Sau hơn mười lăm năm hoạt động thị trường này đã đạt được một số thành tựu như: thị trường chứng khoán đã giúp Chính phủ và các doanh nghiệp huy động được khoảng 2 triệu tỷ đồng vốn cho
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN THỊ NGỌC NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN CHÀO BÁN CỔ PHIẾU RA CÔNG CHÚNG TẠI VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã ngành: 60380107
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ VŨ NAM
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 7
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 8
4 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 9
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 9
6 Bố cục của luận văn 10
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN CHÀO BÁN CỔ PHIẾU RA CÔNG CHÚNG 11
1.1 Khái quát chung về cổ phiếu 11
1.1.1 Khái niệm cổ phiếu 11
1.1.2 Đặc điểm của cổ phiếu 14
1.1.3 Phân loại cổ phiếu 17
1.1.3.1 Cổ phiếu phổ thông 17
1.1.3.2 Cổ phiếu ưu đãi 20
1.2 Tổng quan về chào bán cổ phiếu ra công chúng 22
1.2.1 Khái niệm chào bán cổ phiếu ra công chúng 23
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng 25
1.2.3 Phân loại hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng 27
1.2.4 Vai trò của hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng 29
1.3 Khái quát về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng 31
1.3.1 Khái niệm điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng 31
1.3.2 Phân loại điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng 32
Trang 41.3.3 Sự cần thiết phải quy định điều kiện chào bán cổ phiếu ra công
chúng tại Việt Nam 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN CHÀO BÁN CỔ PHIẾU RA CÔNG CHÚNG TẠI VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 37
2.1 Tình hình chào bán cổ phiếu ra công chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam 37
2.1.1 Giai đoạn từ năm 2000 – 2005 37
2.1.2 Giai đoạn từ 2006 – 2009 39
2.1.3 Giai đoạn từ 2010 – nay 42
2.2 Thực trạng các quy định về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng và kiến nghị hoàn thiện 46
2.2.1 Thực trạng quy định về điều kiện vốn điều lệ của tổ chức phát hành và kiến nghị hoàn thiện 48
2.2.1.1 Thực trạng quy định về điều kiện vốn điều lệ của tổ chức phát hành 48
2.2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện 52
2.2.2 Thực trạng quy định về điều kiện thời hạn kinh doanh có lãi của tổ chức phát hành và kiến nghị hoàn thiện 53
2.2.2.1 Thực trạng quy định về điều kiện thời hạn kinh doanh có lãi của tổ chức phát hành 53
2.2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện 58
2.2.3 Thực trạng quy định về điều kiện phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán và kiến nghị hoàn thiện 59
2.2.3.1 Thực trạng quy định về điều kiện phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán 59
2.2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện 63
2.2.4 Thực trạng quy định về điều kiện thời hạn đưa cổ phiếu vào giao dịch trên thị trường có tổ chức sau khi chào bán ra công chúng và kiến nghị hoàn thiện 64
2.2.4.1 Thực trạng quy định về điều kiện thời hạn đưa cổ phiếu vào giao dịch trên thị trường có tổ chức sau khi chào bán ra công chúng 64 2.2.4.2 Kiến nghị hoàn thiện 67
Trang 52.2.5 Một số điều kiện khác về chào bán cổ phiếu ra công chúng và kiến nghị hoàn thiện 68
2.2.5.1 Một số điều kiện khác về chào bán cổ phiếu ra công chúng 68
2.2.5.2 Kiến nghị hoàn thiện 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81
KẾT LUẬN 82
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn đổi mới của nước ta đòi hỏi nền kinh tế không những duy trì được nhịp độ tăng trưởng mà còn phải chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh để theo kịp tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Để đáp ứng được đòi hỏi trên, nền kinh
tế cần có nguồn vốn đầu tư rất lớn
Tháng 7 năm 2000, thị trường chứng khoán chính thức được hình thành
và đi vào hoạt động ở Việt Nam Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế, mở ra một kênh huy động vốn hữu hiệu mới bên cạnh hệ thống ngân hàng Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu là đối tượng giao dịch phổ biến và quan trọng nhất nên có thể khẳng định, hoạt động chào bán cổ phiếu đóng vai trò lớn đối với thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung
Sau hơn mười lăm năm hoạt động thị trường này đã đạt được một số thành tựu như: thị trường chứng khoán đã giúp Chính phủ và các doanh nghiệp huy động được khoảng 2 triệu tỷ đồng vốn cho đầu tư phát triển, quy
mô huy động vốn hiện nay tăng 50 lần so với mười năm trước, chỉ tính riêng trong mười năm trở lại đây, quy mô huy động vốn qua thị trường chứng
tồn tại xuất phát từ những hạn chế của pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng tại Việt Nam, trong đó pháp luật về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng cũng còn có nhiều nhược điểm cần sớm
1Những con số nổi bật trên thị trường chứng khoán tuổi 15, Hữu Đạo tại
http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/nhung-con-so-noi-bat-tren-ttck-tuoi-15-126411.html, truy cập ngày 24/07/2015
Trang 7hoàn thiện như sửa đổi điều kiện về vốn điều lệ đã góp, về thời gian hoạt động hiệu quả của tổ chức phát hành, về cổ đông, người sở hữu vốn góp được thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng,…; cũng như cần có thêm những quy định mới cho phù hợp với tình hình của thị trường như điều kiện về tỷ lệ hiệu quả hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành trước khi chào bán cổ phiếu ra công chúng, về khoảng cách thời gian giữa hai lần chào bán cổ phiếu
ra công chúng, Từ đó, hoàn thiện pháp luật về điều kiện chào bán cổ phiếu
ra công chúng trở thành một yêu cầu bức thiết phải giải quyết Đó chính là lý
do để tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng tại Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng trong thời gian gần đây đã thu hút được sự quan tâm của khá nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau, trong đó có các nhà nghiên cứu luật pháp
Pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này đã được nghiên cứu trong một số đề tài
cấp Bộ do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chủ trì như đề tài “Định hướng xây
dựng Luật Chứng khoán thay thế Luật Chứng khoán năm 2006” do ThS
Nguyễn Thị Huệ thực hiện năm 2014, đề tài “Tăng cường công tác giám sát tuân thủ đối với hoạt động phát hành của các tổ chức phát hành trên thị trường chứng khoán Việt Nam” thực hiện năm 2011 do PGS.TS Lê Thị Hòa chủ nhiệm, đề tài “Hoàn thiện Luật Chứng khoán” thực hiện năm 2010 doThS Hoàng Đức Long chủ nhiệm, đề tài “Hàng hóa cho thị trường chứng khoán Việt Nam – Thực trạng và một số giải pháp” thực hiện năm 2005 do TS Vũ Thị Kim Liên chủ nhiệm Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra cơ sở lý
Trang 8luận quan trọng cho sự vận hành và hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam
Ngoài ra, pháp luật về chào bán cổ phiếu ra công chúng cũng được nghiên cứu ở một số luận văn thạc sỹ Luật học ở các khía cạnh khác nhau như: Luận
văn “Một số vấn đề pháp lý về chào bán chứng khoán ra công chúng theo
pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước” của Phạm Thị Thanh Hương,
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội bảo vệ năm 2010; Luận văn “Pháp
luật về chào bán cổ phiếu ra công chúng của ngân hàng thương mại cổ phần
ở Việt Nam” của Vũ Thị Thanh Tâm, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
bảo vệ năm 2014….Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã tập trung luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh yêu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ phiếu ra công chúng, trong đó có
đề cập đến các quy định pháp luật về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng nhưng theo tác giả thì các nội dung liên quan đến điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng vẫn chưa được phân tích, đánh giá một cách thấu đáo hoặc những quy định pháp luật được sử dụng nghiên cứu đã hết hiệu lực nên thiếu tính thời sự và không còn phù hợp với tình hình mới của thị trường Theo tìm hiểu của tác giả, tính đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu bao quát, tổng thể và chuyên sâu về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: tác giả thực hiện đề tài này nhằm mục đích khảo
sát, đánh giá sâu hơn pháp luật về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng, rồi từ đó đưa ra một số đánh giá và kiến nghị để góp phần hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này
Trang 9Đối tượng nghiên cứu: Luận văn này có đối tượng nghiên cứu là những
vấn đề về lý luận và thực tiễn của pháp luật về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng tại Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Trong giới hạn cho phép, Luận văn sẽ tập trung
nghiên cứu các vấn đề pháp lý cơ bản về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng như: lý luận chung về cổ phiếu, hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng, điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng tại Việt Nam trên cơ sở tham khảo các quy định pháp luật của một số nước trên thế giới, cũng như pháp luật Việt Nam trong giai đoạn mới hình thành thị trường chứng khoán
4 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Thông qua việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá và đưa ra một số định hướng
cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; Luận văn sẽ góp phần làm phong phú hơn nguồn tài liệu cho các sinh viên, học viên cao học và những người có nhu cầu tìm hiểu về hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng Ngoài ra, tác giả cũng mong muốn được đóng góp một vài kiến nghị cho việc xây dựng một khung pháp lý hoàn thiện để điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích đề ra, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích: nhằm làm rõ cơ sở lý luận về điều kiện chào bán
cổ phiếu ra công chúng, đồng thời đánh giá thực trạng pháp luật về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng tại Việt Nam hiện nay
Trang 10Phương pháp so sánh: nhằm đối chiếu các quy định của pháp luật về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng hiện hành ở Việt Nam với các quy định
đã hết hiệu lực và pháp luật của một số nước trên thế giới
Phương pháp thống kê: nhằm đưa ra những số liệu thực tiễn mang tính thời sự góp phần làm sinh động Luận văn cũng như tạo cơ sở chứng minh cho các nội dung của Luận văn
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn được chia thành hai chương gồm:
chúng
chúng tại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện
Trang 11Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN CHÀO BÁN CỔ PHIẾU RA CÔNG CHÚNG
1.1 Khái quát chung về cổ phiếu
Sự ra đời của cổ phiếu là mô ̣t thành tựu to lớn đối với hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh và là cơ sở quan tro ̣ng để mở rô ̣ng quy mô sản xuất Trên những góc độ khác nhau, cổ phiếu cũng được định nghĩa khác nhau
Đối với pháp luật về doanh nghiệp:
Cổ phiếu gắn chă ̣t với sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần Công ty
cổ phần là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, vốn điều lệ của công ty cổ phần được hình thành từ nhiều nhà đầu tư Vốn điều lệ được chia thành các
gọi là cổ đông và được cấp cổ phiếu hay còn gọi là giấy chứng nhận sở hữu
cổ phần
Theo Luật Doanh nghiệp 2014: “Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ
phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó”.3
Theo Francis Lemenier trong cuốn “Nguyên lý thực hành luật thương
mại, luật kinh doanh” nghiên cứu về pháp luật của Pháp cho rằng cổ phiếu là
chứng thư xác nhâ ̣n quyền sở hữu mô ̣t tài sản nhất đi ̣nh nên được coi là tài sản thực sự Cổ phiếu tồn ta ̣i dưới da ̣ng chứng thư, có mệnh giá.4
2
Xem Điều 110.1.a Luật Doanh nghiệp 2014
3 Xem Điều 120.1 Luật Doanh nghiệp 2014
4 Vũ Thị Thanh Tâm (2014), Pháp luật về chào bán cổ phiếu ra công chúng của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 9
Trang 12Hai khái niệm trên cho thấy, cổ phiếu là bằng chứng xác nhận quyền, lợi ích, nghĩa vụ tương ứng với số cổ phần mà cổ đông sở hữu đối với công ty cổ phần Cổ phiếu là một loại tài sản, có thể tồn tại dưới dạng vật chất và phi vật chất
Đối với pháp luật về chứng khoán và thị trường:
Thị trường chứng khoán có đối tượng giao dịch là chứng khoán Chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt có giá trị phần lớn phụ thuộc vào uy tín, hiệu quả kinh doanh và niềm tin của nhà đầu tư chứng khoán Trong các loại chứng khoán, cổ phiếu luôn là loại chứng khoán phổ biến và quan trọng nhất Mặc dù, mỗi nước đều đưa ra các định nghĩa khác nhau về chứng khoán, tùy thuộc vào trình độ phát triển của thị trường cũng như năng lực quản lý của mỗi nước nhưng về bản chất chứng khoán là các loại giấy tờ có giá hoặc là bằng chứng xác nhận quyền, lợi ích hợp pháp của người nắm giữ đối với một loại tài sản nhất định mà để trở thành chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện: i) Là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó; ii) Có khả năng giao dịch; iii) Được pháp luật thừa nhận Chứng khoán gồm năm nhóm chính là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các công cụ chuyển đổi và
Luật Chứng khoán Việt Nam quy định: chứng khoán
là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán
5 Phạm Thị Thanh Hương (2010), Một số vấn đề pháp lý về chào bán chứng khoán ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr
16
Trang 13hoặc chỉ số chứng khoán, hợp đồng góp vốn đầu tư, các loại chứng khoán
Do đó, dưới góc độ tiếp cận của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán thì cổ phiếu là một loại chứng khoán, là bằng chứng xác nhận quyền và nghĩa vụ của người sở hữu cổ phiếu đối với phần vốn của tổ chức phát hành Khi cần vốn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh, tổ chức phát hành sẽ thực hiện huy động vốn từ các nhà đầu tư Các nhà đầu tư góp vốn vào công ty cổ phần sẽ trở thành cổ đông công ty và được cấp giấy chứng nhận sở hữu cổ phần hay còn gọi là cổ phiếu Các cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phiếu của mình cho các nhà đầu tư khác Chính hoạt động huy động vốn và chuyển nhượng cổ phiếu này đã tạo ra thị trường chứng khoán sơ cấp và thị trường chứng khoán thứ cấp
Pháp luật của các nước khác nhau có khái niệm khác nhau về cổ phiếu Luật Chứng khoán Cộng hòa Belarus ngày 12 tháng 3 năm 1992 quy
định: “Cổ phiếu là một loại chứng khoán,chứng nhận quyền của người sở hữu
đối với phần tiền đóng góp trong tài sản của công ty,cho phép người này nhận phần chia lợi nhuận của công ty là cổ tức và tham gia quản lý công ty” 7
nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.”8
Qua các nội dung trên cho thấy: Về hình thức, cổ phiếu là chứng từ xác nhận quyền sở hữu vốn, các lợi ích vật chất và phi vật chất khác của chủ sở
Trang 14hữu cổ phiếu đối với tổ chức phát hành cổ phiếu Về bản chất, cổ phiếu là công cụ tài chính đáp ứng nhu cầu vốn của tổ chức phát hành; nhu cầu đầu tư của cá nhân, tổ chức; ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này khi tham gia vào thị trường chứng khoán
Với tư cách là một loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, cổ phiếu là bằng chứng xác nhận việc góp vốn vào công ty cổ phần nên cổ phiếu không có thời gian đáo hạn và tồn tại song song với công
ty cổ phần Giống như các loại hình doanh nghiệp khác, công ty cổ phần được
thành lập nhằm mục đích để sinh lời Muốn vậy, công ty cổ phần phải có nguồn vốn ổn định, lâu dài để hoạt động sản xuất – kinh doanh Vốn điều lệ của công ty cổ phần chính là nguồn vốn tự có do nhà đầu tư đóng góp Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần Khi góp tài sản vào công ty cổ phần, nhà đầu tư cần có bằng chứng về việc tham gia góp vốn
Do đó, cổ phiếu ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn ổn định của công
ty và cũng là bằng chứng xác nhận số vốn đã góp của cổ đông Người nắm
quyền nhận cổ tức; quyền mua thêm cổ phiếu mới; tham gia quản lý, điều hành; quyền tiếp cận thông tin; quyền được chia tài sản còn lại khi công ty bị phá sản sau trái chủ; đồng thời có trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Cổ phiếu chỉ hết giá trị khi công ty cổ phần không tồn tại trong các trường hợp như chia, tách, sáp nhập, giải thể và phá sản
9 Xem thêm Điều 114, 116, 117, 118, 119 Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 15Thứ hai, cổ phiếu có tính thanh khoản cao Tính thanh khoản được hiểu là
khả năng cho phép người sở hữu cổ phiếu có thể bán cổ phiếu để nhận được một khoản tiền nhất định Đặc điểm này tạo cho người sở hữu cổ phiếu có thể chuyển đổi dạng tài sản từ chứng khoán sang tiền thông qua giao dịch tại thị
Tính thanh khoản tạo ra
sự hấp dẫn, thỏa mãn nhu cầu của nhà đầu tư; đồng thời cũng hạn chế rủi ro bị giảm sút giá trị của chứng khoán Tính thanh khoản của cổ phiếu phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố:
Một là, kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành cổ phiếu Nếu tổ chức
phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ tức cao, cổ phiếu của công
ty sẽ thu hút nhà đầu tư và cổ phiếu sẽ dễ mua bán trên thị trường; ngược lại nếu công ty làm ăn kém hiệu quả, không trả cổ tức hoặc cổ tức thấp, cổ phiếu của công ty sẽ giảm giá và khó bán
Hai là, mối quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán, thị trường cổ
phiếu cũng như các loại thị trường khác đều chịu sự chi phối của quy luật cung cầu Do đó, dù là một cổ phiếu rất tốt nhưng thị trường đang bão hòa nguồn cung thì cổ phiếu đó cũng khó tăng giá; ngược lại khi thị trường khan hiếm hàng hóa thì ngay cả những cổ phiếu chất lượng kém hơn cũng có thể bán dễ dàng
Thứ ba, cổ phiếu có tính sinh lợi Lợi nhuâ ̣n là mu ̣c đích đầu tiên mà các
phiếu cũng đem la ̣i cho nhà đầu tư nhiều khoản lợi nhuâ ̣n thông qua các
phương thức như: cổ tức (dividends) và lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán cổ phiếu (capital gain yield)
10 Phạm Thị Giang Thu (2013), Giáo trình Luật Chứng khoán, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội,
tr.10
Trang 16Cổ tức: là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt
hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty cổ phần sau khi
đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính Tỷ lệ và hình thức chi trả cổ tức tùy thuộc vào từng thời kỳ và kế hoạch sử dụng vốn của công ty cổ phần Ngoài ra, mức trả cổ tức cụ thể còn phụ thuộc vào loại hình cổ phiếu, mức đô ̣ ưu tiên chi trả
Lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa giá mu a và giá bán cổ phiếu: Lợi nhuận
này có thể tới từ các yếu tố nội tại như công ty hoạt động hiệu quả, giá trị tài sản công ty tăng lên, nhu cầu và thị hiếu của khách hàng mục tiêu tăng lên,… hoặc tới từ các yếu tố bên ngoài công ty như: yếu tố tâm lý thị trường, tác động của lạm phát, sự thay đổi của lãi suất tiền gửi,…
Thứ tư, cổ phiếu có tính rủi ro cao Tính rủi ro của cổ phiếu thể hiện ngay
ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn Giống như các loại hình kinh doanh, đầu
tư khác, đầu tư cổ phiếu là việc đầu tư một lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai; do đó, khoảng thời gian chờ đợi chính là khoảng thời gian chứa đựng rủi ro Tính rủi ro cũng phản ánh mối quan hệ giữa lợi tức và rủi ro; người ta sẽ không chi ̣u rủi ro tăng thêm trừ khi kì vo ̣ng được bù đắp bằng lợi tức tăng lên Giá của cổ phiếu thường biến động do cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân khách quan là những nguyên nhân mang tính hệ thống ảnh hưởng đến tất cả các cổ phiếu trên thị trường như: tình hình kinh tế của đất nước tăng trưởng hay lạm phát; tình hình chính trị có ổn định hay bất ổn; áp dụng chính sách kinh tế có hợp lý hay không; tính công khai, minh bạch của thị trường chứng khoán, tâm lý của nhà đầu tư,…Nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng riêng tới từng loại cổ phiếu hoặc từng nhóm cổ phiếu trong từng ngành sản xuất kinh doanh như tình hình kinh doanh của công ty và chu kỳ phát triển kinh doanh của các ngành nghề
Trang 17Thứ năm, người nắm giữ cổ phiếu có thu nhập không ổn định Hai nguồn
thu nhập chủ yếu mà cổ phiếu mang lại cho người nắm giữ là cổ tức và mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán cổ phiếu Mức cổ tức nhà đầu tư được hưởng phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công ty nên nó chỉ là dự kiến, không thể xác định được chính xác Giá của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán thường biến động mạnh tùy theo quan hệ cung cầu làm cho thị giá có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng giá trị thực của cổ phiếu tại thời điểm mua bán Quan hệ cung cầu cổ phiếu lại chịu tác động của các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội,…trong đó, yếu tố quan trọng nhất là giá trị thị trường và khả năng sinh lợi của công ty
Luật Doanh nghiệp 2014 quy định công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông, người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi, người sở hữu cổ phần ưu đãi được gọi là cổ đông ưu đãi Cổ phiếu là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty cổ phần nên cổ phiếu cũng được phân loại thành cổ phiếu phổ thông (common stock) và cổ phiếu ưu đãi (preferred stock)
1.1.3.1 Cổ phiếu phổ thông
Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu công ty cổ phần bắt buộc phải có Cổ phiếu phổ thông quy định trước về cổ tức mà cổ đông có thể được hưởng nhưng cổ đông nắm giữ lại có đầy đủ các quyền và lợi ích khác so với các loại
cổ phiếu khác Người sở hữu cổ phiếu phổ thông có các trách nhiệm và quyền lợi sau:
Trang 18Trách nhiệm của cổ đông phổ thông: cổ đông phổ thông chịu trách nhiệm
hữu hạn theo phần vốn góp trên hai mặt:
Thứ nhất, cổ đông không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi
hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phiếu Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra
Thứ hai, trách nhiệm của cổ đông đối với tình trạng thua lỗ, phá sản của
công ty chỉ giới hạn trên phần vốn góp ghi trên cổ phiếu Khi công ty hoạt động không hiệu quả, phần vốn cổ đông bỏ ra mua cổ phiếu bị hao hụt, thậm chí là mất toàn bộ
Quyền lợi của cổ đông phổ thông: là một trong những người chủ của công
ty, người sở hữu cổ phiếu phổ thông có quyền lợi:
Một là, quyền có thu nhập cổ đông được hưởng cổ tức tương ứng với số
cổ phiếu sở hữu Khác với người sở hữu trái phiếu (trái chủ), tuy cổ đông không có quyền đưa ban lãnh đạo của công ty ra trước pháp luật khi công ty
nhưng việc mất khả năng chi trả cổ tức cũng ảnh hưởng lớn đến giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường
Hai là, quyền được chia tài sản thanh lý Trong trường hợp công ty bị giải
thể, phá sản, cổ đông được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ
sở hữu cổ phần tại công ty
11 Bùi Kim Yến (2009), Giáo trình thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải, Tp.HCM,
tr.118
Trang 19Ba là, quyền bỏ phiếu.Cổ đông có quyền bỏ phiếu bầu và ứng cử vào các
chức vụ quản lý trong công ty, có quyền tham gia vào đại hội đồng cổ đông
và bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của công ty Nếu không tham
dự được, cổ đông có thể ủy quyền cho người khác biểu quyết
Bốn là, quyền mua cổ phiếu mới với giá ưu đãi Khi công ty thực hiện
chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ, cổ đông được quyền mua tương ứng với số cổ phiếu đang nắm giữ Quyền này cho phép duy trì tỷ lệ sở hữu của cổ đông hiện hữu sau khi công ty đã tăng thêm vốn Giá chào bán cho cổ đông hiện hữu thường thấp hơn so với giá thị trường hiện hành Khi cổ đông thực hiện quyền mua, công ty sẽ huy động được thêm vốn mới Nếu không muốn thực hiện quyền thì cổ đông có thể chuyển nhượng quyền mua cho nhà đầu tư khác
Căn cứ vào đặc điểm của công ty, cổ phiếu phổ thông có thể phân loại thành cổ phiếu thượng hạng (blue chip stocks), cổ phiếu tăng trưởng (growth stocks), cổ phiếu thu nhập (income stocks), cổ phiếu chu kỳ (cyclical stocks)
và cổ phiếu theo mùa (seasonal stocks)
Cổ phiếu thượng hạng: cổ phiếu thượng hạng là cổ phiếu của các công ty
lớn, có lịch sử phát triển lâu đời, khả năng sinh lời và trả cổ tức cao, ổn định
Đây là loại cổ phiếu có giá trị cao trên thị trường
Cổ phiếu tăng trưởng: cổ phiếu này do các công ty đang trên đà tăng
trưởng nhanh phát hành Các công ty này chủ yếu quan tâm đến việc mở rộng sản xuất kinh doanh, nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới nên thường giữ lại hầu hết lợi nhuận để phục vụ đầu tư, cổ tức thường được chi trả bằng hình thức cổ phiếu
Trang 20Cổ phiếu thu nhập: cổ tức của loại cổ phiếu này thường cao hơn mức
trung bình trên thị trường Cổ phiếu này thường được những người lớn tuổi ưa
Cổ phiếu chu kỳ: là loại cổ phiếu của các công ty có thu nhập dao động
theo chu kỳ kinh tế Khi điều kiện kinh tế phát triển ổn định, công ty có thu nhập khác, tích lũy nhiều, giá cổ phiếu cũng tăng cao trên thị trường Ngược lại, khi kinh tế gặp khó khăn, việc kinh doanh của công ty giảm sút và giá cổ phiếu cũng giảm Các ngành thường mang tính chu kỳ vật liệu xây dựng, bất động sản, chế tạo thiết bị, máy móc,…
Cổ phiếu theo mùa: là cổ phiếu của các công ty có thu nhập tăng cao vào
các mùa nhất định trong năm như nghỉ hè, đầu năm học, lễ tết,… Giá của các
cổ phiếu này sẽ tăng cao vào các dịp cao điểm này
1.1.3.2 Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu xác nhận một số ưu đãi về tài chính,một
số quyền ưu tiên khác; đồng thời cũng chịu những hạn chế nhất định về quản
lý công ty đối với người nắm giữ Cổ phiếu ưu đãi vừa có đặc điểm giống cổ phiếu phổ thông, vừa có đặc điểm giống trái phiếu Cổ phiếu này không có kỳ hạn và không được hoàn vốn Người nắm giữ cổ phiếu trở thành đồng chủ sở hữu của công ty Khi có nhu cầu, cổ đông ưu đãi có thể chuyển nhượng cổ phiếu cho nhà đầu tư khác trên thị trường Giá chuyển nhượng phụ thuộc vào
tỷ suất cổ tức, giá thị trường của cổ phiếu công ty và thời điểm chuyển nhượng Giống với trái phiếu, cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được ấn định theo một tỷ lệ cố định trên mệnh giá Tuy nhiên, việc trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi
là việc phân phối lợi nhuận nội bộ, chính sách phân phối này linh hoạt tùy
12 Bùi Kim Yến (2009), Tlđd, tr.123
Trang 21theo tình hình kinh doanh của công ty, cổ tức này có thể được trả đủ hoặc không; hơn nữa, phần cổ tức không trả đủ có thể bảo lưu hoặc không bảo lưu tùy vào loại cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông
Do nội dung ưu đãi khác nhau nên có các loại cổ phiếu ưu đãi khác nhau Theo Luật Doanh nghiệp 2014, cổ phiếu ưu đãi được phân loại thành cổ phiếu
ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức và cổ phiếu ưu đãi hoàn lại
Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết: Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết là loại cổ phiếu
cố số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu phổ thông Chỉ có cổ đông sáng lập và tổ chức được Chính phủ ủy quyền mới có quyền nắm giữ cổ phiếu
ưu đãi biểu quyết Sau ba năm thành lập, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết sẽ trở thành cổ phiếu phổ thông Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết có các quyền và nghĩa vụ như cổ đông phổ thông nhưng không được chuyển nhượng
cổ phiếu cho người khác, trừ trường hợp được pháp luật cho phép
Cổ phiếu ưu đãi cổ tức: Cổ phiếu ưu đãi cổ tức là cổ phiếu được trả cổ tức
với tỷ lệ cao hơn so với tỷ lệ cổ tức của cổ phiếu phổ phông hoặc mức ổn định hàng năm Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng
Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Mức cổ tức cố định và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức Nếu mức cổ tức cố định thấp hơn mức cổ tức của
cổ phiếu cổ thông thì sẽ có cổ phiếu thưởng Cổ đông ưu đãi cổ tức được nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty, sau khi công ty đã thanh toán hết các khoản nợ, cổ phần ưu đãi hoàn lại khi công ty giải thể hoặc phá sản nhưng không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng
cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
Trang 22Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại: Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại là cổ phiếu được công
ty hoàn lại vốn góp bất cứ lúc nào khi có yêu cầu của chủ sở hữu hoặc theo điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại Cổ đông ưu đãi hoàn lại có thể chuyển nhượng cổ phiếu nhưng không được biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
1.2 Tổng quan về chào bán cổ phiếu ra công chúng
Chào bán cổ phiếu là một trong những nội dung cơ bản và chủ yếu của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán các nước Chào bán cổ phiếu là hoạt động huy động vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán Chủ thể chào bán cổ phiếu gồm tổ chức phát hành (công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa) và cổ đông, người sở hữu vốn góp của
tổ chức phát hành Cổ phiếu được chào bán theo các phương thức khác nhau Phương thức chào bán cổ phiếu là phương pháp và hình thức thực hiện việc chào bán cổ phiếu Với cách hiểu như vậy thì có hai phương thức chào bán cổ phiếu là chào bán cổ phiếu riêng lẻ và chào bán cổ phiếu ra công chúng
Việc phân biệt hai phương thức chào bán cổ phiếu riêng lẻ và chào bán cổ phiếu ra công chúng có ý nghĩa rất quan trọng Việc phân định hai phương thức này sẽ làm tăng cường khả năng bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Tổ chức phát hành có cổ phiếu được chào bán ra công chúng phải là những doanh nghiệp có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt và chủ thể thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng thường phải đáp ứng các điều kiện, có sự thẩm định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và phải tuân thủ quy chế nghiêm ngặt về công bố thông tin; bởi, phạm vi những nhà đầu tư
có khả năng trở thành cổ đông của tổ chức phát hành là rất lớn; trong số các nhà đầu tư này sẽ có nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ, không chuyên nghiệp nên cần
Trang 23có đầy đủ thông tin về tổ chức phát hành để họ có thể đưa ra được quyết định đầu tư đúng đắn
Theo thông lệ quốc tế, chào bán cổ phiếu ra công chúng là một quá trình bắt đầu từ việc chủ thể phát hành chào mời nhà đầu tư mua cổ phiếu và kết thúc bằng việc phát hành cổ phiếu Hoạt động phát hành cổ phiếu chỉ là một
niệm chào bán cổ phiếu ra công chúng có sự khác nhau Hoa Kỳ sử dụng cách nêu khái niệm miễn trừ, tất cả những trường hợp chào bán không thuộc phạm
vi miễn trừ thì đều được coi là chào bán cổ phiếu ra công chúng Anbanie lại quy định theo giới hạn về số nhà đầu tư Một số nước khác sử dụng cách liệt
kê để đưa ra khái niệm về chào bán cổ phiếu ra công chúng, một số nước khác lại vừa sử dụng cách liệt kê vừa sử dụng cách quy định miễn trừ…
Cổ phiếu là một loại chứng khoán nên có thể rút ra khái niệm chào bán cổ phiếu ra công chúng thông qua khái niệm chào bán chứng khoán ra công
Luật Chứng khoán Bungaria 1999 quy định những trường hợp được coi là chào bán cổ phiếu ra công chúng như sau: Chào bán cổ phiếu ra công chúng
là việc chào bán cổ phiếu cho tối thiểu 50 người, hay một số lượng không người xác định, bao gồm cả việc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Luật Chứng khoán Anbanie quy định chào bán cổ phiếu ra công chúng là việc chào bán cho trên 50 người
13 Nguyễn Thế Thọ (2009), Giáo trình pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản
Thống kê, Hà Nội, tr.85
14 Vũ Thị Thanh Tâm (2014), tlđd, tr 19-20
Trang 24Luật Chứng khoán Pháp quy định: Việc chào bán cổ phiếu ra công chúng được hiểu là việc cho phép cổ phiếu được chào bán trên thị trường có quản lý,
có sử dụng quảng cáo, vận động hoặc thông qua các tổ chức trung gian Số nhà đầu tối thiểu tham gia là 300 người do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quy định
Luật Chứng khoán Ba Lan 1997 quy định: chào bán cổ phiếu ra công chúng là việc đề nghị chào bán hoặc việc bán cổ phiếu được phát hành theo đợt thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông qua hình thức khác nếu như việc chào bán nói trên là nhằm mục đích bán cho hơn 300 người hoặc cho số lượng người mua không được nêu rõ
Luật Chứng khoán Cộng hòa Belarus quy định: Chào bán cổ phiếu ra công chúng là trường hợp tổ chức phát hành thông báo việc chào bán hoặc khi việc phát hành đáp ứng được ít nhất một tiêu chí sau: cổ phiếu được phát hành cho những đối tượng không thể xác định trước, bao gồm các pháp nhân và cá nhân; cổ phiếu được chào bán cho hơn 100 pháp nhân và cá nhân
Luật Chứng khoán Trung Quốc sửa đổi, bổ sung năm 2005 đưa ra tiêu chí xác định chào bán cổ phiếu ra công chúng là chào bán cho trên 200 nhà đầu tư hoặc từ 200 nhà đầu tư nhưng có đăng quảng cáo
Qua các khái niệm trên cho thấy, tuy về số lượng và mức độ được quy
đi ̣nh trong văn bản pháp luâ ̣t của các quốc gia là khác nhau nhưng tính đại chúng của hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng được thể hiện thông qua phương thức huy động vốn công khai, chính thức cho một số lượng nhà đầu tư lớn hoặc không xác định nhằm huy đô ̣ng lượng vốn lớn trên thi ̣ trường
Trang 25Trước đây pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “phát hành cổ phiếu ra
đó, phát hành cổ phiếu ra công chúng là việc chào bán một đợt chứng khoán
có thể chuyển nhượng được thông qua tổ chức trung gian cho ít nhất 50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành Định nghĩa này chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế như đã phân tích ở trên
Trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của các nước, khắc phục hạn chế của các văn bản pháp luật trước đây, Luật Chứng khoán 2006 đưa ra khái niệm chào bán chứng khoán ra công chúng như sau: Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây: i) thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet; ii) chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; iii) chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định.16
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về chào bán cổ phiếu ra công chúng như
sau: Chào bán cổ phiếu ra công chúng là một quá trình, trong đó cổ phiếu
được chào bán rộng rãi ra công chúng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet hoặc chào bán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc cho một số lượng nhà đầu tư không xác định
Hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng có các đặc điểm là:
Trang 26Thứ nhất, hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng được pháp luật điều chỉnh chặt chẽ và được cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán cấp phép hoặc giấy chứng nhận chào bán Thị trường chứng khoán là thị trường
có tổ chức cao, là một trong những kênh huy động vốn của nền kinh tế Và hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng thu hút số lượng lớn người tham gia nên hoạt động này có ảnh hưởng lớn đến công chúng đầu tư, đến chính sách tiền tệ quốc gia Do đó, hoạt động này phải phải dựa trên những quy định rất chặt chẽ của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, bảo vệ sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia Mặt khác, đây cũng là quan hệ xã hội đặc biệt được pháp luật điều chỉnh nên cần phải có cơ quan chuyên trách để quản lý, điều hành
Thứ hai, cổ phiếu chào bán ra công chúng sẽ được giao dịch tại các sàn giao dịch chứng khoán tập trung Sau khi chào bán cổ phiếu ra công chúng, tổ
chức phát hành trở thành công ty đại chúng, các cổ phiếu đã chào bán sẽ được
tự do chuyển nhượng Do đó, việc giao dịch các cổ phiếu này tại các sàn giao dịch chứng khoán tập trung sẽ giúp cho các giao dịch này được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện và công bằng cũng như buộc các tổ chức phát hành phải thực hiện đầy đủ các quy định về công bố thông tin để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư
Thứ ba, hoạt chào bán cổ phiếu ra công chúng phải tuân thủ các quy định
về công bố thông tin, chế độ kế toán, kiểm toán nhằm đảm bảo sự công bằng
và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư Việc tuân thủ các quy định về công bố thông
tin giúp cho mọi nhà đầu tư đều có thông tin như nhau, không người nào có
ưu thế hơn về thông tin trong hoạt động đầu tư Việc tuân theo chế độ kế toán, kiểm toán nhằm tránh các biểu hiện tiêu cực như gian dối gây ảnh hưởng cho
sự an toàn của nhà đầu tư và thị trường
Trang 27Thứ tư, hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng phải thông qua tổ chức trung gian Người mua và người bán có thể không hiểu rõ về nhau
Người mua khó nhận định chính xác và đầy đủ về đơn vị phát hành mà họ mua; người bán không biết được khả năng tài chính của người mua Do đó, để giao dịch mua bán cổ phần diễn ra an toàn thì phải có tổ chức trung gian môi giới
Theo thông lệ trên thế giới, chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm hai hình thức là chào bán cổ phiếu lần đầu (initial public offering – IPO) và chào
Theo pháp luật Việt Nam, các hình thức chào bán cổ phiếu ra công chúng được quy định định tại Điều 10, Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng
7 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (Nghị định 58/2012/NĐ-CP); theo đó, chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm ba hình thức là chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng và cổ đông lớn bán phần vốn sở hữu trong các công ty đại chúng ra công chúng
Thứ nhất, chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng: Đây là lần đầu tiên
cổ phiếu của doanh nghiệp được chào bán cổ phiếu rộng rãi ra công chúng Nếu cổ phiếu được bán lần đầu để tăng vốn gọi là IPO sơ cấp, còn nếu cổ phiếu được bán lần đầu là từ số cổ phiếu hiện hữu gọi là IPO thứ cấp Như vậy, IPO với mỗi doanh nghiệp chỉ có một lần duy nhất
17Phạm Thị Giang Thu (2013), Tlđd, tr.56
Trang 28Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng bao gồm: Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để huy động vốn cho tổ chức phát hành, chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để trở thành công ty đại chúng thông qua thay đổi cơ cấu sở hữu nhưng không làm tăng vốn điều lệ của tổ chức phát hành và chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để thành lập doanh nghiệp thuộc lĩnh vực
cơ sở hạ tầng, lĩnh vực công nghệ cao hoặc thành lập tổ chức tín dụng cổ phần
Sau khi chào bán cổ phiếu ra công chúng, tổ chức phát hành trở thành công ty đại chúng Theo Điều 25.1 Luật Chứng khoán 2006, công ty đại chúng là công ty thuộc một trong ba loại hình sau: công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; hoặc công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán; hoặc công ty
có cổ phần được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên
Thứ hai, chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng: Việc chào bán này được
hiểu là sau khi đã thực hiện IPO, công ty đại chúng tiếp tục thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng để tăng vốn điều lệ nhằm huy động vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất – kinh doanh
Thứ ba, cổ đông lớn bán phần vốn sở hữu trong các công ty đại chúng ra công chúng: Cổ đông lớn là cổ đông nắm giữ từ 5% vốn điều lệ trở lên của
công ty đại chúng Sau khi thực hiện chào bán thành công, số tiền thu được từ đợt chào bán sẽ thuộc về cổ đông mà không phải tổ chức phát hành; cơ cấu sở hữu của tổ chức chức phát hành bị thay đổi
Trang 291.2.4 Vai trò của hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng
Hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng là bước đầu tiên trong tiến trình “nhập cuộc” của các doanh nghiệp vào thị trường chứng khoán Đồng thời, nó cũng tạo ra nguồn cung hàng hóa cho thị trường Hoạt động chào bán
cổ phiếu ra công chúng không chỉ có ý nghĩa đối với tổ chức phát hành, với nhà đầu tư chứng khoán, mà còn có ý nghĩa đối với thị trường chứng khoán, với nền kinh tế
Đối với tổ chức phát hành: Đây là bước đi tất yếu của các công ty cổ
phần, doanh nghiệp cổ phần hóa vì chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp các doanh nghiệp thỏa mãn được các nhu cầu như: tận dụng hình thức huy động vốn linh hoạt, chủ động; hình ảnh, uy tín công ty tăng cao do được quảng bá rộng rãi; lượng cổ đông tăng lên giúp công ty tranh thủ được sự đóng góp về trí tuệ, kinh nghiệm trong điều hành; có khả năng huy động được đủ số vốn cần thiết và cổ phiếu được định giá theo giá thị trường Mặt khác, khi chào bán cổ phiếu ra công chúng tức là doanh nghiệp huy động nguồn vốn góp, không phải vốn vay nên áp lực về lãi suất, thời gian trả nợ cũng được giảm bớt giúp cho đội ngũ cán bộ điều hành có thể tập trung tối đa vào hoạt động sản xuất - kinh doanh
Đối với nhà đầu tư: tạo sự đa dạng hóa danh mục đầu tư cho các nhà đầu
tư bên cạnh việc đầu tư vào thị trường bất động sản, thị trường tài chính khác;
và khi một doanh nghiệp chào bán cổ phiếu ra công chúng cũng đồng nghĩa với việc nó đã cung cấp các cơ hội và điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư tham gia đầu tư để thu lời từ hoạt động đầu tư cổ phiếu Hoạt động này tạo ra cho nhà đầu tư sử dụng nguồn vốn của mình một cách hiệu quả vì thông thường lãi thu được qua đầu tư cổ phiếu cao hơn lãi trái phiếu nhà nước hay lãi gửi tiết kiệm
Trang 30Đối với thị trường chứng khoán: Thị trường chúng khoán muốn hình
thành, tồn tại và phát triển trước hết phải có được một lượng hàng hóa nhất định để các chủ thể tiến hành giao dịch với nhau Số lượng và chất lượng hàng hóa trên thị trường phụ thuộc nhiều vào các đợt chào bán cổ phiếu của các công ty cổ phần, doanh nghiệp cổ phần hóa Nó cũng góp phần làm phong phú, đa dạng các loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán Ngược lại, chính hoạt động mua bán lại trên thị trường lại tạo điều kiện và thúc đẩy cho hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng Như vậy, giữa thị trường chứng khoán
và hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng có mối liên hệ tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau
Đối với nền kinh tế: chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp cho việc sử
dụng vốn có hiệu quả hơn đối với cả người có vốn đầu tư và người huy động vốn để đầu tư Nó cũng góp phần vào việc thực hiện chính sách mở cửa thông qua việc chào bán cổ phiếu ra nước ngoài hay chào bán cổ phiếu của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam Bên cạnh đó, hoạt động này còn giúp cho các công
ty nhà nước có thể chuyển đổi cơ cấu thông qua việc cổ phần hóa nhằm hoạt động kinh doanh năng động và hiệu quả hơn, từ đó góp phần phát triển nền kinh tế Mặt khác, đây cũng là cách huy động nguồn vốn trong nhân dân một cách linh hoạt, nhanh chóng để đưa vào sản xuất, kinh doanh Ngoài ra, sự tăng trưởng kinh tế ở một khía cạnh nào đó còn được phản ánh qua số lượng, chất lượng của các loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán – mà chào bán
cổ phiếu ra công chúng chính là một nguồn hàng hóa cho thị trường này
Có thể thấy hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng có vai trò đặc biệt quan trọng nên để phát huy được tối đa vai trò của nó thì đòi hỏi mỗi quốc gia phải xây dựng được một khung pháp lý tốt để điều chỉnh hoạt động này theo
Trang 31một định hướng phù hợp nhằm tạo điều kiện và thu hút các doanh nghiệp tham gia tích cực hơn vào việc chào bán cổ phiếu ra công chúng
1.3 Khái quát về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng
Sau khi thực hiện việc chào bán cổ phiếu ra công chúng, cổ phiếu của tổ chức phát hành sẽ được sở hữu rộng rãi bởi các nhà đầu tư Sự thành, bại của chủ thể phát hành trong hoạt động kinh doanh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn lợi tức của các nhà đầu tư Để bảo vệ lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư, đồng thời củng cố lòng tin của nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán, pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán đã đề ra những điều kiện
mà tổ chức phát hành phải đáp ứng để được chào bán cổ phiếu ra công chúng
Theo từ điển Tiếng Việt, điều kiện được hiểu là “điều nêu ra như một đòi
hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó”.18
Như vậy, điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng chính là những tiêu
chuẩn mà chỉ khi đáp ứng những tiêu chuẩn đó, chủ thể phát hành mới được chào bán cổ phiếu ra công chúng 19
Việc đưa ra các tiêu chuẩn nhiều hay ít, cao hay thấp phụ thuộc vào chế
độ quản lý thị trường chứng khoán của từng quốc gia Hiện nay, trên thế giới
có hai chế độ quản lý thị trường chứng khoán sơ cấp là chế độ “quản lý theo
18 Xem nghĩa của từ “điều kiện” trong từ điển Tiếng Việt tại
http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/%C4%90i%E1%BB%81u_ki%E1%BB%87
19 Phạm Trọng Bình (2006), Tài liệu giảng dạy pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà
xuất bản Thống kê, Hà Nội, tr.99
20 Phạm Trọng Bình (2006), Tlđd, tr.99
Trang 32Chế độ công bố thông tin đầy đủ thường được áp dụng ở các nước phát triển Chế độ này chỉ phát huy hiệu quả khi quốc gia áp dụng có môi trường pháp luật đồng bộ, chặt chẽ, chế độ kế toán, kiểm toán được thực hiện nghiêm túc Theo chế độ này, tổ chức phát hành phải cung cấp đầy đủ thông tin quan trọng nhất của doanh nghiệp cho nhà đầu tư để họ có thể tự đánh giá chất lượng cổ phiếu và đưa ra quyết định đầu tư của mình Cơ quan quản lý không đứng ra xem xét chất lượng của cổ phiếu mà nhà đầu tư phải tự thực hiện việc
đủ
Chế độ quản lý chất lượng cổ phiếu thường được áp dụng ở những nước mới hình thành thị trường chứng khoán, các văn bản pháp luật còn thiếu đồng
bộ, các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán chưa đầy đủ, rõ ràng, tổ chức phát hành
và nhà đầu tư chưa có nhiều kinh nghiệm Theo chế độ này, cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán có thẩm quyền xem xét, đánh giá chất lượng của cổ phiếu chào bán ra công chúng thông qua việc thẩm định nội dung của đợt chào bán
Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng về cơ bản được chia thành hai nhóm các tiêu chuẩn, bao gồm: nhóm các tiêu chuẩn định lượng và nhóm các tiêu chuẩn định tính
Một là, các chỉ tiêu định tính như: các nhà quản lý của tổ chức phát hành
phải có kinh nghiệm quản lý, điều hành kinh doanh; Cơ cấu tổ chức của tổ chức phát hành phải hợp lý và phải vì lợi ích của nhà đầu tư; Báo cáo tài chính, bản cáo bạch và các tài liệu cung cấp thông tin của tổ chức phát hành
21 Phạm Thị Thanh Hương (2010), Tlđd, tr 51
22 Phan Thị Thành Dương (2008), “Nghiên cứu so sánh về pháp luật chào bán chứng khoán Nhật”, Đầu tư chứng khoán, (46), tr.36-37
Trang 33phải có độ tin cậy cao nhất; Tổ chức phát hành phải có phương án khả thi để
sử dụng số vốn thu được từ đợt phát hành; Tổ chức phát hành phải được một hoặc một số tổ chức bảo lãnh phát hành đứng ra bảo lãnh phát hành
Hai là, các chỉ tiêu định lượng như: Tổ chức phát hành phải có quy mô
nhất định về vốn; Tổ chức phát hành phải có hoạt động hiệu quả trong một số năm liên tục trước khi thực hiện chào bán cho một số lượng công chúng đầu
tư nhất định; Các thành viên sáng lập của tổ chức phát hành phải nắm giữ một
tỷ lệ nhất định vốn của tổ chức phát hành trong một khoảng thời gian xác định
Ở Việt Nam, các điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng được quy định tại Luật Chứng khoán 2006, Luật Chứng khoán 2010 và Nghị định 58/2012/NĐ-CP, Nghị định 60/2015/NĐ-CP Để được chào bán cổ phiếu ra công chúng, chủ thể phát hành phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Thứ nhất, điều kiện pháp lý và quy mô vốn: tổ chức phát hành chỉ có thể
là công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp cổ phần hóa Các loại hình doanh nghiệp khác không được thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn Tổ chức phát hành phải đáp ứng được yêu cầu vốn điều lệ đã góp tối thiểu là 10 tỷ đồng
Thứ hai, điều kiện về tính liên tục và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của tổ chức phát hành: doanh nghiệp đã được thành lập, có thời gian hoạt động trên
một năm và hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán
Thứ ba, điều kiện về phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán: tổ chức phát hành phải có phương án phát hành và
Trang 34phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua
Thứ tư, điều kiện về thời hạn đưa cổ phiếu vào giao dịch trên thị trường
có tổ chức sau khi chào bán ra công chúng: công ty đại chúng đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng phải cam kết đưa cổ phiếu vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn một năm, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua
chúng tại Việt Nam
Hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng đóng vai trò quan trọng đối với tổ chức phát hành, nhà đầu tư, thị trường chứng khoán và nền kinh tế; do
đó để thực hiện chào bán, chủ thể phát hành phải đáp ứng các điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng Việc đặt ra các điều kiện này có các ý nghĩa cơ bản như sau:
Một là, để đảm bảo chất lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán: thị
trường chứng khoán là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng phục
vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế Đây là thị trường phức tạp, thu hút được một số lượng nhà đầu tư đông đảo cả trong và ngoài nước tham gia; thị trường này hoạt động theo một thiết chế phức tạp và riêng biệt với những quy luật chi phối khắc nghiệt, sâu sắc và ảnh hưởng toàn diện đến tình hình phát triển của quốc gia; và tùy thuộc vào trình độ phát triển nền kinh tế thị trường của mỗi nước sẽ có thể tác động, ảnh hưởng đến môi trường, thị trường khu vực và quốc tế Thị trường chứng khoán muốn tồn tại và phát triển thì phải có nguồn hàng hóa phong phú, lành mạnh Hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng là một trong những nguồn cung quan trọng nhất cho thị trường Không chỉ vậy, hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng còn có vai trò lớn đối với
Trang 35nền kinh tế, với tổ chức phát hành và với nhà đầu tư như đã phân tích ở trên
Do vai trò và tầm ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng đó mà nhất thiết phải có pháp luật quy định về các điều kiện được chào bán cổ phiếu ra công chúng nhằm đảm bảo cho thị trường có được nguồn cung cấp hàng hóa đa dạng, có chất lượng cao; từ đó có thể mở rộng quy mô, tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường, phát huy tối đa vai trò huy động vốn phục vụ cho hoạt động phát triển kinh tế nước nhà
Hai là, để tạo ra môi trường đầu tư minh bạch, công bằng và đúng pháp luật: thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ, các văn bản pháp luật
còn thiếu đồng bộ, các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán chưa đầy đủ, rõ ràng, tổ chức phát hành và nhà đầu tư chưa có nhiều kinh nghiệm Do đó, cần thiết phải có sự tham gia xem xét, đánh giá chất lượng của cổ phiếu chào bán ra công chúng thông qua việc thẩm định nội dung của đợt chào bán từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về chứng khoán Các điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng sẽ giúp cho sự can thiệp của cơ quan chuyên trách được thực hiện minh bạch, công bằng và đúng pháp luật
Ba là, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư: xuất phát
từ lý do chào bán cổ phiếu ra công chúng là việc chào bán cổ phiếu cho một
số lượng lớn công chúng đầu tư, nhiều người trong số đó là các nhà đầu tư nhỏ, không có kiến thức chuyên sâu về phân tích đầu tư cổ phiếu; do đó, để bảo vệ các nhà đầu tư này, pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phiếu
ra công chúng phải đưa ra các điều kiện để đảm bảo cho cổ phiếu được chào bán rộng rãi ra công chúng là các cổ phiếu có chất lượng cao, tổ chức phát hành là các doanh nghiệp có triển vọng phát triển trong tương lai
Trang 36Trên cơ sở những vấn đề đã được nghiên cứu ở chương 1, chương 2 sẽ tiến hành đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này Qua đó xác định những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các điều kiện về chào bán
cổ phiếu ra công chúng tại Việt Nam để đưa ra hướng kiến nghị hoàn thiện, từ
đó tạo tiền đề cho việc xây dựng khung pháp lý chuyên ngành hoàn chỉnh
Trang 37Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN CHÀO BÁN
CỔ PHIẾU RA CÔNG CHÚNG TẠI VIỆT NAM
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 2.1 Tình hình chào bán cổ phiếu ra công chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường giao dịch chứng khoán và thị trường chào bán cổ phiếu ra công chúng có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau Nên chỉ có thể nhận định về tình hình chào bán cổ phiếu ra công chúng trong mối tương quan với thị trường giao dịch Có thể thấy được tình hình diễn biến của thị trường giao dịch thông qua biểu đồ của chỉ số VNindex như sau:
Hình 1: Biểu đồ chỉ số VNIndex từ 07/2000 – 09/2015
cập ngày 25/09/2015)
Khi hình thành thị trường chứng khoán, nhiều người hy vọng rằng đây sẽ
là một nơi huy động vốn đầu tư hiệu quả Nhưng sau sáu năm hoạt động, thị trường chứng khoán có lẽ mới dừng ở mức độ thử nghiệm trên một quy mô nhỏ Trong thời gian đầu, các nhà đầu tư còn đang mong chờ có điều kỳ diệu
Trang 38xảy ra như những gì họ đã được học, được biết đến Tâm lý này làm cho số lượng nhà đầu tư rất đông và nhu cầu mua cổ phiếu rất lớn, chỉ số VNindex tăng mạnh từ 150 điểm tới 260 điểm, giá các loại cổ phiếu như HAP, REE,
lượng cố phiếu bán ra thị trường lại rất ít Đa số các cổ phiếu được đăng ký niêm yết đều là cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa thực hiện đăng ký lại theo quy định của Nghị định 48/1998/NĐ-CP ban hành ngày 11/07/1998 và Thông tư 02/2001/TT–UBCK ban hành ngày 28/09/2001 Việc này đã gây nên tình trạng thiếu hụt hàng hóa một cách trầm trọng, thị trường hoạt động không sôi động, quy mô nhỏ bé không phát huy được vai trò đích thực của thị trường chứng khoán đối với sự phát triển kinh tế
Mặc dù có những ưu điểm nổi bật hơn so với phương pháp vay tín dụng ngân hàng nhưng tại sao trong thời kỳ này lại có quá ít doanh nghiệp tham gia chào bán cổ phiếu ra công chúng Nguyên nhân chính là bởi, các doanh nghiệp chưa thấy được lợi ích thực sự của việc chào bán cổ phiếu ra công chúng Đa số các công ty chào bán cổ phiếu đều nhằm mục đích quảng bá tên tuổi, thương hiệu, chứ không vì mục tiêu huy động vốn Một số khác chưa sẵn sàng tham gia chào bán và niêm yết cổ phiếu vì còn e ngại lý do phải công bố thông tin về tình hình tài chính, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, ngại kiểm toán
Từ khi thành lập và đi vào hoạt động cho đến năm 2006, pháp luật về chứng khoán nói chung và pháp luật về hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng nói riêng đã đạt được một số mốc nổi bật như: đã thiết lập được khung pháp lý ban đầu cho hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng; các quy định pháp luật về chào bán cổ phiếu ra công chúng được xây dựng trên cơ sở tham
23 Nỗi khổ chứng khoán , Nguyễn Minh tại
http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/BAICHU/2008/6/7AA9DD183E54B9A8/, truy cập ngày 10/05/2015
Trang 39khảo kinh nghiệm của thế giới để vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam
Tuy nhiên, pháp luật trong lĩnh vực này vẫn còn tồn tại những hạn chế Cho đến năm 2006, văn bản pháp lý cao nhất về chứng khoán và thị trường chứng khoán là Nghị định số 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 144/2003/NĐ-CP) Sau 6 năm vận hành cho thấy, hệ thống các văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ và pháp luật về chào bán cổ phiếu ra công chúng cũng không nằm ngoài quy luật này Đơn cử như Nghị định 144/2003/NĐ-CP mới chỉ điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng của các công
ty cổ phần, không điều chỉnh việc chào bán cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần Điều này làm hạn chế việc phát triển thị trường sơ cấp, đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong việc chào bán cổ phiếu ra công chúng Việc chào bán cổ phiếu ra công chúng còn nhiều vướng mắc, chẳng hạn, điều kiện chào bán còn cao, thủ tục chào bán phức tạp, thiếu cơ sở pháp lý cho những vấn đề nảy sinh trong quá trình chào bán cổ phiếu ra công chúng Các văn bản pháp luật ở giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở mức Nghị định nên tính pháp lý chưa cao, chưa điều chỉnh được toàn diện hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng, cần phải có một văn bản pháp lý cao hơn để tạo cơ sở pháp lý cho thị trường chứng khoán phát triển
Có thể nói, đến năm 2006 thì thị trường chứng khoán Việt Nam đã thực
sự sôi động Và chu kỳ phát triển rực rỡ chưa từng có trong hơn 8 năm phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam tập trung vào năm 2007 Tình
Trang 40trạng đầu tư vào cổ phiếu ở nước ta mang tâm lý “đám đông”, qua đó đẩy thị trường chứng khoán vào tình trạng “nóng” Kéo theo đó, các doanh nghiệp từ lớn tới nhỏ tranh thủ, tận dụng cơ hội để thu lợi từ hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng Đặc biệt, các cổ phiếu IPO luôn được các nhà đầu tư tìm kiếm với mong muốn mua được cổ phiếu giá rẻ Các ngân hàng thương mại
cổ phần sau quá trình tái cơ cấu đã làm ăn tốt, đang ổn định và phát triển, tiếp tục tái cơ cấu để tăng cường năng lực cạnh tranh và hội nhập theo các cam kết của WTO, trong đó có việc phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn (chào bán mới, chào bán thêm, thưởng cuối năm bằng cổ phiếu) và đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho cổ phiếu ngân hàng luôn “nóng” Không chỉ khối ngân hàng thương mại, đã có một vài đơn vị sản xuất thực hiện tăng vốn mạnh, nhưng cuối cùng, chỉ trong vòng một năm sau đó, một phần không nhỏ vốn huy động được đem gửi tiết kiệm vì hoạt động kinh doanh chính không có nhu cầu sử dụng thêm vốn
Song song với việc các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại ồ ạt chào bán cổ phiếu ra công chúng thì hiện tượng vi phạm trong lĩnh vực này bắt đầu gia tăng Theo số liệu thống kê của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, từ ngày 1/1/2007 đến 30/9/2008, cơ quan này đã phát hiện và xử lý vi phạm hành chính đối với 125 doanh nghiệp do thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng
Đối với các trường hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng khi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Luật chứng khoán, từ đầu năm 2007 đến hết 2009, Ủy ban Chứng khoán
đã phát hiện 20 trường hợp doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng nhưng vẫn tiến hành chào bán cổ phiếu để huy động vốn rộng rãi ra công
24 Làm gì để ngăn chặn tội phạm chứng khoán, Lê Hường tại ngan-chan-toi-pham-chung-khoan-20081021101851906.htm , truy cập ngày 10/05/2015