Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đề tài mang một số ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau: o Hệ thống hóa các lý luận về hiệu quả tài chính của ngân hàng o Phân tích các yếu tố
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
LÊ THỊ NHUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN Á CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế Tài Chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HOÀNG CÔNG GIA KHÁNH
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do chính tôi nghiên cứu với sự hướng dẫn của
TS Hoàng Công Gia Khánh
Các nội dung được đúc kết trong quá trình học tập, các số liệu và thực nghiệm thực hiện trung thực, chính xác
Đề tài này chưa được công bố trên bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả
Lê Thị Nhung
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng2.1: Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu 24 Bảng 2.2: Biến động của một số chi tiêu thể hiện tình hình kinh doanh của ACB trong giai đoạn 2009-2013 35 Bảng 2.3: Phân tích Dupont đối với chỉ tiêu ROA 57
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ phân tích Dupont 21
Hình 2.2 : Tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng ACB giai đoạn 2009-2013 33
Hình 2.3: Tổng dƣ nợ cho vay ngân hàng ACB giai đoạn 2009-2013 34
Hình 2 4: Lợi nhuận sau thuế của ngân hàng ACB giai đoạn 2009-2013 34
Hình 2.5: Diễn biến chỉ tiêu ROA của ACB và ngành giai đoạn 2009-2013 43
Hình 2.6: Diễn biến chỉ tiêu ROE của ACB và ngành giai đoạn 2009-2013 44
Hình 2.7: Diễn biến chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành của ACB và ngành giai đoạn 2009-2013 45
Hình 2.8: Diễn biến hệ số nợ trên VCSH của ACB và ngành giai đoạn 2009-2013 47 Hình 2.9: Diễn biến hệ số nợ của ACB và ngành giai đoạn 2009-2013 48
Hình 2.10: Diễn biến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng TSCĐ của ACB và ngành giai đoạn 2009-2013 49
Hình 2.11: Diễn biến chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TTS của ACB và ngành giai đoạn 2009-2013 51
Hình 2.12: Diễn biến chỉ tiêu EPS của ACB và ngành giai đoạn 2009-2013 52
Hình 2.13: Diễn biến chỉ tiêu P/E của ACB và ngành giai đoạn 2009-2013 53
Trang 7MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH VẼ 0
MỤC LỤC 0
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vị nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Các khái niệm hiệu quả tài chính 6
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của NHTM 7
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của NHTM 12
1.4 Đánh giá tổng hợp hiệu quả tài chính bằng phương pháp phân tích Dupont 18
1.5 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại 22
Tóm tắt chương 1 31
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU 32
Trang 82.1 Khái quát về tình hình kinh doanh của NHTMCP Á Châu 32
2.2 Thực trạng hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 42 2.3 Phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố tác động và hiệu quả tài chính của NHTMCP ACB 54
Tóm tắt chương 2 62
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU 63
3.1 Định hướng phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 63
3.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 64
Tóm tắt chương 3 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO vi
PHỤ LỤC vi
PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong suốt qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra nó còn biểu hiện mức độ phát triển doanh nghiệp theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh Như vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ và khả năng quản lý của doanh nghiệp Để đạt được hiệu quả cao đòi hỏi các nhà quản trị phải có các hiểu biết đúng đắn về bản chất của hiệu quả kinh doanh, bản chất của các công cụ tài chính, các nguyên nhân ảnh hưởng… từ đó
đề ra các quyết định chiến lược và quyết sách đúng trong quá trình lựa chọn các cơ hội hấp dẫn cũng như tổ chức, quản lý và điều khiển hoạt động kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất
Thực tế hiện nay, hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ và trở thành xu hướng tất yếu của thời đại Khủng hoảng kinh tế năm 2007 – 2008 đã kéo theo hàng loạt các định chế tài chính và sự suy giảm kinh tế tại khắp các quốc gia trên thế giới Cùng chịu tác động ảnh hưởng đó, các doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực của Việt Nam cũng đã nhận được rất nhiều những cơ hội cũng như gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề do hội nhập kinh tế quốc tế mang đến Trong đó, ngân hàng là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nên phải đối mặt với rất nhiều thách thức như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Để giữ được vị thế, ngân hàng cần phải có những điều chính phù hợp để nâng cao khả năng cạnh tranh, hoạt động an toàn và hiệu quả hơn Vì thế, các ngân hàng cần phải tăng cường nâng cao hiệu quả hoạt động của mình mà hiệu quả tài chính là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng
Ngân hàng TMCP Á Châu là một trong những ngân hàng phát triển hàng đầu tại Việt Nam, đã thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán.ACB đã có những
Trang 10chiến lược phù hợp với từng thời kỳ, được xem là một trong những ngân hàng tốt nhất Việt Nam
Tuy nhiên do ảnh hưởng chung của tình hình kinh tế khó khăn Năm 2012, lợi nhuận của ACB sụt giảm mạnh và không hoàn thành được chỉ tiêu đưa ra Hơn thế nữa, sự cố bầu Kiên xảy ra hồi tháng 8/2012 là “tâm bão” của khủng hoảng tại ACB.Tài sản ngân hàng đã giảm tới 30% và lần đầu tiên kinh doanh bị thua lỗ Một thực tế đáng báo động là hiệu quả tài chính của ACB những năm gần đây có dấu hiệu giảm sút so với các đối thủ cạnh tranh.Các ngân hàng Sacombank, Techcombank, Eximbank đã và đang cố gắng để vượt ACB về chỉ tiêu lợi nhuân
Trước tình hình ACB, tôi nghĩ việc nâng cao hiệu quả tài chính trong bối cảnh cạnh tranh hội nhập nhiều khó khăn và thách thức như hiện nay là nền tảng cho sự phát triển lâu dài của ACB theo những mục tiêu mà Ngân hàng đang hướng đến và giữ vững vị thế là một ngân hàng lành mạnh nhất trong hệ thống ngân hàng
cổ phần tại Việt Nam Đây chính là lý do tôi chọn đề tài “ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU (ACB)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
2 Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu:
Mục tiêu của luận văn là thông qua các công cụ phân tích để từ đó tìm hiểu nguyên nhân, những yếu tố tác động làm tăng hay giảm hiệu quả tài chính của ACB, xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả tài chính Từ đó, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả tài chính của Ngân hàng
Câu hỏi nghiên cứu:
(1) Diễn biến hiệu quả kinh doanh và tài chính của Ngân hàng thương mai cổ phần Á Châu trong giai đoạn nghiên cứu như thế nào?
(2) Những yếu tố tài chính ảnh hưởng tới hiệu quả tài chính của NHTMCP ACB trong phân tích Dupont như thế nào?
Trang 11(3) Có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả tài chính của NHTMCP ACB?
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vị nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Chủ yếu tập trung tại NH TMCP ACB
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2009-2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu
Hình 1 1: Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả
Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu
Tính toán và phân tích các chỉ tiêu kinh doanh, tài chính
Đánh giá hiệu quả tài chính, nhận xét ưu, nhược điểm
Kết luận và giải pháp
Trang 12Phương pháp thu thập dữ liệu
Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động của NH TMCP ACB từ năm 2009-2013
Ngoài ra, để cho các thông tin nghiên cứu phong phú, nhiều chiều tác giả còn tham kháo các số liệu, các nghiên cứu về ngành, về vĩ mô từ UBCKNN, NHNN,
Tổng cục thống kê và các webiste: cafef.vn, vneconomy.vn, cophieu68.com,
vietstock.vn, stox.vn,
Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp thống kê mô tả, so sánh giựa trên việc tính toán các chỉ tiêu tài
chính, chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Phương pháp phân tích hồi quy OLS, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
- Phần mềm xử lý số liệu: Excel, Eview
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài mang một số ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:
o Hệ thống hóa các lý luận về hiệu quả tài chính của ngân hàng
o Phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của ngân hàng
o Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính cho NH TMCP ACB
o Nghiên cứu còn là tài liệu khoa học hữu ích cho các nhà quản lý, nhà quản trị doanh nghiệp, và các bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu tài chính
6 Kết cấu của luận văn
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả tài chính
Trang 13Chương 2: Đánh giá hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TRONG NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Các khái niệm hiệu quả tài chính
Hiệu quả hoạt động là khả năng của một tổ chức trong việc đạt được và quản
lý các nguồn tài nguyên trong nhiều cách khác nhau để phát triển lợi thế cạnh tranh
Có hai loại hiệu quả, hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính (Hansen và Mowen, 2005) Hiệu quả tài chính thường được biểu diễn theo sự tăng trưởng của doanh số bán hàng, doanh thu, việc làm, hoặc giá cổ phiếu (Havnes và Senneseth 2001) Như vậy, hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế
Theo tiến sỹ Phạm Quang Sáng, hiệu quả tài chính còn được gọi là hiệu quả sản xuất - kinh doanh hay hiệu quả doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xét trong phạm
vi một doanh nghiệp Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế
mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó
Hiệu quả tài chính là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời tốt nhất Hiệu quả tài chính doanh nghiệp là kết quả, một hệ quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hiệu quả nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Hiệu quả tài chính thường được các nhà đầu tư quan tâm, một doanh nghiệp
có hiệu quả tài chính cao thì sẽ có điều kiện tăng trưởng Nghiên cứu hiệu quả tài chính nhằm đánh giá sự tăng trưởng tài sản của doanh nghiệp so với tổng tài sản mà doanh nghiệp có, đó là khả năng sinh lời của các nguồn vốn đầu tư
Hiệu quả tài chính của một ngân hàng là bất kỳ các biện pháp toán học khác nhau dùng để đánh giá việc một ngân hàng đang sử dụng nguồn lực của mình như
Trang 15thế nào để tạo ra lợi nhuận Ví dụ phổ biến của hoạt động tài chính bao gồm thu nhập hoạt động từ hoạt động kinh doanh, thu nhập trước lãi vay và thuế, và giá trị tài sản ròng (Peter Dnuati, 2012)
Phân tích hiệu quả tài chính là quá trình xác định những điểm mạnh và điểm yếu tài chính của ngân hàng bằng cách thiết lập tốt mối quan hệ giữa các mục của bảng cân đối với các khoản lợi nhuận và tổn thất Quarden (2004) lập luận rằng phân tích hiệu quả tài chính giúp dự báo trong ngắn hạn và dự báo dài hạn và tăng trưởng có thể được xác định với sự giúp đỡ của phân tích hiệu quả tài chính
Việc phân tích hiệu quả tài chính là một quá trình đánh giá mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của báo cáo tài chính để có được một sự hiểu biết tốt hơn về
vị trí và hoạt động của công ty Phân tích này có thể được thực hiện bởi quản lý của công ty hoặc các đối tượng khác như chủ sở hữu, các chủ nợ, các nhà đầu tư (Chenn, 2011)
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của NHTM
Hiệu quả tài chính là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngân hàng, bởi vậy nâng cao hiệu quả tài chính cũng có nghĩa là tăng cường năng lực tài chính, năng lực điều hành để tạo ra tích lũy và có điều kiện mở rộng các hoạt động kinh doanh góp phần củng cố và nâng cao thương hiệu của các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, để hoạt động tài chính có hiệu quả hơn, đòi hỏi phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính chất rủi ro, bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của NHTM Các nhân tố này có thể được chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan, tùy theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhóm nhân tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động của chính các ngân hàng thương mại
1.2.1 Nhóm nhân tố khách quan
1.2.1.1 Môi trường về kinh tế
Trang 16Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại, vì đây cũng là điều kiện làm cho quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh do đó nhu cầu vay vốn tăng làm cho các ngân hàng thương mại dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình đồng thời khả năng nợ xấu có thể giảm vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp cũng được nâng cao Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thì lại là những nhân tố bất lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại như nhu cầu vay vốn giảm; nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Cụ thể một số yếu tố từ mô trường vĩ mô có tác động lớn đến hiệu quả tài chính của NHTM như sau:
Tổng sản phẩm trong nước, lạm phát, lãi suất là một số biến kinh tế vĩ mô khác ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)
Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một nhân tố vĩ mô có tác động trực tiếp đến hoạt động của NHTM Trong điều kiện nền kinh tế phát triển tăng trưởng
và ổn định, thu nhập của người dân được đảm bảo và ổn định thì nhu cầu tích luỹ của dân cư cao hơn từ đó lượng tiền gửi vào Ngân hàng tăng lên hay khả năng huy động vốn tăng lên Mặt khác khi nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định thì nhu cầu
sử dụng vốn tăng lên, Ngân hàng có thể mở rộng khối lượng tín dụng bằng cách tăng lãi suất huy động nhằm kích thích người dân gửi tiền vào Ngân hàng để tạo nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu tiền tín dụng của nền kinh tế Ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, thu nhập thực tế của người lao động giảm và ngày càng biến động, điều này sẽ làm giảm lòng tin của khách hàng vào sự ổn định của đồng tiền hơn nữa khi thu nhập thấp thì lượng tiền nhàn rỗi trong toàn nền kinh
Trang 17tế sẽ giảm xuống mà lượng tiền dân cư đã ký thác vào hệ thống Ngân hàng còn có nguy sơ bị rút ra Khi đó Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác huy động vốn, quản ký dự trữ và củng cố lòng tin của khách hàng vào hệ thống Ngân hàng Đồng thời kinh tế suy thoái khiến nhu cầu vay vốn ngân hàng giảm sút Thêm vào đó, rủi
ro tín dụng cũng tăng lên ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty
Lạm phát
Trong một nền kinh tế có lạm phát cao, mặc dù lãi suất cũng sẽ được ngân
hàng nâng cao để thu hút vốn huy động nhưng ngân hàng cũng chỉ có thể nâng cao đến một mức nào đó bởi nếu lãi suất huy động cao thì lãi suất cho vay cũng sẽ tăng, điều này ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế Nhất là đối với nền kinh tế Việt Nam, lạm phát thường rất cao, tốc độ tăng trưởng của lãi suất không theo kịp tốc độ tăng của lạm phát Điều này dẫn đến tình trạng người dân không muốn gửi tiền vào ngân hàng vì mức sinh lời không cao thậm chí là lỗ Vì vậy có thể nói, lạm phát có ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thông qua lãi suất Mặt
khác, lạm phát còn làm giảm thu nhập của ngân hàng từ việc cho vay
Lãi suất ngân hàng:
Lãi suất là nhân tố có tác động trực tiếp đến hiệu quả tài chính của ngân hàng Khi lãi suất huy động tăng, thu nhập ròng của ngân hàng có nguy cơ giảm xuống do chi phí lãi tăng lên nhất là trong trường hợp mức lãi suất ngắn hạn cao hơn dài hạn đồng thời phỉ trích dự trữ bắt buộc khiến cho chi phí huy động thực tế tăng cao
Lãi suất huy động tăng thường kéo theo lãi suất cho vay tăng, điều này có thể khiến cho rủi ro tín dụng tăng cao đối với ngân hàng và hạn chế khả năng tiếp cận vốn của một số đối tượng
Với những ngân hàng quản lý tài sản nợ và tài sản có kém hiệu quả thì biến động lãi suất sẽ gây ra rủi ro lãi suất cho ngân hàng Điều này ảnh hưởng trực tiếp
đến thanh khoản cũng như lợi nhuận của ngân hàng
Trang 18Hơn nữa, hiện nay quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới Các nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc vào nhau, luồng vốn quốc tế đã và đang dồn vào khu vực Châu Á mạnh mẽ, điều này đang tạo ra nhiều cơ hội cho Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng nhiều cơ hội mới như có thể tranh thủ được các nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ các nền kinh tế phát triển tuy nhiên, bên cạnh đó ngành ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ quá trình hội nhập, như phải cạnh tranh với những tập đoàn tài chính đầy tiềm lực (về vốn, công nghệ, năng lực quản lý ) Trong khi thực tế hiện nay cho thấy các ngân hàng thương mại Việt Nam còn yếu
về mọi mặt từ năng lực tài chính, kinh nghiệm quản trị ngân hàng, công nghệ đến nguồn nhân lực
1.2.1.2 Môi trường chính trị và xã hội trong và ngoài nước
Ngoài ra, với quá trình hội nhập kinh tế quốc ngày càng sâu rộng, thì sự biến động của tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của các nước trên thế giới mà nhất là các bạn hàng của Việt Nam cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại
có một hệ thống luật khá đầy đủ và được sửa đổi và bổ sung nhiều lần trong quá trình phát triển của mình thì ở Việt Nam do mới chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa sang vận hành theo nền kinh tế thị trường hơn 20 năm, do đó hệ thống luật còn thiếu và chưa đầy đủ và đây cũng thực sự là một trở ngại đối với hoạt động của các NHTM
Trang 19Đồng thời, quá trình tiền tệ hóa diễn ra nhanh trong thời gian gần đây đòi hỏi Việt Nam phải sớm thông qua các bộ luật mới và sửa đổi các điều luật không còn phù hợp với tình hình kinh tế, có như vậy hệ thống luật pháp mới thực sự tạo lập được một môi trường pháp lý hoàn chỉnh làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp, khiếu nại nảy sinh trong hoạt động kinh tế, xã hội Như vậy, rõ ràng môi trường luật pháp có vai trò hết sức quan trọng đối với các hoạt động kinh tế nói chung và đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại nói riêng, là cơ sở tiền đề cho ngành ngân hàng phát triển nhanh và bền vững
1.2.2 Nhóm nhân tố chủ quan
Nhóm nhân tố chủ quan được bàn đến chính là các nhân tố bên trong nội bộ của chính các ngân hàng thương mại như các nhân tố về năng lực tài chính, khả năng quản trị điều hành, ứng dụng tiến bộ công nghệ, trình độ và chất lượng của lao động
1.2.2.1 Năng lực tài chính của NHTM
- Năng lực tài chính của một ngân hàng thương mại thường được biểu hiện trước hết là qua khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chính của một ngân hàng Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính và trình độ trang bị công nghệ Thứ hai, khả năng sinh lời cũng là một nhân tố phản ánh về năng lực tài chính của một ngân hàng vì nó thể hiện tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh Thứ ba là khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của một ngân hàng cũng là nhân tố phản ánh năng lực tài chính Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng để bù đắp rủi ro, có nghĩa là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra Ngược lại, nếu nợ xấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng tài chính xấu và năng lực tài chính bù đắp cho các khoản chi phí này bị thu hẹp
1.2.2.2 Năng lực quản trị điều hành của NHTM
- Năng lực quản trị, điều hành là nhân tố tiếp theo ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Năng lực quản trị điều hành trước hết là phụ thuộc
Trang 20vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hữu hiệu của cơ chế điều hành để có thể ứng phó tốt trước những diễn biến của thị trường Tiếp theo năng lực quản trị, điều hành còn có thể được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao năng suất sử dụng các đầu vào để có thể tạo ra được một tập hợp đầu ra cực đại
1.2.2.3 Tiến bộ công nghệ
- Khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ: chính là phản ánh năng lực công nghệ thông tin của một ngân hàng Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và ứng dụng sâu rộng của nó vào cuộc sống xã hội như ngày nay, thì ngành ngân hàng khó có thể duy trì khả năng cạnh tranh của mình nếu vẫn cung ứng các dịch vụ truyền thống Năng lực công nghệ của ngân hàng thể hiện khả năng trang bị công nghệ mới gồm thiết bị và con người, tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tích độc đáo về công nghệ của mỗi ngân hàng
1.2.2.4 Chất lượng nguồn nhân lực
- Trình độ, chất lượng của người lao động: nhân tố con người là yếu tố quyết định quan trọng đến sự thành bại trong bất kỳ hoạt động nào của các ngân hàng thương mại Xã hội càng phát triển thì càng đòi hỏi các ngân hàng càng phải cung cấp nhiều dịch vụ mới và có chất lượng Chính điều này đòi hỏi chất lượng của nguồn nhân lực cũng phải được nâng cao để đáp ứng kịp thời đối với những thay đổi của thị trường, xã hội Việc sử dụng nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn sẽ giúp cho ngân hàng tạo lập được những khách hàng trung thành, ngăn ngừa được những rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư
và đây cũng là nhân tố giúp các ngân hàng giảm thiểu được các chi phí hoạt động Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nguồn nhân lực luôn phải chú trọng việc gắn phát triển nhân lực với công nghệ mới
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của NHTM
Để đo lường hiệu quả tài chính trong ngân hàng, có thể chia thành 5 nhóm chỉ tiêu như sau: tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ quản lý tài sản, tỷ lệ khả năng sinh lời, tỷ
lệ quản lý nợ và tỷ lệ giá trị thị trường
Trang 211.3.1 Chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Hệ số thu nhập ròng trên vốn cổ phần (ROE): phản ánh mức thu nhập ròng
trên vốn cổ phần của cổ đông Hệ số này được các nhà đầu tư cũng như các cổ đông đặc biệt quan tâm
Có thể nói, bên cạnh các hệ số tài chính khác thì ROE là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Đây cũng là một chỉ số đáng tin cậy về khả năng một công ty có thể sinh lời trong tương lai ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào Thông thường, ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô
Hệ số thu nhập trên tổng tài sản (ROA): phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài
sản trong hoạt động kinh doanh của công ty và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo công ty
ROA = Lợi nhuận ròng
Trang 22với các ngành không cần phải đầu tư nhiều vào tài sản như ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm…
1.3.2 Tỷ số về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng của ngân hàng đương đầu với các khoản nợ
đã đến hạn Nếu như khả năng thanh toán của ngân hàng thấp có nghĩa là vị thế tài chính của ngân hàng rất yếu kém và ít có khả năng giải quyết được các vấn đề vốn nảy sinh trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Khả năng thanh toán của ngân hàng được xem xét trên hai khía cạnh: Khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán nhanh
* Hệ số thanh toán hiện hành: Chỉ tiêu này đo lường khả năng đảm bảo
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng TSLĐ của ngân hàng Thông thường, giá trị khả năng thanh toán hiện hành phải ≥ 1, nếu không thì ngân hàng không có khả năng thanh toán và hệ số này phụ thuộc vào đặc tính của mỗi ngành
Hệ số thanh toán hiện hành = TSLĐ và đầu tư ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
1.3.3 Chỉ tiêu về quản lý tài sản
Các tỷ số hoạt động được sử dụng để đánh giá khả năng quản lý tài sản, bao gồm các tỷ số: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định; Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định ( The Fixed Assets Utilization – FAU )
cố định của doanh nghiệp, hay nói cách khác là một đồng tài sản cố định tạo ra
Trang 23đƣợc bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm Tỷ số này cao chứng tỏ tình hình hoạt động của doanh nghiệp tốt đã tạo ra doanh thu thuần cao so với tài sản cố định, chứng tỏ việc đầu tƣ vào tài sản cố định của doanh nghiệp là xác đáng, cơ cấu hợp
lý, hiệu suất sử dụng cao Ngƣợc lại, nếu vòng quay tài sản cố định không cao thì chứng tỏ hiệu suất sử dụng thấp, kết quả đối với sản xuất không nhiều, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp không mạnh Mặt khác, tỷ số còn phản ánh khả năng
sử dụng hữu hiệu tài sản các loại
Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản ( The Total Assets Utilization – TAU ) Công thức tính:
TAU = Doanh thu thuần
Tổng tài sản có
Tỷ số này còn đƣợc gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó cho biết hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản của doanh nghiệp, hoặc thể hiện một đồng vốn đầu tƣ vào doanh nghiệp đã đem lại bao nhiêu đồng doanh thu
Mức quay vòng của tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng tổng hợp toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao càng tốt Giá trị của chỉ tiêu càng cao, chứng tỏ cùng một tài sản mà thu đƣợc mức lợi ích càng nhiều, do đó trình độ quản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh toán và năng lực thu lợi của doanh nghiệp càng cao Nếu ngƣợc lại thì chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp chƣa đƣợc sử dụng có hiệu quả
1.3.4 Tỷ số về Quản lý nợ
Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công ty Nó cho ta biết về tỉ lệ giữa 2 nguồn vốn cơ bản (nợ và vốn chủ sở hữu) mà ngân hàng sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình Hai nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng đƣợc sử dụng rộng rãi để đánh giá
Trang 24tình hình tài chính của ngân hàng Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu được tính bằng cách chia tổng nợ cho vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu
Trong đó nợ của ngân hàng bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Vốn chủ sở hữu hay vốn cổ phần của cổ đông gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu cũng phụ thuộc nhiều vào ngành, lĩnh vực
mà công ty hoạt động Ví dụ, các ngành sản xuất cần sử dụng nhiều vốn thì Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu có xu hướng cao hơn, trong khi các công ty dịch vụ thì
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu thường thấp hơn
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu giúp nhà đầu tư có một cái nhìn khái quát
về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của ngân hàng và làm thế nào ngân hàng có thể chi trả cho các hoạt động Thông thường, nếu hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của ngân hàng được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của ngân hàng được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì ngân hàng ít gặp khó khăn hơn trong tài chính Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của ngân hàng càng lớn
Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu
có nghĩa là ngân hàng đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, nên ngân hàng có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là ngân hàng càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao
Trang 25Nhìn vào hệ số nợ ta có thể thấy được khái quát chính sách tài trợ vốn kinh doanh của ngân hàng, mức độ an toàn hay rủi ro của ngân hàng như thế nào Hệ số
nợ càng cao, gánh nặng phải trả lãi vay càng lớn thì rủi ro càng cao, khả năng huy động thêm nợ của ngân hàng càng khó khăn và ngược lại
1.3.5 Tỷ số về giá trị thị trường
Giá trị mỗi cổ phần (Earning per share - EPS): là một yếu tố quan trọng
nhất, quyết định giá trị của cổ phần bởi vì nó đo lường sức thu nhập chứa đựng trong một cổ phần hay nói cách khác nó thể hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phần
Thu nhập mỗi cổ phần = Thu nhập ròng của cổ đông thường
Số lượng cổ phần thường
Thu nhập ròng của cổ đông thường được tính bằng cách lấy lãi ròng trừ
đi tiền lãi của cổ phần ưu đãi
Tỷ suất cổ tức – Dividend yield
Giá trị thị trường mỗi cổ phần
Thu nhập của nhà đầu tư gồm 2 phần: cổ tức và chênh lệch giá do chuyển
nhượng cổ phần Nếu tỷ suất cổ tức của một cổ phần thấp điều đó chưa hẳn là xấu bởi vì nhà đầu tư có thể chấp nhận tỷ lệ chi trả cổ tức thấp để dành phần lớn lợi nhuận tái đầu tư Họ mong đợi một tang trưởng nhanh trong cổ tức và hưởng được
sự chênh lệch lớn của giá cổ phần
Những tỷ lệ này có thể được kết hợp để xác định tỉ lệ lợi nhuận cho một ngân hàng và chủ sở hữu của nó và tốc độ mà các ngân hàng có thể phát triển tốc độ bền vững của tăng trưởng Bằng cách thêm dữ liệu về hoạt động thị trường chứng khoán
Trang 26của ngân hàng, các nhà phân tích có thể đạt được cái nhìn sâu sắc vào cách thị trường tài chính xem hiệu suất của ngân hàng (Harrington, 1989)
Hầu hết các nhà phân tích và đầu tư có xu hướng dựa vào tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu như là một thước đo chính về hiệu quả tài chính của ngân hàng Nhiều nhà quản lý điều hành cũng sử dụng thước đo này và là một thước đo được cộng đồng các nhà đầu tư quan tâm nhất Bởi vì, lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng của các ngân hàng thương mại Tất cả các chiến lược được thiết kế và các hoạt động được thực hiện dựa trên mục tiêu lớn này Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các ngân hàng thương mại không có các mục tiêu khác Ngân hàng thương mại cũng có thể có những mục tiêu kinh tế xã hội khác Tuy nhiên, mục đích của nghiên cứu này là liên quan đến mục tiêu đầu tiên - lợi nhuận Để đo lường lợi nhuận của các ngân hàng thương mại có nhiều tỷ lệ sử dụng trong đó lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và lãi thuần biên là những chỉ tiêu được sử dụng thường xuyên nhất (Murthy và Sree, 2003; Alexandru et al, 2008)
1.4 Đánh giá tổng hợp hiệu quả tài chính bằng phương pháp phân tích Dupont
Phương trình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Phương trình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bảng cân đối kế toán Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên
hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định
Hiện nay, các nhà phân tích tài chính thường xuyên vận dụng phương trình Dupont trong các phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Đây là công cụ đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả, cho phép nhà phân tích có thể nhìn khái quát được toàn bộ các vấn đề cơ bản của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
Trang 27Theo Trần Ngọc Thơ (2007) và Nguyễn Minh Kiều (2013), Phương trình Dupont thường được biểu diễn dưới hai dạng : (i) dạng cơ bản và (ii) dạng mở rộng Tùy vào mục đích phân tích mà sử dụng dạng thức cho phù hợp Tuy nhiên, cả hai dạng này đều bắt nguồn từ việc triển khai chỉ tiêu ROE (Tỷ lệ lợi nhuận/Vốn chủ sở hữu)
(i) Dupont được triển khai dưới dạng cơ bản
ROE =Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần ×
Doanh thu thuầnTổng vốn kinh doan bình quân
×Tổng vốn kinh doanh bình quânVốn chủ sở hữu bình quânNhư vậy, qua khai triển chỉ tiêu ROE có thể thấy chỉ tiêu này được cấu thành bởi ba yếu tố chính
- Thứ nhất là, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu - Đây là yếu tố phản ánh trình độ quản lý doanh thu và chi phí của doanh nghiệp
- Thứ hai là, vòng quay toàn bộ vốn (vòng quay tài sản) - Đây là yếu tố phản ánh trình độ khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp
- Thứ ba là, hệ số vốn/vốn chủ sở hữu (hệ số nợ) - Đây là yếu tố phản ánh trình độ quản trị tổ chức nguồn vốn cho hoạt động của doanh nghiệp
Để tăng ROE, tức là tăng hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp có 3 sự lựa chọn cơ bản là tăng một trong ba yếu tố trên Một là, doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh, nhằm nâng cao doanh thu và đồng thời tiết giảm chi phí, nhằm gia tăng lợi nhuận ròng biên Hai là, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng tốt hơn các tài sản sẵn có của mình, nhằm nâng cao vòng quay tài sản
Hay nói một cách dễ hiểu hơn là doanh nghiệp cần tạo ra nhiều doanh thu hơn từ những tài sản sẵn có Ba là, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao đòn bẩy tài chính hay nói cách khác là vay nợ thêm vốn
Trang 28để đầu tư Nếu mức lợi nhuận/tổng tài sản của doanh nghiệp cao hơn mức lãi suất cho vay thì việc vay tiền để đầu tư của doanh nghiệp là hiệu quả
Khi áp dụng công thức Dupont vào phân tích, có thể tiến hành so sánh chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp qua các năm Sau đó phân tích xem sự tăng trưởng hoặc tụt giảm của chỉ số này qua các năm bắt nguồn từ nguyên nhân nào, từ đó đưa ra nhận định và dự đoán xu hướng của ROE trong các năm sau
(ii) Dupont được triển khai dưới dạng mở rộng:
ROE = Lợi nhuận hoạt động kinh doanh
Doanh thu thuần ×
Lợi nhuận trước thuếLợi nhuận hoạt động kinh doanh
× 1 −Thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận trước thuế ×Vốn lưu động bình quânDoanh thu thuần
×Vốn lưu động bình quân
Tổng vốn kinh doanh × 1
1−Hệ số nợ
Dạng thức mở rộng của công thức Dupont cũng phân tích tương tự như dạng thức cơ bản song qua dạng thức này có thể nhìn sâu hơn vào cơ cấu của lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thông qua việc xem xét ảnh hưởng từ các khoản lợi nhuận khác ngoài khoản lợi nhuận đến từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp và ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp
Ta có sơ đồ phân tích Dupont như sau:
Trang 29Hình 1.1: Sơ đồ phân tích Dupont
Lãi vay Thuế TNDN
Tiền
Khoản phải thu Hàng tồn kho
TS lưu động khác Trừ
Trang 30Nguồn: Trần Ngọc Thơ (2007)
Nhìn vào chỉ tiêu này các nhà phân tích sẽ đánh giá được mức tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp đến từ đâu Nếu nó chủ yếu đến từ các khoản lợi nhuận khác như thanh lý tài sản hay đến từ việc doanh nghiệp được miễn giảm thuế tạm thời thì các nhà phân tích cần lưu ý đánh giá lại hiệu quả hoạt động thật sự của doanh nghiệp
Cũng như vậy, đối với nhân tố vòng quay toàn bộ vốn có thể đánh giá thông qua chính sách đầu tư tài sản cũng như tốc độ quay vòng của các loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Nếu số vòng quay toàn bộ vốn tăng lên là do tốc độ quay vòng của các loại tài sản ngắn hạn như tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho tăng lên thì hoàn toàn hợp lý Nhưng nếu số vòng quay tổng vốn tăng lên là do thay đổi
cơ cấu đầu tư tài sản, thì điều này phải đảm bảo phù hợp với lĩnh vực ngành nghề kinh doanh và các điều kiện cụ thể khác của doanh nghiệp cũng như môi trường kinh doanh
Như vậy, trên cơ sở nhận diện các nhân tố sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định và tìm biện pháp khai thác các yếu tố tiềm năng để tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
1.5 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại
1.5.1 Các nghiên cứu nước ngoài
1.5.1.1 Akram Alkhatib (2012)
Nghiên cứu được thực hiện để xác định hiệu quả tài chính của 5 NHTM niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Palestine (PEX) Trong nghiên cứu này, hiệu quả tài chính được đo bằng 3 chỉ tiêu: ROA – Lợi nhuận trên tổng tài sản, Tobin‟s Q – hiệu quả thị trường, giá trị kinh tế tăng thêm - EAV Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tương quan và phân tích hồi quy đa biến của dữ liệu chuỗi thời gian
Trang 31theo năm từ 2005-2010 để xác định các tác động của quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, hiệu quả hoạt động và hiệu quả quản lý tài sản đến hiệu quả hoạt động tài chính được đo bằng ba chỉ số trên, và để tạo ra một mô hình ước lượng phù hợp để
dự đoán các hoạt động tài chính trong tương lai của các ngân hàng này
Giả thiết nghiên cứu của mô hình như sau:
H0: Không tồn tại một tác động đáng kể về mối quan hệ giữa quy mô, rủi ro tín dụng, hiệu quả quản lý tài sản, hiệu quả hoạt động và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Palestine
H1: Tồn tại một tác động đáng kể của quy mô, rủi ro tín dụng, quản lý tài sản đến hiệu quả hoạt động về hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Palestine
Kết quả nghiên cứu như sau:
ROA = −11 + 1.3 SIZE − 0.17 CR − O 006 OE + 0.57 AM + e
Trong đó:
Size: Quy mô ngân hàng
CR: Rủi ro tín dụng
OE: Hiệu quả hoạt động
AM: Hiệu quả quản lý tài sản
Mô hình này cho thấy quy mô ngân hàng, hiệu quả hoạt động, hiệu quả quản
lý tài sản có tác động đến hiệu quả tài chính trong khi tác động của rủi ro tín dụng thì không có ý nghĩa thống kê
Tobin‟s Q = −6.8 + 0.922 BSIZE + 0.001CR + 0.0 OE + 0.048 AM + e Trong mô hình này chỉ có tác động của hiệu quả quản lý tài sản đến chỉ số Tobin‟s Q là có ý nghĩa thống kê trong khi tác động của các yếu tố rủi ro tín dụng, hiệu quả hoạt động và quy mô ngân hàng thì không có ý nghĩa thống kê
EVA = −135 + 16BSIZE − 0.002 CR − 0.018 OE + 1.6 AM + e
Trang 32Mô hình này cho thấy quy mô ngân hàng, hiệu quả hoạt động, hiệu quả quản
lý tài sản có tác động đến hiệu quả tài chính thông qua chỉ tiêu EVA trong khi tác động của rủi ro tín dụng thì không có ý nghĩa thống kê
Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy: quy mô ngân hàng và hiệu quả quản
lý tài sản có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng Palestine trong khi hiệu quả hoạt động có tác động tiêu cực, rủi ro tín dụng không có ý nghĩa thống kê trong tác động đến hiệu quả tài chính của ngân hàng
Nhược điểm của nghiên cứu này là quy mô mẫu thấp, chỉ có 5 ngân hàng trong giai đoạn 2005-2010 nên kết quả nghiên cứu có khác biệt với các nghiên cứu
đi trước tuy nhiên kết quả nghiên cứu đã đóng góp vào lĩnh vực quản lý là để giúp các nhà quản lý quyết định chú ý hơn đến các yếu tố có tác động tiềm ẩn hoặc tác động mạnh mẽ đến hiệu quả tài chính ngân hàng Đồng thời, nghiên cứu cũng cung cấp một mô hình toàn diện để đánh giá hiệu quả tài chính của ngân hàng và đóng góp vào hệ thống nghiên cứu về hiệu quả tài chính ngân hàng
1.5.1.2 Nsambu Kijjambu Frederick (2013)
Nghiên cứu này nhằm thiết lập các yếu tố cơ bản tác động đến hiệu suất của các ngân hàng thương mại trong nước ở Uganda Các yếu tố được phân tích bằng phương pháp hiệu quả vận hành cấu trúc (SCP) và đưa ra các giả thuyết hiệu quả (ES) Điều này được bổ sung bởi các lý thuyết lợi thế toàn cầu cùng với lý thuyết Home Nghiên cứu phân tích hiệu quả tài chính của tất cả các ngân hàng thương mại được cấp phép trong nước và nước ngoài Nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính đa biến trong giai đoạn 2000-2011
Biến phụ thuộc bao gồm biến ROE và ROA
Biến độc lập bao gồm các biến trong hoạt động ngân hàng và các yếu tố vĩ
mô như:
Bảng2.1: Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu
Trang 33Biến nội bộ ngân hàng Đo lường Ký hiệu Kì vọng
Thanh khoản ngân hàng Tổng các khoản cho vay/Tổng
tài sản
Cơ hội lợi nhuận thị trường Huy động/Tổng tài sản DEPTA +
Hiệu quả sử dụng chi phí Chi phí lãi/Vốn CSH INTEXEQ -
Thu nhập ngoài lãi Đo lường bằng việc đa dạng
Chi phí không hiệu quả Chi phí lãi trong tổng tài sản IETA -
Đa dạng hoá hoạt động NH Thu nhập ngoài lãi/TTS
income
Quản lý không hiệu quả Chi phí hoạt động/TTS OPEXTA -
Quản lý không hiệu quả Chi phí hoạt động/Doanh thu OPEXTI -
Biến vĩ mô
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả quản lý; chất lượng tài sản; thu nhập lãi; an toàn vốn và lạm phát là những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất của các ngân hàng thương mại trong nước ở Uganda trong giai đoạn 2000-2011 trong đó thu nhập lãi và lạm phát có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính trong khi hiệu quả quản
lý, an toàn vốn, chất lượng tài sản có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính của
Trang 34ngân hàng Tác động của các yếu tố khác đến HQTC của NHTM không có ý nghĩa thống kê
Nghiên cứu sử dụng hồi quy đa biến nhưng một số chỉ tiêu không được sử dụng thường xuyên nên một số chỉ tiêu không có ý nghĩa thống kê trong tác động đến HQTC NHTM dù tác giả đưa vào rất nhiều biến độc lập Các chỉ tiêu lấy theo giá trị trung bình chứ không sử dụng dữ liệu bảng nên không xét được các tác động
cụ thể Thêm vào đó, sự không đầy đủ của các BCTC của các NHTM cũng là nguyên nhân nên nghiên cứu chưa đưa ra được bức tranh hoàn chỉnh về các tác động của các yếu tố và không đưa ra được dự báo về hiệu quả tài chính của các NHTM ở Uganda
1.5.1.3 Vincent Okoth Ongore, Gemechu Berhanu Kusa (2013)
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của sở hữu vốn đến hiệu quả tài chính ngân hàng rất ít nên mục tiêu của nghiên cứu là đóng góp kết quả nghiên cứu vào hệ thống nghiên cứu về hiệu quả tài chính của các NHTM
Các tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính GLS (Generalized Least Square) vào dữ liệu bảng để ước lượng các thông số
Biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu bao gồm: ROE, ROA, NIM
Biến độc lập trong mô hình nghiên cứu bao gồm các yếu tố cụ thể trong ngân hàng như: tỷ lệ an toàn vốn, hiệu quả quản lý tài sản, hiệu quả quản lý, thanh khoản,
sở hữu vốn ngân hàng và các yếu tố nên ngoài ngân hàng như: GDP, CPI, lãi suất
Số liệu nghiên cứu được lấy từ 37 ngân hàng thương mại trong đó có 13 ngân hàng nước ngoài, 24 ngân hàng trong nước Số liệu được thu thập từ các NHTM, IMF và WB tuừ năm 2001-2010
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ an toàn vốn tác động dương đến ROA, NIM nhưng tác động âm đến ROE, chất lượng tài sản, lạm phát có tác động âm đến HQTC của ngân hàng trong khi hiệu quả quản lý có tác động dương đến HQTC của
Trang 35các NHTM, GDP và thanh khoản không ý nghĩa thống kê trong tác động đến HQTC của các NHTM ở Kenya Tác động của sở hữu vốn đến HQTC của NHTM là không
rõ ràng
1.5.2 Các nghiên cứu Việt Nam
1.5.2.1 Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh (2012)
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2006-2009 bằng cách sử dụng hai phương pháp phân tích tổng năng suất nhân
tố và phương pháp phân tích bao dữ liệu Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ các báo cáo thường niên của 22 NHTMCP giai đoạn 2006-2009 Dựa trên quan điểm cho rằng các ngân hàng là các tổ chức tài chính huy động, phân bổ các nguồn vốn cho vay và các tài sản khác, các khoản chi phí để duy trì hoạt động được xem là đầu vào trong quá trình tạo ra thu nhập - đầu ra trong hoạt động kinh doanh Các biến đầu vào và đầu ra đưa vào mô hình đều đã bao gồm yếu tố giá nên trong quá trình
xử lý bằng phần mềm tất cả yếu tố giá sẽ được giả định không đổi Thứ nhất, hiệu quả kinh tế của hệ thống NHTMCP đang có xu hướng tăng thể hiện qua chỉ số hiệu quả kinh tế (CE) bình quân luôn cao và tăng dần qua các năm Tuy nhiên, yếu tố phi hiệu quả kinh tế phần lớn là do yếu kém về phân bổ nguồn lực thể hiện qua hai chỉ
số hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE) đạt ở mức thấp Thứ hai, hiệu quả hoạt động kinh doanh chung (TE) chưa cao Nói cách khác, mức độ không hiệu quả của các NHTMCP còn tương đối cao, khoảng 7,7% Trong đó, các nhân tố hiệu quả kỹ thuật thuần của các NHTMCP đóng góp vào hiệu quả hoạt động kinh doanh chung là lớn hơn so với hiệu quả theo quy mô Thứ ba, số lượng các NHTMCP có trạng thái hiệu quả theo quy mô giảm dần-DRS đang trên xu hướng giảm dần: từ 17 ngân hàng trong năm 2007 còn lại 8 ngân hàng trong năm 2009 Tuy nhiên, không
có ngân hàng nào thuộc nhóm quy mô lớn và quy mô trung bình đạt trạng thái hiệu quả theo quy mô tăng dần-IRS Thứ tư, khi môi trường kinh doanh trở nên ổn định hơn thì ngân hàng có quy mô càng nhỏ càng đạt hiệu quả kinh tế-CE, và hiệu quả quy mô-SE cao hơn Ngược lại, trong điều kiện môi trường kinh doanh bất ổn hơn,
Trang 36kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng có quy mô lớn lại ít bị sụt giảm hơn Thứ năm, nguyên nhân chính làm cho TFP suy giảm là do yếu tố phi hiệu quả
về mặt công nghệ gây ra Thứ sáu, các NHTMCP quy mô lớn sẽ có lợi thế về chi phí hơn các NHTMCP quy mô nhỏ
1.5.2.2 Nguyễn Thị Cảnh, Hoàng Nguyễn Vân Trang (2009)
Nghiên cứu của hai tác giả trình bày hai vấn đề: (1) Tổng quan lý thuyết về
đo lường hiệu quả và xây dựng mô hình định lượng đánh giá tác động của các nhân
tố đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM); (2) Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam và một số hàm ý Phương pháp nghiên cứu áp dụng là nghiên cứu định lượng qua mô hình kinh tế lượng (mô hình hồi qui) Số liệu chạy mô hình là số liệu bảng thống kê về kết quả hoạt động của 8 NHTM lớn tại Việt Nam trong sáu năm từ 2003 đến 2008
Hai mô hình trong nghiên cứu như sau:
Mô hình 1: biến phụ thuộc là tổng lợi nhuận, hoạt động ký hiệu là Y sẽ phụ thuộc vào:
(1) Tổng tài sản – ký hiệu là X1 (2) VCSH – ký hiệu là X2
(3) Hệ số an toàn vốn CAR – ký hiệu là X3;
(4) Tổng thu nhập lãi thuần hay doanh thu- ký hiệu là X4;
Trang 37tổng doanh thu và tổng chi phí có tác động mạnh đến lợi nhuận, và các tác động của hao nhân tố này là ngược chiều Tuy nhiên, tăng qui mô doanh thu sẽ có tác động tăng lợi nhuận mạnh hơn là giảm chi phí
Mô hình thứ hai: hiệu quả đo lường qua hiệu suất lợi nhuận hay tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA, ký hiệu ROA là Y sẽ phụ thuộc vào
(1) Cấu trúc vốn (VCSH/tổng tài sản) – ký hiệu là X1
(2) Năng lực quản trị thể hiện qua tỷ lệ chi phí – thu nhập – ký hiệu là X2 (3) Hệ số an toàn vốn CAR – ký hiệu là X3
Kết quả nghiên cứu như sau: mô hình thực nghiệm cho thấy cấu trúc vốn có tác động thuận đến tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA, trong khi tỷ lệ chi phí-thu nhập và hệ số an toàn vốn CAR có tác động nghịch đến ROA Mô hình các biến tỷ lệ cũng khá tương đồng với mô hình các biến quy mô Theo đó tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản tăng sẽ làm cho ROA tăng, ngược lại tỷ lệ chi phí – thu nhập cao sẽ làm cho tỷ suất lợi nhuận ROA giảm và tỷ số vốn trên tài sản rủi ro cao tức
hệ số an toàn cao, rủi ro thấp cũng làm cho tỷ suất sinh lời giảm, nhưng giảm trong trường hợp này lại có tác động tích cực (hy sinh lợi nhuận để phát triển bền vững)
1.5.3 Bình luận về các nghiên cứu
Có thể thấy rằng các nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của một công ty khá phong phú, tuy nhiên các nghiên cứu của Việt Nam hầu như rất ít, chủ yếu là các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh có phạm vi lớn hơn hiệu quả tài chính Tuy nhiên, đây vẫn là một nguồn tài liệu tham khảo quan trọng giúp tác giả nghiên cứu rõ hơn về các nhân
tố tác động đến hiệu quả tài chính cuar ngân hàng TMCP ACB Nhận thấy ở các nghiên cứu đi trước, các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời hay hiệu quả tài chính thương được chia thành 2 nhóm: các yếu tố nội bộ và các yếu tố vĩ mô Các yếu tố nội bộ bao gồm các yếu tố: cơ cấu vốn, thanh khoản, quy mô ngân hàng, sự
Trang 38đa dạng hoá hoạt động, sở hữu tư nhân, rủi ro tín dụng, chi phí hoạt động, chất lượng tài sản, an toàn vốn, trong khi các yếu tố vĩ mô bao gồm: tốc độ tăng trưởng kinh
tế (GDP), lạm phát, lãi suất, .Biến phụ thuộc chủ yếu là các biến: lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận biên (NIM) Một số nghiên cứu còn phân theo các loại hình ngân hàng như: ngân hàng tư nhân, ngân hàng nhà nước, ngân hàng nước ngoài để có thể so sánh dễ dàng hiệu quả hoạt động giữa các nhóm ngân hàng này Quy mô số liệu trong các nghiên cứu đi trước cũng rất lớn, thường là dữ liệu bảng từ nhiều ngân hàng trong nhiều năm
Trang 39Tóm tắt chương 1
Trong chương 1, tác giả đã đi vào nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hiệu quả tài chính của công ty bao gồm: khái hiệm về hiệu quả, hiệu quả tài chính, các phương pháp đo lường hiệu quả tài chính, các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại Tác giả cũng trình bày một số nghiên cứu trong
và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu Đây cũng là cơ sở để tác giả thực hiện đánh giá thực trạng hiệu quả tài chính của ACB trong chương 2 của luận văn
Trang 40CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
2.1 Khái quát về tình hình kinh doanh của NHTMCP Á Châu
Tình hình kinh doanh của NHTMCP Á Châu được thể hiện qua các chỉ tiêu : tổng tài sản, doanh số huy động, dư nợ cho vay và lợi nhuận như các biểu đồ dưới đây:
Hình 2.1 Tổng tài sản của ngân hàng ACB giai đoạn 2009-2013
Đơn vị: Tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo thường niên ngân hàng ACB 2013