Thứ hai, thẩm định dự án giúp ngân hàng lường trước các rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng đến quá trình triển khai, thực hiện dự án như các yếu tố về công nghệ, sự biến động của thị trường
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN ĐÌNH HẢI
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU
TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ QUY MÔ VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
SÀI GÒN - HÀ NỘI CHI NHÁNH VĨNH PHÚC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn được thực hiện độc lập của bản
thân với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Những thông tin, số liệu,
dữ liệu đưa ra trong luận văn được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ về nguồn
gốc Quá trình thu thập và xử lý dữ liệu của cá nhân đảm bảo khách
quan và trung thực
Tác giả
Nguyễn Đình Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm việc và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình và sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơnTS Nguyễn Thị Mai Chi – người cô
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và
hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện kinh tế và Quản lý, Quý thầy cô thuộc Đại học Bách Khoa đã giúp tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện Luận văn
Thạc sỹ kinh tế
Tôi xin chân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà
Nội – Chi nhánh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ mọi mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình học tập, xin cảm ơn các đồng nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sài
Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thu thập số liệu, cung cấp
thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài
Nhân dịp này, tôi cũng xin cám ơn gia đình, bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 2015
Họ và tên tác giả luận văn
Nguyễn Đình Hải
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ QUY MÔ VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư 3
1.2 Thẩm định dự án vay vốn của các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ 5
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết khách quan phải thẩm định dự án vay vốn của các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ 5
c Sự cần thiết khách quan phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư 6
1.2.2 Nội dung và phương pháp thẩm định dự án đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ 16
1.2.3 Yêu cầu đối với thẩm định dự án vay vốn của DNVVN 28
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định dự án vay vốn của DNNVV 31
1.3.1 Những nhân tố chủ quan 31
1.3.2 Những nhân tố khách quan 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN CỦA DN CÓ QUY MÔ VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI CN VĨNH PHÚC 37
2.1 Giới thiệu về NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Vĩnh Phúc 37
2.1.1 Lịch sử hình thành và các giai đoạn phát triển 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 37
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 38
2.2 Thực trạng công tác thẩm định dự án vay vốn của DN có quy mô vừa và nhỏ tại NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội CN Vĩnh Phúc 39
Trang 52.2.1 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 39
2.2.2 Tổ chức thẩm định đối với dự án vay vốn của DNvừa và nhỏ tại SHB 43
2.2.3 Nội dung thẩm định 46
2.2.4 Phương pháp thẩm định 54
2.2.5 Ví dụ về thẩm định dự án vay vốn của DNVVN tại NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Vĩnh Phúc 57
a Ví dụ về dự án :”Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm gạchGRANITE của công ty Cổ phần PRIME PHỔ YÊN” 57
2.3 Đánh giá thực trạng thẩm định dự án vay vốn của DNVVN tại NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Vĩnh Phúc 70
3.3.1 Những kết quả đạt được 70
2.3.2.Những hạn chế và nguyên nhân 72
CH ƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN CỦA DNVVN TẠI NHTMCP SÀI GÒN HÀ NỘI – CN VĨNH PHÚC 79
3.1 Định hướng phát triển của NHTMCP Sài Gòn Hà Nội – Chi nhánh Vĩnh Phúc 79
3.1.1 Định hướng hoạt động chung 79
3.1.2 Định hướngtài trợ vốn cho các dự án của DNVVN 80
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án vay vốn của DN vừa và nhỏ tại SHB Vĩnh Phúc 81
3.2.1 Kiện toàn bộ máy tổ chức thẩm định 82
3.2.2 Hoàn thiện nội dung thẩm định dự án DNVVN 83
3.2.3 Hoàn thiện Phương pháp thẩm định dự án DNNVV 89
3.2.4 Nâng cao trình độđội ngũ cán bộ thẩm định 90
3.2.5 Nâng cao chất lượng thông tin phục vụ thẩm định dự án 92
3.2.6 Hiện đại hoá trang thiết bị và cơ sở hạ tầng phục vụ công tác thẩm định dự án 94
3.3 Một số kiến nghị đối với cấp trên vàvới các tổ chức có liên quan: 95
Trang 63.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và bộ ngành liên quan 95
3.3.2 Kiến nghị vớiNgân hàng nhà nước 96
3.3.4 Kiến nghị với chủ dự án đầu tư 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Diễn giải
CBTĐ Cán bộ thẩm định CIC Trung tâm thông tin tín dụng DAĐT Dự án đầu tư
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng Thương mại PCCC Phòng cháy chữa cháy SXKD Sản xuất kinh doanh SHB Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng biểu:
Bảng 2.1: Dư nợ tín dụng tại SHB Vĩnh Phúc từ 2010-2015 38
Bảng 2.2: Cơ cấu cho vay tại SHB Vĩnh Phúc 39
Bảng 3.3: Bảng tính hiệu quả đầu tư của dự án: 61
Bảng 3.4: Số lượng các dự án của doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ 71
Sơ đồ: Sơ đồ 1.1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư 3
Sơ đồ 1.2: Giai đoạn đầu tư 3
Sơ đồ 1.3 Quy trình thẩm định dự án tại NHTM 9
Sơ đồ 2.1: Quy trình cho vay và thẩm định dự án đầu tư tại SHB Vĩnh Phúc 45
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Vĩnh Phúc, số lượng các dự
án vay vốn của DNVVN được thẩm định và tài trợ vốn đã có sự tăng trưởng trong những năm qua Tuy nhiên, vẫn chưa tương xứng với sự phát triển mạnh mẽ của DNVVN trên địa bàn cũng như năng lực hiện tại của Chi nhánh Có nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan, trong đó những hạn chế trong công tác thẩm định
dự án là một trong những nguyên nhân hàng đầu, do vậy, việc tìm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án vay vốn của DNVVN là yêu cầu cấp thiết hiện nay
Xuất phát từ tầm quan trọng và hạn chế của công tác thẩm định dự án đầu tư nói chung và dự án đầu tư của các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ tại SHB Vĩnh Phúc hiện
tại nói riêng, tôi lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư của các
doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà NộiChi nhánh Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Các lý luận cơ bản về thẩm định dự án đầu tư của các Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ tại các NHTM
+ Thực trạng thẩm định dự án đầu tư của các Doanh nghiệp có quy mô vừa
và nỏ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Vĩnh Phúc
Trang 10- Phạm vi nghiên cứu: Các hoạt động thẩm định dự án đầu tư có quy mô vừa
và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Vĩnh Phúc khoảng thời gian từ năm 2012 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
6 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm định dự án vay vốn đầu tư của doanh nghiệp
có quy môvừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định dự án vay vốn của doanh nghiệp có quy
mô vừa và nhỏ tại NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội CN Vĩnh Phúc
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án vay vốn đầu tư của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTMCP Sài Gòn Hà Nội – CN Vĩnh Phúc
Trang 11cơ bản của hoạt động đầu tư Vì vậy, để có cơ sở nghiên cứu sâu về vấn đề này, ta cần hiểu một cách khái quát dự án đầu tư
a Dự án đầu tư
Dự án đầu tư được hiểu là tài liệu tổng hợp, phản ánh kết quả nghiên cứu cụ thể toàn bộ các vấn đề về kinh tế, kỹ thuật, tài chính có liên quan, ảnh hưởng đến sự vận hành và tính sinh lời của một công cuộc đầu tư
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Sơ đồ 1.1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Nguồn: Tổng hợp
Giai đoạn 2: Giai đoạn đầu tư
Sơ đồ 1.2: Giai đoạn đầu tư
Lập dự án đầu tư Thẩm định dự án đầu tư
Quyết định đầu tư
Đàm phán và ký kết hợp
đồng thi công công trình Đấu thầu
Thi công công trình
Nghiệm thu
Trang 12Đây là giai đoạn đưa dự án đầu tư vào vận hành sản xuất sản phẩm để đưa ra tiêu thụ trên thị trường
Lập và thẩm định dự án đầu tư có một vai trò rất quan trọng trong bất cứ hoạt động đầu tư nào, điều này được thể hiện:
- Dự án đầu tư là cơ sở để quyết định bỏ vốn ra để đầu tư Thông qua dự án đầu
tư, nhà đầu tư sẽ quyết định có bỏ vốn ra đầu tư hay không và từ số vốn mình bỏ ra với
dự án đầu tư này sẽ mang lại hiệu quả, lợi ích như thế nào
- Dự án là cơ sở lập kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn dốc và kiểm tra quá trình thực hiện dự án đầu tư Trong suốt quá trình thực hiện đầu tư, thông qua dự
án, nhà đầu tư có thể tự bố trí kế hoạch, tiến độ thực hiện dự án đồng thời tổ chức kiểm tra, đôn đốc, theo dõi quá trình thực hiện đầu tư
- Dự án là cơ sở để thuyết phục các tổ chức tín dụng xem xét tài trợ cho dự án Các tổ chức tín dụng, ngân hàng thông qua việc xem xét, thẩm định dự án đầu tư để đánh giá hiệu quả của dự án, lãi hay lỗ để từ đó đưa ra quyết định tài trợ vốn cho nhà đầu tư hay không
- Dự án là cơ sở để thuyết phục các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét cấp giấy phép đầu tư Điều này được xem xét trên cơ sở dự án có hiệu quả kinh tế cao, không vi phạm quy định Pháp luật, không ảnh hưởng xấu đến môi trường, đến xã hội và qua đó
sẽ đưa ra quyết định đầu tư hay không
- Dự án là một trong những cơ sở Pháp lý để xem xét giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện đầu tư
b Những yêu cầu khi xem xét dự án đầu tư
Để có được một dự án đầu tư có tính thuyết phục và thu hút các bên tham gia
Dự án đó phải thoả mãn các yêu cầu:
- Dự án phải có tính khoa học Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu của dự án đầu tư, đảm bảo yêu cầu này sẽ tạo tiền đề cho việc triển khai và thực hiện thành công
dự án đầu tư
- Dự án phải có tính pháp lý Dự án cần có cơ sở pháp lý vững chắc phù hợp với chính sách và Pháp luật của Nhà nước
Trang 13- Dự án phải có tính thực tiễn Tính thực tiễn của dự án đầu tư thể hiện ở chỗ, có khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế Mỗi dự án thuộc một ngành nghề quy định cụ thể, có những thông số, tính toán và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cụ thể, nên các nội dung, các khía cạnh phân tích của dự án đầu tư không thể được nghiên cứu một cách chung chung mà phải dựa trên những căn cứ, cơ sở hợp lý, tức là dự án phải được xây dựng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng, về thị trường vốn và các chỉ tiêu khác
- Dự án phải có tính thống nhất Các dự án phải biểu hiện sự thống nhất về lợi ích giữa các bên tham gia và có liên quan đến dự án đầu tư
- Dự án phải có tính phỏng định Trong nhiều trường hợp, những nội dung,
những tính toán về quy mô sản xuất, chi phí, giá cả, lợi nhuận, trong dự án chỉ có
tính chất dự trù, dự báo do thực tế xảy ra khác với dự kiến ban đầu trong dự án Vì vậy,
dự án phải có tính phỏng định, tuy nhiên, sự phỏng định này phải dựa trên những căn
cứ khoa học, trung thực và khách quan để giảm thiểu rủi ro, hạn chế độ bất định trong
dự án
1.2 Thẩm định dự án vay vốn của các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết khách quan phải thẩm định dự án vay vốn của các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ
1.2.1.1: Khái niệm, mục đích và sự cần thiết khách quan
a Khái niệm:Theo quan niệm thông thường, thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, có khoa học và toàn diện các nội dung cơ bảnliên quan đến dự án đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện và hiệu quả của một dự án, từ đó ra quyết định đầu tư, cấp phép đầu tư, tài trợ vốn cho dự án Đây là
một quá trình kiểm tra, đánh giá các nội dung của dự án một cách độc lập, tách biệt với quá trình soạn thảo dự án Thẩm định dự án tạo ra cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu
tư dự án có hiệu quả
Dưới góc độ ngân hàng, thẩm định dự án đầu tư là quá trình kiểm tra, đánh giá một cách độc lập, khoa học, khách quan và toàn diện các nội dung cơ bản của dự
án, đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả và tính khả thi cũng như khả năng hoàn trả
Trang 14vốn đầu tưcủa dự án, dựa trên việc sử dụng các kỹ thuật phân tích, so sánh tạo cơ
sở để đưa ra quyết định có tham gia tài trợ vốn cho dự án hay không
a Mục đích thẩm định dự án:
Thứ nhất, thẩm định dự án giúp ngân hàng đưa ra quyết định cho vay chính
xác, đảm bảo an toàn, hiệu quả vốn đầu tư Thẩm định dự án là cơ sở để NHTM xác định tính khả thi, khả năng hoàn vốn của dự án và khả năng trả nợ của nhà đầu
tư Trên cơ sở đó, ngân hàng đưa ra quyết định tài trợ cho dự án ở nhiều mức độ khác nhau: số tiền tài trợ, thời hạn vay, thời hạn ân hạn, lãi suất cho vay, hình thức giải ngân, chứng từ cần cung cấp, các biện pháp đảm bảo tiền vay cũng như các phươg án khác nhằm hạn chế rủi ro và kiểm soát hoạt động đầu tư của dự án
Thứ hai, thẩm định dự án giúp ngân hàng lường trước các rủi ro có thể xảy ra ảnh
hưởng đến quá trình triển khai, thực hiện dự án như các yếu tố về công nghệ, sự biến động của thị trường nguyên vật liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra, sự thay đổi về công nghệ sản xuất, doanh số bán hàng, chi phí sản xuất, lợi nhuận dự kiến, các yếu tố về môi trường, chính sách quản lý, tác động của nhân tố xã hội… Từ đó, ngân hàng phải xem xét các yếu tố nhằm đưa ra các giải pháp đối với chủ đầu tư, dự án đầu tư, các kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước để hạn chế các rủi ro và tăng cường hiệu quả thực hiện dự án
Thứ ba, thẩm định dự án là căn cứ để ngân hàng có biện pháp kiểm tra việc sử dụng
vốn đúng mục đích, đúng đối tượng hay không, góp phần để dự án đầu tư mang lại hiệu quả, lợi nhuận cho chủ đầu tư và đảm bảo nguồn trả nợ ngân hàng
Kết quả của thẩm định dự án sẽ mang tính quyết định đối với một khoản cho vay Thẩm định dự án là khâu mà ngân hàng cần phải quan tâm hàng đầu để đảm bảo tránh được tối đa các rủi ro của một khoản cho vay, tạo sự an toàn và lành mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả trong hoạt động tín dụng
c Sự cần thiết khách quan phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư
Đầu tư là một lĩnh vực quan trọng quyết định sự tăng trưởng và phát triển của các thành phần kinh tế cũng như nền kinh tế quốc dân Nhưng hoạt động đầu tư sẽ
Trang 15không thể tiến hành được khi không có vốn hay không đủ vốn Ngoài nguồn vốn tự có của mình, các nhà đầu tư thường kêu gọi sự tài trợ từ nguồn vốn bên ngoài mà trong đó chủ yếu là nguồn vốn vay của các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, ngân hàng sẽ không đồng ý cho vay nếu không biết rằng vốn vay được sử dụng an toàn và hiệu quả hay không Do đó, không chỉ riêng các nhà đầu tư mà các ngân hàng và các cơ quan hữu quan cũng phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư, tức là đi sâu xem xét, nghiên cứu đánh giá hàng loạt các vấn đề trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đưa ra một quyết định cho vay đúng đắn
Đối với nhà đầu tư
Sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp nhờ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh đúng đắn, mà các kế hoạch này lại được thực hiện bởi các dự án Với
tư cách là chủ dự án và là bên lập dự án, chủ đầu tư biết rõ và tương đối tỷ mỉ dự
án đầu tư của mình, nắm được những điểm mạnh cũng như điểm yếu, những khó khăn thách thức trong quá trình thực hiện dự án Trên thực tế, khi đưa ra một quyết định đầu tư, chủ đầu tư thường xây dựng và tính toán nhiều phương án khác nhau Điều này có nghĩa là có nhiều dự án khác nhau được đưa ra nhưng không phải dễ dàng trong việc lựa chọn dự án này, loại bỏ dự án kia vì nhiều khi khả năng thu thập, nắm bắt những thông tin mới của chủ dự án bị hạn chế, nhất là đối với các xu hướng kinh tế, chính trị, xã hội mới và điều này sẽ làm nguy cơ rủi ro tăng cao và làm giảm tính chính xác trong dự đoán của họ Thông qua việc thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp nhà đầu tư lựa chọn được dự án tối ưu và thích hợp nhất với năng lực của mình
Đối với ngân hàng
Ngân hàng là một tô chức trung gian tài chính thực hiện việc nhận tiền gửi và cho vay Trong quá trình cho vay, không phải bất cứ một doanh nghiệp nào cũng được ngân hàng đáp ứng nhu cầu, ngân hàng chỉ cho vay khi đã biết chắc chắn vốn vay được
sử dụng đúng mục đích, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và ngân hàng Muốn vậy ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp cho ngân hàng dự án đầu tư được tính toán cụ thể Trên cơ sở đó, cùng với các nguồn thông tin khác nhau ngân hàng sẽ tiến
Trang 16hành tổng hợp và thẩm định dự án của chủ đầu tư một cách khách quan Việc thẩm định
dự án đầu tư còn là cơ sở để ngân hàng xác định số tiền vay, thời gian cho vay, thời gian
ân hạn, mức thu nợ hợp lý, thời điểm bỏ vốn cho dự án và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả trong tương lai
Như vậy, đối với ngân hàng, công tác thẩm định dự án đầu tư rất quan trọng, nó giúp cho ngân hàng ra quyết định có bỏ vốn đầu tư hay không? Nếu đầu tư thì đầu tư như thế nào Mức độ bỏ vốn là bao nhiêu? Điều này sẽ giúp ngân hàng đạt được những chỉ tiêu về an toàn và hiệu quả trong sử dụng vốn, giảm thiểu nợ quá hạn và nợ khó đòi, hạn chế những rủi ro có thể xảy đến với ngân hàng
Đối với xã hội và các cơ quan quản lý Nhà nước
Hoạt động Đầu tư luôn được coi là động lực phát triển nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng của mỗi quốc gia Những vấn đề quan trọng đặt ra là đầu tư như thế nào để có hiệu quả, nếu không tác động của đầu tư không hợp lý là rất nguy hại và gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Hiệu quả ở đây không đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả các hiệu quả về mặt xã hội như vấn đề giải quyết công ăn việc làm, tăng thu ngân sách, tăng khả năng cạnh tranh trong và ngoài nước, đặc biệt là vấn đề đảm bảo môi trường sinh thái Ngoài ra, dự án được chọn đầu tư còn phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương mà dự án này thực hiện và phải hoàn toàn tuân thủ các quy chế quản lý kinh tế, quản lý đầu tư xây dựng và các quy chế quản lý khác của Nhà nước
1.2.1.2 Tổ chức thực hiện thẩm định dự án
Tại các NHTM, cán bộ tín dụng, trưởng phó phòng tín dụng là người chịu trách nhiệm thực hiện các bước thẩm định cho vay Bước thẩm định thường được thực hiện sau khi nhận đầy đủ hồ sơ tài liệu do khách hàng cung cấp Từng trường hợp cụ thể, cán bộ thẩm định (CBTĐ) có thể thực hiện thẩm định cho vay song song với quá trình
hoàn tất hồ sơ của khách hàng Quy trình thực hiện thẩm định dự án tại NHTM được
tiến hành qua các bước như sau:
Trang 17Sơ đồ 1.3 Quy trình thẩm định dự án tại NHTM
Nguồn tài liệu: Cẩm nang tín dụng Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội Bước 1: Hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ vay vốn
Chủ đầu tư gửi hồ sơ dự án đến ngân hàng đầy đủ hoặc không đầy đủ (trong trường hợp không đầy đủ thì cần có những thông tin cơ bản về doanh nghiệp và về dự án), cán bộ thẩm định trực tiếp tiếp nhận hồ sơ dự án,đối chiếu kiểm tra hồ sơ về số lượng, tính hợp lý, tính hợp lệ, sự phù hợp về nội dung và hình thức giữa các hồ sơ do khách hàng cung cấp với các quy định hiện hành có liên quan Lưu ý các dấu hiệu sửa chữa, mâu thuẫn hay trái quy luật thông thường của hồ sơ và giữa các tài liệu khách hàng cung cấp
Sau khi kiểm tra hồ sơ, tính đầy đủ và đúng quy định, CBTĐsẽ báo cáo lãnh đạo
và thực hiện các bước tiếp theo: tiến hành tổng hợp, thiết lập kế hoạch thẩm định, tổ chức thẩm định
Bước 2:Thực hiện công việc thẩm định
CBTĐ tiến hành thẩm định khách hàng vay vốn và dự án vay vốn Trên cơ sở tài liệu, hồ sơ khách hàng cung cấp và những thông tin thu thập, CBTĐ phân tích, đánh giá dự án theo yêu cầu và nội dung chi tiết của dự án, chú trọng đến thẩm định khía cạnh tài chính, thẩm định rủi ro và khả năng trả nợ của dự án
sơ
Tiến hành thẩm định
Lập báo cáo thẩm định
Phê duyệt báo cáo thẩm định
Ra quyết định cho vay Yêu cầu bổ sung
hồ sơ
Trang 18Các thông tin có thể được thu thập từ chính hồ sơ khách hàng cung cấp, hoặc thu thập thông tin từ đi thực tế tại cơ sở và từ các nguồn khác như: Trung tâm thông tin tín dụng (CIC), các cơ quan chủ quản của Doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề liên quan, các sở, ngành liên quan trên địa bàn (Sở địa chính, Sở tài chính, Sở
kế hoạch đầu tư, ) Tìm hiểu thông qua các bạn hàng, đối tác làm ăn, các nhà cung cấp dịch vụ, thiết bị, nguyên vật liệu của doanh nghiệp, các NHTM mà khách hàng hiện đang vay vốn hoặc đã vay vốn trước đó, các loại báo chí tạp chí kinh tế Trường hợp cần thiết, CBTĐ có thể đề xuất mua thông tin nhằm bảo đảm thu thập
đủ thông tin và có chất lượng
Tuỳ tính chất và mức độ phức tạp của từng khoản vay, CBTĐ cần tìm hiểu và chủ động lên kế hoạch thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau nhằm phục vụ cho việc thẩm định cho vay của mình được tốt nhất và chính xác nhất
Khi khai thác từ các nguồn thông tin khác, CBTĐ tập trung đánh giá tính khớp đúng so với thông tin được khách hàng cung cấp, uy tín của khách hàng, sản phẩm của khách hàng trên thị trường, mối quan hệ, đặc biệt là quan hệ tín dụng của khách hàng với NHTM khác
CBTĐ ghi chép lại nội dung các buổi làm việc với các cơ quan liên quan (trường hợp phỏng vấn trực tiếp) hoặc sao chụp lại các thông tin in trên báo chí, sách và lưu hồ sơ cho vay làm căn cứ thuyết minh cho báo cáo thẩm định tín dụng
Bước 3: Lập báo cáokết quả thẩm định
CBTĐ sẽ lập báo cáo thẩm định dựa trên các nội dung thẩm định ở trên và trình lên lãnh đạo xem xét, kiểm tra Trong báo cáo thẩm định, CBTĐ phải nêu rõ chi tiết thẩm định các nội dung, tính toán được khoản lợi nhuận, chi phí và các lợi ích có thể thu được nếu khoản vay được phê duyệt, các lợi ích không chỉ do khoản vay trực tiếp mang lại mà phải xem xét tổng thể cả các lợi ích lâu dài khác khi thiết lập mối quan hệ tín dụng lâu dài với doanh nghiệp như bán chéo các sản phẩm khác Từ đó đưa ra đề xuất: đồng ý hay từ chối tài trợ cho dự án
Trang 19Đối với các khoản vay phức tạp, có giá trị lớn, trưởng/phó phòng khách hàng cùng tham gia vào quá trình thẩm định từ đầu nhằm rút ngắn thời gian thẩm định xuống mức thấp nhất và kết quả thẩm định chính xác nhất
Bước 4: Phê duyệt kết quả thẩm định và ra quyết định cho vay
Trên cơ sở nội dung báo cáo kết quả thẩm định, cấp có thẩm quyền kiểm tra, yêu cầu bổ sung thêm hồ sơ, thông tin, giải trình các nội dung chưa rõ (nếu cần) và ra quyết định tài trợ hoặc không tài trợ dự án Nếu quyết định không cho vay thì phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do từ chối
1.2.1.3 Khái quát DNVVN trong nền kinh tế
Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân vì mục đích lợi nhuận có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong những thời kỳ theo quy định của từng quốc gia
Ở Việt Nam, tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành quy định về trợ giúp phát triển DNNVV đưa ra khái niệm: Doanh
nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật,
có tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng và sử dụng số lao động không quá 300 người Theo đó, DNVVN được phân định theo 3 cấp: DN siêu nhỏ là DN có số lao
động từ 10 người trở xuống; DN nhỏ là DN có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc có số lao động từ trên 10 người đến 200 người (đối với DN hoạt động thương mại
và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định từ 10 tỷ đồng trở xuống hoặc có
số lao động từ trên 10 người đến 50 người); DN vừa là DN có tổng nguồn vốn từ trên
20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc có số lao động từ trên 200 người đến 300 người (đối với DN hoạt động thương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng hoặc có số lao động từ trên 50 người đến 100 người)
DNVVN chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập và đang hoạt động tại Việt Nam, bao gồm mọi thành phần kinh tế (Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã và hộ kinh
Trang 20doanh cá thể) được thành lập và hoạt động theo luật Doanh nghiệp, luật hợp tác
xã Theo đánh giá của Chính phủ, DNVVN là đối tượng trung tâm trong quá trình phát triển của Việt Nam, có vai trò rất quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, làm tăng sức cạnh tranh trên thị trường, phát triển thị trường vốn, thị trường bất động sản, khoa học và công nghệ, tăng thu ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, DNVVN Việt Nam cũng bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém cần khắc phục như quy
mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, hiệu quả sức cạnh tranh yếu, ít đầu tư vào lĩnh vực sản xuất
Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có trên 500.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, khoảng 3 triệu hộ kinh doanh thương mại, 133.000 HTX, trang trại Hàng năm, khu vực này đóng góp vào tăng trưởng tới 60% GDP cả nước Các DNVVN không chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước mà còn giúp tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm cho số lao động phần lớn chưa qua đào tạo; góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội…Hiện các doanh nghiệp này sử dụng trên 50% lao động xã hội, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, các khu công nghiệp, làng nghề Tuy vậy, dù chiếm số đông nhưng DNVVN vẫn gặp
khó khăn, đặc biệt là trong việc tiếp cận nguồn tín dụng và mặt bằng sản xuất
1.2.1.4 Các đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Trình độ công nghệ kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, tốc độ đổi mới quá chậm Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng trong sản suất và kinh doanh
- Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế Tuy Việt Nam
có lượng lao động dồi dào so với các nước có cùng trình độ phát triển, nhưng chủ yếu
là lao động làm việc đơn giản, tỷ lệ lao động đã đào tạo nghề thấp, sức khỏe hạn chế, năng suất lao động không cao
- Sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ thấp Yếu tố tư bản cấu thành trong sản phẩm thấp, hàm lượng tri thức và công nghệ trong sản phẩm không cao, tính độc đáo không cao, giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm nói chung thấp Ngoài
Trang 21ra khả năng hạn chế về vốn cũng như tiếp cận các nguồn thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sự bảo hộ của Nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp Nhà nước…làm hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này
- Quản trị nội bộ của doanh nghiệp vừa và nhỏ còn yếu, nhất là quản lý tài chính, ý thức chấp hành các chế độ chính sách chưa cao, còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là liên kết trong cùng một hội ngành nghề
Đó chính là các nguyên nhân dẫn đến rào cản mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó hoặc ít có khả năng tiếp cận được nguồn vốn vay từ Ngân hàng thương mại để giải ngân cho các dự án của họ
1.2.1.5 Đặc điểm các dự án đầu tư của DN có quy mô vừa và nhỏ
a Về lĩnh vực đầu tư
Các dự án của DNVVN được thực hiện trên nhiều lĩnh vực, đầu tư vào nhiều ngành nghề kinh tế, rất đa dạng như lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp như xây dựng, thương mại dịch vụ, sản xuất kinh doanh hàng tiêu dùng, gia công chế biến …do đó đòi hỏi cán bộ tín dụng khi thẩm định các dự án này phải có hiểu biết rộng
Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ khác thì tính chất "đa dạng, phong phú" lại trở thành
"nhỏ lẻ manh mún" và tính chuyên nghiệp không cao Không ít doanh nghiệp vừa và nhỏ không có định hướng lâu dài trong hoạt động kinh doanh mà hoạt động chạy theo thương
vụ, thường xuyên thay đổi cơ cấu mặt hàng, sản phẩm tạo ra độ nhiễu cho thị trường Mặt khác, các DNVVN sản xuất phân tán, mặt bằng chật hẹp, an toàn công nghiệp chưa được chú trọng, tính chuyên môn hoá và hợp tác chưa cao
b Về quy mô dự án
Quy mô dự án của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường nhỏ, tuy nhiên khi thẩm định, cán bộ tín dụng vẫn cần phải tiến hành đầy đủ các bước thẩm định dự án, dẫn đến chi phí trung bình cho việc thẩm định dự án thường là cao
Do năng lực tài chính của các chủ đầu tư không mạnh Hầu hết DNVVN có những khó khăn mang tính “muôn thuở” bởi chính qui mô “vừa và nhỏ” là vốn ít, hạn chế về tiềm lực tài chính Ngoài nguồn vốn tự có, phần lớn DNVVN huy động vốn theo
2 cách, thứ nhất vay ngân hàng và bạn bè, thứ hai là nhờ tính đặc thù của từng ngành
Trang 22hàng mà giữa các DN hoặc giữa DN với bên bán hàng và bên mua hàng sử dụng vốn
“gối đầu” của nhau thông qua việc ứng trước tiền, hay được chấp nhận trả chậm tiền hàng để duy trì sản xuất và tiêu thụ hàng hóa (chiếm dụng vốn thương mại) Tuy nhiên, hiện nguồn vốn huy động từ bạn bè, đối tác không còn hoặc rất hạn chế, bởi họ đều khan vốn và tìm cách thu về Các DNVVN hầu như không thể tự mình huy động được bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty hay cổ phiếu tăng vốn do ở Việt Nam thị trường tài chính chưa phát triển ổn định và hoàn thiện và bản thân các
DN cũng chưa đủ mạnh để tự huy động vốn từ kênh thị trường chứng khoán
Vì vậy khi gặp khó khăn trong việc huy động vốn chủ sở hữu, DNVVN sẽ chuyển sang tiếp cận nguồn vốn vay, mà chủ yếu là vốn vay các Ngân hàng thương mại Vốn vay
từ các NHTM hỗ trợ cho các DNVVN đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, dây chuyền công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, thúc đẩy các DNVVN sử dụng vốn có hiệu quả Mặt khác sử dụng nguồn vốn vay của các NHTM, doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ khoản tiết kiệm thuế Tuy nhiên, việc tiếp cận được nguồn vốn này cũng không phải là dễ dàng, theo thống kê của Bộ Công thương hiện nay, chỉ khoảng 50% doanh nghiệp ngoài quốc doanh tiếp cận được vốn ngân hàng
Một trong những nguyên nhân cơ bản khiến việc tiếp cận vốn tín dụng của DNVVN Việt Nam còn hạn chế xuất phát từ chính bản thân các DNVVN Doanh nghiệp chưa hiểu rõ về cơ chế tín dụng của NHTM, có tâm lý sợ thủ tục vay vốn rườm rà, phức tạp và việc giải quyết cho vay của Ngân hàng khó khăn Phần lớn các DNVVN thiết lập thủ tục vay vốn không đúng quy định mà do Ngân hàng yêu cầu Thêm vào đó là tài sản của các DNVVN thường không đủ lớn để thế chấp vay vốn Nhiều DN, nhất là các công ty TNHH, tài sản pháp nhân và tài sản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên Ngân hàng rất khó thẩm định, đánh giá về năng lực thực sự của khách hàng
c Về thời gian đầu tư
Thời gian đầu tư của các dự án của DNVVN không kéo dài, thường trong khoảng từ 1-5 năm Thứ nhất là do DNVVN chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng tiêu dùng và thương mại dịch vụ có chu kỳ kinh doanh ngắn Thứ hai,
do doanh nghiệp vừa và nhỏ có nguồn vốn hạn chế, nên cần thời gian thu hồi vốn
Trang 23nhanh, tranh thủ cơ hội để đón đầu chu kỳ phát triển của sản phẩm hoặc chuyển sang sản phẩm mới
d Về chất lượng lập dự án
Chất lượng của các dự án được lập thường không cao, do trình độ chuyên môn của chủ đầu tư và một phần do chi phí dành cho việc lập dự án đầu tư là chưa đúng mức.Ở các DNVVN, chủ sở hữu cũng thường là người quản lý, do vậy chưa có
sự chuyên môn hoá và tách bạch trong các hoạt động của doanh nghiệp, tâm lý nhỏ lẻ, cục bộ vẫn tồn tại trong đội ngũ quản lý doanh nghiệp
Công tác lập dự án được chia làm hai loại: Dự án chủ đầu tư thuê viết và dự án chủ đầu tư tự viết
- Đối với dự án thuê viêt: Thông thường các dự án thuê viết rất lý thuyết, không sát với thực tế, nếu cán bộ tín dụng không có nhiều chuyên môn kinh nghiệm trong lĩnh vực của dự án thì sẽ đánh giá không chính xác dẫn đến quyết định cho vay sai
- Đối với các dự án tự chủ đầu tư viết: Thông thường viết không bài bản, cán bộ tín dụng sẽ phải sắp xếp tính toán lại dự án
Phần lớn các chủ DNVVN chưa được đào tạo bài bản, chủ yếu hoạt động dựa vào kinh nghiệm, thiếu kiến thức thị trường và chưa được hỗ trợ những thông tin cần thiết Rất ít doanh nghiệp áp dụng phương thức kinh doanh, quản lý hiện đại dẫn đến
bỏ lỡ nhiều cơ hội Một số lớn các DNVVN lập dự án đầu tư còn mang nặng tính chủ quan, áp đặt của lãnh đạo doanh nghiệp, hoặc dựa trên kinh nghiệm thuần tuý Nội dung dự án đầu tư đôi khi thiết lập còn sơ sài và không có hệ thống Hệ thống sổ sách
kế toán, nội dung và phương pháp hạch toán kế toán của doanh nghiệp thường không đầy đủ, chính xác và thiếu minh bạch năng lực tài chính nội tại của doanh nghiệp yếu, các hệ số tài chính không đảm bảo theo yêu cầu, không xác định rõ ràng được dòng tiền lưu chuyển bởi vậy không tính toán được đúng khả năng trả nợ trong tương lai Các DNVVN thiếu cập nhật thông tin, tiếp cận thị trường, sản xuất kinh doanh chưa ổn định, việc nghiên cứu thị trường không đầy đủ và thị phần của doanh nghiệp không lớn nên cán bộ ngân hàng sẽ gặp vướng mắc trong vấn đề thẩm định chỉ tiêu hiệu quả của
dự án Trường hợp cơ sở được doanh nghiệp đưa ra là thuyết phục nhưng trong quá
Trang 24trình vận hành dự án nếu có sự thay đổi về yếu tố sản phẩm, doanh thu gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của dự án
Các DNVVN bị động khi tiếp cận thông tin, chưa nhanh nhạy nắm bắt luật lệ, quy tắc, thiếu kinh nghiệm và kỹ năng trong tiếp xúc, đàm phán kinh doanh và xúc tiến thương mại, chưa có thói quen kinh doanh, hợp tác kinh doanh, quảng cáo hàng hóa qua mạng Internet hoặc các chiến lược kinh doanh cụ thể
Từ ý kiến đưa ra trên đây ta có thể kết luận nguồn khách hàng là DNNVV có một tiềm năng to lớn về nhu cầu vốn, để khai thác được tiềm năng này đòi hỏi sự chặt chẽ, khách quan, công tâm, chính xác của cán bộ tiến hành thẩm định dự án
Dự án đầu tư vay vốn được thẩm định tốt là cơ sở để cấp có thẩm quyền duyệt đề xuất tín dụng, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng lợi nhuận cho ngân hàng, qua đó cũng góp phần làm lợi cho chủ đầu tư và rộng hơn là góp phần phát triển kinh tế xã hội
1.2.2 Nội dung và phương pháp thẩm định dự án đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.2.1 Nội dung thẩm định dự án của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại
a Thẩm định khách hàng
Thẩm định khách hàng nhằm giúp các NHTM xác định được tính hợp pháp trong hoạt động, khả năng thực hiện dự án và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, thường tập trung vào những nội dung sau:
Năng lực pháp lý
Đánh giá tư cách, năng lực pháp lý của khách hàng trên 2 vấn đề:
-Tính hợp pháp trong hoạt động của doanh nghiệp thông qua Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, quyết định thành lập;
-Thẩm quyền của người đại diện doanh nghiệp trong các giao dịch vay vốn với ngân hàng
Trang 25Cán bộ thẩm định trong quá trình đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng cần nghiêm túc thực hiện, kiểm tra các loại hồ sơ và yêu cầu hồ sơ, điều này là cần thiết để tránh những rủi ro pháp lý Từ đó kết luận: Khách hàng có đủ tư cách pháp nhân để xác lập quan hệ tín dụng với ngân hàng hay không? Nếu chưa đủ thì cần bổ sung những văn bản pháp lý gì?
Tình hình sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính
Cán bộ thẩm định tiến hành đánh giá sơ bộ về ngành nghề hoạt động, quy mô hoạt động, quá trình phát triển của khách hàng; lịch sử quan hệ với các tổ chức tín dụng; đồng thời thẩm định nội dung các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để hiểu rõ thực trạng và tình hình tài chính của khách hàng, xác định xem hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng đang diễn ra như thế nào, có thuận lợi hay không, khó khăn vướng mắc gì và hướng giải quyết của doanh nghiệp đưa ra như thế nào? Tăng trưởng hay suy giảm, ổn định hay không ổn định, có những thuận lợi và khó khăn gì để đưa ra nhận định, dự báo tương lai về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng
Trên cơ sở đó, đánh giá năng lực tài chính, hiệu quả hoạt động và khả năng trả
nợ lâu Từ đó, ngân hàng có thể ra quyết định đúng đắn và kip thời khi cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng phục để vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
Năng lực và kinh nghiệm quản trị điều hành của doanh nghiệp
Nội dung cần phân tích đánh giá gồm:
- Đánh giá về mô hình tổ chức, bố trí lao động theo chức danh công tác và trình
độ chuyên môn
- Đánh giá năng lực của Ban lãnh đạo doanh nghiệp bao gồm năng lực chuyên môn, năng lực quản trị điều hành, phẩm chất tư cách, uy tín trong và ngoài DN, thiết lập các mối quan hệ, thành tích, sự đoàn kết trong lãnh đạo và trong nội bộ DN
Nếu không có năng lực quản trị điều hành tốt thì doanh nghiệp khó có thể đạt được kết quả tốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh do đó, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng là một thước đo thực tế khi đánh giá năng lực quản trị điều hành của
Trang 26chủ doanh nghiệp Vì vậy, thực hiện tốt yêu cầu phân tích năng lực tài chính doanh
nghiệp như trên cũng hỗ trợ cho nội dung phân tích này
Quan hệ với các tổ chức tín dụng
Ngoài quan hệ tín dụng, các quan hệ giao dịch khác như quan hệ tiền gửi, bảo lãnh, thanh toán … cần được đề cập, đánh giá đầy đủ, qua đó cho biết uy tín của doanh nghiệp trong việc thực hiện các nghĩa vụ cũng như khả năng hợp tác với các tổ chức tín dụng đã từng quan hệ Thêm vào đó cần cập nhật số liệu phản ánh mối quan hệ của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác một cách thường xuyên
Chấm điểm xếp hạng tín dụng khách hàng
Mỗi NHTM đều xây dựng cho mình một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo thông lệ quốc tế nhằm xếp hạng tín nhiệm khách hàng Hệ thống này bao gồm nhiều chỉ tiêu đánh giá mọi khía cạnh năng lực của khách hàng, từ đó đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ của khách hàng, phân loại nợ và định giá khoản vay Kết quả của việc chấm điểm xếp hạng khách hàng được các ngân hàng coi là một trong những điều kiện quan trọng trong quyết định cho vay
b Thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư nhằm đánh giá tính hợp pháp, hiệu quả và khả thi của
dự án một cách khách quan và toàn diện nhằm đưa ra quyết định có cho vay đối với dự
án hay không Thẩm định dự án đầu tư được xem xét trên các nhóm nội dung chủ yếu sau:
Thẩm định khía cạnh pháp lý của dự án
Khi xem xét một dự án, trước hết phải thẩm định tính pháp lý của dự án, nếu tính pháp lý của dự án không đảm bảo thì sẽ có nguy cơ bị đình hoãn trong quá trình triển khai thực hiện và khi đó sẽ xẩy ra nhiều hệ luỵ khác: mất cơ hội kinh doanh, tiến độ thực hiện bị kéo dài hay tổng vốn đầu tư bị phá vỡ vì khi tiến độ thực hiện kéo dài sẽ kéo theo sự gia tăng của nhiều khoản mục chi phí như: lãi vay, giá cả vật liệu, các nhà cung ứng phạt do vi phạm cam kết hợp đồng, nguyên vật liệu bị giảm giá trị do yếu tố thời gian, cơ hội … Đánh giá tính pháp lý của dự án trên các nội dung:
Trang 27- Sự phù hợp của dự án đầu tư với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế
xã hội trong từng thời kỳ, quy hoạch phát triển ngành và địa phương;
- Sự phù hợp của dự án đầu tư với các văn bản pháp quy, các quy định chế
độ ưu đãi, khuyến khích;
- Dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Thẩm định khía cạnh thị trường của dự án:
Đây là một trong những nội dung phân tích quan trọng trong thẩm định dự án đầu tư, thường tập trung đánh giá các vấn đề cơ bản sau:
- Phân tích tổng quan cung, cầu thị trường về sản phẩm của dự án; sự hợp lý trong việc xác định thị trường muc tiêu của dự án, thị phần của dự án hiện tại và trong tương lai
- Đánh giá khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại và sản phẩm thay thế thông qua giá bán, chất lượng sản phẩm và chính sách bán hàng; khả năng chiếm lĩnh thị trường, xác lập thị phần và phương án huy động công suất thiết kế qua các năm
- Đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm thông qua phương án tiếp thị quảng bá sản phẩm, phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối
Những nội dung phân tích nêu trên sẽ đưa đến những kết luận đánh giá mang tính chất cả về định tính và định lượng Về mặt định tính, đánh giá được khả năng cạnh tranh và khả năng tiêu thụ của sản phẩm Về mặt định lượng, các yếu tố về giá bán, chính sách bán hàng, chi phí trong bán hàng và khả năng phát huy công suất thiết kế hàng năm, doanh thu hàng năm của dự án …sẽ là những thông số đầu vào để khắc phục quá trình tính toán xác định hiệu quả dự án
Thẩm định khía cạnh kỹ thuật - công nghệ của dự án:
Đây là một nội dung thuộc phương diện kỹ thuật, khá khó đối với cán bộ thẩm định nếu như không có sự chuẩn bị trước, đặc biệt đối với các cán bộ trẻ thiếu kinh nghiệm, tích luỹ thông tin đối với lĩnh vực xem xét đánh giá Do đó, cán bộ thẩm định cần có thông tin về ngành, lĩnh vực đầu tư kinh tế và kỹ thuật được cập nhật, lưu trữ và theo dõi thường xuyên trong quá trình làm việc Nội dung thẩm định bao gồm:
Trang 28- Đánh giá công suất của dự án: xem xét các yếu tố cơ bản để lựa chọn công suất thiết kế, mức sản xuất dự kiến hàng năm của dự án và độ chính xác của công suất lựa chọn
- Đánh giá mức độ phù hợp của công nghệ, thiết bị được lựa chọn:nguồn gốc, ưu nhược điểm, mức độ hiện đại của công nghệ; sự phù hợp của công nghệ với năng lực lao động của người lao động trong doanh nghiệp, năng lực tài chính, khả năng quản lý, điều kiện khai thác, vận hành của doanh nghiệp
- Chất lượng sản phẩm làm ra phải đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật theo cam kết, đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn môi trường và các tiêu chuẩn kỹ thuật đề ra
Ngoài ra, còn phải xem xét một số nội dung khác như: Quy mô và giải pháp xây dựng, địa điểm đầu tư, tác động môi trường, giải pháp xây dựng, phòng cháy chữa cháy, …
Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án
Với tư cách là nhà tài trợ vốn cho dự án, các NHTM đặc biệt quan tâm đến phương diện thẩm định về mặt tài chính dự án vì nó thể hiện rõ nhất mục tiêu tài trợ của ngân hàng là khả năng trả nợ của dự án và cũng phù hợp chuyên môn nghiệp vụ của ngân hàng, đây luôn là một khâu quan trọng, phức tạp nhất trong công tác thẩm định dự án đầu tư tại các các ngân hàng thương mại
Thẩm định tài chính dự án bao gồm các vấn đề liên quan đến tài chính và hiệu quả tài chính dự án như sau:
- Thẩm định tổng mức đầu tư của dự án: xem xét đánh giá tổng vốn đầu tư của
dự án đã được tính toán, tổng vốn đầu tư đã tính đủ các khoản mục cần thiết chưa, cần xem xét các yếu tố làm tăng chi phí do trượt giá, do phát sinh thêm khối lượng, thay đổi tỷ giá ngoại tệ … Trên cơ sở những dự án tương tự đã thực hiện và được đúc rút ở những dự án đầu tư cùng loại (quy mô, ngành nghề và kỹ thuật công nghệ), cán bộ thẩm định có thể so sánh các chỉ tiêu (về suất vốn đầu tư, kỹ thuật công nghệ, về các hạng mục trong giai đoạn thực hiện đầu tư, thời gian thi công các hạng mục …), nếu thấy có sự khác biệt lớn ở bất kỳ một chỉ tiêu nào thì phải tập trung phân tích, tìm hiểu nguyên nhân
Trang 29- Thẩm định nguồn vốn tài trợ cho dự án: cần xem xét từng loại và phương án
huy động các nguồn vốn tài trợ cho dự án Nguồn vốn tài trợ dự án bao gồm vốn chủ sở hữu, vay nợ, thuê tài sản Một dự án có thể được tài trợ vốn bởi một trong các hình thức trên, hoặc được tài trợ hỗn hợp nhiều hình thức Khi thẩm định về nguồn vốn tài trợ dự
án cần xác định nhu cầu vốn đầu tư theo tiến độ thực hiện dự án, tính khả thi của các nguồn vốn tài trợ; tiến độ các nguồn tài trợ; khả năng đáp ứng nhu cầu vốn trong từng giai đoạn thực hiện dự án để đảm bảo tiến độ thi công dự án Ngoài ra, cần phải xem xét tỷ lệ và tiến độ của các nguồn vốn tham gia có hợp lý hay không, thông thường vốn
tự có phải tham gia đầu tư trước
- Thẩm định tính hợp lý của giá bán sản phẩm, doanh thu, chi phí của dự án:
phải xem xét cơ sở tính toán doanh thu như: mức huy động công suất so với công suất thiết kế, tiến độ thực hiện dự án và dự báo khả năng tham gia vào thị trường của sản phẩm sản xuất để dự kiến hệ số phát huy công suất hàng năm hợp lý hay không; giá bán đơn vị sản phẩm có phù hợp với giá thị trường hiện tại và chiều hướng biến động giá sản phẩm trong thời gian hoạt động của dự án để đưa ra mức hợp lý để tính doanh thu, giá bán của các sản phẩm thay thế Vềchi phí của dự án, cần xem xét tính đầy đủ của các yếu tố chi phí cần thiết để tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; Xem xét sự hợp lý của các yếu tố chi phí tạo nên giá thành sản phẩm
- Thẩm định dòng tiền của dự án: Trên cơ sở doanh thu, chi phí hoạt động, lãi vay
và thuế để xác định dòng tiền của dự án Khi thẩm định, cần xem xét sự chính xác, hợp lý trong tính toán, xác định đúng khoản lãi vay phải trả, các khoản thuế phải nộp, có xem xét đến các chính sách miễn giảm thuế theo quy định của Nhà nước
- Thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án: có nhiều chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả tài chính dự án, tuy nhiên các NHTM thường sử dụng một số chỉ tiêu chủ yếu như: Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV); Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR); Chỉ số doanh lợi PI, tỷ số lợi ích - chi phí (B/C); Thời gian hoàn vốn (PP); Lợi nhuận kế toán bình quân của dự án (AAP); Điểm hoà vốn (BP)
Giá trị hiện tại của thu nhập thuần – NPV (Net Present Value)
NPV là thu nhập ròng có được do thực hiện dự án tính ở thời điểm hiện tại Chỉ tiêu NPV cho phép ta đánh giá được một cách đầy đủ quy mô lãi của cả đời dự
Trang 30án được tính về một thời điểm hiện tại Thu nhập thuần của dự án là thu nhập còn lại sau khi đã trừ di các khoản chi phí của cả đời dự án Với ý nghĩa như vậy, NPV được xem như là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá và lựa chọn dự án NPV được tính theo công thức sau:
n
i i i
+ Phụ thuộc vào cách lựa chọn tỷ suất chiết khấu
+ Không áp dụng được trực tiếp để so sánh, lựa chọn các dự án có vòng đời hay vốn đầu tư khác nhau
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR (Internal Rate of Returns):
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu
để tính chuyển các khoản thu và các khoản chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại, thì tổng thu sẽ cân bằng với tổng chi, hay nói cách khác là giá trị hiện tại của thu nhập thuần của dự án sẽ bằng không (NPV = 0) Đây là một chỉ tiêu cơ bản trong phân tích tài chính
dự án Nó cho biết mức lãi suất mà dự án có thể chấp nhận được Dự án được lựa chọn khi
IRR da >MARR (Minimum Attractive Rate of Returnn) MARR được gọi là mức lãi suất cao nhất có thể chấp nhận được Nó chủ yếu được tính trên cơ sở kinh nghiệm của người chủ đầu tư hoặc ngân hàng thẩm định IRRdađược tính theo công thức:
Ưu điểm: Có thể tính toán được mà không cần số liệu về tỷ suất chiết khấu
Nhược điểm: không xác định được IRR trong trường hợp dòng tiền bị biến dạng, thay
đồi nhiều lần từ (-) sang (+) hoặc ngược lại, vì có rất nhiều đáp số khác nhau
Thời gian hoàn toàn vốn (Pay – back – Period)
Trang 31Thời gian hoàn vốn của dự án là thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu hồi
dù số vốn đầu tư ban đầu đã bỏ ra Nó chính là khoảng thời gian cần thiết dể hoàn trả
số vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận thuần hoặc tổng lợi nhuận thuần và khấu hao thu hồi hàng năm
Thời gian hoàn vốn có thể được tính theo hai cách: thời gian hoàn vốn giản đơn (không chiết khấu) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu
Thời gian hoàn vốn giản đơn
Trung đó: T là thời gian hoàn vốn chưa tính đến yếu tố thời gian của tiền
Thời gian hoàn vốn có chiết khấu:
Trong đó: T là khoảng thời gian hoàn vốn có chiết khấu
Ưu điểm: Mang tính thực tế cao, là một trong những căn cứ để ra quyết định đầu tư, giảm thiểu rủi ro vì dữ kiện trong những năm đầu của dự án bao giờ cũng đạt độ tin cậy cao hơn
Nhược điểm: Không cho biết thu nhập lớn hay nhỏ sau kỳ hoàn vốn, trong thực
tế đây cũng là mối quan tâm lớn của nhà đầu tư Có những dự án thời gian đầu mang lại thu nhập rất thấp nhưng triển vọng về lâu dài lại có thế tốt đẹp
Điểm hòa vốn của dự án (Break – Event Point)
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để trang trải các khoản chi phí bỏ ra Tại điểm hoà vốn, tổng doanh thu bằng tổng chi phí, do đó tại đây dự án chưa có lãi nhưng cũng không lỗ Bởi vậy, chỉ tiêu này cho biết khối lượng sản phẩm hoặc mức doanh thu (do bán sản phẩm đó) thấp nhất cần phải đạt được của dự án để đảm bảo bù đắp dược chi phí bỏ ra Điểm hoà vốn có thể được biểu hiện bằng chỉ tiêu
Trang 32hiện vật (sản lượng tại điểm hoà vốn) hoặc chỉ tiêu giá trị (doanh thu tại điểm hoà vốn) Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản lượng hoặc doanh thu của
dự án lại điểm hoà vốn thì dự án có lãi Ngược lại nếu thấp hơn thì dự án bị lỗ Do đó, chỉ tiêu điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt, mức độ an toàn của dự án càng cao, thời gian thu hồi vốn càng ngắn Có hai cách xác định điểm hoà vốn đó là phương pháp đại số và phương pháp đồ thị
Các ngân hàng thường lựa chọn dự án có bộ chỉ tiêu NPV ≥0, IRR ≥r, B/C ≥1 và thời gian thu hồi vốn không quá 15 năm Ngoài ra các NHTM còn quan tâm đến tỷ trọng vốn tự có trong tổng số vốn đầu tư, thông thường tỷ trọng này phải lớn hơn hoặc bằng 50% (bao gồm cả phần vốn lưu động) mới được ngân hàng chấp thuận Đối với một số
dự án tốt, thì có thể xem xét mức thấp hơn nhưng không dưới 30%
- Đánh giá khả năng trả nợ của dự án: xác định số tiền trả nợ hàng năm và
nguồn trả nợ hàng năm từ dự án dựa trên cơ sở dòng tiền của dự án
Phân tích rủi ro dự án
Dự án là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, quá trình thực hiện dự
án từ khi bắt đầu đầu tư đến khi kết thúc dự án thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro có thể xẩy ra Để đảm bảo tính vững chắc về hiệu quả và chất lượng của việc thẩm định, phục vụ việc ra quyết định cho vay thì cần thiết phải phân tích rủi ro dự án, bao gồm dự đoán các rủi ro có thể xảy ra, xem xét mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến dự án và phương án để hạn chế rủi ro đó
Những rủi ro có thể xảy ra trong giai đoạn thực hiện dự án như:
- Rủi ro chậm tiến độ thi công: Để hạn chế, cần xem xét kế hoạch đấu thầu, chọn thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, cam kết hỗ trợ giải phóng mặt bằng của địa phương, các cá nhân
- Rủi ro vượt tổng mức đầu tư: Để hạn chế, cần kiểm tra các điều kiện phát sinh tăng giá, giá cả khối lượng phải được ấn định,…
- Rủi ro về cung cấp dịch vụ kỹ thuật - công nghệ không đúng tiến độ, chất lượng không đảm bảo Để hạn chế rủi ro này, phải kiểm tra chặt chẽ hợp đồng, các điều khoản hợp đồng và bảo lãnh hợp đồng
Trang 33- Rủi ro về tài chính như thiếu vốn, giải ngân không đúng tiến độ Để hạn chế, phải kiểm tra các cam kết đảm bảo nguồn vốn góp, vốn của các bên cho vay và có nhiều nguồn để dự phòng…
- Rủi ro bất khả kháng: Để hạn chế rủi ro này, cần xem xét các yếu tố bất khả kháng có thể xảy ra (mức độ nguy cơ), kiểm tra các hợp đồng bảo hiểm (bảo hiểm đầu
tư, bảo hiểm xây dựng)
Giai đoạn khi dự án hoạt động:
- Rủi ro về cung cấp các yếu tố đầu vào không đầy đủ, không đúng tiến độ Để hạn chế, xem xét hợp đồng cung cấp dài hạn với các nhà cung ứng có uy tín, các điều khoản thoả thuận về giá cả, xem xét các phương án dự phòng
- Rủi ro về tài chính: như thiếu vốn kinh doanh Để hạn chế rủi ro này, kiểm tra các cam kết bảo đảm nguồn vốn (cam kết tài trợ), khả năng huy động vốn tự có và các nguồn vốn khác của doanh nghiệp
- Rủi ro về quản lý điều hành: Để hạn chế rủi ro này, cấn đánh giá năng lực của
bộ máy quản lý doanh nghiệp (năng lực điều hành, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của đội ngũ lãnh đạo, quản lý dự án), thẩm định cơ cấu tổ chức và xem xét hợp đồng thuê quản lý dự phòng
- Rủi ro bất khả kháng: Để hạn chế rủi ro này, kiểm tra bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kinh doanh …
c Thẩm định các điều kiện đảm bảo tiền vay
Căn cứ vào mức độ rủi ro của dự án, khoản vay và các quy định khác của ngành
về giới hạn cho vay có (hoặc không có) bảo đảm đối với khách hàng, NHTM sẽ quyết
định cho vay có hay không có bảo đảm
Các biện pháp bảo đảm tiền vay bao gồm: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược,
ký quỹ, bão lãnh và tín chấp Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà tổ chức tín dụng và khách hàng có thể thoả thuận áp dụng một hoặc một số biện pháp bảo đảm nêu trên cho phù hợp với từng khoản vay
Mục đích chính của việc chấp nhận tài sản đảm bảo là đảm bảo, hỗ trợ nguồn thu nợ khi nguồn thu từ dự án không đủ để hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng Thẩm
Trang 34định TSBĐ nhằm đảm bảo tính pháp lý, khả năng chuyển nhượng của TSBĐ, giá trị thu hồi từ TSBĐ và khả năng quản lý của ngân hàng đề phòng trong trường hợp phát
mại tài sản đảm bảo Tài sản được dùng để cầm cố, thế chấp để bảo đảm tiền vay phải
là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc bên thứ ba và được phép giao dịch Do vậy, khi thẩm định TSBĐ các NHTM thường đánh giá trên các khía cạnh:
- Tính pháp lý của Giấy chứng nhận quyền sở hữu và các giấy tờ có liên quan tới TSBĐ
- Nguồn gốc, đặc điểm của TSBĐ
- Quyền sở hữu/ khai thác/ sử dụng tài sản của bên bảo đảm
- Tài sản hiện có được phép giao dịch, có tranh chấp không?
- Điều kiện bảo hiểm, điều kiện đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản bảo đảm
- Khả năng chuyển nhượng của tài sản (tính thanh khoản) và khả năng thu hồi
nợ vay trong trường hợp phải xử lý TSBĐ
- Khả năng quản lý và biện pháp quản lý TSBĐ an toàn và hiệu quả
1.2.2.2 Phương pháp thẩm định dự án đầu tư
a Thẩm định theo trình tự
Dự án đầu tư thường bao gồm nhiều nội dung, nhiều mục do vậy không thể cùng lúc thẩm định tất cả các nội dung mà thường phải tiến hành theo một trình tự, từ tổng quát đến chi tiết, kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau
Thẩm định tổng quát: là việc xem xét khái quát các nội dung thẩm định của dự
án, để từ đó có những đánh giá chung nhất về dự án như: hồ sơ, tư cách pháp lý của chủ đầu tư, sự cần thiết phải đầu tư, mức độ hợp lý của các thông số chính của dự án, tiềm năng ngành nghề kinh doanh… thẩm định tổng quát cho phép hình dung khái quát dự
án, hiểu rõ quy mô, tầm quan trọng của dự án
Thẩm định chi tiết: Là bước tiến hành sau thẩm định tổng quát, được tiến hành tỉ
mỉ, chi tiết với từng nội dung của dự án: Về điều kiện pháp lý, thị trường đầu vào và đầu ra, các yếu tố về kỹ thuật, tổ chức quản lý dự án, tài chính và kinh tế xã hội của dự
Trang 35án Mỗi nội dung xem xét đều đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ý hay cần phải sửa đổi,hoặc không chấp nhận cho vay được Tuy nhiên, mức độ chi tiết và tập trung cho những nội dung cơ bản có thể khác nhau tuỳ vào đặc điểm cụ thể của từng dự án
b Phương pháp so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu
Đây là phương pháp thường được sử dụng trong thẩm định dự án đầu tư Nội dung của phương pháp là so sánh, đối chiếu nội dung dự án với các chuẩn mực pháp luật quy định, các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật thích hợp, thông lệ (quốc tế và trong nước) cũng như các kinh nghiệm thực tế, phân tích, so sánh để lựa chọn được phương án tối ưu
Sử dụng phương pháp này, các chỉ tiêu dự án thường được so sánh với: Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình do Nhà nước quy định; Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị; Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án (do pháp luật, hay thị trường yêu cầu); Các chỉ tiêu tổng hợp về cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư, tỷ suất sinh lời, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, trên tổng tài sản hay doanh thu…; Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công, tiền lương, chi phí quản lý… của ngành; Các tỷ lệ tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn hiện hành của Nhà nước, của ngành đối với từng loại hình doanh nghiệp
Lưu ý khi sử dụng các chỉ tiêu so sánh cần vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án và doanh nghiệp
c Phương pháp phân tích độ nhạy
Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài chính của dự án thông qua việc dự kiến các yếu tố thay đổi Phân tích độ nhạy của dự án là xem xét sự thay đổi các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án (lợi nhuận, thu nhập thuần, tỷ suất hoàn vốn nội bộ, thu nhập thuần của dự án…) khi các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu đó thay đổi theo chiều hướng tiêu cực (ví dụ giá bán, sản lượng, giá nguyên liệu đầu vào…) Phân tích độ nhạy nhằm xem xét mức độ nhạy cảm của dự án đối với sự biến động của các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu hiệu quả tài chính
Theo phương pháp này, trước hết phải xác định những yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính dự án như: Nguyên liệu đầu vào, lãi suất vay vốn, công suất thiết bị,
Trang 36doanh số bán hàng, giá cả sản phẩm đầu ra, các chi phí khác … để từ đó cho các đại lượng trên thay đổi theo một tỷ lệ nhất định (thường là 10-20%) dựa trên cơ sở phân tích những tình huống xảy ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai Từ đó, tính toán các chỉ số hiệu quả tài chính thay đổi tương ứng, nếu dự án vẫn hiệu quả nghĩa là dự án có độ an toàn cao Phân tích độ nhạy của dự án giúp cho cán bộ thẩm định biết được yếu tố nào nhạy cảm, yếu tố nào gây nên sự thay đổi nhiều nhất của chỉ tiêu hiệu quả xem xét, để
từ đó có biện pháp điều chỉnh, giảm thiểu rủi ro phù hợp Mặt khác, phân tích độ nhạy cũng cho thấy độ an toàn của dự án, đánh giá được tính vững chắc trong các chỉ tiêu tài chính dự án, để từ đó đưa ra các quyết định đồng ý, hay không đồng ý cho vay vốn đối với dự án Phân tích độ nhạy được dùng nhiều trong thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư và đối với những dự án lớn, phức tạp
d Phương pháp dự báo
Nội dung của phương pháp này là sử dụng các số liệu điều tra thống kê và vận dụng các phương pháp dự báo thích hợp để kiểm tra về cung cầu về sản phẩm dự án, về giá cả sản phẩm, thiết bị, nguyên vật liệu, quả lý, nhân công… và các đầu vào khác ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án Phương pháp dự báo thường được sử dụng dựa trên ngoại suy thống kê, mô hình hồi quy tương quan, sử dụng hệ số co dãn của cầu, định mức hoặc lấy ý kiến chuyên gia Phương pháp này nếu được sử dụng tốt sẽ nâng cao mức độ chính xác của các kết quả tính toán
Hiện tại, hầu hết các NHTM đều áp dụng tổng hợp các phương pháp thẩm định
dự án đầu tư như trên, tuỳ vào quy mô, mức độ của dự án mà vận dụng hoặc kết hợp các phương pháp khác nhau đảm bảo đạt hiệu quả thẩm định cao nhất
1.2.3 Yêu cầu đối với thẩm định dự án vay vốn của DNVVN
Việc thẩm định các dự án đầu tư nói chung tại các NHTM cần phải đảm bảo tính khách quan, khoa học, toàn diện, chính xác và kịp thời nhằm lựa chọn được dự án khả thi để tài trợ vốn đảm bảo hiệu quả, an toàn Đối với các dự án của DNVVN, xuất phát
từ những đặc điểm nêu trên, trong quá trình thẩm định cán bộ thẩm định phải cụ thể, chi tiết để tránh tình trạng cấp vốn vào dự án không khả thi, không thu hồi được vốn Hoặc ngược lại cấp vốn với một tỷ lệ nhỏ đối với một dự án tốt làm ảnh hưởng đến
Trang 37chất lượng, tính hiệu quả của dự án Các yêu cầu cụ thể đặt ra đối với công tác thẩm định dự án của DNVVN là:
1.2.3.1 Về tổ chức thực hiện
Việc tổ chức thực hiện thẩm định dự án vay vốn của DNVVN phải tuân thủ đúng quy trình thẩm định dự án đầu tư mà NHTM đã ban hành nhằm đảm bảo tính khách quan, khoa học trong công tác thẩm định Đồng thời cần căn cứ vào đặc điểm riêng của dự án DNVVN để có sự vận dụng linh hoạt nhằm giảm thời gian và chi phí thẩm định, tránh việc áp dụng một cách cứng nhắc, thiếu sáng tạo
1.2.3.2 Về nội dung thẩm định
Thứ nhất, khi thẩm định khách hàng vay vốn, cán bộ thẩm định phải đánh giá cụ
thể về khách hàng là DNVVN, bao gồm tư cách pháp lý, năng lực quản lý điều hành, năng lực tài chính cũng như kinh nghiệm của chủ đầu tư trong lĩnh vực đầu tư của dự
án
Để đánh giá năng lực tài chính của chủ dự án, ngân hàng chủ yếu dựa vào báo cáo tài chính của doanh nghiệp Trên thực tế DNNVV thường xây dựng báo cáo tài chính mang tính chất đối phó, báo cáo chính thức thường không phản ánh chính xác tình trạng thực tế do cán bộ lập báo cáo tài chính không có đủ trình độ năng lực, do đó, ngân hàng nên yêu cầu DNVVN cung cấp báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc ít nhất là đã được cơ quan thuế xác nhận Trên cơ sở phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp, cán bộ thẩm định cần tính toán lại và đưa ra các nhận xét về các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của doanh nghiệp như: hệ số nợ, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, các chỉ số như ROE, ROA, ROS
Rất ít DNVVN sở hữu được mặt bằng sản xuất của mình, hầu hết đều phải thuê địa điểm để hoạt động kinh doanh, do đó khi thẩm định khách hàng, cán bộ thẩm định phải xem xét kỹ về tư cách pháp lý cũng như các giấy tờ chứng nhận tư cách hoạt động tránh rủi
ro chủ doanh nghiệp bỏ trốn hoặc gặp phải doanh nghiệp không hoạt động Đồng thời phải trực tiếp kiểm tra và thu thập thông tin tại doanh nghiệp
Trang 38Do quy mô doanh nghiệp nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, lĩnh vực hoạt động dàn trải nên cán bộ thẩm định cần đánh giá năng lực cũng như kinh nghiệm của chủ đầu tư trong lĩnh vực mà dự án đầu tư vào
Thứ hai, khi thẩm định dự án vay vốn của DNVVN, cán bộ thẩm định cần chú
trọng các vấn đề sau:
Dự án đầu tư là tập hợp các yếu tố được lập trên những giả định về môi trường hoạt động của dự án, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác Do đó, cán bộ thẩm định cần tìm hiểu quy trình dự báo và những căn cứ, giả định của DNVVN khi lập dự án dầu
tư để đánh giá mức độ tin cậy của các kết quả dự báo, tránh tình trạng do thiếu kinh nghiệm hoặc do quá lạc quan về tình hình kinh doanh có thể dẫn đến những nhận định sai lầm trong việc sử dụng các giả định và ước tính
Do chất lượng lập dự án, tính toán các thông số, chỉ tiêu của dự án không cao nên quá trình thẩm định dự án DNVVN cần lưu ý tính chính xác hợp lý của tổng vốn đầu tư, so sánh đối chiếu với các dự án tương tự, tránh tình trạng tính toán thiếu vốn làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án hoặc thừa vốn dẫn đến lãng phí, không hiệu quả Đồng thời, cần xem xét và theo dõi tính hợp lý của tiến độ dự án để có phương án chủ động trong giải ngân vốn đầu tư, giải ngân đúng tiến độ đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả
Hầu hết các dự án của DNVVN có thời gian đầu tư ngắn do nhiều nguyên nhân, hạn chế về công nghệ, nếu sản phẩm sản xuất không đảm bảo chất lượng khó tiêu thụ
sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn đầu tư Do đó, trong nội dung thẩm định dự án của các DNNVV cần phải chú ý đến thẩm định thị trường đầu vào, đầu ra của dự án cụ thể như yêu cầu cung cấp các hợp đồng cụ thể Từ đó xác định chi phí đầu vào, các yếu
tố có khả năng thay đổi làm ảnh hưởng tới chi phí đầu vào, khả năng làm chủ phương án đầu vào cũng như khả năng tiêu thụ của dự án, xác định thị trường mục tiêu, khả năng chiếm lĩnh thị trường, xác lập thị phần của sản phẩm của dự án Khi thẩm định thị trường, phải đánh giá tính hợp lý của giá bán sản phẩm, có so sánh với sản phẩm cùng loại, đánh giá khả năng phát triển của các sản phẩm thay thế
Khi đánh giá về mặt công nghệ, thiết bị, ngoài việc dựa vào hiểu biết, kinh nghiệm đã tích luỹ của mình, cán bộ thẩm định cần tham khảo các nhà chuyên môn,
Trang 39trong trường hợp cần thiết có thể đề xuất thuê tư vấn chuyên ngành để việc thẩm định được chính xác và cụ thể
Thứ ba, khi thẩm định tài sản đảm bảo, cần xem xét kỹ đến tính pháp lý của tài
sản đảm bảo và khả năng chuyển đổi thành tiền của TSĐB (tính thanh khoản của TSDDB), khả năng tăng giảm giá trong thời gian bảo đảm Đối với TSĐB của bên thứ
ba, nhất thiết phải yêu cầu cam kết cụ thể của chủ sở hữu tài sản về giới hạn (số tiền, phạm vi bảo lãnh) đảm bảo cho khoản vay
1.2.3.3 Một số lưu ý khác đối với cán bộ thẩm định
Dự án đầu tư của các DNVVN thường rất đa dạng, đầu tư vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, cho nên cán bộ thẩm định ngoài kiến thức chuyên môn còn cần phải có kiến thức tổng hợp về pháp luật, kinh tế, công nghệ kỹ thuật, thông tin thị trường, cập nhật thường xuyên các văn bản … đồng thời phải có hiểu biết rộng, về thông tin các ngành kinh tế, các lĩnh vực sản xuất và kỹ thuật khác nhau
Ngoài ra cần thường xuyên theo dõi, xem xét và cập nhật các thông tin về chính sách, chế độ ưu đãi của Nhà nước, địa phương, ngành đối với DNVVN và các sản phẩm, lĩnh vực mà dự án đầu tư
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định dự án vay vốn của DNNVV
1.3.1 Những nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Cán bộ thẩm định
Việc thẩm định dự án đầu tư dựa trên những phân tích, đánh giá khách quan và chủ quan của cán bộ thẩm định Bởi vậy chất lượng thẩm định dự án phụ thuộc hàng đầu vào những tố chất thuộc về cán bộ thẩm định
- Phẩm chất đạo đức, yếu tố trung thực và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thẩm định
- Nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tế, năng lực và các kỹ năng thẩm định, khả năng hiểu biết về môi trường kinh tế xã hội vi mô và vĩ mô,
là các điều kiện cơ bản quyết định tới chất lượng thẩm định
- Các mối quan hệ của cán bộ thẩm định đối với các doanh nghiệp trên địa bàn,
Trang 40các cơ quan chức năng liên quan
Đội ngũ cán bộ tín dụng tại SHB Vĩnh Phúc đa số là các cán bộ trẻ, tuy được đào tạo bài bản xong kiến thức kinh nghiệm cũng như hiểu biết rộng đa dạng các lĩnh vực còn nhiều hạn chế
1.3.1.2 Yếu tố thông tin
Thông tin là yếu tố không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định dự án mà ảnh hưởng tới mọi khâu của hoạt động cho vay cũng như những hoạt động khác của ngân hàng Bên cạnh các thông tin do chủ đầu tư cung cấp, thì khả năng tiếp cận, chủ động thu thập các nguồn thông tin khác và khả năng xử lý, sử dụng các thông tin của ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo kết quả đánh giá là khách quan, chính xác
Kết luận đưa ra từ quá trình thẩm định là kết quả của việc xử lý thông tin về dự án
mà cán bộ thẩm định thu thập Vì vậy với thông tin đầy đủ, toàn diện, chính xác, cập nhật cán bộ thẩm định sẽ có những phân tích, đánh giá về dự án chính xác hơn, nâng cao chất lượng thẩm định Ngược lại, nếu sử dụng một nguồn thông tin không đáng tin cậy để đánh giá dự án thì có thể dẫn đến quyết định đầu tư sai lầm gây thiệt hại không chỉ cho riêng ngân hàng mà còn có thể cho toàn xã hội Do vậy, việc xây dựng hệ thống thông tin chính xác, toàn diện luôn được đặt ra như một nhu cầu cấp thiết đối với công tác thẩm định nói riêng và đối với hoạt động của ngân hàng nói chung
Nhìn nhận chung tại SHB Vĩnh Phúc, yếu tố thông tin về các dự án được các cán bộ thu thập một cách tương đối chính xác đầy đủ Do đặc thù của chi nhánh, tuyển dụng các cán bộ là người địa phương nên về cơ bản am hiểu về các khách hàng tại địa
phương mình Loại trừ nhược điểm là tuổi đời còn trẻ dẫn đến thiếu yếu tố kinh nghiệm, thì việc thu thập các thông tin liên quan đến khách hàng, dự án của khách hàng, tư cách đạo đức khách hàng, lịch sử trả nợ của khách hàng…là tương đối tốt
1.3.1.3 Trang t hiết bị công nghệ
Hiện nay trang thiết bị công nghệ hỗ trợ cán bộ tín dụng tương đối về các tác nghiệp trên máy cũng như việc tìm kiếm thông tin Ngoài việc truy cập vào các cơ sở
dữ liệu để lấy số liệu, còn có một số phần mềm hỗ trợ cán bộ xử lý khối lượng thông tin lớn, như hệ thống xếp hạng tín dụng, hệ thống báo cáo…