Cạnh tranh trên thị trường nguyên liệu thuỷ sản gay gắt hơn trên thị trường XK thuỷ sản ở một trong các nước phát triển rất có thế mạnh trong việc XK nguyên liệu thủy sản và khả năng c[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong điều kiện toàn cầu hoá, tham gia vào quá trình hội nhập khu vực và thế giới là điều mà tất cả các quốc gia trên thế giới muốn phát triển nền kinh tế đều cần Việt Nam không nằm ngoài các quốc gia như thế Nhất là hiện nay, Việt Nam đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Đường lối hướng mạnh vào xuất khẩu giúp thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa, mở cửa nền kinh tế
Xuất khẩu là hệ thống bán hàng có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài vì mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, lợi nhuận, ổn định, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, từng bước nâng cao mức sống của nhân dân chứ không phải là hành vi bán hàng một cách riêng lẻ
Xuất khẩu thủy sản là hoạt động kinh doanh ngoại thương mà các mặt hàng thủy sản của quốc gia nay sẽ được bán cho quốc gia khác dựa trên cơ sở dùng tiền tệ làm cơ sở thanh toán Xuất khẩu thủy sản giúp: Thứ nhất, Tăng GDP cho nền kinh tế: Một lượng ngoại tệ lớn cho ngân sách nhà nước là từ hoạt động XKTS Đó là một nguồn vốn đặc biệt quan trọng để phát triển và xây dựng đất nước Thứ hai, Tạo công ăn việc làm: Cần rất nhiều lao động để tập trung vào các ngành XKTS Cần tận dụng được những lợi thế mà XK hàng hóa có được là lao động có trình độ văn hoá, số lượng lớn, giá rẻ Từ đó người lao động sẽ có việc làm và có thu nhập Thứ ba, quảng bá hình ảnh đất nước: Hình ảnh của đất nước sẽ được các sản phẩm xuất khẩu quảng bá một cách rộng rãi và cũng góp phần nâng cao vị trí của quốc gia xuất khẩu nói chung và ngành TS của quốc gia XK nói riêng trên trường quốc tế Kim ngạch xuất khẩu thủy sản là lượng tiền thu được từ xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của một quốc gia tính trong một thời gian cố định thường là tháng, quý hoặc năm Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của một quốc gia phụ thuộc vào giá xuất khẩu các mặt hàng TS và sản lượng các mặt hàng TSXK Có nghĩa là sẽ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố : Tỷ giá giữa đồng tiền nước xuất khẩu với đồng tiền các
Trang 2nước nhập khẩu, chất lượng TSXK, nguồn cung TSXK, các đối thủ cạnh tranh và thu nhập các nước NKTS
Từ các kinh nghiệm XKTS của Thái Lan và Trung Quốc, Việt Nam rút ra
các bài học: Trước hết là điều chỉnh để mở rộng quyền kinh doanh Theo đó quyền
hoạt động xuất khẩu thủy sản sẽ được phân bổ cho các thành phần kinh tế khác nhau, các địa phương, những vùng lãnh thổ khác nhau cũng được tham gia vào hoạt động XKTS, từ đó bỏ hẳn cơ chế độc quyền
Thứ hai: Các hình thức kinh doanh ngoại thương cần đa dạng hóa, các hình
thức kinh doanh thông dụng của cơ chế thị trường đã dần thay thế cho các hiệp định thương mại và nghị định thư Mậu dịch trả tiền ngay, mậu dịch gia công, mậu dịch bồi hoàn và tô nhượng đã thực sự thúc đẩy quan hệ buôn bán đa chiều với các
QG khác
Thứ ba: Phát triển mạnh mẽ nền ngoại thương mở của nước nhà theo hướng
ngoại và khuyến khích “tự do XK” Phần lớn hàng hoá XK được kinh doanh theo kiểu “thả nội” và tuỳ sự điều tiết của thị trường, chính vì thế mà sản phẩm ngày càng đa dạng về chủng loại, phong phú về quy mô
Thứ tư: Chọn những mặt hàng thủy sản có ưu thế để sản xuất mặt hàng XKTS
Thứ năm: Thực hiện những chính sách sản xuất thủy sản xuất khẩu, tổ chức
các khu kinh tế chế suất, các khu đô thị, siêu thị và xây các khu chợ trao đổi thủy sản, khuyến khích thương mại nhà nước và tư nhân; mở rộng thị trường trong nước
và ngoài nước, hỗ trợ các DN nhỏ và vừa trong việc sản xuất và XKTS Khai thác những tiềm năng, trí tuệ và tay nghề trong nước để thu hút đầu tư sản xuất thủy sản xuất khẩu Nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới
Thuỷ sản vừa là một ngành kinh tế vừa là một ngành sản xuất Cung cấp thực phẩm là một vai trò rất đặc biệt của TS, nó cũng tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân đặc biệt là ở vùng ven biển và nông thôn Để bù đắp những thiếu hụt thủy sản do lượng cầu quá lớn, ngày càng tăng trong khi tài nguyên thủy sản có giới hạn và đang cạn kiệt dần thì cần ngành nuôi trông TS lớn mạnh Hiện nay nuôi
Trang 3trồng TS có khoảng 30% sản lượng dùng làm thực phẩm và chiếm tới 27% tổng sản lượng thuỷ sản toàn cầu
Thương mại TS phát triển nhanh chóng cùng với việc gia tăng sản xuất nhất
là các loại thuỷ sản tươi sống tăng rất mạnh Hiện nay đất canh tác trong nông nghiệp đang bị thu hẹp do hậu quả của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, sự bùng nổ dân số thế giới Mặt khác thiên nhiên luôn có những biến động bất thường làm cho lương thực thực phẩm là một mặt hàng quan trọng trên toàn cầu Hiện nay ngành thủy sản không chỉ giải quyết đơn thuần vấn đề việc làm và vấn đề thực phẩm tại chỗ mà nó còn là một ngành kinh doanh đầy tiềm năng và sẽ thu được lợi nhuận lớn trên thị trường quốc tế Đối với sản xuất kinh doanh thủy sản thì đó chính là một tiền đề quan trọng và cũng là một điểm khởi đầu cho các quy hoạch, chiến lược phát triển của Việt Nam
Đường bờ biển dài và tài nguyên biển trong đó có thủy sản đa dạng và phong phú là một đặc điểm của nước ta Nhờ có những đặc điểm và sản vật riêng ở mỗi vùng nên nước ta có thể phát triền thuỷ sản trên toàn đất nước Đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng là những nơi khả năng nuôi trông thủy sản nước
lợ hoặc trồng lúa và các hoạt động nông nghiệp khác Các hoạt động nông nghiệp không thể mang lại được những lợi thế to lớn mà nuôi trồng thủy sản đem lại trên 2 vùng đất này Và đây cũng chính là thế mạnh để thủy sản của Việt Nam có thể cạnh tranh được khi giá cả trên thị trường quốc tế ở mức thấp nhất
Nước ta có một lợi thế đó chính là đất đai chưa khai thác hết tiềm năng hiện
có để phát triển TS do nuôi trồng TS công nghiệp ở nước ta chưa phát triển nên môi trường sinh thái sẽ không bị ảnh hưởng Một triển vọng mới đang mở ra cho việc phát triển vùng nuôi thủy sản theo phương thức nuôi công nghiệp khi nuôi hải sản thành công trên các vùng cát ven biển
Để ngành thủy sản có thể trở thành thế mạnh và là một ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta thì chúng ta cần sử dụng tất cả các lợi thế trên Với mức tăng tổng sản lượng thuỷ sản bình quân hàng năm trên 4% và giá trị XK bình quân chiếm 10% đến 15% ngành thủy sản nước ta đang phát triển với tốc độ cao
Trang 4Các mặt hàng XKTS của nước ta gồm có: Mặt hàng cá đông lạnh, mặt hàng tôm đông lạnh, các hàng thủy sản khác (bạch tuộc, hàng khô, mực, …)
Các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu ở Việt Nam thời gian qua:
o Tình hình các nước NKTS của Việt Nam: Tại các nước EU: Châu Á là
nơi XK chính sang thị trường EU về mặt hàng thủy sản EU nhập khẩu về thủy sản gồm có: cá hộp, mực ống, cá rút xương, cá ngừ đóng hộp, các loại nhuyễn thể và tôm Trong đó, Ý, Đan Mạch, Bỉ, Đức, Anh là những nước nhập khẩu lớn trong EU Mỗi năm, Đức tiêu thụ trên 80.000 tấn mặt hàng cá hồi Hàng năm, Ý cũng nhập khẩu 130.0000 tấn mực để tiêu thụ trong nước Tôm cũng là mặt hàng mà có sức nhập rất lớn từ EU Mỹ: Sau Nhật Bản, đứng thứ 2 về tiêu thụ thủy sản là Mỹ, một năm trung bình tiêu thụ khoảng 1,5 đến 1,7 triệu tấn thủy sản Trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất xấp xỉ 38% về tổng khối lượng NKTS là mặt hàng tôm Mỹ La Tinh
là khu vực cung cấp thủy sản lớn cho Mỹ, chiếm 23,7% nhưng lớn nhất vẫn là khu vực Châu Á với tỷ trọng là 53,8% Nhật Bản: với mức tiêu thụ mặt hàng thủy sản khoảng gần 70 kg/năm tính theo đầu người, so với thế giới là đứng đầu Do vậy, với nền NKTS của thế giới, Nhật Bản có vị thế rất lớn Thị trường Nhật Bản được rất nhiều nước cung cấp TS, đặc biệt các quốc gia trong Châu Á bao gồm có cả nước
ta Thị trường nhập khẩu Nhật Bản bao gồm nhiều mặt hàng trong đó điển hình là
cá ngừ và tôm Cá ngừ gồm các sản phẩm như đóng hộp, đông lạnh và và tươi sống
Cá ngừ chiếm 11% và mặt hàng tôm chiếm 21% tỷ trọng NKTS của Nhật Bản Ngoài mặt hàng cá ngừ và tôm ra còn các mặt hàng được thị trường Nhật Bản nhập vào với kim ngạch cao như: Bạch tuộc, mực nang, mực ống và các tươi Mặt hàng
có sức nhập khẩu lớn vị trí thứ 3 của Nhật Bản là mặt hàng cá đông lạnh Trong đó, dẫn đầu là các nước: Việt Nam, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc Thời gian trở về đây, Nhật Bản không còn là nước nhập khẩu tôm được ưa chuộng nhất nữa, các nước XK chuyển sang thị trường Tây Âu và Mỹ hơn Tuy vậy, thị trường tiêu thụ lâu đời từ trước vẫn là Nhật Bản
o Các đối thủ cạnh tranh XKTS với nước ta: Nhìn chung thị trường TS
thế giới là một thị trường cạnh tranh hỗn tạp Bởi vì, số lượng các QG tham gia
Trang 5cung ứng không nhiều nên sự rút lui hay tham gia, sự giảm sản lượng thuỷ sản ở một trong các nước XK đều có giá trị trên thị trường, lợi thế của họ được phân biệt khá rõ ràng do điều kiện tự nhiên quyết định phần lớn về sản lượng, chủng loại, thêm vào đó là sự phát triển của phương tiện khai thác sẽ luôn đảm bảo cho họ một lượng cung ứng lớn Cạnh tranh trên thị trường nguyên liệu thuỷ sản gay gắt hơn trên thị trường XK thuỷ sản ở một trong các nước phát triển rất có thế mạnh trong việc XK nguyên liệu thủy sản và khả năng cung ứng những mặt hàng tinh tế Mặt khác do sự đồng nhất về sản phẩm khiến các đối thủ chỉ còn một cách là cạnh tranh về giá
o Chính sách của Việt Nam đối với hoạt động XKTS: Trong 5 năm vừa
qua, kim ngạch XKTS liên tục tăng và luôn vượt kế hoạch đề ra Trong đó, một nhân tố ảnh hưởng mang tính vĩ mô đó là các cơ chế chính sách mà nhà nước đã ban hành để khuyến khích TS phát triển, tạo thuận lợi cho các DN trong việc đảm bảo quyền lợi và thực hiện tốt nghĩa vụ, đặc biệt là trong khâu đổi mới công nghệ và tiếp thị, trong công tác quy hoạch Bộ thủy sản đã có những chủ trương đúng đắn, quy hoạch tổng thể phát triển ngành, quy hoạch nuôi thủy sản trên cát và bảo vệ nguồn lợi hải sản Thêm vào đó, chính sách về tỷ giá cũng được Nhà nước điều tiết để hoạt động XKTS được phát triển
o Tỷ giá: Ba thị trường hàng đầu của DN XKTS là EU, Nhật Bản và Mỹ
Hoạt động XK của ngành thủy sản luôn phải chịu ảnh hưởng của sự biến động của đồng Euro, Yên và USD Mọi DN XK đều cố gắng thích ứng với sự rủi ro về biến
động tỷ giá ngoại tệ
Những thành công của XKTS nước ta: Thị trường XK được mở rộng, có sự
thay đổi tích cực trong cơ cấu sản phẩm, đóng góp lớn vào GDP cả nước với tốc độ tăng trưởng cao
Những điểm còn hạn chế của XKTS của nước ta: Hạn chế thứ nhất: Thị
trường XKTS của Việt Nam nói chung chưa phải là thị trường nhập khẩu trọng điểm của thế giới, nhiều thị trường còn thiếu ổn định, trong khi nhiều thị trường rất
có tiềm năng lại chưa được khai thác triệt để Hạn chế thứ hai: Mặt hàng XK chưa
Trang 6đa dạng hoá Hạn chế thứ ba: Giá cả XK tuy có tăng nhưng vẫn thấp hơn so với các quốc gia trong khu vực Hạn chế thứ tư: Các DN thiếu đoàn kết trong sản xuất kinh doanh, làm ăn theo kiểu chụp giật Hạn chế thứ năm: Mất cân đối giữa trình độ công nghệ hiện tại còn thấp và yêu cầu chất lượng sản phẩm ngày càng cao
Nguyên nhân của những hạn chế đó:
Thiếu nguyên liệu: Mặc dù theo Tổng cục Thủy sản thì sản lượng khai
thác và nuôi trồng thủy sản của nước ta vẫn tăng trong thời gian gần đây, nhưng ngành chế biến và XKTS vẫn ngày càng thiếu nguyên liệu chế biến Đó chính là do
sự không ổn định về sản lượng của hai thủy sản nuôi chính, diện tích nuôi cá tra giảm do do nguyên nhân về giá cá không ổn định từ đó dẫn đến người nuôi bị tâm
lý và nông dân thiếu vốn đầu tư nuôi, tôm bị bệnh liên tục làm sản lượng giảm, đặc biệt là với tôm sú Đối với các mặt hàng thủy sản như mực, cá ngừ, bạch tuộc có giá trị kinh tế cao nhưng sản lượng vẫn thấp, trong khi những mặt hàng cá như: cá tạp,
… có giá trị kinh tế thấp thì sản lượng lại tăng Khi cá tra hoặc tôm bị rớt giá, dịch bệnh thì ngư dân và người nuôi thiếu vốn để đầu tư sản xuất trở lại Nông dân không bán chịu vì thế nên các DN khó thu mua nguyên liệu, trong khi đó thị trường tiêu thụ khó khăn nên vòng vốn quay chậm
Nhập khẩu nguyên liệu tăng: Giúp DN tăng doanh số, tạo thêm việc làm,
duy trì sản xuất trong hoàn cảnh giá nguyên liệu cao, nguồn nguyên liệu nội địa thiếu tính ổn định thì gia công chế biến XK thông qua việc nhập khẩu nguyên liệu thủy sản được ưu tiên hàng đầu Mặc dù vậy, xóa bỏ chính sách 275 ngày ân hạn thuế nhập khẩu cùng với sự khó khăn về vốn đang làm các DN trở nên rất khó khăn Các thách thức đối với TS của nước ta nhiều trong đó có 3 thách thức lớn bao gồm: Thứ nhất về tiếp thị và quảng bá hình ảnh về thủy sản của Việt Nam còn eo hẹp trong khi nền tài chính ra thế giới rất khó khăn Thứ hai, những quốc gia NK tăng cường bảo hộ hàng hóa nội địa, điều kiện kinh tế toàn cầu suy giảm làm gia tăng rào cản thương mại Thứ ba, quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, liên kết chuỗi có tính bền vững không cao
Trang 7 Thiếu vốn: Các đơn vị xuất khẩu đang phải chịu sức ép về sự tăng từ 5
đến 10% của chi phí đầu vào cùng với chịu mức 19 đến 20% về lãi suất Đặc biệt
sự thiếu vốn nghiêm trọng xảy ra ở ngành sản xuất cá tra Nhằm mục đích bảo quản
cá sau thu hoạch, ngư dân cần phải đầu tư mua sắm thiết bị và tàu cá vì vậy cần vốn nhưng lại gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận vốn Trong khi đó, sức cạnh tranh cho TSXK bị ảnh hưởng do sự tăng lên của chi phí sản xuất Nhằm mục đích sản xuất, các chi phí đầu vào như cước phí vận chuyển, bao bì, nhân công, điện nước, giá nhiên liệu, … đều tăng, việc tăng các loại thuế, phí, như phí kiểm dịch thú y tăng 300%, phí kiểm soát chất lượng TSXK, lấy từ quỹ lương làm kinh phí công đoàn (khoảng 2%) Nhằm bao gói hàng, sử dụng bao bì nhựa PE, tuy nhiên do bị đánh thuế nên cũng là một phần nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam do chi phí gia tăng
Khủng hoảng thị trường: Một khó khăn lớn cho XKTS Việt Nam chính
là cuộc khủng hoảng nợ công làm cho thị trường Châu Âu bị suy giảm Trong tất cả các thị trường mà mặt hàng thủy sản của Việt Nam XK sang, EU là thị trường đứng đầu Tuy vậy, do khả năng thanh toán chậm, nhu cầu nhập khẩu không ổn định, tình hình tài chính kinh tế khó khăn do khủng hoảng nợ công dẫn dến sự sụt giảm gần 8% Giảm từ xấp xỉ 24% xuống chỉ còn xấp xỉ 20%, dẫn đến thị trường EU cũng bị giảm về tỷ trọng Giảm từ xấp xỉ 22% xuống còn xấp xỉ 12% là hai hàng XK chủ lực là cá tra và tôm Dù vậy, xuất khẩu các sản phẩm: bạch tuộc, mực, cá ngừ có chiều hướng tăng Cụ thể bạch tuộc và mực có mức tăng xấp xỉ 11%, mức tăng của các ngừ là xấp xỉ 30% Tôm của Việt Nam có sức cạnh tranh giảm, dẫn đến XK tôm
bị sụt giảm Nhiều nước khác không có thế mạnh về mặt hàng tôm sú bằng Việt Nam do hàng năm, sản lượng tôm sú đạt cao với mức 300.000 tấn với 600.000 ha
về diện tích nuôi Mặc dù vậy, giá trị, uy tín, chất lượng của mặt hàng tôm sú đang
bị ảnh hưởng do bùng phát của dịch bệnh trên diện rộng
Tại cuộc họp báo cáo đề xuất “Chương trình mục tiêu phát triển thủy sản bền vững giai đoạn 2016 - 2020” do Tổng cục Thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức sáng ngày 23/10/2014, tại Hà Nội đã đặt mục tiêu kim ngạch XKTS đạt 11 tỷ USD vào 2020, tỷ trọng thủy sản chiếm khoảng 33,3% trong GDP nông nghiệp và với tổng sản lượng TS đạt 7 triệu tấn Từ đó, ngành thủy sản
Trang 8sẽ phát triển thành một ngành sản xuất hàng hóa, khả năng cạnh tranh cao, có thương hiệu uy tín, có trong hội nhập kinh tế thế giới Để có thể tạo sự phát triển đồng bộ và chuyển nghề cá nhân dân thành nghề cá hiện đại, ngày càng đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước thì cần dựa trên cơ sở lợi thế của nghề
cá nhiệt đới, phát huy lợi thế của ngành sản xuất - khai thác tài nguyên tái tạo Thủy sản sẽ phát triển theo hướng chất lượng và bền vững khi chúng ta kết hợp việc phát triển thủy sản với bảo vệ chủ quyền đất nước, an ninh trên biển, giải quyết mối quan
hệ giữa nâng cao sản lượng với đảm bảo chất lượng và bảo vệ môi trường
Các giải pháp được đề xuất nâng cao kim ngạch xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam:
o Ổn định các thị trường XK truyền thống và phát triển các thị trường tiềm năng: trong khi nhiều thị trường rất có tiềm năng lại chưa được khai thác triệt để
Việt Nam cần tăng cường tiếp thị chuyên nghiệp ở các DN, trình độ cán bộ thị trường cũng cần nâng cao, công tác thông tin thị trường và xúc tiến thương mại Nhằm mục đích ổn định và giữ vững các thị trường được coi là lâu đời (ví dụ như Nhật Bản), song song với việc mở rộng ra các thị trường lớn khác trên thế giới như: Trung Quốc, Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU)
o Đa dạng hóa các sản phẩm XKTS: Phát triển sản xuất nguyên liệu là yếu
tố hàng đầu để tăng kim ngạch XKTS Muốn tăng nhanh kim ngạch, vấn đề nguyên liệu phải được giải quyết đồng bộ, từ khâu giống, công nghệ khai thác và bảo quản sau thu hoạch, hạ giá thành sản xuất nguyên liệu để đảm bảo có nguồn nguyên liệu phát triển ổn định và có chất lượng tốt Phát triển sản xuất nguyên liệu phải được định hướng bằng các chương trình sản phẩm chủ lực như nhóm sản phẩm tôm, cá, nhuyễn thể, thực phẩm phối chế và đồ hộp Phát triển sản xuất nguyên liệu từ 3 nguồn: khai thác, nuôi trồng thuỷ sản và nhập nguyên liệu Trong nuôi trồng thì hướng vào nuôi tôm (vì tôm là mặt hàng chủ lực); nhân giống cá nước ngọt thương phẩm và cá biển, nuôi đặc thuỷ sản Phát triển nuôi trồng thuỷ sản phải trên cơ sở quy hoạch (quy hoạch vùng nuôi, sản xuất, cung ứng giống, công nghệ nuôi, phòng trừ dịch bệnh, sản xuất thức ăn, bảo vệ môi trường bền vững ) Nguyên liệu khai thác trong những năm đầu vẫn chiếm tỷ trọng lớn, cần phát triển đội tàu khai thác
Trang 9các đối tượng có giá trị XK cao, quan tâm đầy đủ các thiết bị, phương tiện bảo quản sau thu hoạch, hỗ trợ chế biến tái xuất thông qua việc nhập nguyên liệu
o Tăng cường tính cạnh tranh thông qua giá XKTS: do giá XKTS còn thấp,
thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, nên thời gian tới cần có những chính sách như:
Thuế với sản xuất và XK hàng thuỷ sản hỗ trợ giảm hoặc miễn, nới lỏng tỷ giá,…
đồng thời vẫn phải giữ vững nguyên tắc về an toàn vệ sinh cùng với chất lượng thực phẩm nhằm nâng tăng cường tính cạnh tranh thông qua giá XKTS
o Tăng tính đoàn kết cho các DN XKTS: Các DN Việt Nam nói chung còn
nhỏ bé về quy mô sản xuất, vốn kinh doanh, kinh nghiệm kinh doanh quốc tế Trong khi đó, thị trường thế giới rất rộng lớn, phức tạp, tính cạnh tranh cao với nhiều loại công ty đến từ nhiều QG từ nhỏ đến rất lớn, mới thành lập hay đã tồn tại hơn 100 năm Môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, yêu cầu chất lượng hàng hoá cao, đơn đặt hàng lớn, đòi hỏi giao hàng đúng hạn trong một khoảng thời gian eo hẹp… tất cả những điều đó sẽ tác động đến hiệu quả kinh doanh của các DN Việt Nam Chính vì vậy, các DN Việt Nam cần tăng cường phối hợp, cộng tác với nhau
để có thể đáp ứng các đòi hỏi của thị trường nhằm duy trì, củng cố và phát triển thị phần của mỗi DN nói riêng và của toàn thể các DN Việt Nam nói chung tạo nên sức mạnh tổng hợp
Một kinh nghiệm cho thấy rằng, mỗi DN chỉ cố gắng tạo dựng một hình ảnh riêng cho mình thì chưa đủ, bởi vì nếu cứ mạnh ai người ấy chạy thì các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài sẽ tập trung tẩy chay hàng hoá của DN ra khỏi thị trường
Vì vậy, các DN Việt Nam cần liên kết với nhau, một mặt nhằm tăng cường hợp lực, mặt khác để gây ấn tượng, thu hút sự quan tâm của KH
o Nâng cao trình độ công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm ngày càng cao: Công nghệ chế biến giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển tăng giá trị XKTS nước ta và năng lực cạnh tranh đặc biệt là tại các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản