trong luận văn,
lập luận này không có dữ liệu chứng minh và trên thực tế, “rửa tiền” tạo điều kiện cho tháo chạy vốn bất hợp pháp khỏi các nền kinh tế đang phát triển
“Kể cả nếu "rửa tiền" khuyến khích các dạng tội phạm có thể làm suy yếu nền kinh tế, thì những dạng tội phạm như vậy cũng chỉ có ở các nền kinh tế phát triển, chính phủ các nước đang phát triển không nên sử dụng nguồn lực khan hiếm của họ cho việc ngăn chặn tội phạm” (Brent L Bartlett, 2002, tr 1) Luận văn đã
đưa ra các dữ liệu chứng minh lâp luận này sai vì “rửa tiền” làm giảm tăng trưởng
kinh tế cúa các nước đang phát triển
“Việc áp dụng các quy định tài chính chống “rửa tiền” không khuyến
Trang 19khích việc sử dụng các ngân hàng của các nước đang phát triển và khuyến khích công dân chuyển tiền tiết kiệm của họ ra nước ngoài” (Brent L Bartlett, 2002, tr 2)
Ngược lại, có bằng chứng cho thấy một chế tài quản lý tài chính mạnh mẽ hơn sẽ khuyến khích việc sử dụng hệ thống tài chính tuân theo các quy định pháp luật và trên thực tế, không có bằng chứng nào về việc tiền tiết kiệm bị chuyển ra nước
ngoài khi áp dụng các chính sách chống “rửa tiền” trong hệ thống tài chính
Có lẽ điều quan trọng hơn cả những điểm yếu của 3 lập luận này là thực tế chúng không tính đến những gì có thể được coi là mặt bên kia của bảng cân đối kế toán: những ảnh hưởng tiêu cực khác mà “rửa tiền” gây ra đối với một nền kinh tế đang phát triển Luận văn này sẽ phân tích những ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một nền kinh tế đang phát triển một cách chi tiết
Về tiêu chuẩn quốc tế trong chống “rửa tiền”
Một trong những phân tích ban đầu và toàn diện nhất về tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quốc tế, đặc biệt là về hợp tác quốc tế trong chống “rửa tiền” đã được Stessens
thực hiện Cuốn sách “Money Laundering: A New International Law Enforcement Model” của ông cung cấp một cách thức kiểm tra so sánh sâu rộng về tiêu chuẩn
chống “rửa tiền” và được thực hiện ở một số quốc gia Ông gợi ý rằng tiêu chuẩn chống “rửa tiền” là một hình mẫu thực thi pháp luật quốc tế mới Tuy nhiên, nghiên cứu này đã được thực hiện trước khi Công ước Palermo và Công ước Liên Hợp Quốc về chống Tham nhũng được thông qua, đây là hai hiệp ước quốc tế quan trọng liên quan đến chống “rửa tiền” Ngoài ra, Stessens còn chưa đề cập về một số vấn
đề, chẳng hạn như dẫn độ tội “rửa tiền” hoặc cách tiếp cận dựa trên rủi ro trong chống “rửa tiền”
Gilmore trong cuốn sách “Dirty Money: The Evolution of International Measures to Counter Money Laundering and the Financing of Terrorism” của mình
trình bày chi tiết về sự phát triển và nội dung của tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quốc
tế, nhưng chỉ tập trung cụ thể và chi tiết vào khu vực châu Âu Hơn nữa, cuốn sách của ông thiếu thảo luận cụ thể về việc thực hiện tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quốc tế
Boister trong cuốn sách “An Introduction to Transnational Criminal Law” coi
tiêu chuẩn quốc tế về chống “rửa tiền” như một phần của luật hình sự xuyên quốc
Trang 20gia Hầu hết các khía cạnh về luật hình sự của tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quốc tế được thảo luận một cách toàn diện Mặc dù chỉ có một chương về hình sự hóa tội
“rửa tiền”, các tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quốc tế khác, chẳng hạn như tịch thu tài sản tội phạm hoặc tương trợ tư pháp lẫn nhau trong chống “rửa tiền” cũng được phân tích Tuy nhiên, cuốn sách này không cung cấp thông tin về các quy định tài chính liên quan đến chống “rửa tiền”
Gần đây, Durrieu trong cuốn sách “Rethinking Money Laundering & Financing of Terrorism in International Law: Towards a New Global Legal Order”
đã thảo luận về nỗ lực quốc tế nhằm phát triển tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quốc tế thông qua “luật cứng” và “luật mềm” cũng như thông qua khuôn khổ thể chế của các đạo luật chống “rửa tiền” Ông xem xét sâu rộng việc hình sự hóa tội “rửa tiền”, mối liên hệ giữa tội “rửa tiền” và các tội phạm nguồn của nó, thẩm quyền tài phán đối với tội phạm “rửa tiền” xuyên quốc gia, Ông tiết lộ những khác biệt lớn, khoảng trống và sự mơ hồ giữa luật quốc gia cũng như luật quốc tế về những vấn đề này Tuy nhiên, dự án nghiên cứu của ông đã bỏ lỡ cuộc thảo luận về các tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quan trọng khác, chẳng hạn như tịch thu tài sản tội phạm, hợp tác quốc tế trong chống “rửa tiền” và các quy định tài chính về chống “rửa tiền”
Mặc dù sử dụng các công trình nghiên cứu nêu trên làm tài liệu tham khảo quan trọng, nhưng tất cả các công trình này đều có những thiếu sót Chưa có công trình nào nghiên cứu, phân tích được ảnh hưởng tiêu cực thực tế của “rửa tiền” đối với một nền kinh tế Chưa có công trình nào đưa ra các chính sách nhằm giúp một nền kinh tế tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về chống “rửa tiền” Vì vậy, luận
văn “Ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một số nền kinh tế đang phát
triển và một số chính sách nhằm chống “rửa tiền” ở Việt Nam” của tác giả sẽ là
tài liệu đánh giá ảnh hưởng tiêu cực thực tế của “rửa tiền” đối với một số nền kinh
tế đang phát triển cụ thể, đưa ra được các điểm còn hạn chế trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn chống “rửa tiền” quốc tế của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và đề xuất ra được các chính sách nhằm khắc phục điều này
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu ảnh hưởng tiêu cực của “rửa
Trang 21tiền” đối với một số nền kinh tế đang phát triển từ đó đề xuất một số chính sách nhằm chống “rửa tiền” ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với nền kinh tế của ba nước đang phát triển đó là Ukraine, Nigeria, Pakistan và chính sách chống “rửa tiền” ở ba nước này
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đến nền kinh tế của ba nước Ukraine, Nigeria và Pakistan Đây là ba nước có nền kinh tế đang phát triển với nguồn lực hạn chế, gặp nhiều khó khăn trong việc tuân thủ tiêu chuẩn chống
“rửa tiền quốc tế giống như Việt Nam và đều chịu hưởng tiêu cực nặng nề của “rửa tiền” trong quá khứ
- Phạm vi không gian: ba nước Ukraine, Nigeria và Pakistan
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” ở ba nước trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến năm 2019 Cụ thể là từ năm 2004 - 2015 đối với Ukraine, từ năm 1971 – 2016 đối với Nigeria và từ năm 1960 - 2019 đối với Pakistan
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn cần thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Làm rõ được một số vấn đề lý luận hiện có về “rửa tiền”;
Phân tích ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một số nền kinh tế đang phát triển tiêu biểu từng chịu hậu quả nặng nề của “rửa tiền”;
Đánh giá chính sách chống “rửa tiền” ở các quốc gia này về cả các mặt làm được và chưa làm được;
Đề xuất được các chính sách nhằm chống “rửa tiền” ở Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được luận văn sử dụng đó là các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: nhằm tổng hợp lại và
Trang 22phân tích các vấn đề lý luận hiện có về “rửa tiền”;
- Phương pháp thống kê nhằm tập hợp các số liệu thứ cấp và đánh giá ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một nền kinh tế;
- Phương pháp lịch sử nhằm so sánh, đối chiếu các thông tin trong quá khứ để tìm hiểu nguyên nhân và có các kết luận phù hợp
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, tóm tắt, kết luận và danh sách tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về “rửa tiền”
Chương 2: Phân tích ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với một số nền kinh tế đang phát triển
Chương 3: Một số chính sách nhằm chống “rửa tiền” ở Việt Nam
Trang 23CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ “RỬA TIỀN”
1.1 Khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ “rửa tiền” lần đầu tiên được sử dụng như một thuật ngữ pháp lý chính thức vào những năm 1980 để diễn tả một quá trình nhằm biến các khoản tiền kiếm được từ buôn bán ma túy thành nguồn vốn hợp pháp (Guy Stessens, 2000, tr 83) Từ đó thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong pháp luật và các văn bản pháp lý có liên quan Vào năm 1985, một định nghĩa chính thức đã được Ủy ban về tội
phạm có tổ chức của Tổng thống Mỹ đưa ra, theo đó “Rửa tiền là một quá trình mà trong đó một người che giấu sự tồn tại, nguồn gốc bất hợp pháp hoặc việc sử dụng bất hợp pháp của thu nhập và sau đó tạo vỏ bọc làm cho nguồn thu nhập đó có vẻ hợp pháp” (Ủy ban về tội phạm có tổ chức của Tổng thống Hoa Kỳ, 1984, tr 7)
Sau đó, rất nhiều các học viện, chuyên gia và tổ chức đã định nghĩa lại và làm rõ
hơn các hoạt động của “rửa tiền” theo cách nói của họ Một vài ví dụ như: “Rửa tiền
là việc chuyển đổi tiền mặt bất hợp pháp sang một loại tài sản khác, che giấu nguồn gốc sở hữu thực sự của nguồn tiền là từ các hoạt động bất hợp pháp và tạo ra nhận thức rằng nguồn gốc và chủ sở hữu của số tiền đó là hoàn toàn hợp pháp” (Cees D Schaap, 1998, tr 12), hoặc “rửa tiền” là “bất kỳ hành động hoặc cố gắng hành động nào nhằm che giấu hoặc ngụy trang danh tính thực của nguồn tiền thu được bất hợp pháp để chúng trông có vẻ như có nguồn gốc hợp pháp” (INTERPOL)
Mặc dù các khái niệm có thể có đôi chút khác nhau, tuy nhiên có một điểm chung rõ ràng: mục đích của “rửa tiền” đó là che giấu nguồn gốc của các khoản tiền thu được từ các hoạt động bất hợp pháp và để có thể tạo được một nguồn gốc hợp pháp cho các khoản thu này Những hoạt động bất hợp pháp này thường được gói gọn trong các hoạt động tội phạm hình sự chứ không bao gồm các sai phạm mang tính chất dân sự Vì vậy, “rửa tiền” thường được hiểu là quá trình chuyển đổi số tiền thu được từ một loạt các hoạt động tội phạm nguồn (ví dụ như: buôn bán ma túy, tham nhũng, lừa đảo,…) thành tài sản hợp pháp Tội phạm tham gia vào hoạt động
“rửa tiền” nhằm đảm bảo an toàn cho số tiền thu được tránh sự nghi ngờ, điều tra và
Trang 24thu giữ của chính quyền Số tiền này sau đó có thể di chuyển một cách tự do giữa các ngân hàng và tổ chức tài chính mà không gây ra nghi ngờ
Mặc dù chưa có một khái niệm thật sự chính xác về mặc học thuật, “rửa tiền” vẫn có thể được xác định và phân biệt với các hoạt động bất hợp pháp khác bởi mục đích chính của nó là giấu đi nguồn gốc của các thu nhập có được từ các hoạt động tội phạm
1.1.2 Nguồn gốc của “tiền bẩn”
Nguồn gốc của các nguồn vốn bất hợp pháp (trong phạm vi nghiên cứu về
“rửa tiền”) hoàn toàn đến từ các hoạt động tội phạm mang tính chất hình sự, gọi là các tội phạm nguồn (predicate offenses), trong đó bao gồm một số hoạt động chính sau nhưng chưa phải đã là tất cả (Chat Le Nguyen, 2014, tr 22):
Buôn bán ma túy: bao gồm sản xuất, vận chuyển hoặc buôn bán các chất cấm bị kiểm soát bởi luật cấm ma túy hoặc luật phân phối có kiểm soát
Tham ô (còn gọi là “thụt két”): lấy tài sản tài chính từ một tổ chức hoặc chính phủ để sử dụng cho mục đích riêng hoặc lợi ích cá nhân
Giao dịch nội gián: là các giao dịch về chứng khoán như cổ phiếu, trái
phiếu của người nắm được thông tin nội bộ công ty mà các nhà đầu tư khác không
biết, và được hưởng lợi từ giao dịch này
Hối lộ: Cung cấp tiền, hoặc vật phẩm có giá trị khiến cho người nhận cảm thấy hài lòng, để mong muốn người nhận giúp đỡ hoặc bỏ qua cho mình khi
thực hiện hành vi trái pháp luật
Tham nhũng: Lạm dụng quyền lực, lợi dụng ảnh hưởng của cơ quan
mình đang công tác hoặc vị trí của bản thân để kiếm lợi ích tài chính bằng cách bỏ
qua hoặc giúp đỡ người khác thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Tội phạm có tổ chức: Ba hoặc nhiều người hơn làm việc cùng nhau trong
một cấu trúc nhóm được tổ chức quy củ để thực hiện các hoạt động tội phạm vì lợi
ích tài chính hoặc vật chất trong một thời gian dài
Buôn bán vũ khí: Buôn bán hoặc buôn lậu vũ khí, đạn dược hoặc chất nổ bên ngoài các quy định hoặc luật lệ thương mại
Buôn người: Tuyển dụng, vận chuyển hoặc tiếp nhận người để khai thác
Trang 25hoặc thu lợi từ thương mại, bao gồm lao động cưỡng bức hoặc buôn bán nội tạng
Lừa đảo: Sử dụng sự xuyên tạc hoặc lừa dối để tước đoạt tiền bạc, tài sản hoặc quyền hợp pháp từ người khác
Trốn thuế: thực hiện các phương thức mà pháp luật không cho phép để giảm số thuế phải nộp
1.2 Quy trình “rửa tiền”
“Rửa tiền” bao gồm có rất nhiều phương thức khác nhau mà có thể phân biệt chúng dựa vào ba giai đoạn của quá trình “rửa tiền”: Ký thác, Phân tán và Hội tụ (William C Gilmore, 2011, tr 34-36)
1.2.1 Ký thác
“Ký thác” bao gồm việc chuyển số tiền thu được từ hoạt động tội phạm tới một nơi an toàn hoặc chuyển thành một dạng khác bớt đáng nghi hơn Thông thường, những đối tượng “rửa tiền” thường lựa chọn chuyển số tiền bất hợp pháp vào hệ thống tài chính Một số phương thức thường được những đối tượng “rửa tiền”
sử dụng trong bước này như:
“Lướt sóng”: tội phạm chia các khoản tiền gửi hoặc tiền mặt lớn thành
các khoản tiền nhỏ hơn trên các tài khoản khác nhau, để tránh các ngân hàng báo cáo lại khoản tiền giao dịch lớn cho chính quyền Nếu khoản tiền tối thiểu phải báo cáo lại là 10.000 USD, những đối tượng “rửa tiền” muốn tránh rủi ro bị báo cáo sẽ gửi số tiền tối đa trong tài khoản của mình là 9.900 USD, thấp hơn một chút so với
số tiền phải báo cáo (Brigit Unger, 2017, tr 15-16)
Buôn lậu tiền tệ: Phương thức này đề cập đến việc “vận chuyển” một số
lượng lớn tiền tệ theo đúng nghĩa đen qua các biên giới nhằm giấu đi nguồn gốc và người sở hữu nó Thường những đối tượng “rửa tiền” sẽ chọn buôn lậu tiền bất hợp pháp vào những quốc gia có luật chống “rửa tiền” lỏng lẻo, sau đó chúng sẽ gửi tiền vào các ngân hàng ở quốc gia đó thông qua các tài khoản ngân hàng nước ngoài Nhiều khoản tiền buôn lậu đã bị phát hiện trong những quả bowling, quan tài và kể
cả trong các bình oxy lặn biển của khách du lịch
Sử dụng Séc du lịch: Việc mua séc du lịch bằng “tiền bẩn” là một
phương thức “rửa tiền” khá phổ biến Ưu điểm của Séc du lịch đó là nó rất dễ mua
Trang 26và có thể mang ra nước ngoài mà không cần phải khai báo rõ là mang đi đâu FATF
đã có báo cáo về các trường hợp mua số lượng lớn séc để đổi lấy tiền mặt ở một số
quốc gia thành viên của FATF (FATF, 2002, tr 17)
Đánh bạc, mở các sòng bạc: Các sòng bạc có thể được sử dụng cho cả
giai đoạn đầu tiên và giai đoạn thứ ba của quá trình “rửa tiền” Ở giai đoạn “ký thác”, tội phạm có thể “rửa tiền” bằng cách chuyển nó thành phỉnh ở sòng bạc rồi chuyển lại thành tiền và gửi tiền ở ngân hàng với một tấm séc chứng nhận của sòng bạc rằng đó là tiền có được từ giao dịch hợp pháp Ở giai đoạn “hội tụ”, những đối tượng “rửa tiền” có thể mua lại sòng bạc Sòng bạc là một ngành kinh doanh đem lại nhiều tiền mặt Tội phạm có thể sở hữu một sòng bạc và khai với chính quyền
rằng số tiền mặt cực lớn mà mình đang nắm giữ là từ lợi nhuận của sòng
1.2.2 Phân tán
“Phân tán” chính là bước phức tạp nhất và phổ biến nhất trong cả quy trình, nó bao gồm rất nhiều các giao dịch tài chính cực kỳ phức tạp nhằm ngụy trang cho dấu vết kiểm toán và che giấu nguồn gốc cũng như chủ sở hữu của nguồn tiền bất hợp pháp Bước này có thể bao gồm việc mua và bán cổ phiếu, hàng hóa và bất động sản, Một số phương thức thường được những đối tượng “rửa tiền” sử dụng trong bước này như:
Cho vay với lãi suất thấp hoặc lãi suất bằng không: Một cách thức rất
đơn giản mà lại hiệu quả đó là cho vay với lãi suất thấp hoặc lãi suất bằng không Phương thức này cho phép những đối tượng “rửa tiền” có thể chuyển một số lượng lớn tiền mặt cho người khác và do đó tránh được việc phải gửi tiền vào ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác Những người nhận được khoản tiền cho vay có thể có đôi chút nghi ngờ về nguồn gốc số tiền những sẽ nhanh chóng cho qua vì lợi ích mà
họ nhận được từ lãi suất cho vay ưu đãi là quá lớn
Sử dụng các khoản vay song song (hay còn gọi là cho vay ngược hoặc hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng): Các khoản vay song song là một phương thức
thường được các công ty sử dụng để phòng ngừa rủi ro về tiền tệ Chúng liên quan đến một thỏa thuận trong đó hai công ty ở các quốc gia khác nhau vay tiền của nhau trong một khoảng thời gian nhất định, để giảm rủi ro ngoại hối cho cả hai công ty Phương thức này cũng có thể được sử dụng trong “rửa tiền” thông qua các công ty
Trang 27vỏ bọc
Tạo ra các hoạt động mua, bán ảo: Phương thức này đòi hỏi phải sử
dụng các đơn mua và bán hàng giả Các đơn hàng giả này có thể dưới danh nghĩa các tổ chức hợp pháp, ngay cả chính họ cũng không biết đến sự tồn tại của chúng Rất nhiều giấy tờ mua bán hàng hóa ảo đã được tạo ra nhằm giải thích cho khoản thu nhập tăng bất thường trong tài khoản, thường là từ các hoạt động phạm pháp
Sử dụng các công ty bình phong hay công ty vỏ bọc: công ty bình phong
hay công ty vỏ bọc là các doanh nghiệp hoạt động không vì mục đích thương mại
và được thành lập để nhằm che giấu chủ sở hữu thực sự của nguồn tiền và tải sản
Sử dụng thị trường bảo hiểm: những đối tượng “rửa tiền” thường sẽ sắp
xếp các chính sách bảo hiểm cho tài sản của mình, kể cả hữu hình hay vô hình thông qua những tay môi giới Chúng sau đó sẽ nhận lại “tiền sạch” thông qua các
khoản tiền trả thường xuyên cho quyền lợi bảo hiểm
Sử dụng “ngân hàng ngầm”: “ngân hàng ngầm” hiểu theo nghĩa rộng là
bất kỳ hoạt động tài chính nào nằm ngoài các quy định của ngân hàng và các tổ chức tài chính thông thường Thuật ngữ “hawala”, được sử dụng cho một trong các hoạt động của “ngân hàng ngầm”, có nghĩa là “chuyển tiền” trong tiếng Ả Rập Các sắc tộc Ả rập thường sử dụng các trụ sở trao đổi tiền tệ chính là các cửa hàng thức
ăn, điện thoại, video,…để cung cấp tiền địa phương cho người thân của họ mà không cần có giấy tờ biên nhận, lấy sự tín nhiệm làm kim chỉ nam trong việc làm ăn với nhau Mặc dù đây là phương thức truyền thống của mạng lưới các dân tộc bản địa, gần đây nó cũng bị lạm dụng bởi những đối tượng buôn ma túy, trốn thuế, “rửa tiền”
Sử dụng các đại lý đổi ngoại tệ: Các đại lý đổi ngoại tệ là một cách hợp
pháp để chuyển số tiền mình đang có sang một ngoại tệ khác tương đương tùy chọn Tuy nhiên, các đại lý này cũng có thể bị lợi dụng để chuyển tiền trái phép Thông thường, hầu hết các đại lý đổi ngoại tệ chỉ được chính quyền cho phép đổi tiền trong nước, nghiêm cấm chuyển tiền quốc tế Tuy nhiên rất nhiều đại lý lại nhận làm cả việc đó Những đối tượng tội phạm có thể chuyển tiền đến “ngân hàng ngầm” của một nước Sau đó những nhân viên của “ngân hàng ngầm” sẽ liên lạc với các đại lý đổi ngoại tệ ở một nước khác để chuyển ra nội tệ của nước đó
Trang 281.2.3 Hội tụ
“Hội tụ” liên quan đến việc chuyển lại nguồn tiền vào trong nền kinh tế để tạo
ra ảo giác rằng đây là nguồn tiền thu được từ các hoạt động hợp pháp Trong bước này, tiền được tích hợp vào hệ thống kinh tế, tài chính hợp pháp và được trộn lẫn với các tài sản khác đã có sẵn trong hệ thống, khiến nó có vẻ hợp pháp Một số phương thức thường được những đối tượng “rửa tiền” sử dụng trong bước này như:
Đầu tư vào thị trường vốn: Thị trường vốn là thị trường mua bán các
chứng khoán nợ dài hạn (có thời hạn đáo hạn trên một năm) và các chứng khoán vốn Đầu tư vào thị trường vốn có thể xuất hiện trong tất cả các giai đoạn của “rửa tiền” Trong giai đoạn “ký thác”, những đối tượng “rửa tiền” có thể sử dụng tiền bất hợp pháp để mua cổ phiếu, trái phiếu,…Chúng thường đầu tư tiền vào các tài sản tài chính để tránh giữ nhiều tiền mặt Tuy nhiên, phương thức này cũng có thể được sử dụng trong cả bước “phân tán” hoặc “hội tụ” bởi vì cổ phiếu và trái phiếu thường có rủi ro thấp, khả năng mất tiền nhỏ và quan trọng hơn là chúng có tính thanh khoản
cao, dễ dàng chuyển thành tiền mặt
Sử dụng chứng khoán phái sinh: Chứng khoán phái sinh là các loại tài
sản tài chính có điểm chung là đặt cược vào các sự kiện trong tương lai Giá trị của chúng thực chất được liên kết hoặc phụ thuộc vào một số “món hàng” khác có giá trị bên ngoài Những “món hàng” này chính là cơ sở của chứng khoán phái sinh Tùy thuộc vào loại chứng khoán phái sinh nào, người sở hữu có thể đặt cược vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, lãi suất, năng lượng, thời tiết, tỷ lệ tử vong, Vì là tải sản tài chính nên chúng có thể bị mua bởi những đối tượng “rửa tiền” để đầu tư vào các doanh nghiệp có uy tín, tất nhiên với điều kiện phải thông qua một người môi giới
Mua lại bất động sản: Những đối tượng “rửa tiền” có thể đầu tư “tiền
bẩn” vào bất động sản Điều này thường cần phải có người hỗ trợ, chính là những nhà môi giới bất động sản hoặc công chứng viên Tội phạm sẵn sàng trả một khoản tiền lớn cho bất động sản vì rất khó để ước tính giá trị thực của một ngôi nhà hay mảnh đất, chúng cũng có thể sử dụng bất động sản làm trụ sở cho hành vi phạm
pháp hoặc kiếm tiền hợp pháp bằng cách cho thuê lại
Trang 29 Tham gia vào các ngành đem lại nhiều tiền mặt hoăc có lợi nhuận cao:
như dịch vụ ăn uống; mua bán vàng, kim cương, hàng hóa xa xỉ; sòng bạc,…
Rửa tiền dựa trên buôn bán thương mại: đề cập đến cơ chế ngụy trang và
hợp pháp hóa số tiền thu được từ các hoạt động tội phạm thông qua việc sử dụng thương mại quốc tế Thông thường, thương mại quốc tế sẽ bao gồm bao gồm một số lượng lớn hàng hóa có giá trị kinh tế cao và bao gồm nhiều liên kết đến vận chuyển hàng hóa, bảo hiểm và trao đổi ngoại tệ Hơn thế nữa, thương mại quốc tế còn liên quan đến các hệ thống tài chính và pháp lý quốc gia khác nhau Những đặc điểm này có thể cung cấp một lớp vỏ bọc tuyệt vời cho “tiền bẩn”, nhất là với các nước đang phát triển với nguồn lực còn hạn chế để có thể xem xét một cách kỹ lưỡng các giao dịch thương mại quốc tế Ví dụ, các nguồn tiền từ hoạt động tội phạm có thể được rửa thông qua việc khai báo sai giá cả, số lượng hoặc chất lượng của hàng hóa xuất nhập khẩu Các loại hình thường gặp bao gồm: khai cao hoặc thấp hơn giá trị thực tế của các lô hàng xuất, nhập khẩu trong hóa đơn chứng từ; nhập nhiều hoặc ít hơn số lượng hàng hóa khai báo và mô tả sai về chất lượng hoặc loại hàng hóa xuất,
nhập khẩu (APG, 2012, tr 6)
Trong thực tế thì không phải quy trình “rửa tiền” nào cũng bao gồm ba giai đoạn đầy đủ như trên, một số có thể nhiều hơn hoặc ít hơn, hoặc được tiến hành đồng thời, chồng chéo nhau
1.3 Đánh giá rủi ro “rửa tiền” của một quốc gia
1.3.1 Cách thức đánh giá
Năm 2010, FATF đã lần đầu tiên công bố bản Đánh giá mối đe dọa “rửa tiền”
và tài trợ khủng bố toàn cầu (GTA) và đề xuất một khuôn khổ chung có thể được
sử dụng để xác định các mối đe dọa chung do “rửa tiền” gây ra ở cấp độ toàn cầu, khu vực và quốc gia (FATF, 2010, tr 10) Phân tích các loại hình “rửa tiền” và các tội phạm nguồn của tiền bất hợp pháp là một trong những cơ sở chính trong phương pháp đánh giá rủi ro “rửa tiền” của GTA Hơn nữa, vào năm 2013, để hỗ trợ các quốc gia thực hiện cách tiếp cận dựa trên rủi ro đối với chính sách chống “rửa tiền” của họ, FATF đã giới thiệu một tài liệu hướng dẫn cụ thể hơn về đánh giá rủi ro
“rửa tiền”
Trang 30Cụ thể quy trình đánh giá rủi ro “rửa tiền” của một quốc gia sẽ trải qua ba bước như sau:
Hình 1.1: Quy trình đánh giá rủi ro “rửa tiền” quốc gia
Nguồn: FATF (2013)
Bước 1 (Nhận dạng): Quá trình nhận dạng trong đánh giá rủi ro “rửa tiền”
bắt đầu bằng việc xây dựng một danh sách ban đầu về các rủi ro tiềm ẩn hoặc các yếu tố rủi ro mà quốc gia phải đối mặt khi chống “rửa tiền” (FATF, 2013, tr 21) Rủi ro “rửa tiền”, theo tài liệu hướng dẫn này, được khái niệm hóa như là sự kết hợp
của các nguy cơ, tính dễ bị tổn thương và hậu quả Nguy cơ được xác định đựa trên
các loại tội phạm nguồn trong nước, nước ngoài và nguồn tiền bất hợp pháp cũng như các kênh trong nền kinh tế có khả năng bị tội phạm lợi dụng để thực hiện hoạt
động “rửa tiền” Tính dễ bị tổn thương là điểm yếu hoặc lỗ hổng của hệ thống quy định quốc gia đối với hoạt động “rửa tiền” Hậu quả đề cập đến ảnh hưởng tiêu cực
hoặc tác hại mà “rửa tiền” có thể gây ra và bao gồm ảnh hưởng của hoạt động tội phạm và khủng bố cơ bản đối với các hệ thống và tổ chức tài chính, cũng như nền kinh tế và xã hội nói chung Hậu quả của “rửa tiền” thường là dài hạn và cũng liên quan đến dân số, cộng đồng cụ thể, môi trường kinh doanh hoặc lợi ích quốc gia
Bản chất
Nguy cơ
Nguồn
Tội phạm nguồn Các phương thức “rửa tiền Các vụ án xử lý bởi cơ quan thực thi pháp luật
Khả năng Hậu quả
Ưu tiên/Chiến lược
Ngăn chặn
Giảm thiểu
Dự phòng
Trang 31hoặc quốc tế, cũng như danh tiếng và sự hấp dẫn của ngành tài chính quốc gia (FATF, 2013, tr 7)
Bước 2 (Phân tích): Phân tích nằm ở trung tâm của quá trình đánh giá rủi
ro “rửa tiền” Nó liên quan đến việc xem xét bản chất, nguồn, khả năng và hậu quả của các rủi ro hoặc yếu tố rủi ro đã xác định Cuối cùng, mục đích của giai đoạn này
là đạt được sự hiểu biết toàn diện về từng rủi ro - như là sự kết hợp của nguy cơ, tính dễ bị tổn thương và hậu quả để hướng tới việc gán một số giá trị tương đối hoặc tầm quan trọng cho chúng Phân tích rủi ro có thể được thực hiện với các mức độ chi tiết khác nhau, tùy thuộc vào loại rủi ro và mục đích của đánh giá rủi ro, cũng như dựa trên thông tin, dữ liệu và tài nguyên có sẵn của mỗi quốc gia (FATF, 2013,
tr 21)
Bước 3 (Đánh giá): Đánh giá trong quy trình đánh giá rủi ro “rửa tiền”
liên quan đến việc chấp nhận rủi ro được phân tích trong các giai đoạn trước để xác định các chiến lược nhằm giải quyết chúng, có tính đến mục đích được thiết lập khi bắt đầu quá trình đánh giá Những chiến lược này có thể đóng góp vào việc phát triển một chính sách để giảm thiểu và chống “rửa tiền” (FATF, 2013, tr 21)
1.3.2 Các cơ quan phụ trách việc đánh giá rủi ro “rửa tiền” của một quốc
gia và nguồn dữ liệu phục vụ việc đánh giá
Cơ quan hoạch định chính sách: các cơ quan hoạch định chính sách nên được đưa vào thực hiện đánh giá rủi ro - không nhất thiết phải là nhà cung cấp thông tin, mà là người sử dụng chính các đánh giá rủi ro - để đảm bảo rằng các đánh giá rủi ro giải quyết thỏa đáng các câu hỏi cấp cao hơn đối với việc sửa đổi các chính sách chống “rửa tiền” quốc gia Cơ quan này có một vai trò đặc biệt trong việc định hình khung phạm vi của đánh giá rủi ro (FATF, 2013, tr 14)
Cơ quan thực thi pháp luật và cơ quan công tố (bao gồm cảnh sát, hải quan/kiểm soát biên giới và cơ quan tình báo hình sự): Các cơ quan hoạt động này
có thể cung cấp thông tin về các vụ án tội phạm liên quan đến lĩnh vực cụ thể được đánh giá và cũng có thể hỗ trợ trong việc ước tính số tiền thu được từ tội phạm dựa trên thông tin về hành vi phạm tội Do đó, cơ quan này có khả năng đóng vai trò trung tâm như một nguồn thông tin cho quá trình đánh giá Họ có thể có số liệu thống kê liên quan về điều tra, truy tố và kết án “rửa tiền”, tài sản bị tịch thu và các
Trang 32yêu cầu hợp tác quốc tế khác Họ cũng có thể cung cấp thông tin về các xu hướng
và rủi ro mới được phát hiện thông qua các cuộc điều tra của họ cũng như hỗ trợ xác định các lỗ hổng trong quy định luật pháp (FATF, 2013, tr 14)
Cơ quan tình báo tài chính (FIU): Trên cơ sở các báo cáo giao dịch đáng ngờ và các thông tin khác mà FIU nhận được và phân tích chiến lược mà cơ quan này thực hiện, FIU được lập ra để xác định các nguy cơ, lỗ hổng, các phương thức
“rửa tiền” và xu hướng, bao gồm cả các xu hướng “rửa tiền” mới FIU có thể trích xuất thông tin từ cơ sở dữ liệu của họ về các sản phẩm hoặc loại giao dịch cụ thể có thể được chuyển đổi thành các dữ liệu phục vụ việc phân tích và tổng hợp để nắm được xu hướng Thông tin này có thể được bổ sung bằng số liệu thống kê về báo cáo giao dịch đáng ngờ của các thực thể báo cáo (FATF, 2013, tr 14)
Cơ quan quản lý và giám sát: thường có lợi thế là có một bức tranh toàn
cảnh về các tổ chức được yêu cầu chống “rửa tiền” trong một quốc gia Thông qua kiểm tra và giám sát việc chống “rửa tiền” của các tổ chức, cơ quan này có được kiến thức chuyên sâu về các lỗ hổng cụ thể liên quan đến các loại tổ chức, sản phẩm, giao dịch (bao gồm cả các loại có tính chất xuyên biên giới) và khách hàng có nguy
cơ liên kết với “rửa tiền” và có thể đánh giá các chính sách, quy trình và kiểm soát của một lĩnh vực nhất định Do đó, cơ quan này có một vị trí quan trọng trong cung cấp quan điểm về việc liệu một rủi ro cụ thể có được xác định và quản lý đầy đủ hay không (FATF, 2013, tr 15)
Các cơ quan khác: các Bộ chẳng hạn như Bộ Ngoại giao (ví dụ, các mối
đe dọa được xác định bởi UN) hoặc các cơ quan thống kê cũng có thể nắm giữ thông tin cho đánh giá rủi ro và có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp Tương tự, các cơ quan có thông tin về các hoạt động tội phạm cụ thể hoặc tội phạm nguồn cũng có thể đóng góp dữ liệu (ví dụ: các bộ phúc lợi liên quan đến gian lận phúc lợi,
cơ quan thuế liên quan đến tội phạm thuế, cơ quan chống tham nhũng liên quan đến tham nhũng, …) (FATF, 2013, tr 15)
Các tổ chức quốc tế: Thông thường FATF sẽ là cơ quan xem xét, đánh giá các báo cáo về rủi ro “rửa tiền” của các quốc gia như một phần quan trọng trong
Báo Cáo Đánh Giá Đa Phương về việc thực thi chính sách chống “rửa tiền” và tài trợ khủng bố đối với mỗi quốc gia, ngoài ra còn có các tổ chức giám sát khác đối
Trang 33với từng khu vực thực hiện đánh giá hỗ trợ cho FATF như ở châu Á là APG, châu
Âu là Hội đồng châu Âu hay châu Phi là Nhóm hành động liên chính phủ chống
“rửa tiền” tại Tây Phi (GIABA)
1.4 Ảnh hưởng của “rửa tiền” đối với nền kinh tế
FATF đã xác định các ảnh hưởng tiêu cực tổng thể liên quan đến “rửa tiền” và tin rằng các ảnh hưởng tiêu cực này là đương nhiên, không cần phải giải thích (FATF, 2010, tr 12) Tuy nhiên, có vẻ như việc xác định và diễn tả các ảnh hưởng của “rửa tiền” đến nền kinh tế là một nhiệm vụ khó khăn và gây tranh cãi Một số học giả và tổ chức đã sử dụng các cách tiếp cận khác nhau để xác định các ảnh hưởng tiêu cực của “rửa tiền” đối với các khía cạnh khác nhau của kinh tế xã hội, và tranh cãi đã nảy sinh xung quanh các cuộc thảo luận của họ Một số cho rằng xu hướng tội phạm hóa có liên quan đến ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế của “rửa tiền” Nhưng về ảnh hưởng kinh tế, một số tác giả đã bày tỏ nghi ngờ về ảnh hưởng tiêu cực thực sự của “rửa tiền” đối với sự phát triển kinh tế trong nền kinh tế của một quốc gia nói riêng, ví dụ tác giả Alldridge trong cuốn sách của mình cho rằng
“…trong một khu vực tài phán độc lập, việc phán xét những ảnh hưởng của rửa tiền
là không hoàn toàn hợp lý” (Peter Alldridge, 2003, tr 30) Ở các nước đang phát
triển, thậm chí người ta còn cho rằng tiền thu được từ các hoạt động tội phạm cung cấp nguồn vốn hữu ích cho phát triển kinh tế và vốn của họ có thể không được sử dụng một cách hiệu quả nhất do những quy định về chống “rửa tiền” (Ngân hàng Phát triển châu Á, 2003, tr 17) Điều quan trọng là phải phân biệt giữa phát triển kinh tế dài hạn, bền vững và kích thích kinh tế trong ngắn hạn Thật vậy, như sẽ đề cập ở phần sau, các hoạt động “rửa tiền”, trong một số trường hợp đặc biệt, có thể tạo ra một sự thúc đẩy tạm thời cho hoạt động kinh tế trong ngắn hạn (ví dụ, các ngân hàng có thể được hưởng lợi từ việc tăng cường kinh doanh thông qua hoạt động “rửa tiền”), nhưng chỉ với cái giá phải trả là tăng trưởng và phát triển kinh tế trong dài hạn
1.4.1 Đối với lĩnh vực tài chính: “Rửa tiền” làm xói mòn các tổ chức tài
chính
Trang 34Mặc dù “rửa tiền” không nhất thiết yêu cầu sử dụng các tổ chức tài chính chính thức, các báo cáo về các loại hình “rửa tiền” luôn chỉ ra rằng các ngân hàng, thị trường chứng khoán và các tổ chức tài chính phi ngân hàng, ví dụ như các công
ty bảo hiểm, là một phương tiện được ưa thích để “rửa tiền” Lý do cho sự ưu tiên này nằm ở hiệu quả mà các tổ chức tài chính có thể cung cấp cho những đối tượng
“rửa tiền”: giống như việc các tổ chức tài chính là một thành phần quan trọng trong việc cung cấp nguồn lực cho nền kinh tế hợp pháp, các tổ chức này cũng có thể là phương tiện chi phí thấp cho nền kinh tế bất hợp pháp để “rửa tiền”
“Rửa tiền” tràn lan thông qua các tổ chức tài chính có thể làm xói mòn chính các tổ chức này theo 3 cách: bằng cách tăng xác suất khách hàng cá nhân sẽ bị lừa gạt bởi các cá nhân tha hóa trong tổ chức; bằng cách tăng xác suất rằng chính tổ chức đó sẽ trở nên tha hóa hoặc thậm chí bị kiểm soát bởi tội phạm, tất nhiên cũng lại dẫn đến việc khách hàng bị lừa gạt; và bằng cách tăng nguy cơ thất bại tài chính
mà tổ chức phải đối mặt Những nguy cơ như vậy chính là rủi ro hoạt động mà các
tổ chức tài chính phải gánh chịu và cũng có thể đóng góp đáng kể vào rủi ro danh tiếng
Cả ba yếu tố này có thể xuất hiện riêng rẽ hoặc cùng lúc, chúng có thể củng cố lẫn nhau và chúng đặc biệt có khả năng tăng rủi ro hoạt động, thường là thông qua lừa đảo, và rủi ro danh tiếng mà các ngân hàng phải đối mặt Tất nhiên, bất kỳ thiệt hại nào về hoạt động do “rửa tiền” cũng làm tổn hại đến danh tiếng và ngược lại, mất danh tiếng đột ngột có thể đe dọa đến tình hình tài chính của tổ chức, trong trường hợp xấu nhất là sự rút tiền ồ ạt của khách hàng
1.4.2 Đối với lĩnh vực sản xuất: Rửa tiền làm giảm tăng trưởng
1.4.2.1 Rửa tiền làm sai lệch đầu tư và làm giảm năng suất
Dòng chảy của các nguồn “tiền bẩn” được “rửa” đi theo con đường xuyên qua nền kinh tế hoàn toàn khác với các nguồn tiền hợp pháp Như có thể thấy từ rất nhiều báo cáo khác nhau về các hình thức “rửa tiền”, tiền được “rửa” qua các kênh khác ngoài các tổ chức tài chính thường được đặt vào các hoạt động không nhất thiết có lợi về mặt kinh tế cho quốc gia được đầu tư Kiểu đầu tư này của tội phạm được gọi là đầu tư “vô vụ lợi” Bất động sản là ví dụ điển hình của các khoản đầu tư
Trang 35“vô vụ lợi” đó, những khoản khác có thể bao gồm nghệ thuật, đồ cổ, trang sức và các hàng hóa xa xỉ như ô tô hạng sang
Các tổ chức tội phạm có thể chuyển đổi các doanh nghiệp sản xuất thành các doanh nghiệp “vô vụ lợi” bằng cách vận hành chúng nhằm mục đích “rửa” các khoản tiền bất chính thay vì các doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và xứng đáng với nguồn vốn đầu tư hợp pháp đã bỏ ra Việc sử dụng tài nguyên của nền kinh tế cho mục đích “vô vụ lợi”, thay vì sử dụng cho sản xuất, khiến đầu tư cuối cùng lại làm giảm năng suất của toàn bộ nền kinh tế Không chỉ vậy, các nguồn “tiền bẩn” được “rửa” thông qua việc mua một số tài sản nhất định, đặc biệt được ưa thích là bất động sản, sẽ thúc đẩy giá của các tài sản đó tăng lên, gây ra sự trả giá quá cao cho chúng trong toàn bộ nền kinh tế, làm cho đầu tư sản xuất bị lấn át bởi đầu tư “vô vụ lợi” Ảnh hưởng tiêu cực này hoàn toàn có thể làm xói mòn tăng trưởng kinh tế
Ở một số nước đang phát triển, toàn bộ các ngành công nghiệp, như xây dựng
và khách sạn, đã được tài trợ không phải vì nhu cầu thực tế, mà vì lợi ích trong ngắn hạn của những đối tượng “rửa tiền” Khi những ngành công nghiệp này không còn phù hợp nữa, chúng sẽ sẵn sàng bỏ rơi, gây ra sự sụp đổ hàng loạt và thiệt hại to lớn cho các nền kinh tế đang phát triển, thường là không đủ khả năng để chịu đựng những tổn thất này
1.4.2.2 “Rửa tiền” tạo điều kiện cho tham nhũng và tội phạm và cái giá phải trả là phát triển kinh tế
“Rửa tiền” làm giảm chi phí của các hoạt động phạm pháp, do đó làm tăng mức độ tội phạm
Một lĩnh vực tài chính hiệu quả là “đầu vào” quan trọng cho các quy trình sản xuất khác trong nền kinh tế Cũng giống như vậy, một kênh “rửa tiền” hiệu quả là
“đầu vào” quan trọng cho tội phạm vì tiền thu được từ các hoạt động phạm pháp nếu chưa được “rửa” sẽ ít có giá trị hơn rất nhiều Nếu “đầu vào” càng tốn ít chi phí nhờ chính sách chống “rửa tiền” lỏng lẻo thì các hoạt động tội phạm sẽ càng phát triển mạnh mẽ hơn, giống như trong bất kỳ lĩnh vực sản xuất hoặc kinh doanh nào khác
Trang 36Về mặt lý thuyết, vai trò của “rửa tiền” có thể được xem xét bằng cách sử dụng các điều chỉnh đơn giản cho mô hình cung và cầu thông thường Như trong Hình 1.2 (Hình vẽ bên trái), mức độ tội phạm hay số lượng của các hành vi phạm pháp (Q) được xác định bởi giao điểm giữa chi phí cận biên của tội phạm khi thực hiện hoạt động phạm pháp (MC) và doanh thu cận biên của tội phạm từ việc thực hiện thêm một hành động phạm pháp (MR) Đơn giản giản hơn thì MR là một danh sách các cơ hội để thực hiện hành vi phạm pháp được sắp xếp theo thứ tự từ mang lại lợi nhuận cao nhất (bên trái) đến lợi nhuận thấp nhất (ở bên phải) Tội phạm sẽ tiếp tục tận dụng các cơ hội để thực hiện hành vi phạm pháp cho đến khi chi phí để thực hiện chúng tiêu tốn hết khoản tiền bất hợp pháp thu được
Mức độ tội phạm
Mức độ tội phạm
Hình 1.2: Thành phần chi phí trong hoạt động kinh doanh của tội phạm
Nguồn: Brent L Bartlett (2002)
Hình vẽ bên phải minh họa tác động của việc giảm chi phí “rửa tiền” đối với tội phạm: đường MC dịch chuyển sang bên phải vì tội phạm có thể thực hiện nhiều hoạt động phạm pháp hơn với chi phí thấp hơn Giao điểm của đường MC mới với đường MR cũ (có cùng số cơ hội để phạm tội) cho thấy có nhiều hoạt động phạm pháp hơn (Q tăng lên) Tất nhiên những hoạt động phạm pháp thêm vào này có quy
mô nhỏ hơn trong khi các hoạt động phạm pháp quy mô lớn cũ vẫn được tiếp tục
Trang 37thực hiện Phần doanh thu tội phạm được thêm vào này sau đó sẽ được “rửa” sạch
và “tái đầu tư” trong các hoạt động tội phạm tiếp theo
Tăng mức độ tội phạm làm giảm tăng trường kinh tế
Có rất nhiều nghiên cứu kinh tế chứng minh rằng tham nhũng và các tội phạm tài chính khác ngăn cản sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia Một nghiên cứu
năm 1997 đã chỉ ra rằng “tham nhũng có ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đối với hiệu quả tĩnh của nền kinh tế mà còn đối với cả đầu tư và tăng trưởng” (Pranab Bardhan,
1997, tr 1327) Điều này khẳng định lần nữa trong báo cáo của một bài tổng hợp lý thuyết trước đó cho rằng “hầu hết các nghiên cứu đều kết luận rằng tham nhũng làm chậm sự phát triển kinh tế” (Andrei Shleifer và Robert W Vishny, 1993, tr
600) Kết luận đạt được từ các nghiên cứu khác đã được tóm tắt trong báo cáo của Phòng Quản lý Phát triển và Quản trị trực thuộc Chương trình Phát triển Liên Hợp
Quốc như sau: “…nghiên cứu xuyên quốc gia cho thấy mức độ tham nhũng cao có hại cho tăng trưởng kinh tế Khi tham nhũng gắn liền với tội phạm có tổ chức, việc kinh doanh hợp pháp không được khuyến khích, việc phân bổ nguồn lực bị bóp méo
và tính hợp pháp về mặt chính trị bị xâm phạm” (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, 1977, tr 35)
Nhìn chung, thiệt hại kinh tế do tham nhũng gây ra là một phát hiện rõ ràng trong nhiều tài liệu kinh tế, và quá trình “rửa tiền” là yếu tố thúc đẩy chính của hoạt động tham nhũng đó Tác hại kinh tế của tham nhũng được tạo điều kiện bởi hoạt động “rửa tiền” đặc biệt rõ ràng trong khu vực công ở nhiều nước đang phát triển vì vai trò lớn hơn của chính phủ trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ
1.4.2.3 “Rửa tiền” có thể làm tăng nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô
IMF đã xác định 2 cơ chế theo đó các dòng chảy “rửa tiền” với quy mô lớn có thể gây ra sự bất ổn kinh tế vĩ mô ở một quốc gia Đầu tiên là vấn đề “tiền nóng” xảy ra khi tiền liên tục chuyển từ các quốc gia có lãi suất thấp sang các quốc gia có lãi suất cao hơn, do các nhà đầu tư muốn đảm bảo rằng mình nhận được mức lãi suất ngắn hạn cao nhất hiện có Dòng chảy “rửa tiền” với quy mô lớn lớn chảy qua một khu vực tài phán thường được kích hoạt bởi các giai đoạn chính trị cụ thể, chẳng hạn như sự sụp đổ của Liên Xô hoặc triều đại ngắn ngủi nhưng béo bở của
Trang 38một nhà độc tài tham nhũng Do đó, dòng tài chính đi kèm với hoạt động “rửa tiền” thường không ổn định, điều này có thể góp phần vào sự bất ổn của tỷ giá hối đoái, tổng lượng tiền tệ (lượng tiền có sẵn trong nền kinh tế) và mức giá chung (lạm phát) Thứ hai, IMF đã lưu ý rằng vì một số giai đoạn của quá trình “rửa tiền” được thực hiện trong các “ngân hàng ngầm” hoặc trong khu vực phi chính thức của nền kinh tế, các giao dịch đó không xuất hiện trong thống kê tài chính và tiền tệ chính thức, do đó cung cấp thông tin sai lệch cho các nhà hoạch định chính sách cố gắng quản lý các biến số kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như mức tiền tệ, lãi suất, lạm phát và
tỷ giá hối đoái (Peter J Quirk, 1996, tr 18)
Một vấn đề thứ ba có thể phát sinh, như đã thấy trong các cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế vào năm 1997 và 1998, theo đó các vấn đề tài chính trong một khu vực tài phán có thể được chuyển đến các khu vực tài phán khác thông qua “hiệu ứng lây truyền”, và các vấn đề tài chính đó có thể nhanh chóng trở thành vấn đề kinh tế
vĩ mô lớn hơn Một yếu tố cơ bản của “hiệu ứng lây truyền” là nhận thức rằng bất
cứ vấn đề nghiêm trọng nào gây ra cuộc khủng hoảng thanh khoản trong một tổ chức tài chính hoặc hệ thống cũng có thể tồn tại ở một tổ chức tài chính hoặc hệ thống khác Và một yếu tố khác đó là với một số lượng đáng kể các mối quan hệ liên quan lẫn nhau giữa tổ các chức tài chính đang có vấn đề và các khu vực tài phán khác như hiện nay, rất có thể làm tăng khả năng các vấn đề thanh khoản trước đây sẽ được lây truyền sang cả sau này Hoạt động “rửa tiền” với quy mô lớn ở các nước đang phát triển có thể làm trầm trọng thêm cả hai yếu tố này
1.4.3 Đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại: “Rửa tiền” làm méo mó dòng chảy
vốn và thương mại
“Rửa tiền” sử dụng việc đầu tư các nguồn “tiền bẩn” từ trong nước ra nước ngoài nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho việc tháo chạy vốn bất hợp pháp, làm cạn kiệt nguồn lực của các nền kinh tế, và có thể ngăn cản các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hợp pháp có lợi cho tăng trưởng kinh tế
1.4.3.1 Đối với dòng chảy tiền ra nước ngoài: “Rửa tiền” tạo điều kiện cho tháo chạy vốn bất hợp pháp
Trang 39Ảnh hưởng tiêu cực rõ ràng của tháo chạy vốn bất hợp pháp là làm trầm trọng thêm tình trạng khan hiếm vốn ở các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển
Như các nhà kinh tế của IMF đã tóm tắt vấn đề: “Chi phí của việc tháo chạy vốn đã được biết đến rộng rãi như sau: chúng bao gồm việc làm giảm năng lực sản xuất,
cơ sở thuế và kiểm soát đối với tổng lượng tiền tệ Do đó áp đặt một gánh nặng đáng kể đối với công chúng nói chung và khiến việc hoạch định chính sách trở nên khó khăn hơn” (Prakash Loungani và Paolo Mauro, 2000, tr 1)
“Rửa tiền” có thể được coi là một yếu tố chính trong việc tháo chạy vốn bất hợp pháp ở các quốc gia Trong lịch sử, dễ dàng nhận thấy các cuộc tháo chạy vốn với quy mô lớn và tốc độ nhanh đều được tạo điều kiện thuận lợi bởi các hoạt động
“rửa tiền” Ví dụ nổi tiếng nhất là việc tháo chạy vốn bất hợp pháp của Nga Phần lớn số tiền bất hợp pháp đã được “rửa” trước thông qua các tổ chức tài chính ở trong chính nước Nga, và sau đó mới thông qua các trung tâm “rửa tiền” nước ngoài
ở Nam Thái Bình Dương, Địa Trung Hải và các đảo trong vùng lãnh thổ của Anh Nghiêm trọng đến mức mà các quỹ này không được trả trở lại Nga sau khi đã được
“rửa” mà vẫn ở nước ngoài Như vậy, “rửa tiền” từ trong nước ra nước ngoài đã giúp rút cạn dần nguồn lực của nền kinh tế thông qua lĩnh vực kinh tế đối ngoại
1.4.3.2 Đối với dòng chảy tiền vào trong nước: “Rửa tiền” làm giảm đầu
tư nước ngoài
Như đã thảo luận trong phần 1.4.2.2, “rửa tiền” tạo điều kiện gia tăng tham
nhũng và các tội phạm tài chính khác trong nước Một nhóm lớn các nghiên cứu kinh tế cho thấy rằng với một tỷ lệ cao của các hoạt động như vậy sẽ ngăn cản đầu
tư trực tiếp từ nước ngoài vào trong một quốc gia Ví dụ, như IMF đã lưu ý rằng:
“ Những cáo buộc hoặc hành động như vậy có thể thông qua tác động của rủi ro danh tiếng ảnh hưởng đến sự sẵn lòng của các tác nhân kinh tế, đặc biệt là những người ở ngoài nước khi muốn tiến hành kinh doanh ở một quốc gia nhất định (ví dụ như đầu tư vào bên trong, tạo lập quan hệ liên ngân hàng, ) vì họ có thể đối mặt với những hậu quả bất lợi” (IMF, 2001, tr 9)
Nhìn chung, ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động “rửa tiền” đối với các nước trên phương diện đầu tư nước ngoài có nhiều điểm tương đồng với các ảnh hưởng
đã được nêu đối với thiệt hại cho lĩnh vực tài chính, như đã thảo luận trong phần
Trang 401.4.1 Tuy nhiên, những ảnh hưởng này đối với đầu tư nước ngoài nghiêm trọng hơn vì những lợi ích đặc biệt mà nó đem lại như công nghệ, kỹ năng lao động, bí quyết và khả năng tham gia vào các kênh phân phối quốc tế
1.4.3.3 Đối với thương mại: “Rửa tiền” làm méo mó giá cả và cán cân thương mại
Một hình thức “rửa tiền” không liên quan trực tiếp đến hệ thống tài chính hoặc chi tiêu trong nền kinh tế nội địa đó là làm sai lệch giá hàng hóa xuất, nhập khẩu để che giấu việc chuyển tiền trong giai đoạn “phân tán” của quá trình “rửa tiền” Khi các giao dịch như vậy được mở rộng sẽ có ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực kinh tế đối ngoại của một quốc gia Chẳng hạn ở Nigeria, các quan chức chính phủ đã tuyên bố rằng tỷ giá hối đoái chính thức của đất nước rất khó quản lý từ góc độ chính sách vì:
“chênh lệch tỷ giá hối đoái phản ánh mức độ lớn của số tiền mà người mua ngoại hối sẵn sàng trả thêm để làm sai lệch chứng từ nhập khẩu, từ đó họ có thể trốn thuế hải quan, hoặc chuyển những khoản bị hạn chế (ví dụ: tháo chạy vốn) hoặc bất hợp pháp (ví dụ: “rửa tiền”) (IMF, 2001) Nói cách khác, nhu cầu ngoại hối đã bị thổi
phồng lên bởi các hoạt động “rửa tiền” thông qua các kênh thương mại, do đó thúc đẩy “giá” ngoại hối, hay chính là tỷ giá hối đoái Bằng cách thúc đẩy tỷ giá hối đoái của Nigeria, việc sử dụng thương mại như một phương thức “rửa tiền” đã làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Nigeria trên thị trường thế giới, do đó làm
chậm phát triển kinh tế của đất nước
Cán cân thương mại, đặc biệt là nhập khẩu, cũng có thể bị biến dạng bởi hoạt động “rửa tiền” Ví dụ, một quan chức tham nhũng có thể muốn “rửa” số tiền bất hợp pháp của mình ở ngoài nước và sau đó chuyển lại vào trong nước để chi tiêu và hưởng thụ Tuy nhiên, việc mang một lượng tiền lớn trở lại vào trong nước đầy rủi
ro, có thể vô hiệu hóa nỗ lực “rửa tiền” trước đó bất kỳ lúc nào Do đó, một phương thức “rửa tiền” hiệu quả hơn sẽ được sử dụng đó là mua hàng hóa nước ngoài thay
vì chuyển trực tiếp tiền vào trong nước Lúc đó nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng lên dẫn đến xuất siêu, chỉ để phục vụ cho mục đích che dấu sự tồn tại của các nguồn tiền bất hợp pháp