1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận kiểm toán căn bản: cơ sở dẫn liệu

18 5,5K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở dẫn liệu
Tác giả Nhóm 2
Chuyên ngành Kiểm toán
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 175 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lụcLỜI NÓI ĐẦU21. Các khái niệm:31.1 Cơ sở dẫn liệu:31.2 Mục tiêu kiểm toán:42. Các yếu tố cơ sở dẫn liệu62.1. Sự hiện hữu62.2 Quyền và nghĩa vụ72.3 Sự phát sinh72.4 Sự tính toán và đánh giá72.5 Sự phân loại và hạch toán82.6. Tổng hợp và công bố93. Mối quan hệ giữa cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán:104. Ý nghĩa của cơ sở dẫn liệu:14Kết luận17 LỜI NÓI ĐẦUKiểm toán là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường nhằm nâng cao chất lượng thông tin, giúp người sử dụng ra quyết định thích hợp. Trong lĩnh vực kiểm toán, kiểm toán tài chính là một mảng lớn, đóng vai trò chủ chốt cũng như chiếm một tỉ trọng lớn trong hoạt động kiểm toán. Muốn đạt được hiệu quả, chất lượng của cuộc kiểm toán bên cạnh việc lập kế hoạch chu đáo, thu thập bằng chứng thích hợp, đầy đủ…kiểm toán viên cần phải hiểu và nắm vững những kiến thức, khái niệm cơ bản của kiểm toán tài chính. Và một trong các khái niệm cơ bản và quan trọng trong kiểm toán tài chính là Cơ sở dẫn liệu.Cơ sở dẫn liệu là một trong các khái niệm cơ bản của kiểm toán. Việc nắm chắc khái niệm cơ sở dẫn liệu sẽ giúp KTV xác định được chính xác mục tiêu kiểm toán tổng quát các BCTC nói chung và mục tiêu kiểm toán từng bộ phận cấu thành của BCTC nói riêng. Nắm chắc khía niệm cơ sở dẫn liệu cũng giúp KTV xác định được các bằng chứng kiểm toán cần thiết phải thu thập để có thể đạt được các mục tiêu kiểm toán đặt ra. Khái niệm cơ sở dẫn liệu cũng tác động đến KTV trong cả ba giai đoạn của quá trình kiểm toán, đó là lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán.Trong bài này, nhóm nghiên cứu (nhóm 2) xin trình bày về một số vấn đề liên quan đến cơ sở dẫn liệu mà nhóm đã tìm hiểu. 1. Các khái niệm:1.1 Cơ sở dẫn liệu:Để có thể nắm được khái niệm về cơ sở dẫn liệu trước hết chúng ta cần xem xét quá trình xử lý một nghiệp vụ kinh tế trong đơn vị từ khi bắt đầu đến khi các nghiệp vụ này được phản ánh vào hệ thống BCTC của đơn vị.Một cách tổng quát, ta có thể tóm tắt quy trình xử lý một nghiệp vụ kinh tế theo sơ đồ sau:

Trang 1

M c l c ục lục ục lục

LỜI NÓI ĐẦU 2

1 Các khái niệm: 3

1.1 Cơ sở dẫn liệu: 3

1.2 Mục tiêu kiểm toán: 4

2 Các yếu tố cơ sở dẫn liệu 6

2.1 Sự hiện hữu 6

2.2 Quyền và nghĩa vụ 7

2.3 Sự phát sinh 7

2.4 Sự tính toán và đánh giá 7

2.5 Sự phân loại và hạch toán 8

2.6 Tổng hợp và công bố 9

3 Mối quan hệ giữa cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán: 10

4 Ý nghĩa của cơ sở dẫn liệu: 14

Kết luận 17

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Kiểm toán là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường nhằm nâng cao chất lượng thông tin, giúp người sử dụng ra quyết định thích hợp Trong lĩnh vực kiểm toán, kiểm toán tài chính là một mảng lớn, đóng vai trò chủ chốt cũng như chiếm một tỉ trọng lớn trong hoạt động kiểm toán Muốn đạt được hiệu quả, chất lượng của cuộc kiểm toán bên cạnh việc lập kế hoạch chu đáo, thu thập bằng chứng thích hợp, đầy đủ…kiểm toán viên cần phải hiểu và nắm vững những kiến thức, khái niệm cơ bản của kiểm toán tài chính Và một trong các khái niệm cơ bản và quan trọng trong kiểm toán tài chính là Cơ sở dẫn liệu

Cơ sở dẫn liệu là một trong các khái niệm cơ bản của kiểm toán Việc nắm chắc khái niệm cơ sở dẫn liệu sẽ giúp KTV xác định được chính xác mục tiêu kiểm toán tổng quát các BCTC nói chung và mục tiêu kiểm toán từng bộ phận cấu thành của BCTC nói riêng Nắm chắc khía niệm cơ sở dẫn liệu cũng giúp KTV xác định được các bằng chứng kiểm toán cần thiết phải thu thập để có thể đạt được các mục tiêu kiểm toán đặt ra Khái niệm cơ sở dẫn liệu cũng tác động đến KTV trong cả ba giai đoạn của quá trình kiểm toán, đó là lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán

Trong bài này, nhóm nghiên cứu (nhóm 2) xin trình bày về một số vấn đề liên quan đến cơ sở dẫn liệu mà nhóm đã tìm hiểu

Trang 3

1 Các khái niệm:

1.1 Cơ sở dẫn liệu:

Để có thể nắm được khái niệm về cơ sở dẫn liệu trước hết chúng ta cần xem

xét quá trình xử lý một nghiệp vụ kinh tế trong đơn vị từ khi bắt đầu đến khi các

nghiệp vụ này được phản ánh vào hệ thống BCTC của đơn vị

Một cách tổng quát, ta có thể tóm tắt quy trình xử lý một nghiệp vụ kinh tế

theo sơ đồ sau:

Như vậy, để có thể phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị vào

hệ thống BCTC của đơn vị, các sự kiện này bắt buộc phải trải qua một loạt các

khâu xử lý Ở tất cả các khâu xử lý này đòi hỏi các nhà quản lý của đơn vị phải có

được các đảm bảo, các chứng cứ chắc chắn để khẳng định rằng các nghiệp vụ kinh

tế phát sinh nếu đủ điều kiện sẽ được ghi nhận vào hệ thống BCTC của đơn vị một

cách trung thực và hợp lý

Trên cơ sở các chứng từ kế toán, hệ thống kế toán của đơn vị sẽ sử dụng các

phương pháp kế toán để tiến hành xử lý, ghi nhận, phản ánh… các sự kiện này để

rồi cuối cùng sẽ phản ánh nó vào hệ thống BCTC của đơn vị Tất cả quá trình xử lý

của hệ thống kế toán cũng phải được thực hiện trên một hệ thống giấy tờ, sổ sách

Xử lý nhu cầu và

đưa ra quyết định

thực hiện nghiệp

vụ

Tổ chức thực hiện và kiểm tra quá trình thực hiện nghiệp vụ

Quá trình xử lý của bộ phận kế toán với các nghiệp vụ

Tổng hợp và phản ánh các nghiệp vụ vào BCTC của đơn vị

Trang 4

và tài liệu kế toán phù hợp Toàn bộ các tài liệu kế toán này cũng phải được những người có trách nhiệm phê chuẩn và kí xác nhận

Các quyết định của các nhà quản lý đơn vị khi cho phép các sự kiện kinh tế được thực hiện, các chứng từ kế toán phát sinh, các số liệu, tài liệu, sổ sách kế toán

và các tài liệu có liên quan khác tạo nên một cơ sở và là căn cứ để đảm bảo các khoản mục và các thông tin được trình bày trên BCTC của đơn vị được lập ra hoàn toàn phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Các tài liệu

đó đã hình thành nên một cơ sở dẫn liệu của BCTC

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 – 21/12/2000: Cơ sở dẫn liệu

của BCTC là căn cứ của các khoản mục và thông tin trình bày trong BCTC do Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị chịu trách nhiệm lập trên cơ sở các chuẩn mực và chế độ kế toán quy định Các căn cứ này phải được thể hiện rõ ràng hoặc

có cơ sở đối với từng chỉ tiêu trong BCTC.

1.2 Mục tiêu kiểm toán:

Việc lập và trình bày BCTC trung thực, hợp lý, phù hợp với các chuẩn mực

và chế độ kê toán hiện hành là trách nhiệm của chủ doanh nghiệp Để đạt mục đích kiểm toán toàn diện các BCTC nói chung, tức là để đưa ra các ý kiến nhận xét về BCTC của đơn vị, KTV phải xem xét, kiểm tra riêng biệt các bộ phận, khoản mục của chúng

Mục tiêu kiểm toán từng bộ phận của BCTC là nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ xác đáng về mọi khía cạnh làm cơ sở xác nhận cho từng bộ phận được kiểm toán.

Trang 5

Ví dụ: Khi kiểm toán khoản mục hàng tồn kho (HTK); HTK được báo cáo trên bảng cân đối kế toán là 100.000.000d

KTV phải tìm kiếm và giải trình được ba yếu tố:

- HTK có thật hay không, có thực sự tồn tại trong doanh nghiệp hay không?

- HTK có thực sự thuộc sở hữu của doanh nghiệp hay không; doanh nghiệp

có quyền kiểm soát hay không?

- HTK đã được tính toán, đánh giá, ghi chép và báo cáo theo đúng nguyên tắc

và phương pháp của kế toán không?

- Ghi nhận HTK có đúng nguyên tắc giá phí hay không?

- Tính giá HTK đã tuân thủ nguyên tắc nhất quán chưa?

- Đã ghi chép, cộng dồn và xác định số lượng kiểm kê kho khớp đúng với số liệu trên sổ kế toán không?

HTK giảm giá so với giá thị trường đã được đánh giá theo giá trị thực hiện thuần túy chưa? Việc lập dự phòng giảm giá HTKđã phù hợp với nguyên tắc thận trọng của kế toán và quy định của cơ chế tài chính hiện hành chưa?

Những cơ sở dẫn liệu này xuất phát từ các nguyên tắc kế toán đối với việc ghi chép, trình bày và báo cáo số liệu trên các báo cáo tài chính

Trang 6

Sơ đồ:

2 Các yếu tố cơ sở dẫn liệu

Cơ sở dẫn liệu của một chỉ tiêu và bộ phận trên BCTC bao gồm các căn cứ cho nhiều khía cạnh khác nhau của các thông tin và bộ phận này Tuy nhiên một

cơ sở dẫn liệu phải bao gồm các căn cứ để giải trình trên các khía cạnh chủ yếu sau:

2.1 Sự hiện hữu

Một tài sản hay 1 khoản nợ phản ánh trên BCTC thực tế phải tồn

tại (có thực) vào thời điểm lập báo cáo.Các nhà lãnh đạo đơn vị phải có

những căn cứ thoả đáng để chứng minh sự tồn tại của các khoản mục này Đối với một số khoản mục tài sản sự hiện hữu còn bao gồm cả các yêu cầu

về chất lượng của các tài sản được phản ánh

Lập báo cáo tài chính

Trình bày và công bố

Trình bày và

cung cấp

thông tin

Đánh giá;

Đầy đủ;

Chính xác.

Mục đích kiểm toán toàn diện Mục đích kiểm toán từng bộ phận

Hiện hữu;

Quyền và nghĩa vụ;

Trang 7

Ví dụ: đối với khoản mục tiền gửi ngân hàng trên BCTC thì phải có giấy

báo nợ báo có của ngân hàng để chứng thực sự tồn tại của số liệu được phản ánh

2.2 Quyền và nghĩa vụ

Một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên báo cáo tài chính đơn vị phải

có quyền sở hữu hoặc có trách nhiệm hoàn trả tại thời điểm lập báo cáo Nếu doanh nghiệp có bằng chứng chứng minh tài sản đó là thuộc quyền sở hữu của mình thì doanh nghiệp hoàn toàn có quyền sử dụng, cho thuê hoặc nhượng bán tài sản đó Ví dụ tài sản cố định thuê tài chính: nhà xưởng( hợp đồng) , máy móc, thiết bị

Đối với các khoản nợ phải trả được phản ánh trên các BCTC thì đơn vị đang có nghĩa phải thanh toán thực tế đối với các khoản nợ này

Ví dụ: khi doanh nghiệp nhận tiền tạm ứng của khách hàng thì phải có

nghĩa vụ cung cấp hàng hoá do khách hàng yêu cầu Doanh nghiệp phải phản ánh tài sản đó trên báo cáo tài chính của đơn

vị mình

2.3 Sự phát sinh:

Một nghiệp vụ hay một sự kiện kinh tế đã ghi chép vào hệ thống sổ kế toán của đơn vị và được phản ánh vào BCTC thì phải đã xảy ra và có liên quan đến đơn vị trong thời kỳ xem xét

Ví dụ: khi khách hàng đặt phòng khách sạn trước cho kì nghỉ lễ thì khách

sạn này không được ghi nhận có phát sinh doanh thu cho khách sạn tại thời điểm đó luôn mà doanh thu chỉ được ghi nhận khi khách hàng đó đến sử dụng phòng trong kì nghỉ lễ

2.4 Sự tính toán và đánh giá

Trang 8

Sự đánh giá: Một tài sản hay một nguồn vốn được ghi chép theo

giá trị thích hợp trên cơ sở chuẩn mực và chế độ, nguyên tắc

kế toán hiện hành (hoặc được thừa nhận)

Ví dụ: theo nguyên tắc thận trọng thì chi phí không được đánh giá quá

thấp và tài sản, doanh thu không được đánh giá quá cao (ví dụ khi khách hàng mua hàng nợ thì vẫn ghi có phát sinh doanh thu); hoặc theo nguyên tắc trọng yếu (ví dụ khi mua 1 cái bút thì tính luôn vào chi phí một lần không trích khấu hao nhiều năm hay nhiều kì kế toán)

Sự tính toán: các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế khi ghi nhận phải được

ghi nhận đúng giá trị của nó Các số liệu và phép toán khi thực hiện phải đảm bảo tính toán chính xác về mặt toán học và không có sai sót

2.5 Sự phân loại và hạch toán

Tính đầy đủ: toàn bộ tài sản, nguồn vốn , các nghiệp hay giao dịch đã

xảy ra và có liên quan đến kỳ báo cáo phải được ghi chép đầy đủ trong hệ thống sổ kế toán của đơn vị và phải được báo cáo đầy đủ trong hệ thống BCTC

Ví dụ: khi xảy ra nghiệp vụ kinh kế như trả tiền cho nhà cung cấp

bằng chuyển khoản thì phải có hai tài khoản là tiền gửi ngân hàng(112)

và khoản phải trả cho người bán(331) trên báo cáo tài chính

Tính đúng đắn: các khoản mục tài sản, nguồn vốn phải được phân loại

một cách đúng đắn theo yêu cầu của các chuẩn mực và chế độ kế toán Các khoản mục này cụng phải được ghi nhận và phản ánh theo đúng các trình tự, sơ đồ tài khoản và phương pháp kế toán hiện hành hoặc được thừa nhận

Ví dụ: khi khách mua vé tàu thì phải ghi nhận là doanh thu chưa thực

hiện không được ghi nhận là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cho

Trang 9

doanh nghiệp Hoặc khi một nghiệp vụ phát sinh thì tổng số phát sinh bên

nợ phải bằng tổng số phát sinh bên có

Tính đúng kỳ: một nghiệp vụ và sự kiện kinh tế phát sinh phải được ghi

nhận theo nguyên tắc kế toán dồn tích tức là được ghi nhận vào kỳ kế toán mà chúng phát sinh mà không căn cứ vào sự phát sinh của dòng tiền Không có một sự kiện và nghiệp vụ kinh tế nào được ghi nhận sớm khi chưa đủ điều kiện ghi nhận hoặc được ghi nhận muộn so với kỳ mà chúng phát sinh Khía cạnh này quan trọng với các khoản doanh thu và chi phí vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của kỳ báo cáo

và các kỳ có liên quan khác

Ví dụ: khi khách hàng mua máy tính trả góp thì doanh thu sẽ được

ghi nhận ngay sau khi giao hàng (máy tính) cho khách hàng không phải ghi nhận doanh thu khi đến kỳ nhận được hết tiền hay nhận được một khoản tiền trả góp trước

2.6 Tổng hợp và công bố

Các khoản mục được phân loại, diễn đạt và công bố phù hợp với chuẩn mực và chế dộ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận)

Cộng dồn: số liệu cộng dồn trên các tài khoản và sổ kế toán phải được tính

toán một cách chính xác, việc luân chuyển số liệu giữa các sổ kế toán chi tiết

và sổ kế toán tổng hợp đảm bảo không có sai sốt Số liệu trên các sổ kế toán của các tài khoản có liên quan phải đảm bảo phù hợp với nhau

Ví dụ: đối với tài khoản phải trả cho người bán thì khi cộng dồn bù trừ

giữa nợ và có thì phải chú ý nếu cùng một khách hàng thì có thể nhưng nếu các khách hàng khác nhau thì không được bù trừ

Trình bày, công bố: các chỉ tiêu, bộ phận và khoản mục trên BCTC phải

được trình bày, và công bố theo đúng yêu cầu của các chuẩn mực và chế độ

Trang 10

Kiểm toán viên Các mục tiêu kiểm toán:

Đưa ra nhận xét

về mức độ trung thực và hợp lý của các cơ sở dẫn liệu

Nhà quản lý

Cơ sở dẫn liệu:

Là đối tượng hướng tới và là cơ

sở hình thành các mục tiêu kiểm toán

kế toán hiện hành Ví dụ: đối với tài khoản phải thu khách hàng thì nếu là doanh nghiệp bán chịu với khách hàng thì đó là khoản phải thu nên phải phản ánh lên mục tài sản của BCTC nhưng nếu doanh nghiệp nhận ứng trước tiền hàng của khách hàng thì đó là khoản phải trả và phản ánh lên mục nguồn vốn của BCTC

3 Mối quan hệ giữa cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán:

Nếu cơ sở dẫn liệu đã được thể hiện trên các BCTC hướng tới đòi hỏi các bước công nghệ kế toán thì xác minh của kiểm toán viên trước hết tập trung vào việc xem xét độ tin cậy của các cơ sở dẫn liệu đó Hơn nữa, trách nhiệm của cả nhà quản lí, của cả kiểm toán viên là dảm bảo đọ tin cậy của các cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính Do đó, giữa các cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán có quan

hệ chặt chẽ với nhau cả về nội dung và kết cấu của các yếu tố cấu thành tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính Mục tiêu kiểm toán là đưa ra các nhận xét về tính trung thực và hợp lý của các cơ sở dẫn liệu được trình bày

Mối quan hệ giữa cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán

Mục tiêu kiểm toán của kiểm toán tài chính bao gồm hai loại là mục tiêu chung và mục tiêu kiểm toán đặc thù Trong mục tiêu kiểm toán chung lại chia thành hai loại

cụ thể là sự hợp lý chung và các mục tiêu khác

Mục tiêu hợp lý chung bao hàm việc xem xét , đánh giá tổng thể số tiền ghi trên các khoản mục trên cơ sở cam kết chung về trách nhiệm của nhà quản lý và

Trang 11

thông tin thu được qua khảo sát thực tế ở khách thể kiểm toán trong quan hệ với việc lựa chọn các mục tiêu chung khác Vì vậy đánh giá sự hợp lý chung cũng hướng tới khả năng sai sót cụ thể của các số tiền trên khoản mục Nếu kiểm toán viên không nhận thấy mục tiêu hợp lý chung đã đạt được thì tất yếu phải dùng tới các mục tiêu chung khác Từ đó kiểm toán viên sẽ lập kế hoạch thu thập những bằng chứng chi tiết hơn trên các khoản mục hay phần hành cụ thể với những mục tiêu xác định Việc định vị các bộ phận cấu thành kèm theo định hướng mục tiêu tương ứng giúp ích rất lớn cho kiểm toán nâng cao hiệu quả hoạt động do có được kết luận đúng đắn trên cơ sở có bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực với chi phí kiểm soát ít Tuy nhiên mục tiêu hợp lý chung cũng đòi hỏi sự nhạy bén, khả năng phán đoán cũng tác phong sâu sát với thực tế ở đơn vị của kiểm toán viên

Bên cạnh mục tiêu là hợp lý chung là các mục tiêu khác Các mục tiêu này được đặt ra tương ứng với các cơ sở dữ liệu của báo cáo tài chính là: hiệu lực, tính trọn vẹn, quyền và nghĩa vụ, chính xác cơ học, phân loại và trình bày

Hiểu được và định ra được các mục tiêu chung của kiểm toán mới là bước đầu, vấn

đề quan trọng là phải cụ thể hóa được các mục tiêu chung này vào từng tìa khoản

và phần hành cụ thể Kết quả của quá trình cụ thể hóa này chính là sự hình thành các mục tiêu kiểm toán đặc thù Mục tiêu kiểm toán đặc thù được xác định trên cơ

sở mục tiêu chung và đặc điểm của khoản mục hay phần hành cùng cách phản ánh theo dõi chúng trong hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ Do đó, mỗi mục tiêu chung có ít nhất một mục tiêu đặc thù Tóm lại, có thể khái quát ảnh hưởng của cơ sở dẫn liệu đến việc hình thành mục tiêu kiểm toán theo sơ đồ sau:

Các bước triển khai mục tiêu kiểm toán

Sau khi xác định được các mục tiêu kiểm toán, kiểm toán viên sẽ phải tìm ra các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp để có thể thực hiện được mục tiêu kiểm toán đã định

Các báo cáo

tài chính

Các bộ phận cấu thành của báo cáo tài chính

Xác nhận của Ban quản trị về các bộ phận cấu thành (các cơ sở dẫn liệu)

Các mục tiêu kiểm toán chung

Các mục tiêu kiểm toán đặc thù

Trang 12

Để có thể đưa ra mục tiêu kiểm toán riêng biệt cho các khoản mục, người ta cố gắng đưa ra những mục tiêu kiểm toán chung có thể áp dụng cho mọi khoản mục Các mục tiêu kiểm toán chung này được hình thành trên cơ sở dẫn liệu

Sự hiện hữu: KTV cần thu thập các bằng chứng về sự hiện có của tài sản và

nguồn vốn được phản ánh trên bảng cân đối kế toán bằng các kỹ thuật và thủ tục kiểm toán thích hợp cho từng bộ phận và khoản mục

Sự phát sinh: KTV cần thu thập đầy đủ các bằng chứng nhằm đảm bảo toàn

bộ các sự kiện, các nghiệp vụ kinh tế, các khoản doanh thu và chi phí đã được kế toán đơn vị ghu chép vào hệ thống sổ kế toán của thời kì báo cáo là thực sự phát sinh thực tế tại đơn vị

Quyền và nghĩa vụ:

Sự tồn tại và hiện có của tài sản không có đảm bảo cho chúng thuộc quyền

sở hữu của đơn vị Nhiều tài sản hiện có tại đơn vị nhưng không thuộc sở hữu của họ, ví dụ như các loại vật tư hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công, tài sản định thuê hoạt động…

Vì vậy KTV phải thu thập các bằng chứng về quyền sở hữu (hoặc quyền kiểm soát lâu dài) của đơn vị đối với các tài sản đã phản ánh trên BCTC bằng các xem xét cẩn thận các tài liệu, chứng từ làm căn cứ pháp lý liên quan…

Sự tính toán và đánh giá:

Sự đánh giá: KTV cần phải xem xét việc đánh giá tài sản (bao gồm

cả ngoại tệ, vàng bạc ), công nợ, vốn chủ sở hữu, thu thập và chi phí của đơn vị có phù hợp với các nguyên tắc kế toán và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận phổ biến hay không Để thực hiện mục tiêu này, KTV cần chú ý:

- Các chính sách kế toán mà đơn vị áp dụng để đánh giá có đúng với các chuẩn mực, chế độ kế toán hay không?

Ngày đăng: 29/10/2013, 19:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w