Quá trình bán cổ phần tại các NHTM Nhà nước chỉ thực hiện thông qua các cuộc đàm phán kín kết hợp với hoạt động sáp nhập, hợp nhất đã dẫn tới tình trạng một số ít các cổ đông đã sở hữu g
Trang 1MAI THỊ PHƯƠNG THÚY
PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT
TP.HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2MAI THỊ PHƯƠNG THÚY
PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số chuyên ngành: 603850
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ KIM VINH
TP.HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
Tác giả
Mai Thị Phương Thúy
Trang 41.1 Khái niệm, nguồn gốc và đặc điểm của Sở hữu chéo 5
1.1.1 Khái niệm Sở hữu chéo trong hệ thống NHTM 5
1.1.2 Nguồn gốc của sở hữu chéo 7
1.1.3 Đặc điểm sở hữu chéo 9
1.2 Tác động của sở hữu chéo đến hệ thống NHTM 10
1.2.1 Tác động tích cực 10
1.2.1.1 Giảm được chi phí đại diện 10
1.2.1.2 Giảm chi phí giao dịch 11
1.2.1.3 Giảm chi phí trong hoạt động sử dụng vốn 12
1.2.2 Tác động tiêu cực 13
1.2.2.1 Vô hiệu hóa các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM13 1.2.2.2 Gia tăng nợ xấu trong hoạt động ngân hàng 15
1.2.2.3 Gia tăng nguồn vốn ảo đầu tư vào hệ thống ngân hàng 16
1.2.2.4 Hạn chế các quy định về quản trị điều hành của NHTM 18
1.2.2.5.Tạo ra tình trạng hạn chế cạnh tranh 19
1.2.2.6.Khả năng thâu tóm đối với hoạt động ngân hàng 21
Chương 2 Quy định của pháp luật về sở hữu chéo trong hệ thống NHTM 23
2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về sở hữu chéo trong hệ thống NHTM 23
2.1.1 Quy định của pháp luật về cấm sở hữu chéo trong hệ thống NHTM 23
2.1.2 Quy định của pháp luật về hạn chế sở hữu chéo trong hệ thống NHTM 27
2.1.2.1 Các quy định về Người có liên quan 28
2.1.2.2 Các quy định về giới hạn cấp tín dụng 31
2.1.2.3 Giới hạn về góp vốn mua cổ phần 37
2.2 Quy định về sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng của một số nước 39
2.2.1 Sở hữu chéo tại Nhật Bản 40
Trang 53.1 Thực trạng về các quy định của pháp luật điều chỉnh sở hữu chéo trong hệ thống NHTM 46
3.1.1 Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về cấm sở hữu lẫn nhau trong hệ thống NHTM 46 3.1.2 Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về kiểm soát giao dịch với NCLQ trong hệ thống NHTM 53 3.1.3 Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về hạn chế để đảm bảo an toàn
trong hoạt động của NHTM 63
3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về sở hữu chéo trong hệ
thống NHTM 74
3.2 1 Bổ sung các quy định về sở hữu chéo và quyền kiểm soát 74 3.2 2 Quy định chi tiết hơn về khái niệm NCLQ và thay đổi cơ chế kiểm soát giao dịch với NCLQ 75 3.2 3 Điều chỉnh, bổ sung các quy định về hạn chế nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM 80 3.2 4 Tăng cường các quy định về công khai thông tin và giám sát hoạt động của NHTM 81
3.2 5 Quy định cụ thể về hoạt động góp vốn, mua cổ phần tại các NHTM 83
PHẦN KẾT LUẬN 86
Trang 61 TCTD Tổ chức tín dụng
8 Luật các TCTD 2010 Luật các tổ chức tín dụng 2010
9 Chỉ thị 01/CT-NHNN Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 15/01/2014 về tổ
chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt
động ngân hàng an toàn, hiệu quả
Quyết định 01/2014/QĐ-UBND ngày 08/01/2014
về Kế hoạch chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế
- văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh và ngân sách Thành phố; Chương trình công tác của Ủy
ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014
12 Quyết định
234/2003/QĐ-BTC
Quyết định 234/2003/QĐ-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc
ban hành chuẩn mực kế toán Việt Nam
13 Quyết định số
1122/2001/QĐ-NHNN
Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN ngày 04/09/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
về việc ban hành quy định về cổ đông, cổ phần,
cổ phiếu và vốn điều lệ của NHTM cổ phần của
nhà nước và nhân dân
14 Quyết định 457/2005/QĐ- Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005
Trang 7tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng
18 Thông tư số
28/2011/TT-NHNN
Thông tư số 28/2011/TT-NHNN ngày 01/09/2011 quy định về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp
19 Thông tư
21/2010/TT-NHNN
Thông tư 21/2010/TT-NHNN ngày 08/10/2010 của NHNN (quy định báo cáo thống kê áp dụng đối với các đơn vị thuộc NHNN và các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài)
20 Thông tư
242/2009/TT-BTC
Thông tư 242/2009/TT-BTC ngày 30/12/2009
của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành một
số điều của Quy chế quản lý tài chính của DNNN
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với tình trạng trì trệ của nền kinh tế, nợ xấu tăng cao, sở hữu chéo trong ngành ngân hàng thực sự là một trong những vấn đề nóng và nhức nhối trong suốt thời gian qua, bởi sự phức tạp, khó kiểm soát và hệ lụy khó lường mà nó gây ra Bên cạnh các mặt tích cực mang lại thì trong bối cảnh hiện nay, hệ quả mà sở hữu chéo tác động lên nền kinh tế khá nặng nề, và vụ việc Bầu Kiên tại ACB là một điển hình gây ảnh hưởng xấu nghiêm trọng đến tình hình an ninh tài chính của cả nền kinh tế Mặt khác, sở hữu chéo là một trong những nguyên nhân đóng góp không nhỏ trong việc gia tăng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, gia tăng nguồn vốn đầu tư
ảo vào ngân hàng, và nghiêm trọng hơn nó làm vô hiệu hóa các quy định về tỷ lệ an toàn vốn vay, tỷ lệ vốn tối thiểu, các quy định về cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Luật các TCTD 2010 có hiệu lực gần 3 năm nay, đã tạo nên một hành lang pháp lý cho các TCTD thực hiện các chính sách phát triển và tăng trưởng của mình Tuy nhiên, do vẫn còn nhiều hạn chế nhất định nên dường như hiệu quả điều chỉnh mang lại đối với vấn nạn sở hữu chéo vẫn chưa cao
Với sự ra đời của Đề án “Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng” đã đặt ra nhu cầu cấp thiết trước tiên là phải tạo ra hành lang kiểm soát việc sở hữu chéo, đồng thời, hạn chế những hậu quả nghiêm trọng mà sở hữu chéo mang lại, góp phần làm minh bạch hóa và lành mạnh hóa thị trường tài chính, tạo động lực cho nền kinh tế phát
triển Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về sở hữu chéo trong hệ thống Ngân hàng thương mại - thực trạng và giải pháp” làm đề tài tốt nghiệp
cao học của mình với mong muốn làm rõ hơn về thực trạng sở hữu chéo trong ngân hàng hiện nay, bên cạnh đó đề tài cũng đưa ra một số giải pháp nhằm để hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật nói chung, các quy định kiểm soát sở hữu chéo trong hệ thống các NHTM nói riêng
II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Tình trạng phát triển nóng của các Ngân hàng đã bắt đầu gia tăng từ những năm
2006, với sự ra đời hàng loạt các NHTM và sự tham gia thành lập, góp vốn của rất nhiều tập đoàn kinh tế của nhà nước và tư nhân, chính việc này đã tạo nên một mạng lưới sở hữu vô cùng chồng chéo trong hệ thống NHTM Tuy nhiên, do không
Trang 9quan tâm đúng mức nên trong một thời gian dài, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành mà cụ thể là Ngân hàng nhà nước vẫn chưa có một giải pháp, quy định nào tỏ
ra hữu hiệu để kiểm soát tình trạng này Vì lẽ đó, thời gian qua vẫn chưa có những
đề tài nghiên cứu chi tiết sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Chỉ có một số công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau có đề cập ít nhiều đến vấn đề này như:
- Sách chuyên khảo: “Tập đoàn kinh tế - Lý luận và kinh nghiệm quốc tế ứng
dụng vào Việt Nam” của tác giả Trần Tiến Cường, NXB Giao thông Vận tải năm
2005, cuốn “Mô hình Tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của
Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Huy Từ, Nxb Chính trị quốc gia năm 2002 viết về các nội dung liên quan đến đầu tư chéo trong doanh nghiệp
- Các bài viết trên tạp chí chuyên ngành: “Từ sở hữu chéo tại các Chaebol đến thực tế NHTM Việt Nam” của Trịnh Thanh Huyền ; “Vấn đề sở hữu chéo trong quá trình giải quyết nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam” của Nguyễn Hữu Mạnh đăng tại Tạp chí Ngân hàng Số 24, 12/2012; Tham luận "Luận cứ khoa học về sở hữu chéo trong NHTM và bài học kinh nghiệm" của Trương Quốc Cường và tham luận "Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTMVN - Thực trạng, hệ lụy và giải pháp" của Nguyễn Đức Trung tại Hội thảo "Sở hữu chéo trong hệ thống NHTM Việt Nam" được Học viện Ngân hàng (HVNH) tổ chức ngày 25/10/2013; bài viết
“Hoa mắt với đầu tư chéo tại Việt Nam” của tác giả Anh Minh đăng trên http://vneconomy.vn
Bên cạnh các sách chuyên khảo và tạp chí thì cũng có công trình luận văn nghiên cứu liên quan đến sở hữu chéo như: Luận văn thạc sỹ “Pháp luật Việt Nam
về đầu tư chéo giữa các doanh nghiệp” của tác giả Lê Thị Minh (2012)
Do vậy, với đề tài này, người viết mong muốn có thể tập hợp, phân tích và hệ thống một cách đầy đủ các vấn đề có liên quan đến sở hữu chéo trong hệ thống NHTM Ngoài ra, người viết cũng mong muốn sẽ có thêm những đóng góp để hoàn thiện hơn nữa quy định pháp luật về vấn đề này hiện nay
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài đặt mục tiêu nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về sở hữu chéo trong hệ thống NHTM, tìm hiểu các thực trạng còn tồn tại và đề xuất các kiến
Trang 10nghị hoàn thiện pháp luật nhằm giảm tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
và hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục tiêu như trên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu:
Nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản về sở hữu chéo nói chung và sở hữu chéo trong hệ thống NHTM tại Việt Nam nói riêng
Tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề sở hữu chéo, bên cạnh đó tác giả cũng tìm hiểu quy định của một số nước về vấn đề này nhằm để so sánh và tìm ra những điểm mới điểm tiến bộ so với pháp luật Việt Nam
Phân tích thực trạng của pháp luật về sở hữu chéo trong hệ thống NHTM tại Việt Nam
Đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về sở hữu chéo trong hệ thống NHTM dựa trên việc học hỏi có chọn lọc kinh nghiệm của các nước phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam
V PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn sẽ tập trung vào phân tích các quy định của pháp luật điều chỉnh sở hữu chéo trong hệ thống NHTM đề xuất giải pháp hoàn thiện Việc đánh giá, phân tích tính thực thi, hợp lý của các quy định pháp luật sẽ dựa trên điều kiện thực tiễn trong hoạt động của các NHTM Nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam, người viết có thể tham khảo hoặc dẫn chiếu đến các quy định pháp luật hoặc thực tiễn các nước khác (nếu có) để làm rõ thêm các nhận định cũng như đánh giá trong bài viết
VI Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Dưới góc độ khoa học pháp lý, đề tài hướng đến việc hoàn thiện cơ sở lý luận
về vấn đề kiểm soát sở hữu chéo trong hệ thống NHTM nói riêng cũng như việc hạn chế tác động tiêu cực của tình trạng sở hữu chéo nói chung Đề tài sẽ hình thành một nền tảng lý luận cơ bản và thống nhất đối với loại giao dịch này Từ đó, có một
số đề xuất và giải pháp có thể đóng góp như một phần nhỏ giúp hoàn thiện hơn nữa
hệ thống các quy định pháp luật có liên quan
Về mặt thực tiễn, đề tài sẽ trực tiếp đóng góp đối với thực tiễn góp vốn, mua
cổ phần, quản trị điều hành của các TCTD trong quá trình hoạt động Các TCTD sẽ
Trang 11có cái nhìn rõ ràng hơn và chính xác hơn về việc sở hữu chéo trong hoạt động quản trị điều hành của tổ chức mình Nhờ đó, TCTD có thể thực hiện tốt hơn chức năng
“kiểm soát rủi ro” của mình trong quá trình hoạt động kinh doanh Ngoài ra, đề tài cũng đóng vai trò giúp các cơ quan thẩm quyền có liên quan, đặc biệt là Ngân hàng nhà nước, có thể thực hiện tốt hơn và hiệu quả hơn chức năng kiểm tra, giám sát của mình
VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ thống kê thực tiễn và liệt kê các quy định pháp luật từ đó có những phân tích, nhận định và đưa ra những đề xuất kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật có tính thực tiễn Theo đó, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp phân tích, nghiên cứu các quy định pháp luật đó Tác giả sẽ dựa trên bài viết, bài luận liên quan đến đề tài để so sánh, đối chiếu với các đánh giá, nhận định của mình, từ đó rút ra các kết luận phù hợp và đúng đắn Việc nghiên cứu sẽ kế thừa một phần không nhỏ các kết luận, các nhận xét, các bài viết, bài bình luận và nghiên cứu có liên quan Thực hiện khảo sát, ghi nhận tình hình của thực tiễn về đề tài sẽ giúp tác giả có cái nhìn toàn diện và đánh giá tính thực thi các quy định pháp luật Ngoài ra, nhằm giúp ích thêm cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật, tác giả có thể sử dụng phương pháp so sánh với các quy định pháp luật cũng như kinh nghiệm của các nước khác để rút ra các bài học, từ đó có thể đề xuất hướng giải quyết phù hợp
Trang 12Chương 1 Lý luận chung về sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng
thương mại 1.1 Khái niệm, nguồn gốc và đặc điểm của sở hữu chéo
1.1.1 Khái niệm sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Hiện nay, chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về khái niệm sở hữu chéo cũng như bản chất và đặc điểm của nó Tuy nhiên, dựa trên việc phân tích từng khái niệm nhỏ trong cụm từ “sở hữu chéo”, chúng ta có thể khái quát và đưa ra khái niệm cơ bản nhất về “sở hữu chéo” Cụ thể, nếu xét về mặt từ ngữ, “sở hữu chéo” là một từ ghép bao gồm hai từ: từ “sở hữu” và từ “chéo” Nhưng, sở hữu là gì ? chéo
là gì ? như thế nào là sở hữu chéo ? Những câu hỏi này chỉ có thể trả lời bằng cách phân tích từng vấn đề một trên cơ sở lý luận về hình thức sở hữu của các chủ thể hiện nay
Trước hết, về khái niệm sở hữu: sở hữu là một phạm trù kinh tế cơ bản và xuất phát từ kinh tế chính trị học Sở hữu được định nghĩa là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải vật chất được tạo ra nhờ tư liệu sản xuất ấy1 Như vậy, sở hữu là quan hệ kinh tế giữa người với người trong sự chiếm hữu của cải Ở đây, quan hệ sở hữu không phản ánh mối quan hệ giữa người với vật mà nó phản ánh quan hệ giữa người với người trong mối quan hệ với vật Xét về mặt pháp lý, quyền sở hữu được luật pháp hoá thành các quyền, bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình
Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản của mình Chủ sở hữu có quyền quyết định cách thức sử dụng tài sản, từ việc có sử dụng tài sản hay không, sử dụng theo phương thức nào, khai thác công dụng trực tiếp hoặc gián tiếp…Tất nhiên, không chỉ có chủ sở hữu mới có quyền sử dụng tài sản, các chủ thể khác khi được chủ sở hữu cho phép thì cũng có quyền khai thác công dụng, cũng như lợi ích mà tài sản mang lại
Và cuối cùng quyền quan trọng nhất đối với một chủ sở hữu đó là quyền định đoạt, quyền định đoạt được hiểu là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sử hữu
1 Từ điển kinh tế, NXB Sự Thật, năm 1979, tr 381
Trang 13của mình cho người khác, thông qua các hành vi pháp lý như bán, cho, tặng… hoặc
từ bỏ quyền sở hữu của mình Thông qua quyền định đoạt, vật có thể chuyển dịch từ quyền sở hữu người này sang thuộc quyền sở hữu của người khác Quyền định đoạt được xác định là quyền quan trọng nhất bởi lẽ quyền chiếm hữu và quyền sử dụng
có thể được thực hiện thông qua chủ thể khác, ví dụ như người thuê có thể chiếm hữu tài sản thuê hoặc sử dụng nó Riêng đối với quyền định đoạt thì đây là quyền chỉ được thực hiện thông qua chủ sở hữu hoặc những người được chủ sở hữu ủy quyền Do vậy, để xác định chủ thể có quyền sở hữu đối với một vật nào đó, thì phải xác định xem người đó có quyền định đoạt đối với vật đó hay không
Xét về mặt kinh tế, sở hữu gắn liền với lợi ích và thu nhập của chủ sở hữu đối với của cải, mang lại thu nhập cho chủ sở hữu Mỗi hình thức sở hữu mang lại hình thức thu nhập khác nhau cho chủ sở hữu
Vấn đề thứ hai là khái niệm “chéo” trong cụm từ “sở hữu chéo”, từ “chéo” nếu xét theo nghĩa đơn thuần trong Từ điển Tiếng Việt có nghĩa như sau: “chéo” được sử dụng để diễn tả việc “thành hình một đường xiên”, hoặc “thành hình những đường xiên cắt nhau”, hoặc diễn tả hình ảnh của “hàng dệt trên mặt có những đường xiên từ biên bên này sang biên bên kia”.2 Như vậy, từ “chéo” dùng để chỉ một tình trạng đan xen lẫn nhau mà tình trạng này tạo ra hình ảnh về một mạng lưới trong đó
có nhiều đường xiên cắt nhau Theo cách giải thích này có thể thấy rằng, để tạo ra một đường đi chéo, phải có ít nhất hai điểm Nếu coi mỗi điểm là một chủ thể, thì
để tạo nên tình trạng chéo nhau, đan xen nhau, phải có ít nhất hai chủ thể
Sở hữu chéo được xác định là việc từ hai chủ thể trở lên sở hữu cổ phần lẫn nhau, sở hữu chéo có thể phân thành 3 loại: (i) trực tiếp (khi công ty A có cổ phần tại công ty B); (ii) sở hữu gián tiếp (khi công ty A có cổ phần tại công ty B và công
ty B có cổ phần tại công ty C, thì A sở hữu gián tiếp C); (iii) sở hữu vòng (khi công
ty A sở hữu cổ phần tại công ty B, công ty B lại có cổ phần tại công ty C, công ty C lại có cổ phần tại công ty A)3
2 Hoàng phê chủ biên (2006), sđd 1, tr.148
3 Sách Kinh tế Việt Nam 2013, triển vọng 2014 nổ lực thực hiện 3 đột phá chiến lược, NXB Tri Thức, 2013, tr 227
Trang 14Theo quan điểm của tác giả, sở hữu chéo là việc từ hai chủ thể trở lên sở hữu
cổ phần của nhau Việc sở hữu cổ phần có thể đơn giản là sở hữu trực tiếp (A sở hữu cổ phần của B và ngược lại B sở hữu cổ phần của A) hoặc dưới các hình thức phức tạp hơn như sở hữu gián tiếp (A sở hữu cổ phần của B và B sở hữu cổ phần của C như vậy A cũng sở hữu C thông qua B), hoặc sở hữu vòng tròn (A sở hữu B,
B sở hữu C và C lại sở hữu A, trên thực tế vòng tròn này có thể rộng hơn khi mà có nhiều chủ thể cùng tham gia), hoặc sở hữu chéo dưới hình thức một chủ thể đóng vai trò trung tâm cùng lúc sở hữu nhiều chủ thể khác Sở hữu chéo càng phức tạp thì hậu quả và tác động của nó càng gây ra nhiều tác động cho nền kinh tế, và việc kiểm soát các tác động này càng khó khăn
Sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng có thể hiểu là việc các ngân hàng sở hữu cổ phần lẫn nhau hoặc một bên chủ thể tham gia là doanh nghiệp và bên còn lại
là NHTM Sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng có thể được thực hiện thông qua việc sở hữu cổ phần trực tiếp của nhau hoặc thông qua các hình thức sở hữu gián tiếp
1.1.2 Nguồn gốc của sở hữu chéo
Sở hữu chéo là hiện tượng phổ biến tại các nước phát triển như Đức, Thụy Điển, Ý và Mỹ Tại Ý, vào năm 1993 các NHTM Nhà nước thực hiện bán cổ phần
và đến năm 2001 Nhà nước chỉ nắm giữ khoảng 0,1% cổ phần trong khu vực ngân hàng Quá trình bán cổ phần tại các NHTM Nhà nước chỉ thực hiện thông qua các cuộc đàm phán kín kết hợp với hoạt động sáp nhập, hợp nhất đã dẫn tới tình trạng một số ít các cổ đông đã sở hữu gần như tất cả các tập đoàn ngân hàng lớn, tạo ra mạng lưới sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng của nước Ý hiện nay.4
Mối quan hệ sở hữu giữa ngân hàng và doanh nghiệp cũng đã từng được xem như mối quan hệ chủ yếu trong hệ thống nền kinh tế tại Đức Cụ thể, khối ngân
4 http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm255/vict255?dDocName=CNTH WEBAP0116211757162&_afrLoop=2336876641566700&_afrWindowMode=0&_afrWindowId= 3mdeh82yd_1#%40%3F_afrWindowId%3D3mdeh82yd_1%26_afrLoop%3D2336876641566700
state%3D3mdeh82yd_129
Trang 15%26dDocName%3DCNTHWEBAP0116211757162%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-hàng, công ty bảo hiểm và các quỹ đầu tư đã từng sở hữu tới 37% giá trị cổ phiếu của các công ty đại chúng niêm yết vào năm 1998 5
Không chỉ tại các nước phương Tây mà sở hữu chéo còn xuất hiện tại các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc Tại mỗi nước, sở hữu chéo có những biến thể và đặc điểm khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia
Tại Nhật Bản, các định chế tài chính (không bao gồm các quĩ đầu tư tín thác), nắm giữ tới gần 44% giá trị cổ phiếu của các công ty đại chúng niêm yết vào năm
1989 và con số này đã giảm xuống còn khoảng 40% vào năm 1998 Các tập đoàn lớn như Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo, Fuji, Sanwa, Dai-Ichi Kangyo, DKB… đều
sở hữu những ngân hàng lớn (Scher, 2001)6 Tại Hàn Quốc, sở hữu chéo được coi
là đặc trưng nổi bật của các tập đoàn kinh doanh quy mô lớn (Chaebol) Mối quan
hệ sở hữu chéo không chỉ giữa các công ty thành viên trong nội bộ Chaebol mà còn giữa các Chaebol với nhau
Nguồn gốc sâu xa của sở hữu chéo là do nguồn lợi khổng lồ mà các chủ thể sở hữu chéo ngắm tới, các chủ thể sở hữu chéo lần nhau, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng sẽ có những lợi thế to lớn mà các chủ thể khác không thể có được Lợi dụng việc sở hữu lẫn nhau, các chủ thể đã tạo ra cho mình một lợi thế cạnh tranh lớn, và những lợi ích nhất định
Tại Việt Nam, sở hữu chéo trong hệ thống NHTM xuất phát từ những năm đầu thành lập các NHTM, do sự yếu kém trong quá trình quản lý cũng như đội ngũ nhân
sự điều hành còn hạn chế nên Nhà nước ta đã đưa ra chủ trương để các ngân hàng Nhà nước và các tập đoàn, công ty Nhà nước lớn nắm giữ cổ phần trong các NHTM Chính nguyên nhân này dẫn đến hậu quả hiện nay các tập đoàn và ngân hàng Nhà nước là một trong những chủ thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào mạng lưới sở hữu chéo NHTM Trong những năm 2005 - 2009, nền kinh tế Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh, đây là giai đoạn chính sách tín dụng đang nới lỏng,
5 Đinh Tuấn Minh, Vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tại Việt nam, sách Kinh tế Việt Nam 2013, triển vọng 2014 Nổ lực thực hiện ba đột phá chiến lược, NXB Tri Thức, tr 227.
6 Đinh Tuấn Minh, Vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tại Việt nam, sách Kinh tế Việt Nam 2013, triển vọng 2014 Nổ lực thực hiện ba đột phá chiến lược, NXB Tri Thức, tr 227
Trang 16các doanh nghiệp đầu tư ồ ạt vào các lĩnh vực như bất động sản và chứng khoán, nhu cầu tiếp cận vốn ngân hàng rất lớn Do vậy, để biến các ngân hàng thành nơi cung cấp nguồn tín dụng trong quá trình đầu tư, các doanh nghiệp đã thực hiện mua
cổ phần, nắm giữ quyền chi phối trong các NHTM Cũng trong giai đoạn này, chính
áp lực tăng vốn điều lệ theo các quy định của pháp luật đã dẫn các ngân hàng phải thực hiện huy động vốn bằng mọi giá Việc huy động vốn từ các DNNN và tư nhân
đã dẫn đến hệ quả là mạng lưới sở hữu chéo chằng chịt mà chủ thể nắm giữ cổ phần của các NHTM là các doanh nghiệp (bao gồm cả DNNN và doanh nghiệp tư nhân)
và các NHTM đã tự biến mình thành sân sau cho các doanh nghiệp
1.1.3 Đặc điểm sở hữu chéo
Qua việc phân tích, tìm hiểu nguồn gốc và khái niệm của sở hữu chéo, có thể thấy đặc điểm của sở hữu chéo chính là việc sở hữu lẫn nhau giữa các chủ thể Trong mối quan hệ này, không có sự phân biệt rõ giữa chủ thể sở hữu và chủ thể bị
sở hữu vì sự tồn tại các mối quan hệ sở hữu đan xen lẫn nhau giữa các chủ thể, mối quan hệ này vừa là trực tiếp, vừa là gián tiếp và trong nhiều trường hợp rất khó xác định Hay nói cách khác, nếu xem xét ở một góc độ nhất định thì chủ thể sở hữu và chủ thể bị sở hữu có thể là các chủ thể này nhưng nếu xem xét ở góc độ khác thì chủ thể sở hữu và chủ thể bị sở hữu lại là các chủ thể khác hoặc thậm chí có sự đổi vai cho nhau, chủ thể sở hữu lại trở thành chủ thể bị sở hữu và ngược lại
Nhìn chung, sở hữu chéo có các đặc điểm như sau:
- Thứ nhất, sở hữu chéo chỉ tồn tại khi có từ 2 chủ thể trở lên tham gia vào mối quan hệ sở hữu;
- Thứ hai, có sự sở hữu qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
- Thứ ba, mối quan hệ sở hữu là không rõ ràng và rất khó xác định thực sự chủ thể sở hữu và chủ thể bị sở hữu;
- Thứ tư, sở hữu chéo chỉ diễn ra giữa những chủ thể có mối quan hệ với nhau;
- Thứ năm, sở hữu chéo không tồn tại một cách công khai;
- Thứ sáu, sở hữu chéo tạo ra khả năng kiểm soát hoặc lũng đoạn cho một chủ thể cùng lúc ở nhiều tổ chức khác nhau
Trang 171.2 Tác động của sở hữu chéo đến hệ thống NHTM
1.2.1 Tác động tích cực
1.2.1.1 Giảm chi phí đại diện
Không phải trong bất cứ trường hợp nào chủ thể cũng có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch mà trong nhiều trường hợp nhất định phải thông qua hành vi của người khác là người đại diện Đại diện cũng là một chế định truyền thống của Luật
dân sự 2005 Tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 quy định “đại
diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”
Trong quan hệ này, mục tiêu của các chủ sở hữu là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, nghĩa là tối đa hóa giá trị thị trường của vốn cổ phần doanh nghiệp Còn các nhà quản lý lại hướng đến các mục tiêu trong ngắn hạn: tăng doanh số, tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận nhằm tăng mức lương, thưởng hay uy tín của mình đối với doanh nghiệp Do vậy, lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động
vì lợi ích tốt nhất cho người chủ sở hữu, tức các cổ đông Sự tách biệt việc sở hữu
và điều hành doanh nghiệp còn tạo ra hiện tượng thông tin không cân xứng, nhà quản lý có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi Còn các chủ sở hữu cần phải thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công
ty nhằm đảm bảo lợi ích của mình Để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, bằng cách (i) thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và (ii) thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Sở hữu chéo giữa các ngân hàng sẽ tạo ra cơ chế giám sát hữu hiệu trong quá trình hoạt động Rút ngắn khoảng cách giữa chủ sở hữu và những người quản lý ngân hàng, giảm bớt sự bất cân xứng thông tin và những quyết định không có lợi cho các cổ đông
Trang 181.2.1.2 Giảm chi phí giao dịch
Chi phí giao dịch được xác định bao gồm chi phí của việc thực hiện một giao dịch, gồm cả chi phí thông tin và tìm kiếm, chi phí mặc cả cũng như chi phí quản lý thực hiện khi tiến hành thực thi một giao dịch7 Các yếu tố cấu thành chi phí giao dịch: chi phí tìm kiếm thông tin; chi phí thương lượng (trong đó có chi phí thích nghi và tái thương lượng, chi phí ủy quyền ); chi phí thực hiện và giám sát
Nếu giữa các ngân hàng hoặc giữa doanh nghiệp và ngân hàng có mối quan hệ
sở hữu lẫn nhau thì việc tìm kiếm thông tin, xác định mức cấp tín dụng cũng như thẩm định tài sản sẽ được thực hiện một cách dễ dàng hơn Giữa các ngân hàng có thể hiểu rõ cũng như học hỏi nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng Nếu một khách hàng tiềm năng muốn được cấp một khoản tín dụng lớn thì với tiềm lực của một ngân hàng đơn lẻ sẽ khó có thể cấp tín dụng cho toàn bộ nhu cầu của doanh nghiệp vì có thể vướng vào giới hạn cấp tín dụng theo quy định của pháp luật hoặc khó khăn trong việc thu xếp nguồn vốn, khi đó, nhu cầu cấp tín dụng hợp vốn8 sẽ xuất hiện, nếu như các ngân hàng có mối quan hệ sở hữu lẫn nhau thì việc hợp vốn sẽ thực hiện một cách trơn tru, có thể tạo lợi nhuận cho các ngân hàng tham gia
Đối với chi phí thương lượng, giữa hai ngân hàng hoặc giữa một doanh nghiệp
và một ngân hàng có mối quan hệ sở hữu lẫn nhau, thì các hợp đồng, các giao dịch được thiết lập một cách nhanh chóng mà không phải trải qua quá trình thương lượng lâu dài, tốn kém về cả nhân lực và vật lực Như vậy, mức chi phí chi trả cho quá trình thương lượng sẽ giảm đáng kể so với các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng không có mỗi quan hệ lẫn nhau
Chi phí giám sát: các ngân hàng ngoài việc thẩm định khách hàng trước khi cấp tín dụng, xác định giá trị tài sản bảo đảm, khả năng chi trả của khách hàng thì việc quản lý dòng vốn cấp tín dụng cũng là một khâu quan trọng trong quá trình cấp tín dụng Một trong những nguyên nhân đẩy tình trạng nợ xấu tăng cao đó là do việc
7 P K Rao, Development Finance, 2003 Nhà xuất bản Springer Bản dịch tíếng Việt do Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright thuộc Đại học kinh tế TPHCM biên soạn và thực hiện
8Cấp tín dụng hợp vốn: Là việc có từ hai (02) TCTD trở lên cùng thực hiện cấp tín dụng đối
với khách hàng, thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Trang 19quản lý nguồn vốn sau khi giải ngân lỏng lẻo, quá trình giám sát của ngân hàng không chặt chẽ dẫn đến tình trạng sử dụng vốn sai mục đích, làm thất thoát nguồn vốn Một khi ngân hàng sở hữu các doanh nghiệp thì bằng nhiều cơ chế khác nhau thông qua cơ quan quản lý doanh nghiệp, ngân hàng sẽ có quyền kiểm soát đối với tình hình tài chính và hoạt động của doanh nghiệp, ngân hàng sẽ nắm được dòng vốn mà doanh nghiệp sử dụng cũng như giám sát được tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng
1.2.1.3 Giảm chi phí trong hoạt động sử dụng vốn
Mạng lưới sở hữu chéo giữa các ngân hàng và giữa ngân hàng và các doanh nghiệp đã góp phần hỗ trợ cho các hoạt động tín dụng được thực hiện một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn
Đối với doanh nghiệp thì không khó để nhận ra lợi ích được phát sinh khi có mối quan hệ sở hữu đối với ngân hàng Để hoạt động kinh doanh diễn ra thuận lợi thì nguồn vốn để thực hiện các dự án đóng vai trò then chốt Không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực có để thực hiện hoạt động kinh doanh, thông thường các doanh nghiệp thường tìm đến các ngân hàng để được hỗ trợ về vốn Tuy nhiên, trong những năm nền kinh tế đang “nóng” với thị trường bất động sản hoặc thị trường chứng khoáng thì việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng là khá khó khăn đối với các doanh nghiệp Vì vậy, nếu có mối quan hệ sở hữu giữa doanh nghiệp và ngân hàng thì việc huy động vốn dễ dàng hơn, các doanh nghiệp cũng sẽ không tốn quá nhiều thời gian và nguồn lực trong việc tiếp cận và huy động nguồn vốn
Về phía ngân hàng, dòng tiền gửi từ các doanh nghiệp sẽ giúp các ngân hàng tránh được các áp lực về huy động vốn, thanh khoản trong hệ thống Ngoài ra, khi
có các quan hệ với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với DNNN, các ngân hàng có thể tiếp cận với các hợp đồng dịch vụ từ các doanh nghiệp này, cụ thể như hợp đồng hợp tác thu tiền điện đối với các Tổng công ty điện lực, hoặc các hợp đồng dịch vụ bán vé máy bay, hợp đồng thu hộ… làm gia tăng thêm nguồn thu (phí dịch vụ) và dòng tiền từ hoạt động dịch vụ cho chính ngân hàng
Giữa các ngân hàng với nhau, nhờ sở hữu chéo mà các ngân hàng có thể hỗ trợ nhau trong quá trình hoạt động thông qua các hình thức như hợp vốn cho vay, ủy thác cho vay…
Trang 20Sở hữu chéo giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ các ngân
hàng: một lợi ích nữa phải kể tới đó là việc sở hữu chéo giữa các ngân hàng và tập
đoàn, tổng công ty sẽ tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp, CTC của những tập đoàn sở hữu các ngân hàng này có thể dễ dàng vay được vốn từ ngân hàng kia khi
mà cả hai ngân hàng cùng thuộc sở hữu của một chủ thể
Nhờ sở hữu chéo mà đối với các chủ thể tham gia sở hữu chéo có thể giảm được các chi phí trong quá trình giao dịch
1.2.2 Tác động tiêu cực
Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình, qua kết quả mà Ngân hàng Nhà nước thanh tra 27 TCTD trong năm 2012, nhiều TCTD bị chi phối bởi một nhóm cổ đông, thông qua sự chi phối ở các khoản vay Ở một số ngân hàng, thậm chí 90% tổng dư nợ thuộc về các khoản vay kiểu này Sở hữu chéo, cùng với và thông qua hoạt động đầu tư và bảo lãnh chéo, còn gây biến dạng hoạt động kinh doanh lành mạnh, nhất là về cơ cấu vốn, thậm chí tạo nên dòng "vốn ảo", khi buộc các đơn vị hoạt động kinh doanh có hiệu quả phải trợ cấp cho các công ty hoạt động không hiệu quả trong nội bộ tập đoàn, hệ thống.9 Tác động tiêu
cực do sở hữu chéo mang cho nền kinh tế cụ thể như sau:
1.2.2.1.Vô hiệu hóa các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM
Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động kinh doanh nhạy cảm và
có sức ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế Một khi hệ thống ngân hàng hoạt động kém hiệu quả hoặc bị khủng hoảng có thể kéo theo cả hệ thống kinh tế bị ảnh hưởng Hệ thống ngân hàng được coi là “huyết mạch” của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng nhất trong hệ thống trung gian tài chính Bởi vậy, hoạt động ngân hàng cần phải luôn thông suốt, hiệu quả và an toàn để duy trì sự vận hành trôi chảy các hoạt động trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Chính vì vậy, pháp luật đã quy định rất khắt khe đối với các hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng đặc biệt trong hoạt động cấp tín dụng Cụ thể, Luật Các TCTD 2010 và Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động
9 http://www.doimoi.org/detailsnews/1632/339/so-huu-cheo nhung-he-luy-va-giai-phap-can-co.html
Trang 21của TCTD đã quy định nhiều nội dung liên quan đến hạn chế cấp tín dụng, cấm cấp tín dụng, các tỷ lệ liên quan đến việc góp vốn mua cổ phần
- Đối với quy định về giới hạn cấp tín dụng, Điều 126 Luật các TCTD 2010 quy định: TCTD không được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân có liên quan của mình Phạm vi các đối tượng có liên quan bị cấm cấp tín dụng theo Điều 126 rất rộng, gần như bao gồm tất cả các đối tượng có khả năng tác động hoặc chi phối hoạt động điều hành của TCTD (người quản lý, người điều hành, những người thân của
họ, pháp nhân có đại diện phần vốn góp là thành viên HĐQT …) Tuy nhiên, về ngăn chặn sở hữu gián tiếp vẫn còn khá hạn chế Chẳng hạn, nếu ngân hàng A nắm
cổ phần tại một ngân hàng B, thì quy định về cấm cấp tín dụng trên sẽ bị vô hiệu nếu như ngân hàng A thông qua khả năng chi phối của mình bắt buộc ngân hàng B phải cấp tín dụng cho các cá nhân, tổ chức có liên quan của ngân hàng A
- Đối với quy định về hạn chế cấp tín dụng, Điều 127 Luật các TCTD 2010 quy định: TCTD không được phép cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng ưu đãi cho một cá nhân, tổ chức có liên quan Tuy nhiên, sở hữu chéo đã tạo ra lỗ hổng
để các TCTD vẫn có thể cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi hoặc cấp tín dụng không
có tài sản bảo đảm cho những đối tượng mà pháp luật không cho phép Bằng các hình thức như cấp tín dụng cho các CTC của CTC hoặc thông qua một ngân hàng thứ hai (ngân hàng mà TCTD đang nắm cổ phần)
- Đối với quy định về giới hạn cấp tín dụng, Điều 128 Luật các TCTD 2010 quy định: TCTD cấp tín dụng cho một khách hàng không được vượt quá 15% vốn
tự có của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô; tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và NCLQ không được vượt quá 25% vốn tự có của NHTM Tuy nhiên, trên thực tế bằng nhiều cách khác nhau, các ông chủ thật sự vẫn chỉ đạo cho NHTM cấp tín dụng cho các doanh nghiệp sân sau vượt các tỷ lệ này Cá biệt có trường hợp cấp tín dụng hàng ngàn tỷ đồng mà không cần tài sản đảm bảo hoặc các tài sản đảm bảo không có thật, tài sản ‘ảo” Hoặc đơn giản là việc ngân hàng A không cấp tín dụng được cho công
ty liên quan của mình vì đã vượt quá giới hạn, ngân hàng A thông qua khả năng chi phối tại ngân hàng B sẽ yêu cầu ngân hàng B cấp tín dụng cho công ty đó
Trang 221.2.2.2 Gia tăng nợ xấu trong hoạt động ngân hàng
Theo tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) thì một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn
90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không hoàn trả đầy đủ (người vay phá sản) Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được khoản vay thay thế10
Theo quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN được sửa đổi tại Thông tư 09/2014/TT-NHNN, theo đó, có 5 nhóm nợ theo phương thức định lượng căn cứ vào thời gian trả nợ của từng món nợ Trong đó, nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn
Theo Đề án tái cấu trúc DNNN năm 2012 của Bộ Tài chính chỉ ra dư nợ của 80/96 tập đoàn, tổng công ty nhà nước đến cuối năm 2010 là 827.860 tỷ đồng bằng 1.6 vốn của chủ sở hữu Tính đến tháng 9/2011 dư nợ vay của các DNNN tại các NHTM đạt 415.000 tỷ đồng, tương đương gần 17 % tổng dư nợ tín dụng tại các ngân hàng, điển hình như Tập đoàn dầu khí (PVN là 72.300 tỷ đồng), Điện lực (EVN là 62.800 tỷ đồng), Than và Khoáng sản (Vinacomin là 19.600 tỷ đồng) Nợ xấu của các tổng công ty, tập đoàn trong hệ thống các NHTM chiếm 30% đến 35 % tổng dư nợ của khối này11 Nhóm đối tượng là các tổng công ty, nhà nước chiếm tỷ
lệ nợ xấu cao hơn so với nhóm khách hàng khác
Tỷ nợ xấu tại các nhóm khách hàng này tăng cao là điều dễ hiểu bởi lẽ đối với các DNNN việc vay vốn tại các TCTD dễ dàng hơn, đặc biệt các doanh nghiệp có
cổ phần tại các NHTM như Tập đoàn Điện lực chiếm 20 % cổ phần tại Ngân hàng TMCP An Bình, Tập đoàn dầu khí chiếm 20 % tại Ngân hàng TMCP Đại Dương, 3,2 % ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu… Đối với các tổ chức, cá nhân sở hữu
cổ phần của NHTM về nguyên tắc NHTM không được phép cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng ưu đãi, tuy nhiên thông qua sở hữu chéo giữa các ngân hàng
10 IMF’s Compilation Guide on Financil Soundness Indicators, 2004
11 Giải quyết nợ xấu- vấn đề mấu chốt trong tác cơ cấu hệ thống ngân hàng – Trung tâm thông tin tư liệu số 1/2013
Trang 23mà việc cấp tín dụng vẫn có thể thực hiện được Cách thức cấp tín dụng như đã trình bày tại mục 3.2.1 có thể thông qua một ngân hàng khác hoặc cấp tín dụng gián tiếp qua các CTC của các DNNN trên
Hơn nữa, khi cấp tín dụng đối với các đối tượng này việc thẩm định các phương thức sử dụng vốn, thẩm định tài sản bảo đảm thường được thực hiện một cách sơ sài, không theo đúng quy trình quy định của các TCTD Nguy hiểm hơn, khi các khoản nợ quá hạn hoặc các doanh nghiệp có nguy cơ không trả được nợ các ngân hàng thường cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hoặc đảo nợ Do đó các khoản nợ xấu này thường không được trích lập dự phòng theo đúng quy định của nhà nước, ảnh hưởng rất lớn đến an toàn trong hoạt động tín dụng Như vậy, sở hữu chéo đã biến các NHTM trở thành kênh cung cấp vốn thiếu an toàn, cho vay theo quan hệ, thu xếp vốn cho những dự án đầu tư thiếu minh bạch và có rủi ro cao như chứng khoán, bất động sản…
Các chủ sở hữu có thể tác động gây áp lực để thực hiện cấp tín dụng cho các hoạt động kinh doanh theo mục đích riêng của mình; hoạt động này được thực hiện với sự qua loa trong khâu thẩm định, và lỏng lẻo trong thanh tra giám sát, giải ngân
và thực hiện khoản vay Việc nguồn lực phân bổ không được đánh giá, giám sát đầy
đủ sẽ dễ gây ra nợ xấu Khi đã xuất hiện nợ xấu, việc xử lý sẽ khó khăn hơn nhiều,
do mối quan hệ lằng nhằng của sở hữu chéo Khi đó ngân hàng A che giấu nợ xấu của mình bằng cách không khai báo nợ xấu mà nhờ ngân hàng B (A có sở hữu) cho vay, qua đó giảm được mức nợ xấu phải khai báo và không phải trích dự phòng rủi
ro tương ứng Đó cũng là một trong những lý do khiến Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng
Dưới áp lực của một vài cổ đông lớn thường tạo ra sự thiếu công bằng và lành mạnh trong hoạt động kinh doanh vì lợi ích nhóm và thông tin nội bộ bị rò rỉ có chủ đích Sở hữu chéo còn khiến dòng vốn huy động đi lòng vòng giữa các ngân hàng
và doanh nghiệp liên quan, mà không tới nơi cần thiết phục vụ mục tiêu của Chính phủ và yêu cầu phát triển bền vững
1.2.2.3 Gia tăng nguồn vốn ảo đầu tư vào hệ thống ngân hàng
Ngày 22/11/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 141/2006/NĐ-CP, theo
đó các NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100 % vốn nước ngoài
Trang 24phải đạt được mức vốn pháp định 1000 tỷ đồng vào năm 2008 và 3000 tỷ đồng vào năm 2010, NHTM nhà nước phải đạt được 3000 tỷ đồng từ năm 2008 Nếu các TCTD có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp thấp hơn mức vốn pháp định tương ứng đối với từng loại hình TCTD quy định cho từng thời kỳ theo yêu cầu thì có thể
bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động Đứng trước áp lực về mức vốn pháp định do pháp luật đặt ra, các ngân hàng buộc phải thực hiện việc huy động vốn nhằm tăng vốn pháp định theo quy định Việc tăng vốn pháp định bằng cách huy động, tuy nhiên trong những năm 2008 – 2009, nền kinh tế Việt Nam nói chung và
hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp nói riêng đối mặt với những khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ và lan tỏa thành khủng hoảng kinh tế toàn cầu Bên cạnh đó, biến động thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, cũng như tâm lý của các nhà đầu tư về cuộc khủng hoảng nói trên, trong chừng mực nhất định, có tác động đến việc tăng vốn điều lệ của các NHTM Do vậy, việc huy động nguồn vốn từ các cá nhân, tổ chức trong nước hết sức khó khăn, đối với các cổ đông ngoại do giới hạn về tỷ lệ sở hữu, các đối tác chiến lược nước ngoài chỉ chọn lựa những ngân hàng có tiềm lực mạnh, có định hướng phát triển để thực hiện việc đầu
tư Hơn nữa, các đối tác nước ngoài cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn được quy định tại NĐ 69 nên việc huy động vốn từ các cổ đông chiến lược nước ngoài để tăng vốn pháp định khó thực hiện được
Thông qua sở hữu chéo, cổ đông Ngân hàng A có thể vay tiền Ngân hàng B để góp vốn vào Ngân hàng A và ngược lại Hoạt động đi vay này tạo ra tình trạng tăng vốn ảo trong các ngân hàng Nguồn vốn được đầu tư vào ngân hàng không phải thực chất mà chỉ là vốn chảy từ ngân hàng này sang ngân hàng khác và ngược lại Các ngân hàng đều có thể tăng nguồn vốn pháp định của mình tuy nhiên tổng nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng không hề thay đổi
Mục đích của việc yêu cầu các TCTD tăng nguồn vốn pháp định, nhằm tăng năng lực cạnh tranh của các TCTD, khi mà Việt Nam đang tham gia và hội nhập thế giới Đứng trước những đối thủ cạnh tranh mạnh về nguồn lực, giỏi về khả năng quản trị và có bề dày phát triển, nếu các NHTM tại Việt Nam không đủ lực để cạnh tranh, thì hệ thống ngân hàng tại Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rất lớn Bên cạnh đó, tăng nguồn vốn pháp định cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá khả năng hoạt động
Trang 25và chống đỡ rủi ro trong quá trình kinh doanh Một khi ngân hàng kinh doanh thua
lỗ, hoặc mất khả năng thanh toán thì nguồn vốn pháp định sẽ được lấy để trả cho các tổ chức, cá nhân có liên quan Vốn pháp định còn có vai trò tạo nguồn lực cho ngân hàng, vì đây là nguồn vốn tự có dùng để đầu tư và phát triển về cơ sở, cũng như mở rộng mạng lưới hoạt động dinh doanh Là cơ sở để các ngân hàng thực hiện các thực hiện việc cấp tín dụng, như là các giới hạn cho vay, giới hạn bão lãnh theo quy định của pháp luật Do đó, việc tăng nguồn vốn ảo vào hệ thống ngân hàng đã làm vô hiệu hóa các quy định về vốn pháp định mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra
1.2.2.4 Hạn chế các quy định về quản trị điều hành của NHTM
Mặc dù Luật các TCTD 2010 được ban hành đã bổ sung thêm rất nhiều điểm mới nhằm kiểm soát và ngăn ngừa sở hữu chéo, bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông thiểu số Chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều chế định mới như thành viên HĐQT độc lập, các quy định về kiểm soát giao dịch với NCLQ cũng như mở rộng phạm vi NCLQ … Tuy nhiên, các quy định đó vẫn chưa đủ để có thể ngăn ngừa và kiểm soát có hiệu quả đối với tình trạng sở hữu chéo tại các NHTM hiện nay Trên thực
tế, việc sở hữu chéo lại diễn ra và tồn tại khá nhiều dưới hình thức sở hữu gián tiếp,
sở hữu thông qua nhiều tầng nấc trung gian khác nhau nên để xác định được những chủ sở hữu thực sự của NHTM trở thành chuyện không đơn giản Vì lẽ đó, dẫn đến tình trạng bi hài là có nhiều vị Chủ tịch HĐQT lại không hề sở hữu một đồng vốn nào của ngân hàng mà đơn giản chỉ là 1 người đại diện, người làm thuê do các cổ đông lớn đề cử Các hoạt động quản trị điều hành của ngân hàng dễ dàng bị một hoặc nhiều nhóm cổ đông lớn chi phối và lẽ dĩ nhiên ngân hàng cũng chỉ hoạt động với mục đích phục vụ lợi ích cho các nhóm cổ đông này Tương tự, cơ chế thành viên HĐQT độc lập cũng không phát huy được vai trò của mình do tiếng nói quá nhỏ bé và sự lệ thuộc của họ vào các nhóm cổ đông lớn, hay nói thật ra là những ông chủ đã thuê họ về làm Chính vai trò quá lớn của các nhóm cổ đông lớn và kéo theo là một mạng lưới sở hữu chằng chịt tại các doanh nghiệp sân sau của những cổ đông này hoặc ngược lại là những ông chủ sở hữu các cổ đông lớn đã khiến cho cơ chế kiểm soát giao dịch nội bộ, cơ chế giám sát người quản lý không hiệu quả và sự nổi bật cũng như tập trung quá nhiều quyền lực vào trong tay HĐQT của các NHTM cổ phần Trong những năm gần đây, quyền lực của HĐQT tại các ngân hàng
Trang 26TMCP lại tiến thêm một bước trong việc vận dụng cơ chế ủy quyền của bộ luật dân
sự Theo đó, tại các kỳ họp đại hội cổ đông thường niên, hầu hết các ngân hàng TMCP đều đưa vào nội dung trình đại hội cổ đông xem xét ủy quyền cho HĐQT quyết định phần lớn các vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội cổ đông Do vậy, trên thực tế HĐQT gần như quyết định tất cả các vấn đề quan trọng tại ngân hàng mà hoàn toàn không cần trình đại hội cổ đông và vai trò giám sát của đại hội cổ đông ngày càng mờ nhạt Với quyền lực trong tay, HĐQT dễ dàng thông qua các giao dịch với NCLQ của ngân hàng Điều đó dẫn đến tình trạng là các TCTD có quan hệ
sở hữu với nhau dễ dàng thực hiện các giao dịch với nhau mà không có cơ chế nào kiểm soát hoặc ngăn chặn
1.2.2.5.Tạo ra tình trạng hạn chế cạnh tranh
Để xem xét mức độ ảnh hưởng của sở hữu chéo lên quá trình cạnh tranh giữa các ngân hàng, các học giả Ý sử dụng phương pháp Panzar-Rose (1987), một phương pháp dùng để tính toán mức độ cạnh tranh, để so sánh giữa một bên là các ngân hàng nằm trong mạng lưới sở hữu chéo và một bên là các ngân hàng không tham gia sở hữu chéo Giai đoạn mà các học giả lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu
là từ năm 1996 đến 2000, khoảng thời gian mà trong đó sở hữu chéo đã trở thành một hiện tượng đặc biệt "nóng" trong khu vực ngân hàng của nước Ý Phương pháp Panzar-Rose được phát triển bởi Panzar và Rose vào những năm 1980, trong đó sử
dụng chỉ số H nhằm phân khúc các cấu trúc thị trường khác nhau dựa trên sự giảm
doanh thu của từng doanh nghiệp Panzar và Rose cho rằng sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp có thể đo được bằng quy mô và quy mô này thay đổi phụ thuộc vào nhân tố giá (hay biểu thị tương đương là doanh thu của doanh nghiệp) Bằng
công thức tính toán, các chuyên gia phân tích rằng, nếu chỉ số H nhỏ hơn hoặc bằng
0, tức là thị trường ở tình trạng độc quyền hoặc độc quyền cấu kết; H nằm trong khoảng từ 0-1, trong đó H càng lớn thì biểu thị mức độ cạnh tranh càng mạnh và
ngược lại
Áp dụng phương pháp nói trên vào lĩnh vực ngân hàng, kết quả phân tích chỉ
số H của các ngân hàng cho thấy sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Ý là một
nhân tố hạn chế năng lực cạnh tranh trong khu vực ngân hàng trong nước Kết quả
này cũng khẳng định một số nhận định cho rằng bất kỳ sáng kiến nào nhằm hạn chế
Trang 27sự xâm nhập của mạng lưới sở hữu chéo vào các tập đoàn ngân hàng Ý - và thiết lập một mối quan hệ cạnh tranh hơn giữa những người chơi trong lĩnh vực này - đều sẽ tạo nên một sự cải tiến quan trọng trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.12 Qua đó, có thể khẳng định sở hữu chéo đang góp phần ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh giữa các nhóm ngân hàng tồn tại sở hữu chéo và nhóm ngân hàng không có sở hữu chéo
Nếu một ngân hàng nằm trong mạng lưới sở hữu chéo có thể tạo ra tình trạng hạn chế cạnh tranh ở những khía cạnh sau:
- Ngân hàng có quan hệ sở hữu chéo đối với các cá nhân, tổ chức thì hoạt động cấp tín dụng bao gồm từ việc phê duyệt kế hoạch sử dụng vốn, cho vay, lãi suất cũng như các điều kiện khác sẽ ưu đãi hơn đối với các cá nhân, tổ chức không có mối quan hệ với ngân hàng Hoạt động này có thể tạo ra hạn chế cạnh tranh giữa các ngân hàng (trong hoạt động cấp tín dụng) và hạn chế cạnh tranh giữa các cá nhân, tổ chức có mối quan hệ sở hữu chéo với các cá nhân, tổ chức khác (trong hoạt động tiếp cận vốn vay)
- Các ngân hàng có mối quan hệ với các tập đoàn, tổ chức kinh tế việc huy động vốn, quản lý dòng tiền sẽ được thuận lợi hơn so với các ngân hàng khác, tạo ra bất cân xứng trong quá trình kinh doanh
- Các ngân hàng nằm trong mạng lưới sở hữu chéo, có thể tạo ra được những thỏa thuận làm ảnh hưởng đến lợi ích khách hàng hoặc các ngân hàng khác không nằm trong mạng lưới sở hữu chéo
Như vậy, khi các ngân hàng nằm trong mạng lưới sở hữu chéo có thể tạo ra những hạn chế cạnh tranh, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những nhóm lợi ích khác Sở hữu chéo có thể làm giảm mức độ minh bạch và sức cạnh tranh cũng như động lực phát triển trong hoạt động doanh nghiệp, từ đó làm giảm tính minh bạch
và sức cạnh tranh của nền kinh tế
12 http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm255/vict255?dDocName=CNTHWEB AP0116211757162&_afrLoop=2336876641566700&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=3mde h82yd_1#%40%3F_afrWindowId%3D3mdeh82yd_1%26_afrLoop%3D2336876641566700%26d DocName%3DCNTHWEBAP0116211757162%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-
state%3D3mdeh82yd_129.
Trang 281.2.2.6 Khả năng thâu tóm đối với hoạt động ngân hàng
Theo quy định của Luật Các TCTD 2010 và các văn bản hướng dẫn liên quan, một cổ đông là cá nhân không được sở hữu quá 5%, một tổ chức không được sở hữu quá 15%, cổ đông và những người liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một TCTD (trừ những trường hợp đặc biệt theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ), nhà làm luật đã đặt ra các hạn mức trên nhằm hạn
chế việc thâu tóm ngân hàng trái pháp luật
Tuy nhiên, trên thực tế các cổ đông sở hữu số vốn nhỏ hơn 5% vốn điều lệ có thể ủy quyền cho những cá nhân tổ chức không có họ hàng với mình để đầu tư vào một ngân hàng, đơn cử trường hợp của ông Đặng Thành Tâm với Navibank và ngân hàng TMCP Phương Tây là một ví dụ (ông Đặng Thành Tâm chỉ sở hữu 2,97% tại Navibank và không có cổ phần tại Western Bank, nhưng ông lại sở hữu gián tiếp cả hai ngân hàng này Ông Đặng Thành Tâm nắm 23,69% cổ phần Công ty Cổ phần Viễn thông Sài Gòn (SGT), nắm 34,94% cổ phần của Tổng công ty Phát triển nhà Kinh Bắc (KBC) Mối quan hệ sở hữu gián tiếp là: SGT trực tiếp sở hữu 9,41% cổ phần Western Bank; còn KBC đầu tư 483 tỷ đồng tại Công ty Cổ phần năng lượng Sài Gòn - Bình Định, vốn chiếm 9,85% vốn sở hữu tại Western Bank và 11,93% tại Navibank13) Như vậy khi sở hữu chéo diễn ra thì quy định này dường như bị vô hiệu hóa
Sở hữu chéo khiến cho một số người sở hữu đồng thời nhiều ngân hàng và doanh nghiệp khác nhau, từ đó chi phối hoạt động kinh doanh ngân hàng Điều này được thể hiện rất rõ thông qua hoạt động cấp tín dụng của các NHTM, mặc dù có quy định các ngân hàng không được phép cho cổ đông của mình vay vốn, nhưng trên thực tế họ lại có thể cho vay đối với các công ty, doanh nghiệp con của những
cổ đông này Một khi giám sát không chặt chẽ, các chủ sở hữu có thể chi phối để dòng tiền chuyển sang cho vay các dự án sân sau của mình Cơ chế quản lý giám sát lỏng lẻo còn có thể dẫn tới tình trạng qua loa ở khâu thẩm định, việc này có thể khiến kết quả đánh giá khả năng tài chính, khả năng trả nợ và sự đảm bảo an toàn
13
http://tapchitaichinh.gov.vn/Trao-doi-Binh-luan/Hien-tuong-so-huu-chong-cheo-trong-nganhang/14040.tctc
Trang 29cho khoản vay không chính xác Như vậy sở hữu chéo không những dẫn tới thâu
tóm ngân hàng mà còn gây ra rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động ngân hàng
Do mạng lưới phức tạp trong mối quan hệ sở hữu giữa các ngân hàng, khi xuất hiện rủi ro rất dễ xảy ra hiệu ứng domino không chỉ trong hoạt động ngân hàng Ban đầu rủi ro xảy ra với một hoặc một vài tổ chức riêng lẻ, sau đó sẽ nhanh chóng lan
ra các tổ chức khác bởi những mối liên quan về nguồn vốn kinh doanh Tiếp đó rủi
ro sẽ lan ra hoạt động của các doanh nghiệp bởi quan hệ giữa dòng vốn đầu tư, cho vay, hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng, bởi mâu thuẫn giữa dòng vốn ảo chỉ có trên sổ sách và hoạt động sản xuất kinh doanh thực Đặc biệt khi nó bị lạm dụng để phục vụ lợi ích nhóm hay để che giấu tình trạng ọp ẹp về tài chính của các doanh nghiệp và ngân hàng có liên quan
Kết luận chương 1
Sở hữu chéo trong hệ thống NHTM đã để lại những tác động tiêu cực cho nền kinh
tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng Lý luận về Sở hữu chéo là một trong những vấn đề phức tạp, đòi hỏi quá trình tìm hiểu lâu dài Từ những khái niệm, bản chất, đặc điểm, những tác động của sở hữu chéo được phân tích tại chương 1 sẽ tạo nền tảng cho quá trình tiếp cận các quy định của pháp luật Việt Nam và một số nước khác về nội dung sở hữu chéo
Trang 30Chương 2 Quy định của pháp luật về sở hữu chéo trong hệ thống
Ngân hàng thương mại 2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
2.1.1 Quy định của pháp luật về cấm sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Mặc dù bản thân sở hữu chéo không xấu, nhưng dựa vào các mối quan hệ sở hữu lẫn nhau thì các chủ thể có thể lợi dụng để thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh không minh bạch nhằm thu lợi bất chính cho nhóm lợi ích của mình, nguy hiểm hơn khi xảy các hành vi này trong lĩnh vực ngân hàng, là lĩnh vực nhạy cảm
về tài chính và có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế xã hội Hành vi đầu tư, kinh doanh không minh bạch hoặc lợi dụng khả năng chi phối việc ra quyết định trong TCTD để buộc TCTD phải cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi, cấp tín dụng không có bảo đảm cho chính chủ thể đó hoặc các công ty có liên quan có thể gây thiệt hại cho các cổ đông, gây rủi ro cho người gửi tiền và làm lung lay hệ thống tài chính Việt Nam Vì lẽ đó, pháp luật Việt Nam hiện nay đã có các quy định điều chỉnh việc sở hữu cổ phần qua lại giữa các doanh nghiệp nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng Cụ thể như sau:
Trước thời điểm ban hành luật các TCTD 2010, quy định về sở hữu cổ phần lẫn nhau được điều chỉnh bởi các nghị định của chính phủ, thông tư hoặc quyết định của các cơ quan ngang bộ Trong đó, chủ yếu là điều chỉnh về 2 mối quan hệ sở hữu
cơ bản là quan hệ sở hữu giữa các DNNN và quan hệ sở hữu giữa Ngân hàng TMCP và cổ đông
Đối với DNNN: tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư 24 quy định DNNN phải hạn chế các hình thức đầu tư sau:
- CTC không được đầu tư góp vốn vào Công ty mẹ
- CTC, doanh nghiệp phụ thuộc doanh nghiệp mẹ không được góp vốn mua
cổ phần khi cổ phần hóa đơn vị trong cùng tập đoàn, tổng công ty hoặc tổ hợp mẹ - con
Theo Khoản 1 Điều 17 Nghị định 69/2014/NĐ-CP quy định: “Doanh nghiệp
bị chi phối không được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp giữ quyền chi phối trong cùng một tập đoàn kinh tế, tổng công ty Các doanh nghiệp bị chi phối trong
Trang 31cùng một tập đoàn kinh tế, tổng công ty không được góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.”
Với các quy định trên đây, sẽ không có tình trạng các CTC, doanh nghiệp phụ thuộc được sở hữu cổ phần của các công ty mẹ Cũng đồng nghĩa với việc không xảy ra trường hợp sở hữu chéo trực tiếp giữa các công ty có mối quan hệ mẹ - con Bên cạnh đó, việc sở hữu cổ phần lần nhau giữa các doanh nghiệp bị chi phối trong cùng một tập đoàn, công ty nhà nước với mục đích sở hữu chéo sẽ bị nghiêm cấm Đối với NHTM và cổ đông: quy định về cấm đầu tư, góp vốn mua cổ phần lẫn nhau giữa các CTC, công ty liên kết và giữa CTC, công ty liên kết với TCTD lần đầu tiên được quy định tại Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN Theo đó, Điều 23
Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN quy định:“NHTM cổ phần không được sử
dụng vốn điều lệ và các quỹ để mua cổ phần, góp vốn với các cổ đông của chính NHTM cổ phần đó”
Theo quy định trên, việc cấm sở hữu cổ phần lẫn nhau chỉ được áp dụng đối với các NHTM cổ phần, còn đối với các ngân hàng được tổ chức dưới hình thức khác như TCTD hợp tác hoặc TCTD nhà nước thì không được điều chỉnh Hơn nữa, hành vi cấm chỉ đặt ra nếu NHTM cổ phần sử dụng vốn điều lệ và các quỹ để mua
cổ phần, còn nếu sử dụng các nguồn vốn khác sẽ không bị vi phạm Chính quy định khá lỏng lẻo như trên, các ngân hàng vẫn có thể thông qua kẻ hở của pháp luật để thực hiện sở hữu chéo cổ phần lẫn nhau Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, cơ quan quản lý nhà nước vẫn chưa thực sự quan tâm và kiểm soát tình trạng sở hữu lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, TCTD và cũng không có một quy định cụ thể nào được ban hành nhằm để giám sát đối với tình trạng này
Khắc phục những bất cập trước đó, khi Luật Các TCTD 2010 được ban hành
đã quy định cấm việc sở hữu chéo giữa các TCTD, cụ thể tại Khoản 5 Điều 129 quy
định: “TCTD không được góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp, TCTD là cổ
đông thành viên góp vốn của chính TCTD đó”, quy định này đã chấm dứt tình trạng
sở hữu lẫn nhau giữa các TCTD nói chung và giữa các NHTM Ngoài ra, Luật các TCTD 2010 đã bổ sung quy định các trường hợp CTC, công ty liên kết không được góp vốn mua cổ phần lẫn nhau và của chính TCTD mẹ, cụ thể tại Điều 135 Luật Các TCTD 2010:
Trang 321 CTC, công ty liên kết của cùng một công ty kiểm soát không được góp vốn mua cổ phần của nhau
2 CTC, công ty liên kết của một TCTD không được góp vốn mua cổ phần của chính TCTD đó
3 TCTD đang là CTC, công ty liên kết của công ty kiểm soát không được góp vốn mua cổ phần của công ty kiểm soát đó
Nhìn chung, Luật Các TCTD 2010 đã quy định nhằm hạn chế các tổ hợp doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với nhau sở hữu chéo lẫn nhau Theo đó, các hình thức đầu tư bị cấm đó là các doanh nghiệp thuộc sự kiểm soát của cùng một doanh nghiệp không được đầu tư lẫn nhau và các doanh nghiệp này cũng không được đầu tư vào chính doanh nghiệp kiểm soát nó
Từ Thông tư 242/2009/TT-BTC đến Luật Các TCTD 2010 đều cấm việc CTC góp vốn mua cổ phần của công ty mẹ Vậy một công ty được xác định là CTC của một công ty khác được dựa vào cơ sở, điều kiện nào để xác định? Tại Luật Các TCTD 2010 quy định một công ty được xem là CTC của TCTD khi TCTD hoặc TCTD và NCLQ của TCTD sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn cổ phần có quyền biểu quyết; hoặc TCTD có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm
đa số hoặc tất cả thành viên HĐQT, Hội đồng thành viên hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc) của CTC; hoặc TCTD có quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ của CTC; hoặc TCTD và NCLQ của TCTD trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát việc thông qua nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Hội đồng thành viên của CTC14 Như vậy, một chủ thể được xem là công ty mẹ của một công ty khác thì phải nắm quyền kiểm soát và chi phối đối với CTC đó,có thể công ty mẹ không cần phải nắm giữ hơn 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết đã phát hành của CTCnhưng phải có “bằng chứng” về quyền kiểm soát hay khả năng chi phối đối với CTC trên thực tế
14 Khoản 30 Điều 4 Luật Các TCTD 2010
Trang 33Đối với công ty liên kết của TCTD được định nghĩa là công ty trong đó TCTD hoặc TCTD và NCLQ của TCTD sở hữu trên 11% vốn điều lệ hoặc trên 11% vốn
cổ phần có quyền biểu quyết, nhưng không phải là CTC của TCTD đó15
Theo Chuẩn mực số 7 được ban hành kèm theo Quyết định BTC định nghĩa công ty liên kết là công ty trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng
234/2003/QĐ-kể nhưng không phải là CTC hoặc công ty liên doanh của nhà đầu tư Theo đó, ảnh hưởng đáng kể là quyền tham gia của nhà đầu tư vào việc đưa ra các quyết định về chính sách tài chính và hoạt động của bên nhận đầu tư nhưng không kiểm soát các chính sách đó Khái niệm kiểm soát được xác định là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động của doanh nghiệp đó Như vậy, công ty liên kết bắt buộc phải là sở hữu trên 11 % vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết, mặc dù công ty liên kết không phải kiểm soát tình hình hoạt động của công ty như công ty mẹ đối với CTC, nhưng với cổ phần biểu quyết nhất định thì công ty liên kết cũng có thể tạo ra ảnh hưởng đến hoạt động của công ty mà nó đang nắm cổ phần
Do mối quan hệ giữa CTC, công ty liên kết và công ty kiểm soát của các công
ty này, nên pháp luật đã có những quy định cấm việc sở hữu ngược lại của CTC, công ty liên kết với công ty kiểm soát và giữa các CTC, công ty liên kết với nhau Pháp luật hướng đến việc hạn chế đến mức thấp nhất các mạng lưới sở hữu phức tạp lẫn nhau giữa các công ty có cùng một công ty kiểm soát cũng như việc sở hữu trực tiếp cổ phần lẫn nhau giữa các công ty Bởi lẽ, giữa các công ty mẹ và CTC, công ty liên kết bản thân đã tồn tại những mối quan hệ sở hữu nhất định, giữa các công ty nào đã có sự ảnh hưởng lẫn trong trong quá trình hoạt động, nếu pháp luật còn chấp nhận việc sở hữu ngược lại thì không tránh khỏi việc lợi dụng sở hữu để thực hiện các giao dịch không minh bạch, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác
Bên cạch các quy định về cấm sở hữu chéo tại Luật các TCTD 2010 và các văn bản dưới luật, thì trong quá trình quản lý nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước với
tư cách đơn vị quản lý các TCTD cũng đã đưa ra những chỉ đạo nhằm hạn chế tác
15 Khoản 29 Điều 4 Luật Các TCTD 2010
Trang 34động của sở hữu chéo, cụ thể, theo Chỉ thị 01/CT-NHNN quy định: trong năm 2014 Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện kiểm tra, thanh tra đối với các TCTD theo kế hoạch được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt trong đó tập trung vào các nội dung: thực trạng tài chính, sở hữu; chuyển nhượng cổ phần, vốn góp; quản trị, điều hành; kinh doanh ngoại tệ, vàng; huy động vốn; cấp tín dụng; nợ xấu; phân loại
nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro; đầu tư tài chính; chất lượng tín dụng; giao dịch tài chính giữa công ty mẹ và CTC; chấp hành quy định an toàn hoạt động ngân hàng Tiến hành thanh tra, kiểm tra việc triển khai các giải pháp tái cơ cấu, xử lý nợ xấu của TCTD và sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng
Ngoài ra, theo chỉ đạo của Ủy Ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định 01/2014/QĐ-UBND đề ra nhiệm vụ đối với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh phải theo dõi, kiểm tra, hỗ trợ quá trình thực hiện tái cơ cấu của các tổ chức tài chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đảm bảo hệ thống các TCTD hoạt động an toàn, hiệu quả, thực hiện đúng theo lộ trình tái cơ cấu ngân hàng của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước Kiểm tra, rà soát và có giải pháp từng
bước xử lý hiệu quả tình trạng sở hữu chéo có tác động xấu đến thị trường trong
lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh vàng
Từ những chính sách trên, rõ ràng các cơ quan ban ngành nhà nước từ trung ương đến địa phương đang rất chú trọng đến công tác xử lý các trường hợp sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng, từng bước kiện toàn và làm trong sạch thì trường tài chính, hạn chế các tác động mà sở hữu chéo mang lại
2.1.2 Quy định của pháp luật về hạn chế sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Phân tích các quy định của pháp luật về NCLQ và các quy định về giới hạn cấp tín dụng, là một phần trong viêc phân tích các quy định pháp luật về hạn chế sở hữu chéo
Bởi lẽ, việc xác định NCLQ của chủ thể được xem xét có thể xác định được chủ thể đó có hay không việc sở hữu cổ phần vượt quá quy định luật cho phép hay không, có đang nằm trong mối quan hệ sở hữu chéo với các chủ thể khác hay không Và đối với các chủ thể sở hữu chéo việc xác định NCLQ sẽ có thể kiểm soát
Trang 35được các giao dịch liệu có thu lợi bất chính, có ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông khác hay không
Pháp luật đặt ra các quy định về giới hạn cấp tín dụng, nhằm hạn chế các tác động tiêu cực, hoặc các hành vi lạm dụng của các chủ thể sở hữu chéo để thực hiện các giao dịch cấp tín dụng nhằm trục lợi cho mình và NCLQ của mình, từ đó có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, gia tăng nợ xấu của ngân hàng, ảnh hưởng đến nền kinh tế Do vậy, quy định về giới hạn cấp tín dụng cũng là các quy định nhằm hạn chế sở hữu chéo trong ngân hàng
2.1.2.1 Các quy định về Người có liên quan
Nghiên cứu nội dung về NCLQ được đặt ra khi Luật Các TCTD 2010 căn cứ vào nội hàm NCLQ để xác định một chủ thể có thể được cấp tín dụng hay không, cấp tín dụng với số tiền bao nhiêu, và có thể cấp tín dụng không có tài sản bảo đảm hoặc cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi được hay không? Và việc sở hữu cổ phần của các cá nhân, tổ chức tại các TCTD có có đảm bảo được các tỷ lệ mà pháp luật
đã đặt ra hay không? Việc xác định NCLQ hoặc nhóm chủ thể có liên quan với nhau là một phần để kiểm soát các giao dịch có phù hợp với các quy định của pháp luật đặt hay không hay không?
Khái niệm NCLQ chỉ đặt ra khi xem xét mối quan hệ giữa một chủ thể đối với các chủ thể còn lại Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm về “NCLQ” là gì,
mà chỉ sử dụng phương pháp liệt kê để xác định chủ thể nào được xem là “NCLQ” đối với chủ thể đang được xem xét
Việc xác định về khái niệm “NCLQ” được đưa ra trong tập tài liệu về phương pháp đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của Tổ chức hợp
tác và phát triển kinh tế (OECD) năm 2007, như sau: “Khái niệm NCLQ phải có nội
hàm đủ rộng để có thể bao gồm các loại giao dịch tiềm ẩn khả năng hiện hữu lợi dụng giao dịch Loại giao dịch này không bị vô hiệu và có hiệu lực thi hành” 16
OECD chưa đưa ra khái niệm NCLQ là gì mà chỉ đưa ra những điều kiện cũng như tính chất mà khái niệm NCLQ quan buộc phải có Theo đó, khi xác định được
16 Nhận diện NCLQ và giao dịch giữa công ty và NCLQ, Ths Nguyễn Thị Vân Anh, Tạp chí luật học số 12/2013, tr3
Trang 36NCLQ thì phải xác định được các loại giao dịch nào có khả năng có thể bị lợi dụng, hoặc trục lợi theo lợi ích của một nhóm chủ thể
Luật Các TCTD 2010, xác định NCLQ dựa trên mối quan hệ sở hữu và điều hành và mối quan hệ huyết thống của gia đình để xác định một chủ thể là NCLQ với chủ thể khác NCLQ được xác định là tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, cá nhân khác thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Công ty mẹ với CTC và ngược lại; TCTD với CTC của TCTD và ngược lại; các CTC của cùng một công ty mẹ hoặc của cùng một TCTD với nhau; người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của công ty mẹ hoặc của TCTD, cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền bổ nhiệm những người này với CTC và ngược lại;
b) Công ty hoặc TCTD với người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của công
ty hoặc TCTD đó hoặc với công ty, tổ chức có thẩm quyền bổ nhiệm những người
đó và ngược lại;
c) Công ty hoặc TCTD với tổ chức, cá nhân sở hữu từ 5% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên tại công ty hoặc TCTD đó và ngược lại; d) Cá nhân với vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em của người này;
đ) Công ty hoặc TCTD với cá nhân theo quy định tại Điểm d Khoản này của người quản lý, thành viên Ban kiểm soát, thành viên góp vốn hoặc cổ đông sở hữu
từ 5% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của công ty hoặc TCTD đó và ngược lại;
e) Cá nhân được ủy quyền đại diện cho tổ chức, cá nhân quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này với tổ chức, cá nhân ủy quyền; các cá nhân được ủy quyền đại diện phần vốn góp của cùng một tổ chức với nhau
Mục đích pháp luật đưa ra các chủ thể và các nhóm chủ thể là NCLQ với nhau
để xác định được giới hạn cấp tín dụng và kiểm soát các giao dịch đối với NCLQ Theo quy định của Luật Các TCTD 2010 thì TCTD không được cấp tín dụng đối với các cá nhân là thành viên HĐQT, thành viên ban kiểm soát, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc; pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên HĐQT, thành viên ban kiểm soát của TCTD Ngoài ra các cá nhân liên quan như
bố, mẹ, vợ, chồng, con của các thành viên HĐQT, thành viên ban kiểm soát, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc và các chức danh tương tương cũng không được cấp
Trang 37tín dụng Bên cạnh đó luật cũng quy định về đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng, những đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng không được cấp tín dụng không có tài sản bảo đảm hoặc cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi, và việc cấp tín dụng này phải được HĐQT thông qua và công khai trong TCTD Việc xác định các chủ thể liên quan để
áp dụng các hạn chế cấp tín dụng, cấm cấp tín dụng nhằm để kiểm soát các giao dịch tư lợi đối với TCTD, bởi lẽ những người quản lý như thành viên HĐQT, giám đốc… đều là những cá nhân có quyền điều hành trong hoạt động của TCTD Quyền thường đi liền với lợi ích, những chủ thể nắm quyền kiểm soát, có lợi thế về thông tin thường tạo ra các giao dịch hoặc các hành vi đưa lại những lợi ích cho bản thân hoặc nhóm người mà mình mong muốn Do vậy, những giao dịch có thể phát sinh
tư lợi cho những nhóm NCLQ trong TCTD phải được kiểm soát chặt chẽ
Luật Các TCTD 2010 còn bắt buộc công khai các lợi ích liên quan 17của thành viên HĐQT, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của TCTD phải công khai với TCTD các thông tin sau đây: tên, địa chỉ trụ sở chính, ngành, nghề kinh doanh, số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nơi đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mà mình và NCLQ đứng tên
sở hữu phần vốn góp, cổ phần hoặc ủy quyền, ủy thác cho cá nhân, tổ chức khác đứng tên từ 5% vốn điều lệ trở lên; tên, địa chỉ trụ sở chính, ngành, nghề kinh doanh, số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nơi đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp mà mình và NCLQ đang là thành viên HĐQT, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) Khi có phát sinh thay đổi các thông tin trên thì trong thời hạn 7 ngày cũng bắt buộc phải công khai các thông tin thay đổi đó Ngoài ra các thông tin trên còn phải công khai định kỳ hằng năm cho đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên của TCTD và được niêm yết, lưu giữ tại trụ sở chính của TCTD
Theo Thông tư 21/2010/TT-NHNN hàng quý, các TCTD phải báo cáo NHNN các thông tin sau đây trên toàn hệ thống theo biểu số 6B:
- 10 cổ đông nước ngoài lớn nhất: tên, giá trị vốn cổ phần, tổng số cổ phiếu;
17 Điều 39 Luật Các TCTD 2010
Trang 38- 10 cổ đông cá nhân trong nước lớn nhất: tên, địa chỉ, giá trị vốn cổ phần, tổng số cổ phiếu;
- 10 cổ đông cá nhân và những người liên quan trong một gia đình lớn nhất: tên, giá trị vốn cổ phần, tổng số cổ phiếu;
- 10 cổ đông doanh nghiệp trong nước lớn nhất: tên, địa chỉ, mã số thuế, giá trị vốn cổ phần, tổng số cổ phiếu
Bên cạnh đó, về cơ chế kiểm soát giao dịch đối với NCLQ của TCTD, theo quy định tại Luật DN 2005 và Luật Các TCTD 2010, các giao dịch đối với NCLQ của TCTD (tùy vào giá trị giao dịch) đều phải được HĐQT hoặc đại hội cổ đông thông qua trước khi thực hiện Hình thức thông qua giao dịch là biểu quyết tại cuộc họp, và thành viên HĐQT hoặc cổ đông có lợi ích liên quan sẽ không có quyền biểu quyết Nếu thông qua tại cuộc họp HĐQT, giao dịch phải được đa số thành viên HĐQT biếu quyết đồng ý Nếu thông qua tại cuộc họp đại hội cổ đông, giao dịch phải được ít nhất 65 % tổng số phiếu biểu quyết đồng ý18 Bằng hình thức này, các quy định nêu trên đã loại bỏ vai trò, tầm ảnh hưởng và tác động của những thành viên nắm quyền kiểm soát của TCTD trong việc thông qua các giao dịch theo hướng có lợi cho mình, góp phần ngăn ngừa lợi ích nhóm của tình trạng sở hữu chéo
Mặt khác, nhằm để tăng cường mức độ kiểm soát đối với những NCLQ của TCTD cũng như giám sát những giao dịch của các đối tượng này, ngăn ngừa những giao dịch nội gián, gây hại cho chính TCTD, Bộ tài chính cũng ban hành Thông tư
số 52/2012/TT-BTC Theo đó, Thông tư quy định các công ty đại chúng đều phải định kỳ báo cáo và công bố thông tin công khai về những giao dịch có liên quan đến
cổ đông lớn và NCLQ của công ty đại chúng Cụ thể, nếu căn cứ vào phụ lục III của Thông tư số 52/2012/TT-BTC, công ty đại chúng phải báo cáo chi tiết về danh sách
cổ đông nội bộ19 và NCLQ của mình, tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của họ Không dừng ở
đó, phạm vi yêu cầu báo cáo cũng mở rộng đối với những giao dịch cổ phiếu của NCLQ của các đối tượng này Thông tư cũng quy định bắt buộc báo cáo đối với những tổ chức, cá nhân và NCLQ của các đối tượng này trong trường hợp trở thành
18 Điều 120 Luật doanh nghiệp 2005, điều 59, điều 63 luật các TCTD 2010
19 Tham khảo định nghĩa về cổ đông nội bộ tại khoản 3, điều 2 thông tư số 52/2012/TT-BTC
Trang 39cổ đông lớn (chiếm từ 5 % số cổ phần có quyền biểu quyết) của công ty đại chúng Như vậy, với quy định như trên thì hầu như các giao dịch của những cổ đông có khả năng chi phối TCTD đều rơi vào diện kiểm soát của cơ quan quản lý (bởi đa số các TCTD hiện nay đều là công ty đại chúng và đương nhiên chịu sự điều chỉnh của quy định này) Điều này góp phần làm lành mạnh, minh bạch hóa thị trường và đảm bảo được quyền lợi cho cổ đông thiểu số tại TCTD Trong một chừng mực nào đó, nó giúp cơ quan quản lý nhà nước có thể giám sát và kịp thời phát hiện, ngăn ngừa những giao dịch đầu tư, sở hữu tiềm ẩn rủi ro, tác động tiêu cực đến tình trạng tài chính của công ty đại chúng nói chung và các TCTD nói riêng
2.1.2.2 Các quy định về giới hạn cấp tín dụng
Cấp tín dụng được định nghĩa là việc các TCTD thỏa thuận để tổ chức, cá
nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.20 So với Luật TCTD 1997 thì định nghĩa về cấp tín dụng tại Luật Các TCTD 2010 đã có sự thay đổi, theo đó bao thanh toán cũng được xem là một hoạt động cấp tín dụng
Pháp luật Việt Nam nói chung và Luật Các TCTD 2010 đặt ra các giới hạn về cấp tín dụng với mục đích kiểm soát các hành vi kinh doanh không minh bạch của các chủ thể quản lý và những chủ thể cá ảnh hưởng đến các quyết định của một tổ chức tín dung Theo đó, nếu các hành vi, quyết định trên diễn ra làm ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông, của người gửi tiền và đặc biệt làm ảnh hưởng đến sự minh bạch của thị trường tài chính Việt Nam thì hành vi trên sẽ bị kiểm soát chặt chẽ Khi những quy định liên quan đến việc hạn chế cấp tín dụng, cấm cấp tín dụng được ban hành, thì những chủ thể muốn biến các TCTD thành
“sân sau” là nơi thu xếp vốn cho mình sẽ hạn chế và khó thực hiện hơn, do đó việc
sở hữu chéo giữa các chủ thể với nhau trong hệ thống ngân hàng cũng giảm đáng
kể Luật Các TCTD 2010 đã đặt ra một số quy định cấm, hạn chế cấp tín dụng cho một số chủ thể nhất định, được liệt kê cụ thể tại các quy định luật
20 Khoản 14 Điều 4 Luật các TCTD 2010
Trang 40Các quy định hạn chế cấp tín dụng, cấm cấp tín dụng đã được quy định tại Luật TCTD 1997, tuy nhiên, với những quy định ban đầu còn sơ khai và chưa bao quát hết được những trường hợp cần phải cấm hoặc hạn chế cấp tín dụng nên các tổ chức, cá nhân vẫn có thể lợi dụng các kẻ hở của pháp luật để thực hiện các hành vi
vụ lợi Ví dụ như đối với những trường hợp không được cho vay, theo quy định tại Luật TCTD 1997 bao gồm thành viên HĐQT, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của TCTD; Người thẩm định, xét duyệt cho vay; bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên HĐQT, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) Rõ ràng chỉ những đối tượng trên bị cấm cho vay là chưa đủ, chưa đảm bảo được an toàn vốn trong quá trình hoạt động Bên cạnh đó, Luật TCTD 1997 chỉ đặt ra cấm đối với hoạt động cho vay còn các hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính thì không bị cấm, đều này có thể dẫn đến các TCTD thực hiện cấp tín dụng dưới các hình thức khác cho các chủ thể trên mà không bị vi phạm Đối với giới hạn cấp tín dụng thì Luật TCTD 1997 chỉ quy định giới hạn đối với hoạt động cho vay và bão lãnh, và giới hạn cấp tín dụng chỉ áp dụng đối với từng hình thức riêng lẽ chứ không phải giới hạn của tổng mức cấp tín dụng
Đến Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN đã quy định chi tiết hơn đối với các quy định về giới hạn tín dụng đối với khách hàng, tuy nhiên, giới hạn tín dụng cũng chỉ đặt ra đối với cho vay, bão lãnh và cho thuê tài chính
Khi Luật Các TCTD 2010 ban hành có hiệu lực các quy định về gới hạn cấp tín dụng được quy định rõ hơn, cụ thể như sau: các trường hợp TCTD không được cấp tín dụng bao gồm21:
- Thứ nhất, nhóm người quản lý, người điều hành và nhóm người kiểm soát của TCTD bao gồm: thành viên HĐQT, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, pháp nhân
là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên HĐQT, thành viên Ban
21 Điều 126 Luật CTCTD 2010