Để có cơ sở khoa học nhằm đề xuất các chính sách, giải pháp phát triển xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu hàng may mặc nói riêng, trước hết cần có một số mô hình lý thuyết về các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
- -
NGUYỄN THỊ NGỌC LỆ
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC CỦA VIỆT NAM BẰNG CÁCH TIẾP CẬN MÔ HÌNH
TRỌNG LỰC HẤP DẪN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
- -
NGUYỄN THỊ NGỌC LỆ
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC CỦA VIỆT NAM BẰNG CÁCH TIẾP CẬN MÔ HÌNH
TRỌNG LỰC HẤP DẪN
NGÀNH: KINH TẾ QUỐC TẾ MSHV: C17608007
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN VĂN ĐỨC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu: "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam bằng cách tiếp cận mô hình trọng lực hấp dẫn" là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Văn Đức Đồng thời kết quả nghiên cứu này chưa công bố trên bất kỳ tài liệu nào
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Lệ
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nội dung tiếng Anh Nội dung tiếng Việt
APEC Asian Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
FDI Forgein Domestic Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FEM Fixed Effect Model Mô hình tác động cố định
FTA Free Trade Agreement Hiệp định tự do thương mại
GDP Gross Domestic Product Tổng thu nhập quốc nội
GLS Generalized Least Squares Bình phương bé nhất tổng quát
GNP Gross National Product Tổng thu nhập quốc dân
Description and Coding System
Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá
KNXKMM Value of Garment Export Kim ngạch xuất khẩu may mặc
OLS Ordinary Least Squares Mô hình bình phương bé nhất thô
REM Random Effects Model Mô hình tác động ngẫu nhiên
VIF Variance Inflation Factor Hệ số phóng đại phương sai
VITAS Vietnam Textile And Apparel
WEF World Economic Forum Diễn đàn Kinh tế thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 15Bảng 2.2 Bảng tổng hợp các biến và nguồn các nghiên cứu thực nghiệm 19Bảng 2.3 Tổng hợp các giả thuyết về xu hướng tác động các biến trong mô hình nghiên cứu đề xuất 25Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn chuyên gia về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam 28Bảng 3.2 Nguồn dữ liệu thu thập của các biến trong mô hình 34
Bảng 4.1 Thị phần xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam giai đoạn 2007 - 201639
Bảng 4.2 Lực lượng lao động ngành may mặc của Việt Nam giai đoạn 2011-2015 41Bảng 4.3 Đánh giá vị trí lao động trong các doanh nghiệp may mặc của Việt Nam năm 2013 41Bảng 4.4 Quy mô thị trường may mặc năm 2013 và quy mô thị trường dự báo năm
2025 44Bảng 4.5 Chỉ số cơ sở hạ tầng của Việt Nam một số nước nhập khẩu hàng may mặc lớn của Việt Nam giai đoạn 2007- 2016 46Bảng 4.6 Độ mở thương mại của Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 2007-2016 47Bảng 4.7 Chính sách hỗ trợ sản xuất xuất khẩu dệt may nói chung và may mặc nói riêng của Nhà nước 48Bảng 4.8 Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của các biến sử dụng trong mô hình 50Bảng 4.9 Kết quả ước lượng mô hình OLS về tác động của các yếu tố đến kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam 51Bảng 4.10 Kết quả ước lượng mô hình REM về tác động của các yếu tố đến kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam 52Bảng 4.11 Kết quả ước lượng mô hình FEM về tác động của các yếu tố đến kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam 53Bảng 4.12 Giá trị VIF của các biến trong mô hình 55
Trang 6Bảng 4.13 Kết quả ước lượng mô hình FEM về tác động của các yếu tố đến kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam 56Bảng 4.14 So sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu trước đó 60
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu được sử dụng trong luận văn 27Hình 4.1 Bảng chi tiêu cá nhân của người Việt Nam 43
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam giai đoạn 2007-2016 38Biểu đồ 4.2 Các thị trường xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất của Việt Nam giai đoạn 2007-2016 40Biểu đồ 4.3 Chi tiêu bình quân đầu người hàng may mặc của các quốc gia năm 2013 45
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG 1
DANH MỤC HÌNH VẼ 3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 4
MỤC LỤC 5
Chương 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2.Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
1.2.1 Các nghiên cứu ở trong nước về xuất khẩu 2
1.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài 6
1.2.3 Đánh giá chung các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và ngoài nước 9
1.3.Mục tiêu nghiên cứu 10
1.3.4 Mục tiêu tổng quát 10
1.3.5 Mục tiêu cụ thể 10
1.4.Câu hỏi nghiên cứu 10
1.5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
1.6.Phương pháp nghiên cứu 11
1.7.Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu 11
1.8.Bố cục luận văn 11
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 14
2.1.Các vấn đề cơ bản về xuất khẩu 14
2.1.1 Khái niệm xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu 14
2.1.2 Các hình thức xuất khẩu 15
2.1.3 Vai trò của xuất khẩu 16
2.2.Cơ sở lý thuyết trong thương mại quốc tế 17
Trang 102.2.1 Lý thuyết thương mại mới 17
2.2.2 Lý thuyết về mô hình trọng lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế 17
2.3.Mô hình nghiên cứu đề xuất 19
2.3.1 Cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu 19
2.3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu 21
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1.Quy trình nghiên cứu 27
3.2.Phương pháp nghiên cứu định tính 28
3.3.Phương pháp nghiên cứu định lượng bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng 30
3.4.Dữ liệu nghiên cứu 33
Chương 4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU MAY MẶC CỦA VIỆT NAM 37
4.1.Tổng quan hoạt động xuất khẩu may mặc của Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2016 37
4.1.1 Tổng quan tình hình xuất khẩu may mặc của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2016 37
4.1.2 Thực trạng các yếu tố tác động đến xuất khẩu may mặc của Việt Nam 40
4.2.Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến xuất khẩu may mặc của Việt Nam cách tiếp cận bằng mô hình trọng lực hấp dẫn 50
4.2.1 Thống kê mô tả các biến 50
4.2.2 Kết quả mô hình 51
4.2.3 Kiểm định lựa chọn loại mô hình và sự phù hợp của mô hình 53
4.2.4 Các khuyết tật trong mô hình 55
4.2.5 Kết quả mô hình sau khi khắc phục khuyết tật 55
4.2.6 So sánh kết quả nghiên cứu của luận văn với một số nghiên cứu trước 59
Trang 11Chương 5 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 63
5.1.Cơ sở đề xuất hàm ý chính sách 63
5.2.Hàm ý chính sách dựa vào kết quả nghiên cứu 63
5.2.1 Dựa vào yếu tố GDP bình quân đầu người thực gộp của Việt Nam và các nước nhập khẩu 64
5.2.2 Dựa vào yếu tố dân số gộp của Việt Nam và các nước nhập khẩu 65
5.2.3 Dựa vào yếu tố tỷ giá hối đoái thực giữa đồng VND và đồng tiền nhập khẩu 66
5.2.4 Dựa vào yếu tố độ mở thương mại của Việt Nam 67
5.3.Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 68
5.3.1 Một số hạn chế của đề tài 68
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 69
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 78
Trang 12Chương 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam là một quốc gia có lợi thế so sánh trong ngành dệt may nói chung
và may mặc nói riêng, do có dân số trẻ, người lao động cần cù (Hà Văn Hội, 2012) Trong giai đoạn 2007-2016, theo Tổng cục Hải quan kim ngạch xuất khẩu rất cao, giá trị xuất khẩu tăng tăng 3,152 lần, từ mức khoảng 6.959 triệu USD năm 2007 lên tới 21.939 triệu USD năm 2016 Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đã đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Theo Tổng cục Hải quan, trong giai đoạn 2013-2016, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam luôn đứng thứ hai trong những sản phẩm xuất khẩu nhiều nhất của Việt Nam, mà trong khi đó kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam Do
đó, xuất khẩu may mặc đã trở thành một trong những lĩnh vực xuất khẩu quan trọng nhất của nền kinh tế mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước, đóng góp một phần rất lớn trong tổng sản phẩm quốc nội của nước ta
Tuy nhiên, vị trí của hàng may mặc Việt Nam trên thị trường thế giới còn thấp hơn rất nhiều so với Trung Quốc và các đối thủ cạnh tranh mạnh khác (Nguyễn, T
T H (2005)) Nguyên nhân chính gây ra tình trạng này là tồn tại khoảng cách khá lớn giữa chất lượng của các sản phẩm may mặc của Việt Nam so với những tiêu chuẩn khắt khe của những thị trường nhập khẩu lớn trên Thế giới như: EU, Mỹ, Nhật Bản, Trong khi đó, quy trình sản xuất hàng may mặc của Việt Nam vẫn đang còn lạc hậu, chất lượng chưa cao Trong những năm gần đây, mô hình trọng lực hấp dẫn là một trong những công cụ hữu ích nhất trong việc lượng hoá các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu Mô hình này được đặt nền móng bởi nhà kinh tế học Tinbergen (1962) sau
đó được nhiều nhà kinh tế học khác như: Bergtrad (1985), Krugman (2005) tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện mô hình Quan tâm đến xuất khẩu may mặc, các nghiên cứu thực nghiệm đã ứng dụng mô hình trọng lực hấp dẫn này, điển hình như: Chen và cộng sự (2012), Moudy Hermawan (2011) Các nghiên cứu ở trong nước về xuất khẩu dệt may nói chung và may mặc nói riêng thì chủ yếu là phân tích định tính, điển hình như: Nguyễn Thị Thu Hương, (2005), Hà Văn Hội (2012) Hơn thế, cũng chưa có tác
Trang 13giả nào nghiên cứu vấn đề xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam dưới tiếp cận từ
mô hình trọng lực hấp dẫn
Bên cạnh đó, trước những thách thức của hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, vấn đề lớn đặt ra đối với mỗi quốc gia xuất khẩu, cụ thể là các cơ quan quản lý nhà nước, nhà hoạch định chính sách, quản lý kinh tế của mỗi quốc gia xuất khẩu đó
là làm thế nào để phát triển xuất khẩu những hàng hóa có lợi thế so sánh theo hướng bền vững và mang về nhiều ngoại tệ cho quốc gia Để có cơ sở khoa học nhằm đề xuất các chính sách, giải pháp phát triển xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu hàng may mặc nói riêng, trước hết cần có một số mô hình lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu; từ đó vận dụng các mô hình lý thuyết này vào thực tế để đo lường mức độ tác động cũng như xác định thứ tự tầm quan trọng của từng yếu tố là cần thiết và quan trọng
Xuất phát từ tính cấp thiết từ khía cạnh thực tiễn và khía cạnh lý thuyết, tác
giả đã lựa chọn đề tài: "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc
của Việt Nam bằng cách tiếp cận mô hình trọng lực hấp dẫn"
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Mục này tác giả trình bày 2 mục chính: Một là, các nghiên cứu ở trong nước
về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu Hai là, các nghiên cứu ở nước ngoài về các
yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
1.2.1 Các nghiên cứu ở trong nước về xuất khẩu
1.2.1.1 Các nghiên cứu trong nước về xuất khẩu nói chung
Từ Thuý Anh và Đào Nguyên Thắng, (2008), nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ tập trung thương mại của Việt Nam và Asean +3, mô hình này đã được tác giả dựa vào nền tảng mô hình trọng lực hấp dẫn Với dữ liệu bảng, thu thập
từ 1998 -2005 Kết quả của nghiên cứu đã đưa ra rằng GDP và GDP của quốc gia xuất khẩu cũng như quốc gia nhập khẩu có ảnh hưởng tích cực đến mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với các nước ASEAN+3, khoảng cách địa lý chỉ ảnh hưởng
đến xuất khẩu
Trang 14Tri Thái Đỗ (2006), nghiên cứu tác động của các yếu tố tác động đến thương
mại của Việt Nam và 23 nước EU Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng, 23 nước OECD thuộc EU, giai đoạn 1993-2004 Kết quả của nghiên cứu cho thấy các biến: GDP gộp, dân số gộp và tỷ giá hối đoái thực tế có tác động cùng chiều đến kim ngạch xuất khẩu Các biến còn lại: khoảng cách địa lý, biến giả lịch sử có tác động ngược chiều đến kim ngạch xuất khẩu
Nguyễn Tiến Dũng, (2011), nghiên cứu đã phân tích tác động của khu vực
thương mại tự do ASEAN và Hàn Quốc đến thương mại của Việt Nam Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu giai đoạn 2001-2009 Kết quả nghiên cứu thu được như sau: GDP của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, GDP bình quân đầu người của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, các biến giả FTA đều có tác động cùng chiều đến thương mại của Việt Nam, biến khoảng cách địa lý có tác động ngược chiều với thương mại của Việt Nam, biến tỷ giá hối đoái có tác động cùng chiều với xuất khẩu và ngược chiều với nhập khẩu
Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ, (2015), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
đến kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam bằng mô hình trọng lực Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 1997-2013 và mô hình REM, bài nghiên cứu cho thấy các yếu tố: Các biến gộp GDP Việt Nam và GDP nước nhập khẩu, biến gộp dân số của nước xuất khẩu và nhập khẩu, biến gộp độ mở nền kinh tế của Việt Nam
và nước nhập khẩu, các biến giả WTO, APEC, biến khoảng cách giữa các nền kinh
tế, biến tỷ giá hối đoái thực có tác động tích cực đến kim ngạch xuất khẩu Trong khi
đó có biến khoảng cách địa lý, biến gộp diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam và nước nhập khẩu có tác động tiêu cực đến kim ngạch xuất khẩu
Dinh Thi Thanh Binh và cộng sự, (2011), nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng
đến hoạt động thương mại của Việt Nam với hơn 60 quốc gia bằng mô hình trọng lực Bằng ước lượng OLS, bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn từ 2000-
2010, nghiên cứu này cho thấy các yếu tố như: GDP của Việt Nam, GDP của nước nhập khẩu, dân số Việt Nam, tỷ giá hối đoái, có tác động tích cực đến thương mại trong khi đó khoảng cách địa lý có tác động tiêu cực đến thương mại
Trang 15Trần Thanh Long và Phan Thị Quỳnh Hoa, (2015), nghiên cứu về các yếu
tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Với dữ liệu thu thập giai đoạn
2010 -2014 với 30 quốc gia nhập khẩu Kết quả của nghiên cứu cho thấy, GDP của Việt Nam, GDP của nước nhập khẩu, GDP bình quân của nước nhập khẩu, biến giả FTA có tác động cùng chiều với kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Trong khi đó, biến tỷ giá hối đoái có tác động ngược chiều với kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
Đỗ Thị Hoà Nhã, (2017), nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
nông sản của Việt Nam sang thị trường EU bằng cách tiếp cận mô hình trọng lực hấp dẫn Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng, giai đoạn 2005-2015 với 18 quốc gia nhập khẩu nông sản lớn nhất trong thị trường EU Bài nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam qua thị trường EU bao gồm: GDP bình quân đầu người, dân số, chỉ số công nghệ, chất lượng các chính sách của Chính phủ, khoảng cách địa lý, chỉ số cơ sở hạ tầng
Nguyen Binh Duong và cộng sự, (2016), nghiên cứu về ảnh hưởng của hiệp
định thượng mại tự do Việt Nam - EU Với dữ liệu bảng với sự kết hợp dữ liệu theo thời gian từ năm 1997-2013, với dữ liệu chéo của 27 nước trong EU Bài nghiên cứu
sử dụng mô hình FEM, thu được kết quả như sau: biến gộp độ trễ GNI bình quân giữa Việt Nam và các nước trong EU, dân số gộp có tác động tích cực đến dòng thương mại của Việt Nam với các nước trong EU Các biến còn lại: Tỷ giá hối đoái, rào cản thuế của quốc gia xuất khẩu, rào cản thuế của quốc gia nhập khẩu, khoảng cách địa
lý có tác động tiêu cực đến dòng chạy thương mại Việt Nam- EU
Vu Van Trung và Nguyen Anh Thu, (2016), nghiên cứu về tiềm năng thương
mại và các yếu tố tác động đến dòng thương mại hai chiều giữa Việt Nam và 45 đối tác thương mại đối với các hàng hoá thân thiện với môi trường Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu giai đoạn 2002 - 2013 Bài nghiên cứu thu được kết quả như sau: các biến GDP của nước xuất khẩu, cơ sở hạ tầng của các nước nhập khẩu, biến biên giới chung có tác động cùng chiều với thương mại hàng hoá, các biến dân số của nước
Trang 16nhập khẩu, tỷ giá hối đoái thực, cơ sở vật chất của Việt Nam có tác động ngược chiều đến thương mại hàng hoá
Phạm Văn Nhớ, Vũ Thanh Hương, (2014), nghiên cứu về các yếu tố ảnh
hưởng đến thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và EU Bài nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực hấp dẫn, sử dụng dữ liệu bảng giai đoạn 2002-2011 Bài nghiên cứu cho thấy có 5 yếu tố tác động tích cực đến thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và EU bao gồm: Dân số nước nhập khẩu, tỷ giá hối đoái thực tế, chênh lệch thu nhập bình quân đầu người, các biến giả: từng có quan hệ thuộc địa, thành viên CMEA
Vu Van Trung và Nguyen Anh Thu, (2016), nghiên cứu về xác định tiềm
năng thương mại và các yếu tố tác động đến dòng thương mại hai chiều giữa Việt Nam và 45 đối tác thương mại đối với các hàng hóa thân thiện với môi trường Bài nghiên cứu sử dụng Số liệu mảng, 45 đối tác thương mại, giai đoạn 2002- 2013 Bài nghiên cứu cho thấy các yếu tố: GDP nước đối tác, dân số nước đối tác, khoảng cách địa lý, tỷ giá hối đoái thực tế, chất lượng cơ sở hạ tầng của Việt Nam và đối tác, biên giới chung, thành viên của RTA có tác động đến thương mại của Việt Nam với các quốc gia này
1.2.1.2 Các nghiên cứu trong nước về xuất khẩu may mặc
Nguyễn Thị Thu Hương, (2005), nghiên cứu về một số giải pháp vĩ mô nhằm
nâng cao sức cạnh tranh của hàng may mặc Việt Nam trên thị trường Nhật Bản Trong
bài nghiên cứu này, tác giả phân tích thực trạng cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh hàng may mặc Việt Nam trên thị trường Nhật Bản, phân tích SWOT trong việc nâng cao sức cạnh tranh hàng may mặc Việt Nam trên thị trường Nhật Bản Từ cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh hàng may mặc Việt Nam trên thị trường Nhật Bản
Hà Văn Hội, (2012), nghiên cứu về chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt
Nam Bài nghiên cứu bằng phương pháp định tính, bài nghiên cứu đã chỉ ra những khó khăn trong chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam bao gồm các yếu tố sau:
sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, nguồn cung ứng nguyên phụ liệu trong nước
Trang 17không ổn định, sự biến động của các yếu tố sản xuất, sự biến động của giá nguyên liệu và điện, sự biến động của tỷ giá và lãi suất
1.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài
1.2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài về xuất khẩu nói chung
Abidin và cộng sự, (2013), tác giả sử dụng mô hình trọng lực thông qua phân
tích hồi quy dữ liệu bảng với nguồn dữ liệu giai đoạn 1997 – 2009 nghiên cứu tác động của các yếu tố kinh tế đến xuất khẩu song phương giữa Malaysia và các nước thành viên OIC, công cụ phân tích là FEM cho thấy quy mô nền kinh tế của nước xuất khẩu và nhập khẩu, lạm phát của nước xuất khẩu, mức độ mở cửa của nền kinh
tế tác động cùng chiều đến xuất khẩu của Malaysia; GDP bình quân trên đầu người của nước xuất khẩu và nhập khẩu, lạm phát của nước nhập khẩu, khoảng cách, tỷ giá hối đoái thực tác động ngược chiều đến xuất khẩu của Malaysia
Eita, H, (2008), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Namibian
bằng mô hình trọng lực Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, thu thập trong giai đoạn 1998-2006 với 38 nước nhập khẩu chính Bằng công cụ phân tích là FEM, bài nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố tác động tích cực đến xuất khẩu đó là: GDP của xuất khẩu, GDP của nước nhập khẩu Các yếu tố không có ảnh hưởng đến xuất khẩu
đó là: GDP bình quân đầu người của nước Namibian, tỷ giá hối đoái thực Các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu của Namibian là: GDP bình quân đầu người của nước nhập khẩu
Zarzoso, (2003), nghiên cứu các yếu tố tác động đến thương mại của
Mercousur- EU bằng mô hình trọng lực Bài nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp giai đoạn 1998-1996 Với công cụ phân tích là FEM, bài nghiên cứu cho thấy, các yếu tố: thu nhập của quốc gia xuất khẩu, thu nhập của quốc gia nhập khẩu có tác động dương đến thương mại của Mercisur-EU Các yếu tố: dân số của quốc gia xuất khẩu, dân số của quốc gia nhập khẩu, khoảng cách địa lý, cơ sở vật chất hạ tầng của nước xuất khẩu và nhập khẩu, khoảng cách giữa các nền kinh tế, tỷ giá hối đoái thực là những nhân tố có tác động ngược chiều đến thương mại của Mercousur-EU
Trang 18Hatab và các cộng sự, (2010), nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất
khẩu nông sản của Ai Cập Bài nghiên cứu ứng dụng mô hình trọng lực, sử dụng dữ
liệu thứ cấp giai đoạn 1994-2008 Với công cụ phân tích là LLC và IPS, bài nghiên cứu cho thấy các yếu tố có tác động tích cực đến xuất khẩu như: GDP của nước xuất khẩu cũng như nhập khẩu, dân số của nước xuất khẩu, nhập khẩu, độ mở của nền kinh tế nước xuất khẩu cũng như nhập khẩu, các hiệp định tự do khu vực Bên cạnh
đó cũng có những yếu tố tác động tiêu cực đến xuất khẩu như: khoảng cách địa lý, tỷ giá hối đoái
Elshehawy và cộng sự, (2014), cũng sử dụng mô hình trọng lực dựa trên dữ
liệu bảng để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Ai Cập đến 42 thị trường đối tác trong giai đoạn 2000-2013 Bài nghiên cứu sử dụng công cụ phân tích
là FEM và kết quả cho thấy rằng GDP thực của nước xuất khẩu và nhập khẩu, dân số của nhà nhập khẩu, độ mở thực của nước nhập khẩu, đường biên giới chung của Ai Cập và các nước nhập khẩu, thương mại khu vực các hiệp định (RTA) là những yếu
tố chính ảnh hưởng tích cực đến thương mại giữa giữa hai nước Ngược lại, biến khoảng cách (chi phí vận chuyển), các nước có tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức
có tác động tiêu cực đến thương mại của 2 nước
Nguyen Xuan Bac, (2010), nghiên cứu các yếu tố tác động đến xuất khẩu của
Việt Nam Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu giai đoạn 1986-2006 với 15 quốc gia nhập khẩu của Việt Nam Bài nghiên cứu thu được kết quả: Thứ nhất, đối với mô hình tĩnh: GDP của Việt Nam, GDP của quốc gia nhập khẩu, tỷ giá hối đoái thực có tác động cùng chiều đến kim ngạch xuất khẩu, các biến khoảng cách địa lý, biến giả ASEAN
có tác động ngược chiêù đến kim ngạch xuất khẩu Thứ hai, đối với mô hình động: GDP của Việt Nam, GDP của quốc gia nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu năm trước,
tỷ giá hối đoái thực có tác động cùng chiều đến kim ngạch xuất khẩu, các biến khoảng cách địa lý, biến giả ASEAN có tác động ngược chiều đến kim ngạch xuất khẩu
Ahmad và Garcia, (2012), dùng mô hình trọng lực và công cụ phân tích là
FEM nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo của Pakistan đi 92 thị trường nhập khẩu trong giai đoạn 1991-2010 Kết quả cho thấy GDP thực của nước nhập
Trang 19khẩu và xuất khẩu, giá xuất khẩu, tỷ giá hoái đối, quan hệ lịch sử tác động tích cực đến xuất khẩu gạo của Pakistan và GDP thực tế bình quân trên đầu người của nước nhập khẩu và xuất khẩu, khoảng cách tác động tiêu cực đến xuất khẩu gạo của Pakistan
1.2.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài về xuất khẩu dệt may, may mặc
Chan và cộng sự, (2007), nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
dệt may của Trung Quốc Bài nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực hấp dẫn với công
cụ phân tích là OLS để phân tích, dữ liệu thứ cấp thu thập giai đoạn 1985-2004 với top 10 nhập khẩu dệt may nhiều nhất của Trung Quốc Bài nghiên cứu có kết quả như sau: GDP của Trung Quốc, GDP của nước nhập khẩu, GDP bình quân của nước nhập khẩu, biến giả WTO tỷ giá hối đoái thực, tỷ lệ gia tăng dân số của nước nhập khẩu, biến giả EU, NAFTA, ASEAN
Chen và cộng sự, (2012), nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại
của may mặc Trung Quốc Bài nghiên cứu cũng sử dụng mô hình trọng lực hấp dẫn, với 433 quan sát Bài nghiên cứu thu được kết quả như sau: các biến GDP nước xuất khẩu, GDP nước nhập khẩu, độ mở thương mại của nước nhập khẩu, GDP bình quân của nước nhập khẩu có tác động cùng chiều đến thương mại của ngành may mặc Trung Quốc Trong khi đó, biến khoảng cách có tác động ngược chiều đến thương mại của ngành may mặc Trung Quốc
Khan và cộng sự, (2012), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu xuất
khẩu hàng dệt may của Pakistan Bài nghiên cứu sử dụng mô hình đồng liên kết để kiểm tra mối quan hệ lâu dài giữa nhu cầu xuất khẩu và các yếu tố quyết định Bằng công cụ phân tích là OLS, dữ liệu thu thập từ 1971-2009, kết quả của bài nghiên cứu cho thấy: thu nhập thế giới, tỷ giá hối đoái thực, độ mở của nền kinh tế có tác động tích cực đến cầu xuất khẩu dệt may Chỉ có chỉ số giá hàng dệt may có tác động tiêu cực đến nhu cầu xuất khẩu dệt may của Pakistan
Moudy Hermawan, (2011), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
các sản phẩm dệt may của Indonesia Bài nghiên cứu cũng sử dụng mô hình trọng lực hấp dẫn trong thương mại Với dữ liệu thu thập giai đoạn 2004-2009, với 25 quốc gia
Trang 20nhập khẩu Kết quả tác động của các biến khác nhau theo từng sản phẩm, các yếu tố tác động bao gồm: GDP bình quân đầu người của Indonesia, GDP nước nhập khẩu, dân số của Indonesia, dân số nước nhập khẩu, khoảng cách địa lý, các biến giả ASEAN, APEC, BORDER Tuy nhiên, GDP của Indonesia không tác động đối với xuất khẩu các sản phẩm dệt may với SITC 65
1.2.3 Đánh giá chung các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và ngoài nước
Từ mục 1.2.1, 1.2.2 về phân tích các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước mà tác giả đã nỗ lực tìm kiếm, tác giả nhận thấy rằng các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và nước ngoài có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến xuất khẩu bằng mô hình trọng lực hấp dẫn
Các nghiên cứu về xuất khẩu được thực hiện trong nhiều ngữ cảnh khác nhau như: xuất khẩu của một quốc gia, xuất khẩu của một ngành hoặc một mặt hàng ( bao gồm: nông sản, thuỷ sản, dệt may, gạo, ) Nhìn chung các yếu tố các nghiên cứu liên quan đến xuất khẩu đều có một số điểm tương đồng như: GDP của nước xuất khẩu, GDP nước nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, các hiệp định thương mại Tuy nhiên, từ thực
tế các nghiên cứu đã chỉ ra vẫn còn tồn tại sự khác nhau về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu trong các ngữ cảnh nghiên cứu khác nhau
Với từng ngữ cảnh nghiên cứu khác nhau, các học giả đã sử dụng các phương pháp định tính khác nhau để lựa chọn và xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp nhất với bài nghiên cứu của mình Phương pháp định lượng được thực hiện nhằm mục đích là kiểm định lại tính đúng đắn của mô hình nghiên cứu lý thuyết của các nghiên cứu Các công cụ định lượng chủ yếu được sử dụng bao gồm: OLS, REM, FEM, GLS nhằm kiểm định mức độ phù hợp của mô hình, các giả thuyết nghiên cứu đã đưa ra cũng như sự ảnh hưởng của từng yếu tố đến kim ngạch xuất khẩu
Từ những phân tích trên, tác giả kế thừa từ các nhà nghiên cứu đi trước về mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu để phân tích trong bài nghiên cứu này
Trang 211.3 Mục tiêu nghiên cứu
1.3.4 Mục tiêu tổng quát
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam Trên cơ sở đó đề ra một số hàm ý chính sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam
1.3.5 Mục tiêu cụ thể
Một là, hệ thống hóa các lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố
ảnh hưởng đến xuất khẩu
Hai là, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của
Việt Nam
Ba là, hàm ý chính sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc của Việt
Nam đến năm 2025
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Một là, mô hình nghiên cứu nào phù hợp để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam?
Hai là, mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến xuất khẩu hàng may mặc của
Việt Nam?
Ba là, làm thế nào để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Việt
Nam?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc
của Việt Nam, và đưa ra hàm ý chính sách nhằm nâng cao xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam tầm nhìn 2025
Về ngành hàng nghiên cứu: luận văn giới hạn ước lượng nghiên cứu các yếu
tố xuất khẩu của Việt Nam ở ngành hàng may mặc có hai mã HS 61, 62
Trang 22Về không gian: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi Việt Nam và 35 nước nhập khẩu may mặc lớn nhất của Việt Nam, bao gồm: Argentina, Úc, Áo, Bỉ, Brazil, Canada, Chi-lê, Trung Quốc, Hồng Kong, Czechia, Đan Mạch, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Saudi Arabia, Singapore, South Africa, Tây Ban Nha, Sweden, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraine, United Arab Emirates
Về thời gian: Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, giai đoạn 2007-2016
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa từ các nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp sau:
Một là, phương pháp định tính thông qua phỏng vấn chuyên gia
Hai là, phương pháp nghiên cứu định lượng bằng mô hình hồi quy dữ liệu
bảng để xác định mức độ ảnh hưởng của yếu tố đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam
1.7 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu
Về lý thuyết: Tổng kết các lý thuyết liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến
xuất khẩu
Về thực tiễn: Một là, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về sau Hai là,
đây sẽ là nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo trên cơ sở bổ sung những yếu tố
và các nhân tố mới
1.8 Bố cục luận văn
Kết cấu của luận văn nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương này cung cấp thông tin tổng quát về lý do chọn đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu Qua đó xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trang 23Trình bày phương pháp thực hiện các bước nghiên cứu như: quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu, công cụ phân tích, kiểm định mô hình
Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2016
Chương này trình bày tình hình xuất khẩu may mặc Việt Nam trong giai đoạn 2007-2016 và các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu may mặc của Việt Nam Cũng trong chương này, tác giả trình bày và phân tích kết quả kiểm định, so sánh với các
đề tài nghiên cứu liên quan để từ đó rút ra kết luận
Trang 24Tóm tắt chương 1
Trong chương 1, tác giả giới thiệu về tính cấp thiết của đề tài, từ đó hướng đến xác định đối tượng, phạm vi, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và nội dung chính của đề tài Chương này cung cấp được cái nhìn tổng quát về đề tài nghiên cứu cũng như cách tiếp cận đối với nội dung chính được trình bày ở những chương tiếp theo
Trang 25Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương này tập trung nghiên cứu các lý thuyết và những vấn đề cơ bản liên quan đến xuất khẩu cũng như những lý thuyết và các mô hình liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế Đồng thời hệ thống có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu, qua đó lựa chọn mô hình phù hợp sử dụng cho nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam Trong chương này gồm các mục như sau: 2.1 Các vấn đề cơ bản về xuất khẩu 2.2
Lý thuyết về thương mại quốc tế 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất.
2.1 Các vấn đề cơ bản về xuất khẩu
Trong phần này, tác giả trình bày các vấn đề sau:
Một là, khái niệm xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu Hai là, các hình thức
xuất khẩu Ba là, vai trò của xuất khẩu
2.1.1 Khái niệm xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu
Một là, về khái niệm xuất khẩu
Theo (Nguyễn Văn Tuấn, Trần Hoè, 2008) đã định nghĩa "Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh với phạm vi vượt ra khỏi biên giới quốc gia hoặc là hoạt động buôn bán của một nước với nước khác trên phạm vi quốc tế"
Theo điều 28 luật Thương mại 2005 đã nêu rõ "Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực Hải quan theo quy định của pháp luật"
Từ những quan điểm, định nghĩa về xuất khẩu nêu trên có thể tổng quát: Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia này qua các quốc gia khác thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác được lợi thế của quốc gia này từ đó mang lại lợi ích cho quốc gia
Hai là, về khái niệm kim ngạch xuất khẩu
Theo Tổng cục Thống kê đã nêu rõ "Kim ngạch xuất khẩu là trị giá hàng hoá xuất khẩu được quy về USD (đối với những tờ khai có ngoại tệ khác USD thì được quy đổi về USD theo tỷ giá ngoại tệ do Ngân hàng Nhà nước công bố)"
Trang 26Do không phải thông qua trung gian nên hình thức này
sẽ thu được lợi nhuận cao hơn những hình thức khác Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi người bán cần có sự nhanh nhạy
về thông tin thị trường và có những có biện pháp đối phó với những rủi ro như thay đổi tỷ giá hối đoái, chính sách thương mại của các nước nhập khẩu
2 Xuất khẩu qua
là đại lý và môi giới
Đây là hình thức được sử dụng phổ biến nhất hiện nay
vì các nhân tố trung gian thường hiểu rõ về thị trường nên cơ hội thu được lợi nhuận cao sẽ nhiều hơn Tuy nhiên, hình thức này sẽ làm giảm lợi nhuận của người bán do phải trả cho nhân
Trang 27đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua hàng hoá ở nước này rồi bán với mức giá cao hơn ở các nước khác và thu
về số tiền lớn hơn
(Nguồn: Phạm Duy Liên, (2002))
2.1.3 Vai trò của xuất khẩu
Vai trò của xuất khẩu được thể hiện trên một số khía cạnh dưới đây:
Một là, xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho nền kinh tế, làm gia tăng
GDP của quốc gia
GDP là tổng thu nhập quốc nội
Từ phương trình của Keynes (1963) cho thấy khi kim ngạch xuất khẩu tăng thì tổng sản phẩm quốc nội cũng tăng theo Kim ngạch xuất khẩu là một trong bốn nhân
tố ảnh hưởng trực tiếp đến tổng sản phẩm quốc nội
Hai là, xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất
phát triển theo hướng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và có lợi thế quôc gia Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại tác động mạnh mẽ đến cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi mạnh mẽ Do đó, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá để phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế thế giới là con đường tất yếu của các quốc gia
Ba là, xuất khẩu tạo nguồn vốn quan trọng để nhập khẩu công nghệ cao từ đó
phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải có nguồn vốn để có thể nhập khẩu máy móc, thiết bị với công nghệ hiện đại để tăng tốc phát triển bắt kịp với các nước trên thế giới Nguồn
Trang 28vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: chi tiêu chính phủ, vay nợ, xuất khẩu, nhưng nguồn vốn từ xuất khẩu vẫn là quan trọng nhất
Bốn là, xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho
người lao động Sản xuất hàng hoá xuất khẩu có khả năng thu hút được lượng lớn lực lượng lao động vào làm việc với thu nhập cao từ đó góp phần cải thiện cuộc sống Đối với một nước như Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, việc đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu không chỉ giải quyết được một lượng lớn lực lượng lao động thất nghiệp
có việc làm mà còn tạo nên thu nhập ổn định hơn đối với từng đối tượng trong lực lượng lao động
2.2 Cơ sở lý thuyết trong thương mại quốc tế
2.2.1 Lý thuyết thương mại mới
Lý thuyết thương mại mới được đề xuất Helpman và Paul Krugman (1985) Nội dung chính của lý thuyết này là: Giữa các quốc gia có sự tương đồng về
tỷ lệ các yếu tố đầu vào vẫn có thể trao đổi thương mại do vấn đề lợi thế kinh tế nhờ quy mô và sự khác biệt của sản phẩm Một số giả thuyết của lý thuyết này như sau:
Một là, lợi thế tăng dần theo quy mô Hai là, thị trường hàng hoá là cạnh tranh không
hoàn hảo
Từ lý thuyết thương mại mới cho thấy ngoài những lợi thế sẵn có về điều kiện
tự nhiên, các quốc gia còn có thể đạt được lợi thế kinh tế về quy mô nếu tập trung sản xuất trên quy mô lớn
2.2.2 Lý thuyết về mô hình trọng lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế
Mô hình lực hấp dẫn lần đầu tiên được áp dụng cho thương mại quốc tế bởi
Tinbergen (1962) Tinbergen đã phát triển mô hình để xác định mô hình bình thường
hoặc tiêu chuẩn của thương mại quốc tế của 42 quốc gia nếu không có rào cản thương mại Từ nghiên cứu ban đầu của Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963), mô hình trọng lực có dạng như sau:
Xij = β0 Yiβ1 Yiβ2 Dijβ3Trong đó: Xij là dòng chảy thương mại từ nước i sang j ; Yi và Yj là GDP của quốc gia i và j, Dij là khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia
Trang 29Linneman (1966) tác giả đầu tiên cung cấp nền tảng lý thuyết cho mô hình
Ông chỉ ra rằng phương trình trọng lực có thể được suy ra từ sự cân bằng giữa cung
của nước xuất khẩu i và cầu của nước nhập khẩu j Trong đó, các yếu tố tác động tới xuất khẩu từ quốc gia i và j được chia thành 3 nhóm:
Một là, Các yếu tố về phía cung (nước xuất khẩu i) bao gồm các yếu tố: các
yếu tố thể hiện quy mô kinh tế (tổng giá trị sản xuất của quốc gia hoặc năng lực sản xuất của ngành, biến trễ xuất khẩu, biến trễ GDP, số lượng nguồn lực đầu vào (GDP bình quân đầu người, yếu tố đại diện cho tỷ lệ dồi dào về tư bản trong sản xuất, FDI, ), lực lượng lao động
Hai là, Các yếu tố về phía cầu (nước nhập khẩu j) bao gồm các yếu tố: giá
hàng hoá (được thể hiện bằng chỉ số điều chỉnh GDP và tỷ giá hối đoái thực tế), sự biến động của giá hàng hoá (được thể hiện thông qua sự biến động của tỷ giá hối đoái,
tỷ lệ lạm phát), quy mô kinh tế của quốc gia nhập khẩu
Ba là, các yếu tố hấp dẫn, cản trở bao gồm các yếu tố: khoảng cách địa lý,
chính sách thương mại, chất lượng của dịch vụ phía sau biên giới và các yếu tố hấp dẫn khác
Sau đó Bergstrand (1985) và một số nhà kinh tế học khác phê phán cách tiếp
cận của Lineman Ông cho rằng mô hình của Lineman chưa hoàn thiện do đã bỏ qua
sự tác động của biến giá Ông đã bổ sung hai yếu tố giá (đại diện bằng chỉ số điều chỉnh GDP) và tỷ giá hối đoái thực vào mô hình của Lineman trước đó Bergstrand
đã tiếp tục mở rộng nghiên cứu của mình, ông kế thừa quan điểm của lý thuyết thương mại mới về sự tồn tại của vấn đề hiệu suất tăng dần theo quy mô, bổ sung vào mô hình hai biến mới là sự dồi dào của các yếu tố đầu vào và biến thị hiếu Đây cũng là
mô hình tổng quát nhất và được các nhà nghiên cứu vận dụng nhiều nhất
Cũng liên quan đến việc hoàn thiện cơ sở lý thuyết của mô hình, trích dẫn của
Rahman (2003) cho thấy Mathur (1999) xây dựng mô hình trọng lực từ nền tảng của
lý thuyết thương mại mới, cụ thể là sự khác biệt của sản phẩm và hiệu quả tăng theo
quy mô Theo đó, Mathur cho rằng quy mô quốc gia (thể hiện qua GDP) và tính kinh
tế theo quy mô là các yếu tố quan trọng của dòng thương mại Cụ thể, quốc gia có
Trang 30quy mô kinh tế (GDP) càng lớn thì càng có nhiều chủng loại hàng hóa bán ra, đồng thời chi phí sản xuất sản phẩm sẽ càng giảm và thương mại của nước đó sẽ càng phát triển Do vậy, khối lượng thương mại phụ thuộc rất nhiều vào GDP
Tóm lại, đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện để bổ sung nền tảng cơ sở
lý thuyết cho mô hình trọng lực Phần lớn các nghiên cứu này đều được thực hiện dựa trên các lý thuyết thương mại truyền thống như lý thuyết Ricardo và lý thuyết thương mại mới Điều đó giúp cho mô hình trọng lực ngày càng hiệu quả và có độ tin cậy cao trong việc lượng hóa các yếu tố tác động đến dòng thương mại hai chiều
2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trong phần này, tác giả trình bày các vấn đề sau: Một là, cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu Hai là, mô hình và giả thuyết nghiên cứu
2.3.1 Cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu
Việc lựa chọn các biến đưa vào mô hình phân tích dựa trên cơ sở các nghiên cứu trước đây mang một số đặc điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, với Việt Nam Cụ thể như trong bảng 2.2 như sau:
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp các biến và nguồn các nghiên cứu thực nghiệm
Tên biến
Mức độ tác động của các biến
Nguồn các nghiên cứu thực nghiệm
Các yếu tố
tác động
đến cung
Thu nhập bình quân của nước xuất khẩu
+
Nguyễn Xuân Bắc (2010), Chan và cộng sư (2007) Hatab và các cộng sự (2010),Moudy Hermawan (2011), Chen và cộng sự (2012), Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2015), Đỗ Thị Hoà Nhã, (2017)
Dân số của nước xuất khẩu +
Zarzoso, (2003), Hatab và các cộng sự (2010),Moudy Hermawan (2011), Đỗ Thị Hoà Nhã, (2017)
Trang 31Các yếu tố
tác động
đến cầu
Thu nhập bình quân của nước nhập khẩu
+
Chen và cộng sự (2012), Moudy Hermawan (2011), Đỗ Thị Hoà Nhã, (2017)
Dân số nước nhập khẩu +
Zarzoso, (2003), Moudy Hermawan (2011), Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị
Kiên và Ngô Thị Mỹ (2015),
Độ mở thương mại +
Hatab và các cộng sự (2010),Chen và cộng sự (2012), Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2015)
Chỉ số cơ sở hạ tầng +
Zarzoso, (2003)
Khoảng cách địa
lý -
Hatab và các cộng sự (2010),Chen và cộng sự (2012), Nguyễn Xuân Bắc
(2010)
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Dựa vào lý thuyết về mô hình trọng lực hấp dẫn (phân tích trong mục 2.2.2)
và bảng tổng hợp 2.3.1, cơ sở đưa các biến vào trong mô hình như sau:
Thứ nhất, GDP bình quân của quốc gia xuất khẩu, GDP bình quân của quốc
gia nhập khẩu, khoảng cách địa lý là 3 yếu tố cơ bản của mô hình trọng lực hấp dẫn
Thứ hai, theo Linneman (1966) đã chia mô hình trọng lực thành 3 phần bao
gồm: các yếu tố ảnh hưởng đến cung, các yếu tố ảnh hưởng đến cầu, các yếu tố rào cản, hấp dẫn Dựa vào tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về xuất khẩu hàng hoá nói chung và xuất khẩu hàng may mặc nói riêng Tác giả đề xuất đưa các biến còn lại vào mô hình như sau: các yếu tố ảnh hưởng đến cung được đại diện bằng hai yếu tố: thu nhập bình quân của nước xuất khẩu (PGDP của Việt Nam), dân số của Việt Nam
Trang 32(POP của Việt Nam), các yếu tố ảnh hưởng đến đến cầu được đại diện bằng hai yếu tố: thu nhập của quốc gia nhập khẩu (PGDP của nước nhập khẩu), dân số của quốc gia nhập khẩu (POP của quốc gia nhập khẩu), các yếu tố rào cảo, hấp dẫn được đại diện bằng 4 yếu tố: tỷ giá hối đoái thực, độ mở thương mại của quốc gia xuất khẩu, chỉ số cơ sở hạ tầng của quốc gia xuất khẩu, khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia
2.3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu
Dựa vào đề xuất mô hình nghiên cứu ở mục 2.3.2 Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu mô hình được viết dưới dạng logarit tự nhiên cụ thể như sau:
𝑙𝑛(1 + 𝐸𝑋𝑖𝑗) = 𝛽0+ 𝛽1 𝑙𝑛(𝑃𝐺𝐷𝑃𝑖𝑡 ∗ 𝑃𝐺𝐷𝑃𝑗𝑡) + 𝛽2 𝑙𝑛(𝑃𝑂𝑃𝑖𝑡∗ 𝑃𝑂𝑃𝑗𝑡)
+ 𝛽3 𝑙𝑛(𝐷𝐼𝑆𝑇𝑖𝑗) + 𝛽4𝑙𝑛(𝑅𝐸𝑅𝑖𝑗𝑡) + 𝛽5 𝑙𝑛(𝐼𝑁𝐹𝐴𝑆𝑖𝑡)+ 𝛽6 𝑙𝑛(𝑂𝑃𝐸𝑁𝑖𝑡) + 𝑢𝑖𝑗𝑡
Trong đó:
𝑬𝑿𝐢𝐣: Kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam sang nước nhập khẩu j vào năm t Vì một số quan sát nhận dữ liệu là 0 tức là biến phụ thuộc không có số liệu vào một năm nào đó trong thời gian nghiên cứu) Do đó, để khắc phục trường hợp này các biến phụ thuộc không có số liệu sẽ được chuyển từ 𝑙𝑛𝐸𝑋𝑖𝑗 thành 𝑙𝑛(1 +
𝐸𝑋𝑖𝑗)
Điểm lưu ý là các biến độc lập của mô hình gồm có: GDP bình quân đầu người
và dân số, được tính gộp chung kết quả của cả Việt Nam và nước nhập khẩu Ở Việt Nam, kỹ thuật gộp biến được nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng nhằm phản ánh
rõ hơn hơn tác động của các yếu tố này tới kim ngạch xuất khẩu và hạn chế một số khuyết điểm trong kỹ thuật phân tích định lượng, điển hình: Do Tri Thai (2006), Từ Thúy Anh và cộng sự (2008), Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2015)
𝑷𝑮𝑫𝑷𝒊𝒕∗ 𝑷𝑮𝑫𝑷𝒋𝒕: Biến gộp GDP bình quân đầu người của Việt Nam và các nước
nhập khẩu j vào năm t
𝑷𝑶𝑷𝒊𝒕∗ 𝑷𝑶𝑷𝒋𝒕: Biến gộp tổng dân số của Việt Nam và các nước nhập khẩu j vào năm t
𝑫𝑰𝑺𝑻𝒊𝒋 : Khoảng cách địa lý từ Hà Nội đến thủ đô của các nước nhập khẩu j
Trang 33𝑹𝑬𝑹𝒊𝒋𝒕: Tỷ giá hối đoái thực của VND với đồng tiền nước nhập khẩu j vào năm t
𝑰𝑵𝑭𝑨𝑺𝒊𝒕: Chỉ số cơ sở hạ tầng của Việt Nam vào năm t
𝑶𝑷𝑬𝑵𝒊𝒕: Độ mở thương mại của Việt Nam vào năm t
Giải thích các biến và giả thuyết nghiên cứu:
𝑷𝑮𝑫𝑷𝒊𝒕∗ 𝑷𝑮𝑫𝑷𝒋𝒕: Biến gộp thu nhập bình quân đầu người thực của Việt
Nam và nước nhập khẩu vào năm t (Đơn vị: triệu USD)
Thu nhập bình quân đầu người là yếu tố cơ bản của mô hình, đại diện cho cả thu nhập của người tiêu dùng (yếu tố tác động đến cầu) và sự dồi dào của tư bản (yếu
tố tác động đến cung) Về mặt lý thuyết, mặc dù sự gia tăng của thu nhập bình quân đầu người có thể làm gia tăng cả cung và cầu hàng may mặc của quốc gia Tuy nhiên, với đặc điểm nổi bật trong quan hệ thương mại hai chiều giữa Việt Nam và các nước nhập khẩu may mặc lớn của Việt Nam là tính bổ sung cao, ít cạnh tranh, trong đó may mặc vẫn luôn là mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam Từ đó, tác giả
kỳ vọng thu nhập bình quân đầu người có tác động cùng chiều tới cung xuất khẩu của Việt Nam và cầu nhập khẩu của nước nhập khẩu Nói cách khác, mối quan hệ giữa 𝑷𝑮𝑫𝑷𝒊𝒕∗ 𝑷𝑮𝑫𝑷𝒋𝒕 và kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt nam có quan hệ cùng chiều Từ đây, tác giả đưa ra giả thuyết như sau:
H 1 : Biến 𝑷𝑮𝑫𝑷𝒊𝒕∗ 𝑷𝑮𝑫𝑷𝒋𝒕 có tương quan cùng chiều với biến kim ngạch
xuất khẩu may mặc của Việt Nam
𝑷𝑶𝑷𝒊𝒕∗ 𝑷𝑶𝑷𝒋𝒕: 𝐵𝑖ế𝑛 gộp dân số của Việt Nam và các nước nhập khẩu j vào năm t
Đây cũng là yếu tố cơ bản của mô hình, đại diện cho cả lực lượng lao động (yếu tố tác động đến cung) và quy mô thị trường (yếu tố tác động đến cầu) Tương tự như biến gộp thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam và nước nhập khẩu, mặc
dù sự gia tăng của dân số có thể làm gia tăng cả cung và cầu hàng may mặc Tuy nhiên, căn cứ vào đặc điểm quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước nhập khẩu hàng may mặc của Việt Nam, tác giả kỳ vọng giữa biến 𝑷𝑶𝑷𝒊𝒕∗ 𝑷𝑶𝑷𝒋𝒕 và kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc có quan hệ cùng chiều Từ đây tác giả đưa ra giả
Trang 34thuyết như sau:
H 2 : Biến 𝑷𝑶𝑷𝒊𝒕∗ 𝑷𝑶𝑷𝒋𝒕: có tương quan cùng chiều với biến kim ngạch xuất
khẩu may mặc của Việt Nam
𝑫𝑰𝑺𝑻𝒊𝒋 : Khoảng cách địa lý từ Hà Nội đến thủ đô của nước nhập khẩu j (đơn vị: km)
Đây cũng là yếu tố cơ bản của mô hình, đại diện cho chi phí vận chuyển Khi khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và đối tác càng xa thì chi phí vận chuyển càng lớn, tức là giữa khoảng cách địa lý và kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam
có quan hệ ngược chiều Hiện tại, chi phí vận chuyển hàng hóa của Việt Nam ở mức cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực Do vậy, việc sử dụng yếu tố khoảng cách địa lý trong mô hình là rất cần thiết Từ đây, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu như sau:
H 3 : 𝑫𝑰𝑺𝑻𝒊𝒋 có tương quan ngược chiều với kim ngạch xuất khẩu may mặc của
Việt Nam
𝑹𝑬𝑹𝒊𝒋: Tỷ giá hối đoái thực của VND với đồng tiền nước nhập khẩu:
Tỷ giá hoái đối thực giữa đồng tiền Việt Nam và đồng tiền của quốc gia nhập khẩu được tính như sau:
𝑇𝐺𝐻Đ 𝑡ℎự𝑐 𝑉𝑁𝐷/đồ𝑛𝑔 𝑡𝑖ề𝑛 𝑛ướ𝑐 𝑁𝐾 = ( 𝑈𝑆𝐷
Đồ𝑛𝑔 𝑡𝑖ề𝑛 𝑛ướ𝑐 𝑁𝐾:
𝑈𝑆𝐷𝑉𝑁Đ) 𝑥
𝐶𝑃𝐼𝑁𝐾𝐶𝑃𝐼𝑉𝑁
Tỷ giá hối đoái tác động trực tiếp đến giá hàng xuất khẩu Khi đồng nội tệ của một quốc gia giảm giá so với các đồng ngoại tệ khác tức là giá cả của hàng hóa xuất khẩu tính theo ngoại tệ sẽ giảm, khi đó cầu của hàng hóa này tăng làm cho sản lượng xuất khẩu tăng Như vậy, biến tỷ giá hối đoái thực được kỳ vọng có tương quan cùng chiều với kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam Từ đây, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu như sau:
H 4 : Biến RER ij có tương quan cùng chiều với biến kim ngạch xuất khẩu dệt
may của Việt Nam
𝑰𝑵𝑭𝑨𝑺𝒊𝒕: Chỉ số cơ sở hạ tầng của Việt Nam vào năm t
Chỉ số cơ sở hạ tầng được thu thập từ WEF Hệ số này phản ánh số lượng và
Trang 35chất lượng hệ thống giao thông vận tải, mạng viễn thông, điện cung ứng, bến bãi kho tàng và các điều kiện phân phối là cơ sở hạ tầng giúp nâng cao hiệu quả đầu tư (điện thoại các loại, hỗ trợ kết cấu hạ tầng, mức độ tham gia của khu vực tư nhân vào các
dự án xây dựng cơ sở hạ tầng) Theo đó, chất lượng cơ sở hạ tầng của quốc gia phụ thuộc vào 9 chỉ tiêu sau: (1) chất lượng cơ sở hạ tầng tổng thể của nền kinh tế, (2) chất lượng của hệ thống đường sá, (3) chất lượng cơ sở hạ tầng đường sắt, (4) chất lượng hệ thống cảng biển, (5) chất lượng cơ sở hạ tầng hàng không, (6) số lượng ghế cho hành khách theo đường hàng không, tính trên 1 km/1 tuần; (7) sự sẵn có của chất lượng hệ thống cung cấp điện, (8) số đăng ký điện thoại di động tính trên 100 dân và (9) số đăng ký điện thoại cố định tính trên 100 dân
Cơ sở hạ tầng là yếu tố liên quan đến cả chất lượng của các dịch vụ phía sau biên giới và các dịch vụ tại biên giới Đây là yếu tố tác động lớn đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam Sự gia tăng về số lượng và cải thiện
về chất lượng của các dịch vụ này sẽ giảm thời gian và chi phí sản xuất, vận chuyển
và các chi phí trong hoạt động giao dịch thương mại quốc tế với các nước trên Thế giới nói chung và các nước nhập khẩu hàng may mặc của Việt Nam nói riêng, từ đó thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc Căn cứ vào ý nghĩa của hệ số này, cùng với kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả kỳ vọng rằng giữa chất lượng cơ
sở hạ tầng và kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc có quan hệ cùng chiều Từ đây, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu như sau:
H 5 : Biến 𝑰𝑵𝑭𝑨𝑺𝒊𝒕 có tương quan cùng chiều với biến kim ngạch xuất khẩu
may mặc của Việt Nam
𝑶𝑷𝑬𝑵𝒊𝒕: độ mở thương mại của Việt Nam vào năm t
Độ mở thương mại được xác định bởi công thức:
𝑂𝑃𝐸𝑁𝑖𝑡 =𝑋𝑢ấ𝑡 𝑘ℎẩ𝑢 𝑉𝑖ệ𝑡 𝑁𝑎𝑚 𝑛ă𝑚 𝑡 + 𝑁ℎậ𝑝 𝑘ℎẩ𝑢 𝑐ủ𝑎 𝑉𝑖ệ𝑡 𝑁𝑎𝑚 𝑛ă𝑚 𝑡
𝐺𝐷𝑃 𝑐ủ𝑎 𝑉𝑖ệ𝑡 𝑁𝑎𝑚 𝑣à𝑜 𝑛ă𝑚 𝑡
Độ mở thương mại của một quốc gia càng lớn thì chính sách ngoại thương càng theo hướng tự do hoá, độ mở của nền kinh tế làm cho quy mô nền kinh tế xuất khẩu hàng hoá càng tăng Từ đây, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu như sau:
Trang 36H 6 : Biến 𝑶𝑷𝑬𝑵𝒊𝒕: có tương quan cùng chiều với biến kim ngạch xuất khẩu
may mặc của Việt Nam
Trên cơ sở những biến được mô tả, bảng 2.1 sẽ đưa ra kỳ vọng về xu hướng tác động của các biến trong môi hình nghiên cứu cho hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam theo các giả thuyết đã đưa ra
Bảng 2.3 Tổng hợp các giả thuyết về xu hướng tác động các biến trong mô
hình nghiên cứu đề xuất
STT BIẾN ĐỘC LẬP Xu hướng tác động của biến độc lập vào
Trang 37Tóm tắt chương 2
Trong chương này đã làm sáng tỏ được những phần như sau:Một là, giải thích được các vấn đề cơ bản về xuất khẩu Hai là, lý thuyết về mô hình trọng lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế Ba là, đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất
Có nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu, luận văn tiếp cận khái niệm xuất khẩu dưới góc độ kinh doanh thì xuất khẩu là việc bán hàng hóa từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận
Từ mô hình lý thuyết lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế và các nghiên cứu thực nghiệm về mô hình trọng lực hấp dẫn, từ đó đề xuất mô hình lý thuyết lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam Biến phụ thuộc: Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam Biến độc lập bao gồm sáu biến: (i) Mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam và nước nhập khẩu (+); (ii) dân
số của Việt Nam và nước nhập khẩu (+); (iii) khoảng cách địa lý (-); (iv) tỷ giá hối đoái thực VND và đồng tiền nước nhập khẩu (+); (v) chỉ số cơ sở hạ tầng của Việt Nam (+); (vi) độ mở thương mại của Việt Nam (+)
Mô hình lượng hoá các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam như sau:
𝑙𝑛(1 + 𝐸𝑋𝑖𝑗) = 𝛽0+ 𝛽1 𝑙𝑛(𝑃𝐺𝐷𝑃𝑖𝑡 ∗ 𝑃𝐺𝐷𝑃𝑗𝑡) + 𝛽2 𝑙𝑛(𝑃𝑂𝑃𝑖𝑡∗ 𝑃𝑂𝑃𝑗𝑡)
+ 𝛽3 𝑙𝑛(𝐷𝐼𝑆𝑇𝑖𝑗) + 𝛽4𝑙𝑛(𝑅𝐸𝑅𝑖𝑗𝑡) + 𝛽5 𝑙𝑛(𝐼𝑁𝐹𝐴𝑆𝑖𝑡)+ 𝛽6 𝑙𝑛(𝑂𝑃𝐸𝑁𝑖𝑡) + 𝑢𝑖𝑗𝑡
Dấu kỳ vọng: 𝛽1, 𝛽2, 𝛽4, 𝛽5, 𝛽6 >0, 𝛽3 <0
Trang 38Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này, luận văn trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn chuyên gia, phương pháp định lượng theo mô hình hồi quy dữ liệu bảng Kết cấu chương này như sau: Mục 3.1 Quy trình nghiên cứu Mục 3.2 Phương pháp nghiên cứu định tính Mục 3.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng bằng mô hình hồi quy
dữ liệu bảng Mục 3.4 Mô tả nguồn số liệu được sử dụng trong luận án Cuối cùng,
là tóm tắt chương
3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu được sử dụng trong luận văn
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Tổng quan nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới xuất khẩu may mặc của Việt Nam thời gian qua
Tình hình xuất khẩu
hàng may mặc của Việt
Nam thời gian qua
Các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam
Phân tích tác động của các yếu tố tới xuất khẩu may mặc bằng phương pháp định lượng
Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 393.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp nghiên cứu định tính tác giả sử dụng thông qua phỏng vấn chuyên gia
Đây là việc thu thập thông tin qua ý kiến đánh giá của chuyên gia về các yếu
tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam
Mục tiêu của phỏng vấn chuyên gia nhằm: Xác định lại các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu may mặc của Việt Nam từ đề xuất mô hình ở chương hai
Đối tượng và phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn tay đôi và phỏng vấn qua khảo sát với 5 chuyên gia, là các nhà quản lý doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc, các nhà quản lý của ngành Bài phỏng vấn được ghi chép lại bằng văn bản Kết quả được tóm tắt trong bảng 3.1 như sau:
Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn chuyên gia về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất
khẩu hàng may mặc của Việt Nam Các yếu tố có tác động
đến xuất khẩu may mặc Ý kiến của chuyên gia
Yếu tố đại diện trong
Thu nhập bình quân của Việt Nam
Lực lượng lao động Dân số của Việt Nam Nguồn nguyên liệu đầu
vào
Các yếu tố ảnh hưởng
đến cầu
Khả năng tiêu thụ sản phẩm của nước nhập khẩu
Quy mô nền kinh tế của nước nhập khẩu (nước
Thu nhập bình quân của nước nhập khẩu
Trang 40phát triển, đang phát triển)
Dân số của quốc gia nhập khẩu
Dân số của nước nhập khẩu
Các yếu tố rào cản, hấp
dẫn
Chi phí vận chuyển Khoảng cách địa lý
Cơ sở vật chất hạ tầng của Việt Nam
Chỉ số cơ sở hạ tầng của Việt Nam
Sự biến động của tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái thực của VND và đồng tiền nước nhập khẩu
Chính sách mở cửa, tạo điều kiện cho xuất khẩu của Việt Nam
Độ mở thương mại của Việt Nam
(Nguồn: Tổng hợp kết quả phỏng vấn chuyên gia của tác giả)
Từ kết quả phỏng vấn, ý kiến của các chuyên gia (chi tiết trong bảng 3.1) và
mô hình nghiên cứu đề xuất tác giả đã đề cập ở mục 2.3.2, tác giả lượng hoá các yếu
tố tác động đó đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam gồm những yếu tố sau: thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam, thu nhập bình quân đầu người của nước nhập khẩu, dân số của Việt Nam và nước nhập khẩu, khoảng cách địa lý, tỷ gía hối đoái thực của VND và đồng tiền nước nhập khẩu, chỉ số cơ sở hạ tầng của Việt Nam,
độ mở thương mại của Vỉệt Nam
Từ đó mô hình lượng hoá các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam được viết lại như sau:
𝑙𝑛(1 + 𝐸𝑋𝑖𝑗) = 𝛽0+ 𝛽1 𝑙𝑛(𝑃𝐺𝐷𝑃𝑖𝑡 ∗ 𝑃𝐺𝐷𝑃𝑗𝑡) + 𝛽2 𝑙𝑛(𝑃𝑂𝑃𝑖𝑡∗ 𝑃𝑂𝑃𝑗𝑡)
+ 𝛽3 𝑙𝑛(𝐷𝐼𝑆𝑇𝑖𝑗) + 𝛽4𝑙𝑛(𝑅𝐸𝑅𝑖𝑗𝑡) + 𝛽5 𝑙𝑛(𝐼𝑁𝐹𝐴𝑆𝑖𝑡)+ 𝛽6 𝑙𝑛(𝑂𝑃𝐸𝑁𝑖𝑡) + 𝑢𝑖𝑗𝑡
Kỳ vọng về dấu: 𝛽1, 𝛽2, 𝛽4, 𝛽5, 𝛽6, > 0, 𝛽3 < 0