Việc giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam tập trung vào những mục tiêu chính sau: (i) Đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm; (ii) Đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Thị trường bảo hiểm (TTBH) đóng góp vai trò quan trọng đối với thị trường tài chính nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung Thị trường bảo hiểm không chỉ là kênh huy động vốn trung gian mà còn đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế.Tuy nhiên, vai trò đó chỉ có thể được thực hiện khi thị trường bảo hiểm phát triển lành mạnh, bền vững Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, để đạt được mục tiêu đó, hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm là một yêu cầu rất quan trọng và đóng vai trò tất
yếu trong sự phát triển bền vững của thị trường
Qua 20 năm thị trường bảo hiểm đi vào hoạt động, những kết quả đạt được bước đầu là không thể phủ nhận Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề bất cập như thị trường bảo hiểm phát triển chưa thực sự bền vững, quy mô thị trường còn nhỏ, vốn kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế, khả năng khai thác và mở rộng thì trường còn yếu, hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh và trục lợi bảo hiểm ngày càng tinh vi và có
xu hướng gia tăng Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm lỗ trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm qua nhiều năm - hoạt động xương sống của doanh nghiệp bảo hiểm Thực tế cho thấy khuôn khổ pháp lý chưa theo kịp với sự phát triển của thị trường, hoạt động giám sát của các cơ quan giám sát chưa thực sự hiệu quả, hệ thống giám sát chưa được
thiết lập đồng bộ Xuất phát từ thực tế đó, học viên đã lựa chọn đề tài : “ Hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở lý luận về hoạt động giám sát thị
trường bảo hiểm, học viên phân tích những hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện hoạt động giám sát và thông qua đó giúp cho thị trường bảo hiểm phát triển an toàn, lành mạnh và bền vững
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực tiễn hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam, cụ thể là (i) cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam, (ii) mục tiêu, nội dung hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam, (iii)
mô hình giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam
Đề tài tập trung vào phạm vi nghiên cứu chủ yếu là toàn bộ các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, số liệu phân tích trong luận văn tập trung giai đoạn 2007-2012
Với đề tài nêu trên, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như
phương pháp so sánh, phân tích - tổng hợp, tư duy logic, phương pháp mô tả và khái quát đối tượng nghiên cứu, lập bảng biểu và hĩnh vẽ
Trang 2Với tên gọi :“ Hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam”, ngoài mở
đầu, kết luận, danh mục bảng, sơ đồ, hình vẽ, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1 Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm; Chương 2 Thực trạng hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam; Chương 3 Giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam
Luận văn có những đóng góp cơ bản sau:
Thứ nhất, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động giám sát thị trường
bảo hiểm Cụ thể những điểm chính sau:
Luận văn đã đưa ra được khái niệm, đặc trưng và vai trò của thị trường bảo hiểm, các rủi ro liên quan đến hoạt động kinh doanh trên thị trường bảo hiểm
Thị trường bảo hiểm là tổng thể các mối quan hệ mua và bán sản phẩm bảo hiểm giữa các cá nhân, các tổ chức … với các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu của họ và thường được thực hiện qua các trung gian bảo hiểm
Xuất phát từ đặc thù của sản phẩm bảo hiểm, thị trường bảo hiểm có các đặc trưng sau: (i) Thị trường bảo hiểm là thị trường dịch vụ tài chính, chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước; (ii) Thị trường bảo hiểm là thị trường cung cấp sản phẩm liên quan đến rủi ro, đến sự bấp bênh; (iii) Thị trường bảo hiểm vận hành theo quy luật “số đông bù
số ít”; (iv) Trên thị trường bảo hiểm, hoạt động kinh doanh bảo hiểm gắn liền với các hoạt động đầu tư vốn; (v) Sự phát triển của thị trường bảo hiểm phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế xã hội; (vi) Khác với các thị trường hành hóa và dịch vụ khác, ở thị trường
bảo hiểm, người ta chỉ mua được sản phẩm bảo hiểm khi họ không cần, và tiêu dùng khi
không thể mua được chúng
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm gặp rất nhiều rủi ro, có thể phân ra là hai nhóm rủi ro lớn là nhóm rủi ro có nguồn gốc nội tại của doanh nghiệp bảo hiểm như: rủi ro từ việc nhận bảo hiểm, rủi ro tín dụng, rủi ro tái bảo hiểm, rủi ro đầu tư, rủi ro thanh khoản… và nhóm rủi ro hệ thống tác động đến thị trường bảo hiểm như rủi ro từ sự thay đổi môi trường tự nhiên, rủi ro từ sự thay đổi môi trường chính trị/xã hội, rủi ro thay đổi môi trường pháp lý, rủi ro tỷ giá…
Luận văn cũng đưa ra được sự cần thiết phải giám sát thị trường bảo hiểm Hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm là một tất yếu khách quan vì mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, người được hưởng quyền lợi bảo hiểm; đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo hộ lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp bảo hiểm; điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm phát triển theo yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
Trang 3Luận văn đã nêu mục tiêu giám sát, nội dung giám sát, nguyên tắc và các chỉ tiêu
và mô hình giám sát thị trường bảo hiểm Ngoài ra còn phân tích được những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm:
Chuẩn mực giám sát bảo hiểm dựa vào các nguyên tắc về giám sát bảo hiểm được quy định trong “Các nguyên tắc nòng cốt trong giám sát bảo hiểm” (Insurance Core Principles – ICP), do Hiệp hội Quốc tế của các cơ quan giám sát bảo hiểm (IAIS) ban hành Mục tiêu giám sát được quy định trong ICP 1: (i) Thúc đẩy và duy trì một thị trường bảo hiểm công bằng, an toàn và bền vững; (ii) Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; (iii) Góp phần ổn định hệ thống tài chính
Nội dung hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm bao gồm: (i) Giám sát trước khi bắt đầu hoạt động: nhằm lựa chọn những tổ chức, doanh nghiệp có đủ khả năng mọi mặt cho hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm và điều hành sự phát triển của thị trường bảo hiểm theo mục tiêu nhất định; (ii) Giám sát trong quá trình hoạt động: Giám sát tài chính bao gồm các nội dung chủ yếu như yêu cầu đầy đủ vốn và khả năng thanh toán, giám sát tài sản nợ, giám sát tài sản có hoạt động đầu tư; (iii) Giám sát việc chia tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể và phá sản doanh nghiệp bảo hiểm; (iv) Giám sát các hành vi trên thị trường và xử lý vi phạm pháp luật kinh doanh bảo hiểm; (v) Các nội dung giám sát khác như giám sát tính công khai, minh bạch thông tin, vấn đề chống rửa tiền, và tài trợ cho hoạt động khủng bố; sự thay đổi trong điều hành tổ chức; vấn đề quản lý rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm …
IAIS đã phối hợp với Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) xây dựng 26 nguyên tắc (trước đây là 28 nguyên tắc, năm 2003) quản lý, giám sát bảo hiểm
để hướng tới áp dụng rộng rãi trên phạm vi quốc tế nhằm đảm bảo tính hiệu quả và thống nhất trong việc giám sát thị trường bảo hiểm 26 ICP (Insurance Core Principle) mà IAIS đưa ra chính là khung chuẩn mực để các cơ quan quản lý, giám sát về bảo hiểm của các nước soi rọi, đánh giá và nâng cao hiệu quả giám sát
Hệ thống chỉ tiêu giám sát được xem là nội dung cốt lõi đối với hoạt động giám sát tài chính nói chung và giám sát tài chính thị trường bảo hiểm nói riêng Trong tài liệu: đánh giá khu vực tài chính (Financial Sector Assessment : A Hand Book) của IMF kết hợp với WB đã đưa ra các chỉ tiêu giám sát lành mạnh tài chính FSI trong khu vực bảo hiểm theo khuôn khổ CARAMELS (Capital Adequacy: mức đủ vốn; Asset quality: chất lượng tài sản; Reinsurance: Tái bảo hiểm; Adequacy of claim and actuarial: Tính hợp lý của các yêu cầu bảo hiểm; Management soundness: Hiệu quả quản lý; Earnings and profitability: lợi nhuận và khả năng sinh lời; Liquidity: Sentisivity to market risk: độ nhạy cảm với rủi ro thị trường)
Hiện nay trên thế giới tồn tại bốn mô hình giám sát đó là: mô hình giám sát theo
Trang 4thể chế, mô hình giám sát theo chức năng, mô hình giám sát kết hợp và mô hình giám sát lưỡng đỉnh để giám sát thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng Mỗi hô hình có ưu điểm và nhược điểm riêng nhưng mô hình giám sát tài chính hợp nhất được đánh giá là mô hình có nhiều ưu thế : ngăn ngừa những mâu thuẫn và khoảng cách trong các ngành tài chính, tạo sự nhất quán trong các quy định và trong giám sát, nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát và tuân thủ các quy định, chính sách
Luận văn đã phân tích những nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm bao gồm (i) Sự phù hợp của mô hình giám sát; (ii) Trình độ của cán
bộ giám sát; (iii) Hệ thống chỉ tiêu giám sát và phần mềm giám sát Những nhân tố khách quan ảnh hưởng tới hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm bao gồm (i) Khung pháp lý cho hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm; (ii) Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tổ chức có liên quan trong hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm; (iii) Hệ thống quản lý thông tin của các doanh nghiệp bảo hiểm
Thứ hai, phân tích tổng quan thị trường bảo hiểm Việt Nam, đưa ra những kết quả đạt được và hạn chế; phân tích thực trạng hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam từ đó luận văn đã đánh giá những mặt đạt được, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam
Thị trường bảo hiểm Việt Nam được hình thành từ năm 1993 chỉ với một công ty bảo hiểm duy nhất, phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 2003-2008 đến năm 2008 toàn thị trường đã có 49 doanh nghiệp và đến năm 2012 thị trường đã có 57 doanh nghiệp Trong
đó có 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 14 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 12 môi giới bảo hiểm 57 công ty bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế: 25 công ty TNHH 1 thành viên, 8 công ty TNHH 2 thành viên trở lên
và 24 công ty cổ phần
Nhìn chung từ khi chính thức hoạt động đến nay thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt được mức tăng trưởng tốt, tốc độ tăng trưởng trung bình là 18% và tương đối ổn định qua các năm Doanh thu phí bảo hiểm tăng từ 17.640 tỷ đồng năm 2007 lên tới 41.642 tỷ đồng năm 2012
Giai đoạn 2007-2010 thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt mức tăng trưởng tốt, tăng trưởng doanh thu phí có xu hướng tăng trong giai đoạn này (xem hình 2.2) Tuy nhiên năm 2011, 2012 bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam bộc lộ nhiều bất ổn Rất nhiều ngành sản xuất phi tài chính gặp nhiều khó khăn làm cho tốc độ tăng trưởng trong hai năm này bắt đầu có dấu hiệu suy giảm so với tốc độ tăng trưởng của giai đoạn trước
Thị trường bảo hiểm đứng trước nguy cơ mất cân đối thị phần khi mà 70% thị phần doanh thu phí BH PNT và 86% thị phần doanh thu phí BH NT rời vào tay 5 công ty hàng đầu ở mỗi khu vực Điều này sẽ làm cho cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc
Trang 5liệt đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tất yếu dẫn đến thau tóm, sát nhập
Cùng với sự phát triển của thị trường bảo hiểm, quy mô vốn, tổng tài sản và dự phòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm được tăng trưởng qua các năm Quy mô VCSH và TTS của thị trường bảo hiểm được tăng từ 13.880 tỷ đồng và 56.328 tỷ đồng năm 2007 lên tới 32.842 tỷ đồng và 114.663 tỷ đồng năm 2012; theo đó dự phòng nghiệp
vụ của thị trường bảo hiểm được tăng từ 11.392 tỷ đồng năm 2007 lên tới 69.394 tỷ đồng.năm 2012
Các doanh nghiệp bảo hiểm đã tạo lập nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế tăng trưởng qua các năm: từ cuối năm 2007 tổng số tiền đầu tư chỉ là 44.945 tỷ đồng và cho đến cuối 2012 tổng đầu tư của thị trường bảo hiểm đã tăng lên gấp đôi 89.567 tỷ đồng Tài sản đầu tư thiên về an toàn vốn trong đó đầu tư vào Tiền gửi tại các TCTD và TPCP của cả hai khu vực hàng năm vào khoảng 65%-80% tổng tài sản đầu tư Tuy nhiên vẫn còn một số công ty sai phạm như đầu tư với tỷ trọng vượt quá cho phép, cho vay trực tiếp, đầu tư ra nước ngoài, đầu tư không đúng nguồn
Số tiền bồi thường bảo hiểm trong BH PNT và chi trả tiền bảo hiểm trong BH NT ngày một tăng lên theo các năm Số tiền bồi thường và chi trả bảo hiểm đã giúp các tổ chức, cá nhân khắc phục được khó khăn tài chính giúp ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống từ đó góp phần ổn định kinh tế xã hội Số tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm năm 2007 là 6.626 tỷ đồng, tăng lên 10.555 tỷ đồng vào năm 2010 và 16.648 tỷ đồng vào năm 2012
Các doanh nghiệp bảo hiểm đạt mức tăng trưởng doanh thu phí cao tuy nhiên kết quả kinh doanh chưa thực sự hiệu quả Hoạt động bảo hiểm hầu như thua lỗ, tỷ lệ bồi thường và tỷ lệ chi phí cao
Qua gần 20 năm chính thức hoạt động và phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam
đã đạt được các kết quả như: (i) Thị trường đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, góp phần ổn
định kinh tế - xã hội, tạo lập nguồn vốn lớn cho đầu tư, đóng góp tăng trưởng phát triển kinh tế - xã hội; (ii) Cấu trúc thị trường ngày càng được hoàn thiện; (iii) Thị trường bảo hiểm Việt Nam từng bước hội nhập với khu vực và quốc tế; (iv) Hoạt động quản lý giám sát kinh doanh bảo hiểm đã từng bước được nâng cao; (v)Vai trò của Hiệp hội Bảo hiểm Việt nam bước đầu đã được khẳng định
Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định: (i) Quy mô, vai trò của thị
trường bảo hiểm Việt Nam đối với việc ổn định và phát triển kinh tế- xã hội còn hạn chế; (ii) Thị trường phát triển mất cân đối và đồng bộ, hoạt động kinh doanh chưa thực sự hiệu quả; (iii) Cạnh tranh không lành mạnh và trục lợi bảo hiểm có chiều hướng gia tăng
Trang 6Luận văn phân tích cơ sở pháp lý, mục tiêu, nội dung và mô hình giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam bao gồm những vấn đề:
Cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát bảo hiểm bao gồm hai nhóm: Nhóm các văn bản pháp quy trực tiếp điều chỉnh hoạt động giám sát bảo hiểm và Nhóm các văn bản pháp quy làm cơ sở thực hiện hoạt động giám sát bảo hiểm Các văn bản pháp luật bao gồm: Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2010/QH10; Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật kinh doanh bảo hiểm số 61/2012/QH12; Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 1/7/2003 và Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008; Nghị định số 41/2009/NĐ-CP; Quyết định số 34/2008/QĐ-TTg; Quyết định 79/2009/QĐ-TTg; Quyết định số 288/2009/QĐ-BTC; Quyết định 1853/QĐ-BTC; Quyết định 3069/QĐ-BTC; định 153/2003/QĐ-BTC ngày 22/9/2003 và các Thông tư hướng dẫn Luật
Việc giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam tập trung vào những mục tiêu chính sau: (i) Đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm; (ii) Đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức KDBH; (iii) Bảo vệ người tiêu dùng (người tham gia bảo hiểm hay người mua hợp đồng bảo hiểm); (iv) Đảm bảo lành mạnh tài chính, an toàn của Thị trường bảo hiểm từ đó góp phần ổn định hệ thống tài chính Việt Nam
Những nội dung quan trọng trong việc giám sát đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam quy định theo điều 120, Chương VII, Luật KDBH bao gồm (i) giám sát các tiêu chuẩn, điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm, (ii) Giám sát khả năng thanh toán, (iii) dự phòng nghiệp vụ, (iv) đầu tư tài chính, (v) giám sát việc chia tách, hợp nhất, giải thể, phá sản doanh nghiệp, (vi) xử lý vi phạm
Mô hình giám sát thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng tại Việt Nam là mô hình giám sát phân tán truyền thống Mô hình này dựa trên phương thức tiếp cận theo ngành/lĩnh vực: việc giám sát thị trường tài chính được thực hiện tách biệt cho từng khu vực trên thị trường, các khu vực khác nhau của thị trường tài chính như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm sẽ được giám sát theo các quy định giám sát khác nhau và do các cơ quan giám sát khác nhau thực hiện
Theo đó Cục quản lý giám sát bảo hiểm có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực KDBH trong phạm vi cả nước; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động KDBH và các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực KDBH theo quy định của pháp luật
Về giám sát thị trường tài chính nói chung (trong đó có thị trường bảo hiểm), ngày 3/3/2008 Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (National Financial Supervisory Commission – NFSC) được thành lập với nỗ lực nhằm thống nhất mọi hoạt động giám sát trên thị trường tài chính Việt Nam.Quyết định 34/2008/QĐ-TTg và Quyết định 79/2009/QĐ-TTg quy định rõ chức năng Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (sau đây
Trang 7gọi tắt là Ủy ban) là cơ quan thực hiện chức năng tham mưu, tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ trong việc điều phối hoạt động giám sát thị trường tài chính quốc gia (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm); giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện giám sát chung thị trường tài chính quốc gia
Như vậy, về bản chất mô hình giám sát thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng vẫn mang đặc tính của mô hình phân tán Cơ chế phối hợp cũng như việc hình thành một tổ chức giám sát có đủ quyền lực, chuyên môn giám sát và duy trì sự ổn định thị trường bảo hiểm nói riêng và hệ thống tài chính nói chung còn đang
để ngỏ
Luận văn phân tích thực tế hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam từ
đó đưa ra đánh giá những mặt đạt được, những hạn chế và nguyên nhân:
Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia hoạt động trên thị trường bảo hiểm
đã có hồ sơ đầy đủ điều kiện trình cơ quan giám sát để cấp phép Tuy nhiên trên thực tế hàng năm vẫn còn những sai phạm nhất định
Việc xác định biên khả năng thanh toán của DNBH theo Nghị định
46/2007/NĐ-CP và Thông tư 125/2012/TT-BTC Trong những năm qua hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đều đảm bảo quy định về khả năng thanh toán Tính đến 30/6/2013 còn tồn tại một công ty bảo hiểm phi nhân thọ không đảm bảo khả năng thanh toán, đang trong quá trình tái cơ cấu bổ sung vốn điều lệ
Việc trích lập đúng, đủ dự phòng nghiệp vụ là một yếu tố đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm Tuy nhiên còn rất nhiều vi phạm xoay quanh việc trích lập dự phòng nghiệp vụ, nguyên nhân do cả yếu tố chủ quan từ phía doanh nghiệp và yếu
tố khách quan từ quy định của pháp luật
Báo cáo giám sát của cơ quan giám sát cho thấy hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm nhìn chung là an toàn với tài sản đầu tư tập trung lớn vào Trái phiếu Chính phủ và Gửi tiền tại các TCTD và cho vay theo hợp đồng bảo hiểm (đối với công ty
BH NT) (65-80%)
Tuy nhiên việc sai phạm trong đầu tư vẫn còn rải rác ở các công ty bảo hiểm cả nhân thọ và phi nhân thọ, việc sai phạm này được phát hiện qua các đợt kiểm tra, thanh tra hoặc được giám sát thông qua báo cáo tài chính đã kiểm toán
Tính đến 31/12/2012, thị trường bảo hiểm Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào bị rơi vào tình trạng phải giải thể hoặc phá sản Ngay cả trường hợp biên khả năng thanh toán thấp hơn mức tối thiểu như Công ty bảo hiểm Liberty (năm 2009) và Công ty CP bảo hiểm Viễn Đông (2011) cũng là hai trường hợp đầu tiên Các giao dịch mua bán, sáp nhập giữa các công ty đều được Bộ Tài chính giám sát, kiểm tra và cấp phép
Hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam đã đạt được các kết quả: (i) Hệ
Trang 8thống pháp luật đang dần được hoàn thiện; (ii) Đổi mới phương thức giám sát; (iii) Năng lực tổ chức cán bộ và bộ máy cơ quan giám sát về kinh doanh bảo hiểm đã được củng cố, nâng cao
Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế sau: (i) Hệ thống pháp luật kinh doanh bảo hiểm còn thiếu và chưa đồng (ii) Hoạt động giám sát còn nặng về hành chính; nội dung kiểm tra, giám sát chủ yếu là kiểm tra điều kiện hoạt động; phạm vi kiểm tra giám sát còn hạn chế, mới chỉ thực hiện đối với số ít doanh nghiệp bảo hiểm; (iii) Chỉ tiêu giám sát thị trường bảo hiểm chưa hiệu quả Chưa có hệ thống phần mềm giám sát và nối mạng với các doanh nghiệp để phục vụ cho việc giám sát được kịp thời; (iv) Đội ngũ cán bộ giám sát còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng so với yêu cầu; (v) Mô hình giám sát TTBH còn nhiều yếu tố bất cập, chưa thực sự hiệu quả; (vi) Việc xử lý các vi phạm còn nhẹ và chưa kiên quyết Chưa phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam nên dẫn tới hiện tượng các doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm các thoả thuận về hợp tác và cạnh tranh
Thứ ba, từ việc phân tích thực trạng, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam, luận văn đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Hoàn thiện mô hình giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam: Học viên xin đưa
ra giải pháp kiện toàn mô hình giám sát tài chính của Việt Nam hiện nay theo hướng chuyển từ phương thức giám sát theo từng lĩnh vực riêng lẻ sang hình thành một cơ quan giám sát hợp nhất Trong mô hình này, Ủy ban giám sát tài chính Nhà nước sẽ là cơ quan giám sát tài chính duy nhất vừa thực hiện việc xây dựng các chính sách giám sát tài chính duy nhất vừa thực hiện việc xây dựng các chính sách giám sát và trực tiếp tổ chức triển khai các nghiệp vụ giám sát
Chuyển đổi quy tắc giám sát Biên độ thanh toán sang quy tắc Vốn dựa trên cơ
sở rủi ro (RBC): Khuyến nghị đối với các cơ quan giám sát thị trường bảo hiểm Việt
Nam hiện nay nên đưa ra lộ trình cụ thể để chuyển đổi quy tắc giám sát khả năng thanh toán sang quy tắc vốn dựa trên cơ sở rủi ro (RBC)
Cải tiến việc quản lý trích lập dự phòng nghiệp vụ: Cải tiến việc quản lý trích
lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm thực sự cần thiết và cần theo hướng: bao quát được các vấn đề cơ bản: cơ sở trích lập thống nhất với các chuẩn mực quốc tế; hạn chế rủi ro lập
dự phòng thiếu, ngăn chặn tình trạng sử dụng dự phòng để điều chỉnh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; tăng cường tính chủ động của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc lựa chọn phương pháp tính dự phòng
Siết chặt an toàn trong hoạt động đầu tư: Cơ quan giám sát cần phải siết chặt
Trang 9hơn nữa trong an toàn tài chính đối với hoạt động đầu tư tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm, Cần quy định tổng số vốn đầu tư vào mỗi nơi, mỗi đối tượng, mỗi lần phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty, không được vượt quá một giới hạn nào đó cho từng
danh mục đầu tư
Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát bảo hiểm: Các chỉ tiêu giám sát và các
tiêu chuẩn so sánh quốc tế cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và nên được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng như khuôn khổ kế toán Việt
Nam
Tăng cường giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam
Thực hiện giám sát theo các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế: Cần có đánh giá
tổng thể và xây dựng lộ trình thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế trong giám
sát bảo hiểm
Nâng cao năng lực của cán bộ giám sát: Cán bộ giám sát cần phải hiểu biết
nghiệp vụ sâu sắc, có tầm nhìn bao quát, biết phân tích dự báo tình hình, am hiểu thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp Ngoài ra, cán bộ, công chức phải xây dựng định hướng, các giải pháp phát triển và là những người trực tiếp thực thi các giải pháp đó trong
bối cảnh thị trường mở, hội nhập với thị trường quốc tế và khu vực
Hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ thông tin phục vụ công tác giám sát: Cho phép các cơ quan quản lý giám sát thu thập được thông tin và dữ liệu của
doanh nghiệp cần thiết cho hoạt động giám sát tại bất kỳ thời điểm nào; Có khả năng phân tích báo cáo tự động và cảnh báo nhanh nguy cơ rủi ro của các doanh nghiệp, giúp
cơ quan quản lý can thiệp kịp thời vào mọi biến động của doanh nghiệp cũng như thị trường; Có hệ thống chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và hệ thống công bố các
kết quả giám sát cho công chúng
Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giám sát bảo hiểm: (i) Thống nhất
về thủ tục trao đổi thông tin thường xuyên và khẩn cấp giữa các cơ quan giám sát; (ii)
Thống nhất vai trò, trách nhiệm của cơ quan giám sát điều phối; (iii) Cơ chế bảo mật
thông tin chia sẻ giữa các cơ quan giám sát.Thông tin chia sẻ giữa các cơ quan chỉ được
sử dụng vào mục đích giám sát các tổ chức tài chính
Luận văn “ Hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam” đã tập trung
nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm, trên cơ sở đó phân tích thực trạng hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm ở Việt Nam, và đưa ra những giải pháp cần thiết để hoàn thiện hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới Qua đó cho thấy hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam đang ngày càng trở thành nhu cầu tất yếu tới sự an toàn và lành mạnh cho thị trường bảo hiểm nói riêng, cho thị trường tài chính nói chung
Trang 10Từ việc phân tích, đánh giá các quy định pháp lý đến các hoạt động thực tiễn của thị trường, luận văn đã nêu được những hạn chế và bất cập của một số văn bản pháp lý và thực tế hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam Thông qua đó, luận văn cũng đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam trên cơ sở đáp ứng được các mục tiêu giám sát đề ra Các giải pháp không chỉ là trước mắt mà còn có tính khả thi lâu dài và đặc biệt còn phát huy tác dụng đối với thị trường bảo hiểm ngay cả khi nền kinh tế nước ta thực sự hội nhập với khu vực và thế giới
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do khả năng có hạn nên luận văn còn hạn chế, không tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học và các độc giả để luận văn được hoàn thiện hơn nữa