1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường qua thực tiễn tại tỉnh tiền giang

67 36 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 712,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường hiện hành và đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm đóng góp ý kiến giúp các cơ quan, ban ngành xử lý

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

HUỲNH HOÀNG PHƯƠNG

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG QUA THỰC TIỄN TẠI

TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

HUỲNH HOÀNG PHƯƠNG

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG QUA THỰC TIỄN TẠI

TỈNH TIỀN GIANG

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ĐÌNH HUY

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình do tôi tự nghiên cứu và hoàn

thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS NGUYỄN ĐÌNH HUY

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

HUỲNH HOÀNG PHƯƠNG

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nội dung

Luật BVMT 2005 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005

Luật BVMT 2014 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014

BLDS 2005 Bộ luật Dân sự năm 2005

BLDS 2015 Bộ luật Dân sự năm 2015

BLHS 2015 Bộ luật Hình sự năm 2015

BLTTDS 2015 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5

7 Cơ cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản về ô nhiễm môi trường, thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường 7

1.1.1 Môi trường 7

1.1.2 Ô nhiễm môi trường 8

1.1.3 Doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường 9

1.1.4 Thiệt hại do ô nhiễm môi trường 10

Trang 6

1.1.5 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi

trường 10

1.1.6 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường……….11

1.2 Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường 12

1.2.1 Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường 12

1.2.2 Nội dung nguyên tắc bồi thường thiệt hại về môi trường 14

1.2.3 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại 15

1.3 Chủ thể tham gia quan hệ bồi thường thiệt hại 19

1.3.1 Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại 19

1.3.2 Chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại 20

1.4 Thiệt hại được bồi thường và cách xác định thiệt hại 21

1.4.1 Thiệt hại được bồi thường 21

1.4.2 Cách xác định thiệt hại 21

1.5 Phương thức xác định thiệt hại 24

1.6 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA DOANH NGHIỆP GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI TỈNH TIỀN GIANG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 27

2.1 Một số vụ việc điển hình về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường tại tỉnh Tiền Giang trong những năm gần đây 27

Trang 7

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các

doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường tại địa bàn tỉnh Tiền Giang 31

2.2.1 Nguyên nhân của thực trạng doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng 31

2.2.2 Đánh giá quy định pháp luật thông qua một số vụ việc điển hình về trách nhiệm BTTH của doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường trong những năm gần đây.35 2.2.3 Khó khăn và vướng mắc trong việc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường tại Tòa án 36

2.3 Kiến nghị và giải pháp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường hiện nay có hiệu quả hơn 48

2.3.1 Kiến nghị đối với các quy định pháp luật 48

2.3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật 51

2.3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

KẾT LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra còn là vấn đề rất mới, ít được nghiên cứu và giải quyết tranh chấp tại các cơ quan có thẩm quyền

và Tòa án ở Việt Nam Luận văn này đề cập đến các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chủ thể gây ô nhiễm môi trường là các doanh nghiệp; điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường; các tiêu chí xác định ô nhiễm và phương pháp xác định thiệt hại để tính mức bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường Thực trạng áp dụng pháp luật để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường do các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường tại tỉnh Tiền Giang gây ra

Do tác giả đang sinh sống và làm việc tại tỉnh Tiền Giang có nhiều khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đa dạng ngành nghề, việc gây ô nhiễm môi trường kéo dài vẫn đang là vấn đề bức xúc của người dân, cơ quan, tổ chức bị ảnh hưởng đến sức khỏe (ô nhiễm nguồn nước, không khí), thiệt hại về cơ sở vật chất, tài sản (sụt lún, nứt tường) …và bản thân tác giả đang làm công chức Tòa án cảm thấy bất lực khi thấy cá nhân, tổ chức chịu hậu quả do sự vi phạm về môi trường của doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường gây ra, họ không biết cách kiện như thế nào? Bắt đầu từ đâu? Được bồi thường ra sao? Thậm chí do các văn bản pháp luật

về lĩnh vực môi trường ít được UBND, tổ chức tư vấn pháp luật, Tòa án nghiên cứu chuyên sâu và áp dụng vào thực tiễn nên khi phát sinh tranh chấp, yêu cầu bồi thường thiệt hại thì dễ đùn đẩy trách nhiệm, chồng chéo về thẩm quyền xử lý vi phạm Đồng thời, trên thực tế xử lý trách nhiệm đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường này vẫn còn nhiều hạn chế, vẫn còn mang tính thành tích trong các báo cáo của các cơ quan chuyên trách về môi trường và pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường này vẫn còn nhiều điểm bất cập

Chính vì vậy, tác giả muốn góp một phần công sức nghiên cứu pháp luật của mình để nêu ra các tình trạng gây ô nhiễm của các doanh nghiệp; cơ sở pháp lý quy

Trang 9

định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường hiện hành và đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm đóng góp ý kiến giúp các cơ quan, ban ngành xử lý tốt vấn nạn môi trường, giúp cơ sở doanh nghiệp gây

ô nhiễm nhận thức được hành vi sai trái và xác định được trách nhiệm phải bồi thường, từ đó ý thức hơn trong việc chủ động bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp Đặc biệt hơn nữa là giúp người dân bảo vệ được quyền “được sống trong một môi trường trong lành”, nắm được cơ sở pháp lý để nhờ chính quyền địa phương, cơ quan Tư pháp (Tòa án) can thiệp, bảo vệ và được bồi thường thỏa đáng nếu có thiệt hại xảy ra

Do đó, tác giả quyết định chọn đề tài: “trách nhiệm bồi thường thiệt hại của

các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường qua thực tiễn tại tỉnh Tiền Giang” để

nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề lý luận cơ bản, cũng như đánh giá một cách toàn diện pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của chủ thể là doanh nghiệp sẽ góp phần hoàn thiện thêm

về pháp luật để bảo vệ môi trường, bảo vệ cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trực tiếp và rộng hơn nữa là bảo vệ sự phát triển bền vững kinh tế của tỉnh Tiền Giang cần phải luôn đi đôi với bảo vệ môi trường

2 Tình hình nghiên cứu

Nhìn chung, có khá ít nghiên cứu ở Việt Nam có đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại liên quan về lĩnh vực môi trường Cho đến hiện nay, trong tỉnh Tiền Giang hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp do gây ô nhiễm môi trường, do đó tư liệu liên quan đến vấn đề này để tham khảo rất ít, các bài báo cáo chuyên ngành thuộc tài liệu mật khó có thể tiếp cận nhưng tác giả vẫn mạnh dạn tiên phong chọn đề tài này để nghiên cứu, vận dụng pháp luật hiện hành như: Hiến pháp năm 2013, BLDS 2015; BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; BLTTDS 2015; Luật BVMT 2014 Đồng thời, trong quá trình đề tài, tác giả có sử dụng tư liệu

Trang 10

trong một số chuyên đề nghiên cứu và bài viết liên quan đến nội dung của đề tài là

áp dụng pháp luật cũ như sau:

- Vũ Thu Hạnh (2007),“Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường” của, đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3 (40);

- Đại học Luật Hà Nội (2007), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi

vi phạm pháp luật về môi trường gây nên tại Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa

trường Đại học Luật Hà Nội;

- Lê Thị Thoa (2015), “Pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học

Luật Hà Nội;

- Bùi Kim Hiếu (2015), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện

Khoa học xã hội, Hà Nội

Ngoài ra, còn có một số bài báo cáo của các cơ quan chuyên ngành, bài viết, bài nghiên cứu của các tác giả làm công tác giảng dạy, nghiên cứu, tổng hợp, xây dựng pháp luật về thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật liên quan đến bồi thường thiệt hại về môi trường được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian gần đây là những tài liệu nghiên cứu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện luận văn

Trang 11

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài: “trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm

môi trường qua thực tiễn tại tỉnh Tiền Giang” không đề cập nhiều vấn đề lý luận mà

luận văn tập trung giải quyết các nội dung chủ yếu sau đây:

- Tập trung phân tích đánh giá mức độ phù hợp, chưa phù hợp (những bất cập, hạn chế), tác động của các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành áp dụng trong thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp tại Tiền Giang

do làm ô nhiễm môi trường;

- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành để điều chỉnh có hiệu quả hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường đối với chủ thể là doanh nghiệp tại tỉnh Tiền Giang có đầy đủ năng lực chủ thể khi thực hiện các hành vi, vi phạm pháp luật môi trường, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật môi trường bảo vệ mà không nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân hoặc của doanh nghiệp do sự cố, rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người Thời gian nghiên cứu được xác định chủ yếu từ năm 2007 đến nay (2018)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ của luận văn này, trên cơ sở tiếp thu

và kế thừa những kết quả đã đạt được trong các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả tập trung nghiên cứu đề tài trong phạm vi là các quy định của pháp luật về trách

nhiệm bồi thường thiệt hại xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật của các doanh

nghiệp gây ô nhiễm môi trường tại tỉnh Tiền Giang Ô nhiễm môi trường tại tỉnh

Tiền Giang diễn biến ngày càng nghiêm trọng nhưng hiện nay việc khởi kiện các

Trang 12

doanh nghiệp ra tòa còn rất ít do nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại được bồi thường rất khó khăn và sự tốn kém về chi phí cho vụ kiện bỏ ra không phải là con

số nhỏ Thông qua một số vụ việc điển hình từ đó áp dụng thực tiễn trong việc xử lý

vi phạm về môi trường và đánh giá tình hình khởi kiện yêu cầu bồi thường để làm

rõ trách nhiệm của doanh nghiệp khi gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại tại địa bàn tỉnh Tiền Giang

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu: Các thông tin, số liệu sử dụng trong đề tài được thu thập tại các báo cáo chuyên ngành; Quyết định, bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; các bài báo trên internet

Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm của doanh nghiệp phải bồi thường thiệt hại khi gây ô nhiễm môi trường, phương pháp so sánh để đối chiếu các quy định của pháp luật nhằm phát hiện những ưu và hạn chế của quy định pháp luật hiện hành về yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường được bồi thường thỏa đáng, kịp thời Phương pháp so sánh, đối chiếu giúp làm nổi bật các ưu điểm, hạn chế trong các quy định của luật cũ so với luật mới thuộc nội dung đề tài nghiên cứu

Mỗi phương pháp nghiên cứu khác nhau có tác dụng hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau làm cho đề tài được nghiên cứu một cách đầy đủ, sâu sắc;

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn này là một công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu góp

phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề pháp lý về “trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường qua thực tiễn tại tỉnh Tiền Giang”, từ đó chỉ ra những bất cập và thiếu sót trong các quy định pháp

luật về vấn đề này tại Việt Nam hiện nay

Lợi ích thực tiễn của luận văn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu trong hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan ban ngành có liên quan, thẩm quyền về xử

lý các cơ sở gây ô nhiễm tại tỉnh Tiền Giang, làm tài liệu, cơ sở tham khảo cho các

Trang 13

tư vấn viên, luật sư giải thích cơ sở pháp luật về môi trường và cách xác định thiệt hại, mức bồi thường theo luật định để giúp người dân bảo vệ được quyền lợi của mình và được bồi thường thỏa đáng Đồng thời, luận văn này có thể làm tư liệu học tập và nghiên cứu cho sinh viên, giảng viên những người nghiên cứu khoa học quan tâm đến vấn đề này, ngoài ra nó mang tính định hướng cho các nhà làm luật để sửa đổi các quy định của pháp luật về trách nhiệm BTTH của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường để phù hợp với thực tiễn hiện nay và sự vận động phát triển của

xã hội

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Khái quát chung và thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường;

Chương 2: Thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp

gây ô nhiễm môi trường tại tỉnh Tiền Giang Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện

Trang 14

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP GÂY Ô NHIỄM

MÔI TRƯỜNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản về ô nhiễm môi trường, thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường

1.1.1. Môi trường

Chúng ta sinh sống, phát triển và tồn tại cùng với môi trường Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật, là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình, là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất,

là nơi lưu giữ và cung cấp thông tin cho con người Môi trường giữ vai trò đặc biệt quan trọng như vậy nhưng thực trạng đã ghi nhận, do lạm dụng, khai thác tối đa từ môi trường mà hiện nay con người đang phải đối mặt với những thách thức đáng lo ngại Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đang đứng trước sự mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và BVMT Vấn đề môi trường đang nằm trong tình trạng báo động Sau khi khai thác, sử dụng các nguồn hữu ích từ môi trường, con người đã trả lại cho môi trường các phế thải đầy rẫy sự ô nhiễm và độc hại, đe dọa sức khỏe của cả cộng đồng Khi chúng ta hiểu rằng con người giữ vai trò trung tâm,

có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng môi trường, thì đã phải gánh chịu những hậu quả hết sức bất lợi cho cuộc sống của mình Tốc độ công nghiệp hóa nhanh cùng với sự thờ ơ vô trách nhiệm với thiên nhiên của con người đã khiến cho đất,

nước, không khí, và nhiều yếu tố môi trường khác đều có khả năng bị ô nhiễm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật BVMT 2014 quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh

hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”

Trang 15

1.1.2. Ô nhiễm môi trường

Ở nước ta, Đảng và Nhà nước từ lâu đã quan tâm đến vấn đề môi trường Đặc biệt, là sự ra đời của Luật BVMT 1993 và gần đây nhất là Luật BVMT 2014 sửa đổi, bổ sung, thay thế cho Luật BVMT 2005 Với văn bản pháp lý này, con người phải chịu trách nhiệm trước những hành vi gây ô nhiễm làm suy thoái môi trường của mình Vậy, ô nhiễm môi trường chúng ta vẫn thường nghe nhắc đến hàng ngày được hiểu như thế nào?

Hiểu theo nghĩa thông thường, dễ hiểu nhất thì ô nhiễm môi trường là làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường Môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân đạt đến mức có khả năng tác động gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Điều đó có nghĩa là các hoạt động phát sinh các nguồn chất thải nói trên sẽ bị coi là hành vi gây ô nhiễm môi trường, nếu các chất thải đó có chứa có chứa các hóa chất, tác nhân vật lý, sinh học, nhiệt độ, bức xạ với hàm lượng hoặc nồng độ quá mức cho phép theo quy định của Luật BVMT, hay nói cách khác là vi phạm về quy chuẩn môi trường (QCMT)

và tiêu chuẩn môi trường (TCMT)

Trên thế giới ô nhiễm môi trường hiểu là việc chuyển chất thải, năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây thiệt hại đến sức khỏe con người, sự phát triển của sinh vật và làm suy giảm chất lượng môi trường

Tiếp cận dưới góc độ pháp lý thì ô nhiễm môi trường được định nghĩa là: “sự

biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” quy định tại khoản 8, Điều 3 Luật BVMT 2014 Như vậy, khái niệm ô nhiễm

môi trường theo quy định của pháp luật là căn cứ xác định hành vi tác động vào môi trường làm cho các thành phần của môi trường bị biến đổi theo chiều hướng xấu đi

Trang 16

1.1.3. Doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường

Nguồn gây ô nhiễm môi trường xuất phát từ các cơ sở giết mổ gia súc sử dụng nguồn nước là giếng khoan thô, không đạt tiêu chuẩn nguồn nước sinh hoạt Các bô rác ở thành phố đa số xây dựng hở có nhiều mùi hôi, các trạm trung chuyển rác thường không có hệ thống xử lý nước thải Các bãi rác hiện nay đã trở nên quá tải, các cơ sở sản xuất không có hệ thống xử lý chất thải và khói bụi hoặc nếu có thì cũng không vận hành thường xuyên, mà chỉ mang tính chất đối phó khi các ngành chức năng tìm đến Các cơ sở sản xuất cơ khí thường xuyên gây ô nhiễm bụi và tiếng ồn Các cơ sở dệt may, da giày gây ô nhiễm hơi khí, tại một số doanh nghiệp

cơ khí, thực phẩm, dệt nhuộm, hóa chất về hàm lượng chất BOD, COD, SO2 trong nước thải đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần

Như vậy, dễ nhận thấy rằng nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường chủ yếu từ các nguồn ô nhiễm nhân tạo Nó gắn liền với hoạt động của con người phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, lưu thông của các phương tiện vận tải, và các rác thải sinh hoạt từ lối sống vô ý thức của người dân

Xuất phát từ nguồn gây ô nhiễm môi trường, khái niệm doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường được hiểu là một trong những nguồn gây ô nhiễm Đó là các doanh nghiệp bao gồm Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp (luyện kim, hóa chất, thực phẩm …), nông nghiệp (chăn nuôi gia súc, gia cầm…); Y tế (rác thải y tế…); dịch vụ giao thông vận tải (khói, bụi, tiếng ồn …).v.v… Trong quá trình hoạt động sản xuất của mình, các doanh nghiệp này đã làm phát sinh và thải ra môi trường nhiều hợp chất vô cơ, hữu cơ (các chất gây ô nhiễm) làm biến đổi các thành phần của môi trường, không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật hay nói cách khái quát hơn thì doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường là những doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, sản xuất thải ra môi trường một lượng chất thải có hàm lượng chất gây ô nhiễm vượt tiêu chuẩn quy định làm biến đổi tính chất môi trường, gây ô nhiễm môi trường

Trang 17

1.1.4. Thiệt hại do ô nhiễm môi trường

- Theo quan niệm một số nước trên thế giới: Trên thế giới có hai quan niệm khác nhau về thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra Quan niệm thứ nhất cho rằng, thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra chỉ là các thiệt hại đối với môi trường tự nhiên như thiệt hại đối với hệ động vật, thực vật, đất, nước, không khí… mà không bao gồm thiệt hại về người và tài sản Điển hình cho nhóm quan niệm này là Cộng đồng Châu Âu – EC, Canada, Hàn Quốc

Quan niệm thứ hai cho rằng, thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra không chỉ bao gồm các thiệt hại liên quan đến chất lượng môi trường nói chung mà còn bao gồm cả thiệt hại về sức khỏe con người, tài sản của cá nhân do ô nhiễm môi trường gây nên Những nước theo quan điểm này điển hình là Liên bang Nga, Nhật Bản, Australia1

- Theo quan niệm của Việt Nam giống với quan niệm thứ hai: Thiệt hại do ô nhiễm môi trường có thể hiểu là sự mất mát về vật chất phát sinh từ ô nhiễm môi trường Theo Điều 163 Luật BVMT 2014 thì thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gồm “1 Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; 2 Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra”

1.1.5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường

Nhiều quốc gia trên thế giới (như Mỹ, Úc, Đức, Nga) xác định trách nhiệm BTTH là một dạng “trách nhiệm pháp lý dân sự”, nghĩa là trách nhiệm đối với môi trường theo các quy định của luật tư Cộng đồng Châu Âu quan niệm “người gây ô nhiễm phải trả giá” (tiếng anh là polluter pays principle, viết tắt là PPP) Đây là một nguyên tắc được quy định trong Hiệp ước của EC (Điều 130r (2)) Tương tự Cộng

1 Chu Thu Hiền (2011), “Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường theo pháp luật dân sự Việt

Nam”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội (trang 7)

Trang 18

đồng Châu Âu, các nước trên thế giới đều theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” Nhìn chung, hầu hết các nước (được nghiên cứu) theo quan niệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường là một dạng trách nhiệm pháp lý dân sự và là một dạng của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng2

Theo Việt Nam: Tương tự như quan niệm của Cộng đồng Châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam quan niệm trách nhiệm BTTH do làm ô nhiễm môi trường là một dạng trách nhiệm pháp lý dân sự và là một dạng cụ thể của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Việt Nam cũng thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải chi trả” Ngoài việc phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, lợi ích hợp pháp của tổ chức do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra, cơ sở gây ô nhiễm còn phải bồi thường các thiệt hại do làm suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Quan niệm này được thể hiện qua các quy định tại Điều 624 của BLDS 2005 được kế thừa và phát triển trong Điều 602 của BLDS 2015

1.1.6. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường:

Trách nhiệm được hiểu theo nghĩa chung nhất là “điều phải làm, phải gánh vác, phải nhận lấy về mình” Xung quanh vấn đề này có rất nhiều ý kiến, tuy nhiên, tất cả đều hướng tới một nguyên tắc thống nhất: “người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại” Từ BLDS Pháp, Thái Lan, Nhật Bản đến BLDS Việt Nam năm

2015 (Điều 584) đều quy định và được hiểu là hình thức trách nhiệm dân sự mang tính tài sản áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nhằm

bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại

Từ đó, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường là một dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các doanh nghiệp làm ô nhiễm môi trường

2 Chu Thu Hiền (2011), “Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường theo pháp luật dân sự Việt

Nam”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội (trang 7)

Trang 19

mang đầy đủ các đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (loại trách nhiệm dân sự phát sinh bên ngoài và không phụ thuộc vào hợp đồng hay nói cách khác là các bên không có sự thỏa thuận trước Gồm các đặc điểm như: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại và có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật) Ngoài ra, trách nhiệm BTTH do doanh nghiệp làm ô nhiễm môi trường còn có những điểm khác biệt sau:

- Hành vi trái pháp luật là hành vi vi phạm pháp luật môi trường;

- Thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về môi trường gây ra bởi chủ thể là doanh nghiệp;

- Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cụ thể chỉ được phát sinh sau khi có hậu quả là suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường;

- Thiệt hại thường xảy ra trên một phạm vi rộng, có giá trị lớn, khó xác định

Trang 20

chức, cá nhân được ghi nhận trong Hiến pháp3 Điều này thể hiện thái độ nghiêm khắc của nhà nước đối với các hành vi phá hoại môi trường, hệ sinh thái Có thể nói, cơ sở hiến định này không chỉ xác định hành vi vi phạm pháp luật môi trường phải BTTH mà còn phân biệt trách BTTH với trách nhiệm khắc phục môi trường

BLDS 2015 có quy định về trách nhiệm BTTH, dù có lỗi hay không nhưng chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 602)

BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 cũng có quy định về trách nhiệm hình sự

do gây ô nhiễm môi trường Hình phạt tiền là hình phạt chính được áp dụng chủ yếu đối với các tội phạm môi trường Mức phạt tiền đối với pháp nhân thương mại, hình phạt chính chỉ áp dụng hình thức phạt tiền với mức thấp nhất là 50 triệu đồng, cao nhất là 20 tỉ đồng4 Ngoài ra pháp nhân thương mại còn bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh trong một số lĩnh vực, cấm hoạt động trong một thời hạn, cấm huy động vốn

Luật BVMT 2014 có quy định mới về nguyên tắc xử lý trách nhiệm đối với

tổ chức và cá nhân gây ô nhiễm môi trường Quy định cụ thể tại Chương XIX bồi thường thiệt hại về môi trường từ Điều 163 đến 167

Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường và Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT

Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 03/7/2007 hướng dẫn phân loại và Quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý;

Trang 21

1.2.2. Nội dung nguyên tắc bồi thường thiệt hại về môi trường:

* Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền là thuật ngữ khoa học pháp

lý không quy định rõ trong Luật BVMT 2014, nguyên tắc được xây dựng trên cơ sở khoản 8 Điều 4 Luật BVMT 2014 quy định: “8 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật” Qua đó, ngoài việc thực hiện hành vi hợp pháp phải trả tiền (phí, thuế ) còn phải trả tiền cho hành vi vi phạm pháp luật môi trường thể hiện qua việc bị xử phạt hành chính, hay bắt BTTH Đây là nguồn thu lớn cho ngân sách quốc gia hiện nay Do số lượng chủ thể vi phạm ngày một tăng Việc xử lý các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường cũng chưa đảm bảo, việc phát hiện và lập biên bản xử phạt các cơ sở chỉ là một số lượng nhỏ so với việc chi ngân sách bảo vệ môi trường Chủ thể có hành vi vi phạm luôn tìm mọi cách để đối phó với từng đợt thanh tra, kiểm tra Bên cạnh đó, mức phạt chưa cao Nếu xét ra thì số tiền phạt không đáng là bao so với lợi nhuận kiếm được của doanh nghiệp và chuyện xử phạt sẽ là chuyện nhỏ, hoặc sự e ngại trong vấn đề chứng minh thiệt hại

để nguyên đơn đi kiện ở Tòa án yêu cầu bồi thường thiệt hại thì sự tái phạm sẽ là khả năng xảy ra tất yếu Hay nói cách khác gây ô nhiễm phải trả tiền nhưng chưa tương xứng, thỏa đáng

* Nguyên tắc thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời

Đây là nguyên tắc rất quan trọng, bởi thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Người chịu trách nhiệm BTTH có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc lỗi vô

ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình Khi mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc các bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi

Trang 22

thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.5

1.2.3. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Quan điểm pháp lý chính thống hiện nay cho rằng: các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng bao gồm 04 điều kiện: Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra; thứ hai, có hành vi vi phạm pháp luật; thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại đã xảy ra; thứ tư, người gây thiệt hại phải có lỗi Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả yếu tố lỗi không quan trọng nên chỉ cần thỏa mãn 03 điều kiện (tức không bao gồm điều kiện về lỗi), bởi dù lỗi cố ý hay vô

ý, thậm chí trong trường hợp không có lỗi thì doanh nghiệp vẫn phải bồi thường

* Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra do môi trường bị xâm phạm

Đây là điều kiện mang tính chất tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bởi mục đích của việc áp dụng trách nhiệm này là khôi phục tình trạng tài sản, sức khỏe, tính mạng cho người bị thiệt hại Về mặt lý luận gồm thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp Thiệt hại thường là tổn thất thực tế tính thành một khoản tiền do doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường có hành vi xâm phạm môi trường gây nên, có thể bao gồm những thiệt hại sau đây:

- Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: Đó có thể là tài sản bị hủy hoại hoặc bị

hư hỏng, thiệt hại gắn liền với việc thu hẹp hoặc mất những lợi ích gắn liền với việc không sử dụng, không khai thác hoặc bị hạn chế trong việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản; những chi phí để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại Ví dụ: Vào năm 2008, Công ty Vedan xả lượng lớn nước thải chưa được xử lý ra sông Thị Vải qua hệ thống cống ngầm đã làm chết hàng loạt thủy sản như tôm, cá trên sông và các đầm thủy sản lân cận của ngư dân bị thiệt hại nặng nề Kết quả công ty bồi thường trên 220 tỷ đồng cho ngư dân 03 tỉnh gồm: Thành phố Hồ Chí Minh 50 tỷ,

5 Điều 585 BLDS 2015

Trang 23

Bà Rịa – Vũng Tàu 53 tỷ và Đồng Nai là 120 tỷ đồng6 Hoặc khi nguồn nước hoặc không khí bị ô nhiễm, đồng cỏ bị nhiễm độc do các cơ sở công nghiệp làm cho các gia súc, gia cầm bị bệnh hoặc chết gây thiệt hại cho người dân hoặc các khu du lịch

bị ô nhiễm phải đóng cửa dẫn đến bị thất thu hoặc nguồn lợi nhuận bị suy giảm

- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm xác định theo Điều 580 BLDS 2015 bao gồm:

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút;

+ Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất hoặc bị giảm sút: Ví dụ: Khi doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất… làm cho sức khỏe con người bị giảm sút, bị mắc các bệnh

về đường hô hấp, đường tiêu hóa… Những người mắc bệnh phải bỏ ra một khoản tiền chi cho việc khám chữa bệnh, đồng thời thu nhập của họ bị giảm sút do không tham gia lao động

+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế của người chăm sóc người bị thiệt hại bị mất, bị giảm sút

+ Chi phí khác như: Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại bao gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Thiệt hại

do tính mạng bị xâm hại có thể xảy ra khi có sự cố môi trường như tràn dầu, nổ xăng dầu, cháy rừng

Dựa trên những thiệt hại thực tế thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu được bồi thường theo hình thức thỏa thuận hoặc nhờ cơ quan có thẩm quyền như Tòa án giải quyết buộc doanh nghiệp gây thiệt hại về môi trường phải bồi thường

* Thứ hai, hành vi xâm phạm môi trường là hành vi trái pháp luật

6 https://news.zing.vn/ngu-dan-doi-cong-ly-sau-vu-vedan-xa-thai-the-nao-post661799.html

Trang 24

Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định pháp luật Trong trách BTTH hại ngoài hợp đồng, hành vi trái pháp luật là hành vi xâm phạm tới tài sản, sức khỏe, tính mạng con người được thể hiện dưới dạng hành động được quy định trong Luật BVMT 2014, BLDS năm 2015 và cả BLHS 2015

Hành vi gây ô nhiễm môi trường có thể hiểu là hành vi đưa vào môi trường các chất gây ô nhiễm, chất độc hại, làm nhiễm bẩn các thành phần môi trường Đây

là hành vi mang tính chất định tính và có thể thông qua áp dụng QCMT hoặc TCMT bắt buộc áp dụng để đánh giá Ô nhiễm môi trường thường thể hiện ở mức độ “cấp tính” và có thể gây ra thiệt hại cùng một lúc, ngay lập tức đến môi trường, tính mạng, sức khỏe, tài sản Phụ thuộc vào tiêu chí phân loại, hành vi gây ô nhiễm môi trường có thể bao gồm những nhóm hành vi chủ yếu sau:

- Theo tính chất hoạt động, nguồn gây ô nhiễm gồm 3 nhóm: Hành vi thực hiện trong quá trình sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, tiểu thủ công nghiệp), trong quá trình giao thông vận tải, trong sinh hoạt

- Theo phân bố không gian, hành vi gây ô nhiễm gồm 2 nhóm: Hành vi gây ô nhiễm tại điểm cố định (khí thải nhà máy gây ô nhiễm cố định), hành vi gây ô nhiễm từ nguồn di động (phương tiện giao thông gây ô nhiễm trên đường)

- Theo nguồn phát sinh, hành vi gây ô nhiễm gồm hành vi gây ô nhiễm từ nguồn sơ cấp và thứ cấp Nguồn ô nhiễm sơ cấp là chất ô nhiễm từ nguồn thải trực tiếp vào môi trường; nguồn ô nhiễm thứ cấp là chất ô nhiễm được tạo từ nguồn sơ cấp và đã biến đổi qua trung gian rồi mới tới môi trường bị ô nhiễm Ô nhiễm môi trường từ các hoạt động của con người sẽ làm phát sinh trách nhiệm pháp lý đối với người gây ô nhiễm

Từ hành vi gây ô nhiễm môi trường đó sẽ phát sinh trách nhiệm BTTH, trách nhiệm khắc phục môi trường Tuy nhiên, trách nhiệm khắc phục môi trường không thể là một phần của trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà là trách nhiệm hành chính, việc đó đã được Hiến pháp 2013 quy định rõ tại Điều 63

Trang 25

- Những hành vi vi phạm điều cấm quy định tại Điều 7 của Luật BVMT

2014 nghiêm cấm một số hành vi như: vận chuyển, chôn lấp chất độc, chất phóng

xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng quy trình kỹ thuật BVMT; thải chất thải chưa được xử lý, các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước và không khí; Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa, gây tiếng ồn, độ rung vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường; Nhập khẩu, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức; Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và

hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường…

- Vi phạm các quy định về đánh giá tác động môi trường hoặc các yêu cầu ghi tại phiếu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường;

* Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật môi trường và thiệt hại xảy ra

Hành vi vi phạm pháp luật về môi trường của doanh nghiệp gây ô nhiễm phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên sự suy giảm về chức năng, tính hữu ích của môi trường, gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Hay nói một cách khác thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi vi phạm pháp luật hay ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra Trong quá trình xác định trách nhiệm BTTH do làm ô nhiễm môi trường cần phải làm sáng tỏ mối quan hệ này

* Thứ tư, có lỗi của doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường (chủ thể gây thiệt hại)

Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trách nhiệm BTTH do hành vi làm ô nhiễm môi trường chỉ được loại trừ trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi Mọi đối tượng khi có hành vi vi phạm pháp luật môi trường đều bị suy đoán là có lỗi và phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình dưới hình thức lỗi cố ý hay lỗi

vô ý Hiểu cách khác, nếu người bị thiệt hại không có lỗi thì trách nhiệm bồi thường

Trang 26

luôn đặt ra đối với chủ thể có hành vi gây ô nhiễm môi trường, gây thiệt hại Thậm chí trong một số trường hợp cụ thể, trách nhiệm BTTH cũng không được loại trừ ngay cả khi người có hành vi vi phạm pháp luật môi trường không có lỗi Khoản 3 Điều 601 BLDS 2015 quy định “chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải BTTH cả khi không có lỗi” Quy định này cần được áp dụng khi giải quyết các tranh chấp đòi BTTH do các nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như các phương tiện giao thông vận tải, các nhà máy công nghiệp đang hoạt động, các nhà máy điện nguyên tử, kho chứa chất nổ, chất cháy, chất dễ cháy

Quy định này có ý nghĩa quan trọng, nhất là thời điểm hiện nay nhiều khu vực, người dân đang phải sống trong môi trường ô nhiễm, phải gánh chịu nhiều thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản nhưng lại không thể xác định được lỗi của người gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường

1.3 Chủ thể tham gia quan hệ bồi thường thiệt hại

Cũng tương tự như các quan hệ pháp luật dân sự khác, trong quan hệ BTTH

do làm ô nhiễm môi trường, bao gồm hai bên: Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường (bên bị thiệt hại) và chủ thể có nghĩa vụ bồi thường (bên có trách nhiệm bồi thường

do có hành vi làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại)

1.3.1. Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Điều 170 BLDS 2015 quy định chủ thể có quyền yêu cầu BTTH là chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản phải bồi thường

a) Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường

Theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 và Điều 197 BLDS 2015 thì “đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”

Trang 27

Tại khoản 4 Điều 187 BLTTDS 2015 quy định “cơ quan, tổ chức trong phạm

vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa

án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật” Do đó, về mặt nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu

nói chung (Điều 164 BLDS 2015), Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, có quyền

khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi trái pháp luật ô nhiễm môi trường làm suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường BTTH

b) Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp

Theo quy định tại Điều 169 BLDS 2015 thì “khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm”; nếu hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản gây thiệt hại thì có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 170 BLDS 20157

Từ những quy định trên thấy rằng chủ thể có quyền yêu cầu BTTH về tính

mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp được đề cập đến là cá nhân (tính mạng, sức khỏe, tài sản, lợi ích hợp pháp), cơ quan, tổ chức (tài sản và lợi ích hợp pháp) không phải là Nhà nước

1.3.2. Chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại Điều 584, 602 BLDS 2015, Điều 4 Luật BVMT 2014 thì

cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại có trách nhiệm khắc phục, BTTH và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật Như vậy, BLDS 2015 và Luật BVMT 2014 đều xác định chủ thể phải chịu

7 Điều 170 BLDS 2015: Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại”

Trang 28

trách nhiệm BTTH do làm ô nhiễm môi trường là các tổ chức, cá nhân và các chủ thể khác có hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường

Xuất phát từ các nguồn gây ô nhiễm từ những nhóm hoạt động của các đơn

vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, có thể thấy rằng dù ở đâu, hay ở lĩnh vực nào thì các hoạt động đó diễn ra phổ biến góp phần gây ô nhiễm môi trường Đối tượng chủ

thể tác giả muốn đề cập đến trong luận văn là doanh nghiệp (pháp nhân hoặc

không có tư cách pháp nhân) trong quá trình hoạt động kinh doanh, sản xuất của mình có hành vi gây ô nhiễm môi trường thì phải có nghĩa vụ BVMT, nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải BTTH (Điều 172 BLDS 2015)

1.4 Thiệt hại được bồi thường và cách xác định thiệt hại

1.4.1. Thiệt hại được bồi thường

Thiệt hại được bồi thường bao gồm: Những thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường và những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra8

Có 02 loại thiệt hại Một loại có thể tính thành tiền và một loại không thể tính thành tiền, song để xác định mức bồi thường thì tất cả đều quy thành tiền Thiệt hại do ô nhiễm môi trường phải là tổng các thiệt hại về môi trường (do vi phạm các TCMT và tiêu chuẩn thải), về sức khỏe con người, sinh vật, các giá trị thẩm mỹ và thời gian ảnh hưởng

1.4.2. Cách xác định thiệt hại

Trong thực tế hiện nay việc xác định trách nhiệm BTTH không hề dễ dàng đối với cơ quan chức năng của nhà nước và các nhà làm luật nói chung Xác định thiệt hại được quy định tại Điều 165 Luật BVMT 2014 quy định về xác định thiệt

8 Theo Điều 163 Luật BVMT 2014

Trang 29

hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường và Nghị định 03/2015/NĐ-CP quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường

* Căn cứ xác định thiệt hại về môi trường:

- Đối với thiệt hại là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường tự nhiên dựa trên căn cứ:

+ Mức độ suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường;

+ Phạm vi, giới hạn và vùng môi trường bị suy giảm

- Đối với thiệt hại là sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức do gây ô nhiễm môi trường, được áp dụng như trong

lĩnh vực dân sự nói chung (từ Điều 589 đến Điều 593 BLDS 2015), căn cứ vào:

+ Các lợi ích bị xâm phạm từ những tổn thất về tài sản

* Phương pháp xác định thiệt hại do ô nhiễm:

+ Thiệt hại do làm ô nhiễm nước, không khí, đất: Được đánh giá bằng số chi

phí phải bỏ ra để làm cho môi trường/ khí/ đất/ nước trở nên sạch như trước khi bị ô nhiễm Đó là tất cả các chi phí liên quan đến công tác thu dọn, các biện pháp làm sạch Mức độ vi phạm các tiêu chuẩn sẽ là các mốc để tạm xác định các thiệt hại về kinh phí

+ Thiệt hại do ảnh hưởng đến sức khỏe con người: Đó là tiền bỏ ra để chữa

bệnh, bồi thường về thương tật và mọi dịch vụ y tế khác (kể cả đền bù khi có người chết), thu nhập bị mất do người bị thiệt hại phải nghỉ làm việc để điều trị, chi phí cho người phục vụ

Trang 30

+ Thiệt hại do ảnh hưởng đến nghề nghiệp: Đó là thiệt hại do ô nhiễm mà

một số hoạt động không thể tiến hành được (như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, dịch

vụ du lịch, làm muối ) Tính thiệt hại bằng cách “số người x thời gian x thu nhập/ tháng” Ngoài ra còn có thiệt hại do mất lòng tin người tiêu dùng, tạm tính bằng “số sản phẩm không bán được, các vụ/ năm không bán được và giá trị đơn vị”

+ Thiệt hại do ảnh hưởng đến sinh vật: Tính tổng số lượng, diện tích, năng

suất, thời gian mà sinh vật bị thiệt hại sau quy đổi thành tiền theo giá cả thị trường Cần lưu ý đến thiệt hại làm mất giống nòi, ảnh hưởng đến nguồn gien (trứng cá, cá con, cây non );

+ Thiệt hại do tác động tích lũy và thời gian kéo dài: Đó là thiệt hại ước tính

phục hồi lại một cách tự nhiên hoặc nhân tạo các yếu tố môi trường và hệ sinh thái Tùy theo yếu tố môi trường, hệ sinh thái cụ thể mà đánh giá loại thiệt hại này Ví dụ

1 ha rừng ngập mặn 1 năm có thể sinh lợi khoảng 1200 – 1500USD

+ Thiệt hại do tổ chức, thực hiện việc khảo sát, giám định thiệt hại: Đó là

những phí tổn cho việc sử dụng lao động, thời gian, máy móc, hóa chất, làm báo cáo

Chủ thể bị thiệt hại phải chứng minh bằng các hóa đơn, chứng từ thuê mướn nhân công lao động, chi phí sử dụng máy móc trang thiết bị làm sạch môi trường, chi phí nằm viện, hợp đồng lao động hoặc chứng minh thu nhập bị mất qua khảo sát mức thu nhập hàng ngày

Đánh giá xác định thiệt hại là một công việc rất phức tạp Trong nhiều trường hợp các đánh giá về sự thiệt hại chỉ mang tính tương đối và mang tính sơ bộ

vì thường là những đánh giá thấp so với thiệt hại thực tế (vì không thể lường hết được tất cả các thiệt hại) Trong việc định giá thiệt hại cách phân loại mức độ ô nhiễm đóng vai trò quan trọng, nó giúp ta định hướng và ước tính giá trị thiệt hại gần thực tiễn hơn

Trang 31

1.5 Phương thức xác định thiệt hại

Là cách thức, phương pháp để thực hiện việc bồi thường Trên thực tế, các phương thức BTTH được áp dụng khá linh hoạt, cụ thể là:

- Bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế nếu phạm vi ô nhiễm hẹp, thiệt hại chỉ xảy ra với một số ít người, giá trị thiệt hại không lớn và dễ xác định;

- BTTH trên cơ sở tỉ lệ giữa tổng giá trị thiệt hại được bù đắp so với tổng giá trị thiệt hại thực tế;

- BTTH trên cơ sở cấp độ thiệt hại;

- BTTH trên cơ sở mức thiệt hại bình quân;

- BTTH bằng việc đầu tư vào các công trình công cộng, phúc lợi cho cộng đồng dân cư như: các công trình thủy lợi, bệnh xá, đường giao thông…

Tuy nhiên, các phương thức xác định thiệt hại được bồi thường nêu trên chỉ phù hợp khi áp dụng cho việc BTTH về tính mạng, sức khỏe, tài sản, còn đối với thiệt hại suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường thì các phương thức nêu trên chưa phù hợp với bản chất của trách nhiệm BTTH là việc đền bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu của sự vật, hiện tượng

1.6 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa

án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích bị xâm phạm; nếu thời hạn này kết thúc thì mất quyền khởi kiện

Theo đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 162 Luật BVMT 2014 và theo Điều 588

của BLTTDS 2015 thì thời hiệu khởi kiện về môi trường là 03 năm được tính từ

thời điểm tổ chức, cá nhân bị thiệt hại phát hiện được (biết hoặc phải biết) quyền và lợi ích của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm pháp luật về môi trường của tổ

Trang 32

chức, cá nhân khác Điều này mới so với BLDS 2005 thời hiệu là 02 năm9 nhưng cũng không đảm bảo nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời Do đó, trong phạm vi đề tài đối tượng vi phạm pháp luật theo BLTTDS quy định thì doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường là bên bị đơn

Do tính chất đặc thù là thiệt hại trong lĩnh vực môi trường không dễ nhận biết; thiệt hại thường khó xác định một cách chính xác; Thiệt hại khi ô nhiễm môi trường bao gồm thiệt hại trực tiếp và gián tiếp, thiệt hại trước mắt, lâu dài do thời gian ảnh hưởng của môi trường bị ô nhiễm có thể tính bằng ngày nhưng cũng có những trường hợp phải tính bằng tháng hoặc năm nên việc xác định thời điểm quyền và lợi ích bị xâm phạm trong nhiều trường hợp là không dễ dàng, còn nhiều tranh cãi

Có thể nhận thấy quy định về thời hiệu khởi kiện là 03 năm, kể từ ngày

người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại không đảm bảo quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

người bị thiệt hại không bảo đảm được nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường kịp thời như quy định trong BLDS 2015 Tác giả kiến nghị bỏ thời hiệu khởi kiện

9 Điều 607 BLDS 2005 và khoản 1 Điều 159 BLTTDS 2005

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong phần này, ngoài việc phân tích những vấn đề lý luận theo quan điểm của Việt Nam về trách nhiệm BTTH của doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, luận văn cũng đưa ra quan điểm của một số nước trên thế giới về thiệt hại và trách nhiệm bồi thường do gây ô nhiễm môi trường Tác giả đã làm rõ các khái niệm cơ bản về ô nhiễm môi trường, thiệt hại và trách nhiệm của doanh nghiệp có hành vi gây ô nhiễm môi trường; quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm BTTH là 01 dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý dân sự ngoài hợp đồng phát sinh khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định (trong đó không đặt ra xem xét yếu tố lỗi); giới hạn phạm vi chủ thể có trách nhiệm bồi thường là doanh nghiệp (vì đối tượng chủ thể này phổ biến và thường gây ô nhiễm do hoạt động kinh doanh của mình); xác định thiệt hại được bồi thường; phương thức bồi thường; thời hiệu khởi kiện khi bên bị thiệt hại khởi kiện ra Tòa án giải quyết tranh chấp Từ những cơ sở pháp lý này, giúp cho bên gây thiệt hại hiểu được hành vi nào là sai trái và phải có trách nhiệm khắc phục hậu quả, bồi thường Song song đó, những lý luận trên cũng giúp bên bị thiệt hại có cơ sở vững chắc hơn để chứng minh thiệt hại xảy ra và yêu cầu Tòa án buộc bên gây thiệt hại phải bồi thường thỏa đáng, hợp lý

Ngày đăng: 21/01/2021, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), “Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT hướng dẫn phân loại và Quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý”, ban hành ngày 03/7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT hướng dẫn phân loại và Quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2007
11. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), “Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường và nghiêm trọng” ban hành ngày 08/5/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường và nghiêm trọng”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
12. Thủ tướng Chính phủ (2015), “Chỉ thị số 10/CT-TTg về Tăng cường công tác kiểm soát, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản”, ban hành ngày 29/5/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chỉ thị số 10/CT-TTg về Tăng cường công tác kiểm soát, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2015
13. UBND tỉnh Tiền iang (2018), “Chỉ thị số 17/CT-UBND về tăng cường công tác phòng ngừa ứng phó và khắc phục sự cố môi trường trên địa bàn tỉnh”, ban hành ngày 18/7/2018.B. SÁCH, BÀI BÁO, CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 17/CT-UBND về tăng cường công tác phòng ngừa ứng phó và khắc phục sự cố môi trường trên địa bàn tỉnh
Tác giả: UBND tỉnh Tiền iang
Năm: 2018
14. Vũ Thu Hạnh (2007),“Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường”, đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3 (40) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường”
Tác giả: Vũ Thu Hạnh
Năm: 2007
15. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về môi trường gây nên tại Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về môi trường gây nên tại Việt Nam”
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2007
16. Chu Thu Hiền (2011), “Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường theo pháp luật dân sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường theo pháp luật dân sự Việt Nam”
Tác giả: Chu Thu Hiền
Năm: 2011
17. Nguyễn Thị Xuân Trang (2012), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm môi trường theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2005”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm môi trường theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2005”
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Trang
Năm: 2012
18. Nguyễn Thị Tố Uyên (2013), “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật, trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Thị Tố Uyên
Năm: 2013
19. Lê Thị Thoa (2015) “Pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp ở Việt Nam
20. Bùi Kim Hiếu (2015), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Bùi Kim Hiếu
Năm: 2015
6. Nghị định số 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường Khác
7. Nghị định 03/2015/NĐ-CP của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 06/01/2015 quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường Khác
8. Nghị định 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Khác
9. Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ- HĐTP ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w