Chúng ta có thể thấy qua sự thấp kém ở các chỉ tiêu của Chỉ số bảo vệ nhà đầu tư Protecting investor của Việt Nam trong năm 2015, một trong những chỉ số / lĩnh vực của Báo cáo môi trường
Trang 1_
NGUYỄN NHƯ EM
CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Trang 2VỆ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Bích Thọ Các nội dung được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ
NGUYỄN NHƯ EM
Trang 3Trang
Chương 1 Lý luận chung về quyền của Cổ đông thiểu số và cơ chế
pháp lý bảo vệ quyền của Cổ đông thiểu số trong công ty
cổ phần
1.1 Quyền của Cổ đông thiểu số và sự cần thiết phải bảo vệ Cổ
đông thiểu số trong Công ty cổ phần
7
1.1.4.2 Sự áp đảo của cổ đông lớn với cổ đông thiểu
nước
20
Trang 42.1 Thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về bảo vệ các
quyền của cổ đông thiểu số
29
2.1.1.1 Quyền tham dự và phát biểu tại cuộc họp
Đại hội đồng Cổ đông
29
2.1.1.2 Quyền triệu tập cuộc họp Đại hội đồng Cổ
đông
33
2.1.1.3 Tỷ lệ biểu quyết thông qua các quyết định
trong cuộc họp Đại hội đồng Cổ đông
35
2.1.3.2 Quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại
2.3 Thực trạng về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số từ việc quản
trị, kiểm soát công ty
61
quyền chi phối trên thực tế quản trị công ty
Trang 52.3.3.2 Báo cáo của Ban kiểm soát 71
Chương 3 Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ Cổ đông thiểu số trong
công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay
3.2 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số
trong công ty cổ phần Việt Nam
nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số
79
trong thực hiện tự bảo vệ mình
79
Tài liệu tham khảo
Trang 6LCK 2006 Luật chứng khoán năm 2006
LDN 2005 Luật doanh nghiệp năm 2005
LDN 2014 Luật doanh nghiệp năm 2014
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế TTCK Thị trường chứng khoán
UBCK Ủy ban Chứng khoán
Trang 7MỞ ĐẦU
a) Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, nhà nước ta đã và đang khuyến khích sự tự do tạo lập và thu hút vốn để phát triển các doanh nghiệp dân doanh (chỉ các doanh nghiệp do tư nhân góp vốn thành lập, không do nhà nước góp vốn, mua cổ phần), mạnh dạn thực hiện cổ phần hóa hay thực hiện thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước nếu xét thấy không cần phải điều tiết Tính ưu việt của việc
cổ phần hóa là có thể huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế, kéo theo hàng loạt các lợi ích khác như mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao được khả năng cạnh tranh, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thực tế cho thấy mô hình CTCP là loại hình doanh nghiệp được lựa chọn nhiều nhất khi các dân doanh khởi nghiệp và là mô hình đáp ứng với nhu cầu thu hút vốn trên Ở Việt Nam, hầu hết các CTCP đều có sự tham gia đa dạng của các nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, đặc biệt là những nhà đầu tư với
số lượng vốn nhỏ hay còn gọi là CĐTS theo luận văn này Dưới cả góc độ thực tiễn
và pháp lý, CĐTS được hiểu là những cổ đông sở hữu một tỷ lệ nhỏ cổ phần và bị hạn chế về khả năng quản lý, cũng như kiểm soát các hoạt động trong công ty đó
Sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật doanh nghiệp trải qua gần 25 năm, bắt đầu từ Luật công ty năm 1990, Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp năm 2005 rồi đến Luật doanh nghiệp năm 2014 (hiệu lực từ ngày 01/7/2015), mô hình CTCP ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, với một trong những nguyên tắc pháp lý quan trọng là hướng đến và duy trì việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là CĐTS Trong đó, sự cân bằng các yếu tố về (i) quyền, (ii) nghĩa vụ và (iii) lợi ích của CĐTS so với cổ đông lớn là vấn đề được các nhà làm luật đặc biệt quan tâm tại mỗi lần rà soát điều chỉnh hay sửa đổi Tuy nhiên, trong 3 khía cạnh trên, có vẻ như chỉ có phần nghĩa vụ là duy trì được sự bình đẳng tương đối, 2 khía cạnh còn lại thì hầu như chưa đạt được sự cân bằng theo đúng nghĩa
Trang 8Từ sự thiếu cân bằng trên cho thấy vấn đề bảo vệ quyền của CĐTS hiện nay cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn có nhiều bất cập, gây bức xúc, làm nản lòng các nhà đầu tư, ảnh hưởng nghiêm trọng môi trường kinh doanh và hiệu quả của việc huy động nguồn vốn cho sự phát triển của nền kinh tế, không phát huy hết tính ưu việt của mô hình CTCP Chúng ta có thể thấy qua sự thấp kém ở các chỉ tiêu của Chỉ số bảo vệ nhà đầu tư (Protecting investor) của Việt Nam trong năm 2015, một trong những chỉ số / lĩnh vực của Báo cáo môi trường kinh doanh thường niên do Ngân hàng thế giới (World Bank) công bố [34]:
Đông Á &
Châu Á Thái Bình Dương
OECD
Phạm vi của chỉ số quản trị cổ đông
Để thực hiện tốt yêu cầu này, trước tiên chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật và đối chiếu với các yêu cầu từ
Trang 9thực tiễn để hoàn thiện hơn nữa hành lang pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi của CĐTS Đó cũng là lý do mà tác giả đã lựa chọn đề tài để nghiên cứu
b) Tình hình nghiên cứu đề tài
Sau khi tiến hành khảo sát tình hình nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng vấn đề bảo vệ quyền CĐTS được nhiều chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau nghiên cứu và công bố dưới dạng sách hoặc các bài viết, bài tham luận, bình luận, chuyên khảo được đăng trên các tạp chí, bài báo và các trang thông tin điện tử Tuy nhiên, trong khả năng nghiên cứu của mình, tác giả chỉ xin đề cập đến một số nghiên cứu trước đây trực tiếp về đề tài và dưới góc độ pháp lý, cụ thể như sau:
Viện nghiên cứu quản lý Trung Ương, Hà Nội
quyết”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn online, ngày 27/5/2014
Nam, Luận văn Thạc sỹ
thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nam”, Tạp chí Luật học, số 4, trang 18 đến 24
Tại mỗi góc độ tiếp cận và nghiên cứu khác nhau trong những thời điểm khác nhau, hầu hết các tác giả đã chỉ rõ những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật trong việc bảo vệ quyền của CĐTS tại Việt Nam trên cơ sở thực tế cũng như so sánh pháp luật của một số nước trên thế giới và đã đề cập đến các giải pháp cho vấn
đề này Tuy nhiên, nhận thấy một số thay đổi trong chính sách pháp luật của Việt Nam, đặc biệt là việc LDN 2014 vừa có hiệu lực và trước những thay đổi từ thực tiễn khách quan, tác giả thiết nghĩ cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa đề tài này trên cơ sở tiếp thu các thành quả, giá trị khoa học của các tác giả, các đề tài nghiên cứu trước đó, đồng thời đặt vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ chặt chẽ với yêu cầu của thực tiễn hiện tại để làm rõ những bất cập ở Việt Nam trong việc bảo vệ
Trang 10quyền của CĐTS và đưa ra một số kiến nghị mang tính tổng quan, góp một phần hoàn thiện hơn nữa cơ chế pháp lý trong việc bảo vệ quyền của CĐTS tại Việt Nam
c) Mục đích nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết các vấn đề lý luận chung trong
cơ chế pháp lý bảo vệ quyền của CĐTS theo quy định của pháp luật Việt Nam trong mối liên hệ với tình hình thực tiễn qua đó góp phần đưa ra cách hiểu, nhận biết khái niệm về CĐTS, mục tiêu của việc bảo vệ CĐTS Đồng thời, tác giả đi vào đánh giá thực trạng và thi hành pháp luật bảo vệ quyền CĐTS trong CTCP ở Việt Nam hiện nay
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng nhiều quan điểm của các chuyên gia có uy tín; thực hiện so sánh, đối chiếu với quy định pháp luật của một số nước trên thế giới, để từ đó có cái nhìn tổng quan và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cơ chế pháp lý bảo vệ quyền CĐTS trong CTCP
d) Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam
về bảo vệ quyền của CĐTS, chủ đạo là LDN 2014, LDN 2005, LCK 2006 (sửa đổi,
bổ sung năm 2010) cùng các văn bản hướng dẫn… và thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về bảo vệ quyền của CĐTS hiện nay Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật nước ngoài mà tác giả tham chiếu cũng là đối tượng nghiên cứu mở rộng của luận văn
đ) Phạm vi nghiên cứu
Trong khả năng nghiên cứu, nội dung của luận văn không bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến bảo vệ CĐTS mà tác giả chỉ tập trung nghiên cứu việc bảo vệ quyền của CĐTS và cơ chế bảo vệ quyền CĐTS dưới góc độ pháp lý; thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về bảo vệ quyền của CĐTS trong CTCP hiện nay
Trang 11e) Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận nghiên cứu đề tài này một cách hệ thống và hiệu quả, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích, tổng hợp, suy luận logic, so sánh đối chiếu, thống kê và dùng sử kiện để chứng minh nhận định dựa trên nền tảng tư duy của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử theo Chủ nghĩa khoa học Mác – Lê nin
g) Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
03 chương, 9 tiết
Trang 12CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ VÀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Quyền của cổ đông thiểu số và sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
1.1.1 Khái quát về cổ đông
Cổ đông của CTCP được hiểu là người sở hữu cổ phần; cũng xuất phát từ địa
vị pháp lý là đồng chủ sở hữu công ty, nhưng trong CTCP thì người sở hữu phần vốn góp được gọi là cổ đông chứ không phải là thành viên góp vốn như trong công
ty TNHH hay thành viên hợp danh trong công ty hợp danh Đây cũng là khái niệm đặc trưng, duy nhất chỉ có ở loại hình CTCP
Số lượng cổ đông trong CTCP tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa
Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân và phải sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, để xác lập tư cách cổ đông trong CTCP, tổ chức / cá nhân phải thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện: (i) tổ chức / cá nhân phải sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của CTCP và (ii) những thông tin về nhân thân quy định tại Điều 121 LDN 2014 được công ty hoặc thành viên của trung tâm lưu ký chứng khoán ghi đúng và đủ vào sổ đăng ký cổ đông của công ty
Trong CTCP, cổ đông được phân chia thành nhiều loại phụ thuộc vào loại cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ Theo quy định của LDN 2014, CTCP bắt buộc phải
có cổ phần phổ thông, ngoài ra có thể có các loại cổ phần ưu đãi như cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phần khác theo quy định của Điều lệ công ty Như vậy theo tiêu chí loại cổ phần sẽ có các loại
cổ đông theo luật định như cổ đông phổ thông (chỉ cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông), cổ đông ưu đãi (chỉ cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi)
1.1.2 Cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, nhóm cổ đông
Cổ đông lớn và cổ đông thiểu số
Trang 13Dưới góc độ thực tiễn, người ta không chú trọng vào loại cổ phần phổ thông hay ưu đãi theo quy định của pháp luật mà quan tâm đến tiêu chí số lượng hay tỷ lệ
cổ phần (trong tổng số cổ phần) mà cổ đông nắm giữ để phân loại cổ đông hơn; theo
đó, cổ đông sẽ được chia thành cổ đông sở hữu nhiều vốn hay còn gọi là cổ đông lớn và cổ đông ít vốn hay còn gọi là CĐTS Việc xác định CĐTS hay cổ đông lớn không có ý nghĩa khi góp vốn, mà chỉ có ý nghĩa khi các cổ đông thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đối với các hoạt động trong công ty Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Đình Cung, việc gọi CĐTS (cổ đông ít vốn) và cổ đông đa số phải xuất phát từ mối quan hệ giữa phần vốn góp và quyền của cổ đông;
theo đó các tác giả này cho rằng “gọi là cổ đông ít vốn hay nhiều vốn là khi nói đến
số lượng tiền mà cổ đông góp vào công ty và gọi là đa số hay thiểu số là khi họ thực hiện quyền biểu quyết” [17, tr.349] Còn PGS.TS Phạm Duy Nghĩa thì cho rằng
“người nắm giữ phần vốn đáng kể trong công ty, có thể thu gom phiếu để thao túng
công ty được gọi là cổ đông đa số Ngược lại, các cổ đông nhỏ không có ảnh hưởng đáng kể trong quản lý và điều hành công ty được xem là cổ đông thiểu số” [20,
tr.127]
Tác giả cho rằng việc phát sinh nhiều tên gọi về CĐTS như nêu trên là xuất phát từ sự phong phú, đa dạng của ngôn ngữ tiếng Việt và không cần thiết đặt ra vấn đề thống nhất tên gọi, bởi dù với tên gọi nào thì các khái niệm nêu trên vẫn luôn đồng nhất về nội hàm nói về cổ đông sở hữu số lượng cổ phần ít và không giữ vai trò quyết định Trong luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ “cổ đông thiểu số” vì đây là khái niệm phổ biến trong thực tế, được nhiều người sử dụng như một thông
lệ về cách gọi với cùng nội dung để chỉ những cổ đông sở hữu số lượng cổ phần nhỏ, không có khả năng chi phối và kiểm soát hoạt động của CTCP
Về mặt pháp lý, trong nhiều năm qua hầu như việc phân biệt cổ đông lớn, CĐTS chưa được đặt ra và chưa được ghi nhận trong các văn bản Việc không ghi nhận này được lý giải là trước đây nền kinh tế nước ta chưa mang tính thị trường mạnh mẽ, kinh tế tư nhân chưa phát triển, sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh chưa gay gắt, thị trường vốn còn non trẻ… cho nên vấn đề phân biệt cổ đông cũng
Trang 14như phân chia quyền hạn, thẩm quyền trong công ty chưa được đặt ra Khi Luật công ty 1990 ra đời, mô hình CTCP lần đầu tiên được giới thiệu và mặc dù đã cố gắng xây dựng một chế định pháp lý hoàn chỉnh nhằm bảo vệ CĐTS nhưng cho đến nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về CĐTS
Tại Khoản 25 và Khoản 26 Điều 2, Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày
11/7/1998 về chứng khoán và TTCK ghi nhận “cổ đông thiểu số là người nắm giữ
dưới 1% cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành” và “cổ đông lớn là người nắm giữ từ 5 % trở lên cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”
Như vậy, theo quy định này, CĐTS được định nghĩa là khi cổ đông đó sở hữu dưới 1% cổ phiếu Hiện nay Nghị định này đã hết hiệu lực và các văn bản mới ban hành
để điều chỉnh về lĩnh vực này dường như không đề cập thuật ngữ CĐTS Tuy nhiên dưới góc độ pháp lý, chúng ta có thể tiếp cận định nghĩa này trong mối quan hệ với khái niệm “cổ đông lớn”
Định nghĩa về cổ đông lớn hiện nay có 2 văn bản trực tiếp điều chỉnh là Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 và LCK 2006 Theo quy định tại Khoản 26 Điều 4
Luật các Tổ chức Tín dụng 2010 quy định “cổ đông lớn của các Tổ chức Tín dụng
là cổ đông sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần đó”, tương tự, Khoản 9 Điều 6 LCK 2006 quy
định “cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ
phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành” Như vậy, chúng ta có thể nhận
thấy 5% là ranh giới để xác định cổ đông lớn, CĐTS và liệu có thể hiểu theo cách thông thường để gọi loại cổ đông còn lại ở đây là những CĐTS phù hợp với mối quan hệ của cặp phạm trù lớn – nhỏ được hay không?
Rõ ràng nếu hiểu khái niệm CĐTS trong cặp phạm trù lớn – nhỏ dựa trên ranh giới về tỷ lệ sở hữu cổ phần nêu trên là không hợp lý, bởi lẽ những tỷ lệ đó chỉ là những con số ước lệ mà các nhà làm luật đưa ra để ghi nhận các quyền lợi cho cổ đông lớn chứ không phản ánh được đầy đủ về bản chất của cổ đông lớn hay CĐTS Nếu xem xét vấn đề dưới góc độ thực tiễn, chúng ta có thể hiểu rằng CĐTS thì không chi phối, không có khả năng áp đặt quan điểm, đường lối sách lược của mình
Trang 15cho công ty, không thể quyết định được việc lựa chọn đa số thành viên trong HĐQT hay BKS, không có khả năng ảnh hưởng trong việc quản lý và điều hành công ty [18, tr.139] Hơn nữa, một cổ đông chiếm 5% vốn điều lệ có thể là cổ đông lớn trong CTCP có hàng ngàn cổ đông cũng có thể là CĐTS trong một CTCP chỉ có 5
cổ đông mà 4 cổ đông còn lại sở hữu không dưới 20% tổng số cổ phần Vì thế cổ đông sở hữu 5% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trong một công ty niêm yết
mà LCK 2006 quy định thực sự khác với một cổ đông sở hữu 5% tổng số cổ phần của một CTCP không phải là công ty đại chúng [18, tr.130]
Vì vậy, chưa có một định nghĩa chính thống về CĐTS được phổ biến trong pháp luật Việt Nam hiện hành dẫn đến việc thực hiện bài viết gặp nhiều khó khăn khi phân tích cũng như đặt ra các tình huống về tỷ lệ nắm giữ số cổ phần trong CTCP để giải quyết các vấn đề
Nhóm cổ đông
Một thuật ngữ khác cũng để chỉ cổ đông theo quy định của pháp luật doanh nghiệp là nhóm cổ đông Thuật ngữ nhóm cổ đông gắn với việc thực thi quyền của tập hợp một số cổ đông, nghĩa là các cổ đông riêng lẻ trong cùng một CTCP liên kết lại với nhau, việc liên kết này tạo cho họ một số quyền năng nhất định mà với số lượng cổ phần của từng cổ đông riêng lẻ sẽ không có được
Nhóm cổ đông là khái niệm gắn liền với các quyền của CĐTS và chỉ đặt ra với các CĐTS bởi nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiện các biện pháp
để bảo vệ quyền CĐTS Đây vừa là phương tiện và cũng là điều kiện để các CĐTS
có thể thông qua đó để tự bảo vệ quyền lợi của mình Chế định nhóm cổ đông là một sự tiến bộ mạnh mẽ khởi đầu từ LDN 2005 trong việc tạo ra cơ chế để bảo vệ CĐTS, những CĐTS có tiếng nói chung, có đồng quan điểm có thể tập hợp lại tạo thành nhóm và thông qua nhóm để thực hiện các quyền mà pháp luật đã quy định
Trang 16cầu chủ thể còn lại đáp ứng Quyền của cổ đông cũng không nằm ngoài phạm vi này Quyền cổ đông là điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất để bảo vệ cổ đông, là phương tiện để cổ đông có thể sử dụng để bảo vệ mình Căn cứ LDN 2014, quyền
cổ đông phổ thông được quy định cụ thể tại Điều 114 và được quy định dàn trải tại các điều khoản khác và pháp luật có liên quan Căn cứ vào tính chất của quyền, có thể chia quyền cổ đông thành 3 nhóm quyền là nhóm quyền chính trị, nhóm quyền kinh tế và nhóm quyền tư pháp, cụ thể:
Không phải bất kỳ cổ đông của CTCP cũng đều có tất cả những quyền được liệt kê trên đây; tùy theo tỷ lệ sở hữu của cổ đông hoặc của nhóm cổ đông mà pháp luật doanh nghiệp sẽ quy định phạm vi quyền tương ứng
Nhóm quyền kinh tế:
Trang 17Tên gọi của nhóm quyền này dựa vào đặc trưng cơ bản là lợi ích kinh tế mà các cổ đông có được khi góp vốn hay mua cổ phần Đây là nhóm quyền mà hầu hết các cổ đông đều hướng đến khi đầu tư hay mua cổ phần Nhóm quyền này bao gồm các quyền như tự do chuyển nhượng cổ phần, nhận cổ tức và nhận một phần tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản và quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình
Nhóm quyền tư pháp:
Tên gọi nhóm quyền tư pháp được đặt ra nhằm để miêu tả những quyền của cổ đông liên quan đến các công cụ pháp lý mà cổ đông có thể sử dụng để bảo vệ quyền lợi hoặc để thực hiện vai trò của mình trong việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng của công ty Nhóm quyền này bao gồm các quyền như yêu cầu đình chỉ thực hiện quyết định của HĐQT; yêu cầu cơ quan tài phán hủy bỏ nghị quyết của cuộc họp ĐHĐCĐ nếu cuộc họp để ra quyết định đó được triệu tập một cách không công bằng, có nguy cơ làm sai lệch nội dung của quyết định hoặc quyết định thông qua một cách không công bằng, trái với quy định pháp luật; tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên HĐQT, (Tổng) giám đốc
1.1.4 Sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số
Vấn đề bảo vệ CĐTS ở Việt Nam trước đây chưa được chú trọng và nghiên cứu cũng như ngay cả định nghĩa cũng chưa được đề cập, hiện nay vấn đề này trở nên cần thiết và cần được quy định một cách nghiêm túc nhằm bảo vệ các cổ đông, đảm bảo thị trường vốn duy trì và phát triển
Khái niệm bảo vệ CĐTS mà tác giả đề cập chỉ mang ý nghĩa nội hàm trong phạm vi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của CĐTS chứ không phải luôn luôn đặt
ra vấn đề bảo vệ mà không cân nhắc đến sự hài hòa của việc quản trị doanh nghiệp một cách hiệu quả hay sự dung hòa với quyền lợi của các cổ đông lớn trong CTCP Các nguyên nhân dẫn đến phải bảo vệ quyền của CĐTS:
1.1.4.1 Sự lạm quyền của người quản lý
CTCP là loại hình công ty có cơ cấu tổ chức phức tạp do tính chất đối vốn và
số lượng cổ đông lớn, quy mô hoạt động lớn, điều này quyết định đến cơ cấu tổ
Trang 18chức của công ty Tuy CTCP được thành lập bởi một số cổ đông sáng lập, song sau khi cổ phần được phát hành, các sáng lập viên đó phải chia sẻ quyền lực với các cổ đông khác Khác với công ty trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông trong CTCP không thể trực tiếp tham gia điều hành như các thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn, tất cả cá nhân /tổ chức góp vốn vào công ty đều trở thành thành viên của Hội đồng thành viên và quyết định mọi vấn đề quan trọng trong công ty Các cổ đông phải họp lại với nhau, tạo nên ĐHĐCĐ, chọn ra một số người thay mình quản lý công ty, nghĩa là có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và công tác quản trị điều hành trong công ty
Khoản 18 Điều 4 LDN 2014 quy định “người quản lý doanh nghiệp là người
quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp
tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty” Từ quy định này nhận thấy rõ, CTCP là sự biểu hiện rõ nét nhất của mô
hình quản lý 3 cấp: ĐHĐCĐ (cơ quan chủ sở hữu), HĐQT (cơ quan quản lý) và Ban giám đốc (cơ quan điều hành) Mỗi cấp quản lý có một nhiệm vụ, chức năng riêng biệt hoàn thiện bộ máy quản trị công ty Ngoài ra một số mô hình CTCP bắt buộc phải thành lập BKS để giám sát HĐQT và Ban giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty Chính vì vậy, việc tổ chức quản lý CTCP sẽ khó khăn và dễ dẫn đến lạm quyền nếu không được pháp luật quy định một cách chặt chẽ
Sự lạm quyền của người quản lý bắt nguồn từ mục tiêu của CTCP, cụ thể các chủ sở hữu mong muốn tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, nghĩa là tối đa hóa giá trị thị trường của vốn cổ phần doanh nghiệp trong khi các nhà quản lý lại hướng đến các mục tiêu trong ngắn hạn như tăng doanh số, tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận nhằm tăng mức lương, thưởng hay uy tín của mình đối với doanh nghiệp
Lý thuyết về đại diện cho rằng nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông
và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình thì có cơ sở để tin
Trang 19rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ sở hữu, tức các cổ đông Sự tách biệt việc sở hữu và điều hành doanh nghiệp còn tạo ra hiện tượng thông tin không cân xứng, nhà quản lý có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng rất tốn kém, khó khăn, phức tạp Với vị trí của mình, người quản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợi và không đủ siêng năng, mẫn cán và có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình chứ không phải cho công ty
Xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu doanh nghiệp biểu hiện ở (i) nhà quản lý có xu hướng thích các dự án ngắn hạn hơn các dự án dài hạn với khả năng sinh lời cao hơn, bởi các dự án ngắn hạn có thể mang lại kết quả nhanh chóng
và uy tín của họ cũng sẽ được tăng cường nhanh hơn; (ii) nhà quản lý có xu hướng chọn các dự án đầu tư ít rủi ro, lợi nhuận thấp và một tỷ lệ nợ thấp để giảm xác suất
bị phá sản và (iii) nhà quản lý thường chịu áp lực rất lớn trước các cổ đông là phải hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh; trong đó, quan trọng nhất là chỉ tiêu về lợi nhuận Nếu kết quả kinh doanh không được như mong muốn, sự xung đột lợi ích như trên có thể là tác nhân dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý, đưa
ra các thông tin không chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp để đánh lừa các cổ đông và các bên liên quan
Khi cổ phần công ty không phân tán mà tập trung vào một số cổ đông lớn, những người đồng thời là các nhà quản lý công ty, kèm theo đó là sự kém hiệu quả của các cơ chế kiểm soát thì đây là cơ hội thuận lợi cho sự lạm quyền của những người bên trong (các cổ đông lớn và các nhà quản lý) và quyền lợi của CĐTS rất dễ
bị xâm phạm
1.1.4.2 Sự áp đảo của cổ đông lớn với cổ đông thiểu số
Trong mối liên hệ giữa cổ đông và nhà đầu tư, xét cho đến cùng mỗi cổ đông đều là các nhà đầu tư, do đó khi đặt ra vấn đề bảo vệ cổ đông thì cần phải bảo vệ cả
cổ đông lớn và CĐTS Tuy nhiên, sở dĩ chúng ta đặt ra vấn đề phải bảo vệ CĐTS
mà không bao gồm cổ đông lớn là vì trong mối quan hệ giữa cổ đông lớn và CĐTS,
Trang 20chỉ có CĐTS mới cần được bảo vệ, cổ đông lớn với số lượng cổ phần mà họ sở hữu trong công ty đã được pháp luật trao cho một số lượng lớn quyền Bằng khả năng chi phối công ty, cổ đông lớn không chỉ tự bảo vệ được quyền lợi của mình mà họ còn có đủ sức mạnh để chèn ép, xâm phạm quyền lợi của CĐTS
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà trong đó chủ yếu là vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận của mình, các cổ đông lớn luôn tìm cách lạm dụng vị trí và sức mạnh của mình theo nguyên tắc đối vốn chèn ép các CĐTS, thâu tóm công ty để giành phần lợi hơn Các cổ đông lớn không khó để thực hiện điều đó bởi họ có trong tay sức mạnh quyền lực được tạo ra từ phần vốn góp trong công ty, còn các CĐTS với thẩm quyền ít ỏi của mình thì dù họ có nhận thức được mình bị chèn ép hay các quyền lợi đang bị xâm phạm, họ cũng đành cam chịu chấp nhận
Với nhiều cách thức khác nhau, các cổ đông lớn đang sử dụng hoặc lạm dụng
để thực hiện hành vi vi phạm, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của CĐTS trong đó phổ biến là việc cổ đông lớn thông qua HĐQT để thực hiện các hành vi ngăn cản hoặc tước bỏ quyền cổ đông của CĐTS; sử dụng các thông tin của công ty hoặc không công khai các thông tin để thực hiện các giao dịch tư lợi, phát hành cổ phiếu thưởng, ưu tiên quyền mua cổ phần ưu đãi hoặc thực hiện các dự án đầu tư để thâu tóm và chiếm đoạt tài sản của công ty
1.1.4.3 Ý thức và khả năng tự bảo vệ mình của cổ đông thiểu số
Ý thức của CĐTS trong việc họ chủ động tự bảo vệ mình là điều vô cùng quan trọng, dù không có khả năng để tự bảo vệ được quyền lợi của mình nhưng nếu các CĐTS luôn ý thức được sự cần thiết của vấn đề này và không còn thờ ơ, để cho các
cổ đông lớn thì đây là điều kiện quan trọng để họ tập hợp, liên kết với nhau để thực hiện các quyền của nhóm cổ đông và ít nhiều thông qua đó thể hiện tiếng nói của mình trong công ty Quan trọng hơn, việc CĐTS ý thức được sự cần thiết phải bảo
vệ mình sẽ là tiền đề quan trọng để họ chủ động bảo vệ mình khi các công cụ pháp
lý được xây dựng và hoàn thiện
Trong thực tiễn, vấn đề này có nhiều bất cập, mặc dù số lượng các CĐTS rất nhiều, chiếm đa số nhưng họ xuất phát từ nhiều thành phần xã hội khác nhau, có thể
Trang 21là doanh nhân, tri thức, cán bộ công chức, sinh viên, lao động phổ thông hay những ngành nghề, lĩnh vực khác nhau Mỗi nhà đầu tư có trình độ nhận thức khác nhau và đầu tư vốn chủ yếu với mục đích kiếm lời, lợi nhuận Phần lớn các nhà đầu tư theo kiểu như vậy, họ không quan tâm đến những người quản lý của các doanh nghiệp
mà họ mua cổ phần là ai, có năng lực như thế nào Họ chỉ quan tâm đến giá trị cổ phiếu hằng ngày có tăng hay không để tìm kiếm lợi nhuận mà không hiểu rằng, việc tăng giảm giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp phụ thuộc vào chính năng lực điều hành cũng như sự cẩn trọng, mẫn cán của những người quản lý
Bên cạnh đó, mặc dù CĐTS thường chiếm đa số trong CTCP nhưng họ lại thường không có mối quan hệ với nhau, vì vậy mà việc các cổ đông liên kết lại với nhau tạo thành nhóm để thực hiện một số quyền mà pháp luật cho phép trên thực tế
là gần như không khả thi Trong khi đó, các cổ đông lớn mặc dù không chiếm số đông so với các CĐTS nhưng họ lại có thông tin về nhau và luôn liên kết, bắt tay với nhau để quyết định đường lối, chính sách phát triển của công ty và quyết định luôn lợi ích cho chính mình Như vậy, dù bằng cách thức nào đi nữa, các CĐTS cũng không có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình Điều này đã làm nản lòng thêm cho các nhà đầu tư và góp phần tạo ra tâm lý thờ ơ của các CĐTS đối với hoạt động của công ty Chẳng phải ngẫu nhiên mà năm nào cũng có không ít các CTCP phải hoãn cuộc họp ĐHĐCĐ vì sự vắng mặt của các CĐTS Sở dĩ những cổ đông này không đến dự họp là vì họ hiểu rằng, nếu có đến dự họp thì họ cũng không thể đóng góp ý kiến để bảo vệ được quyền lợi của mình, tiếng nói của họ cũng chẳng có
ý nghĩa hoặc bị làm ngơ trước các cổ đông lớn
1.1.5 Vai trò của việc bảo vệ cổ đông thiểu số
Khi mà ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình của các CĐTS còn hạn chế và bản thân họ không có khả năng giải quyết thực trạng quyền lợi của mình đang bị xâm phạm, nhà nước cần phải bằng pháp luật đặt ra các nguyên tắc, xây dựng các công
cụ pháp lý tạo điều kiện cho các CĐTS thực hiện hiệu quả các quyền cổ đông, tạo cho họ vị trí và tiếng nói trong CTCP Bản thân điều này không chỉ có giá trị trong việc trực tiếp bảo vệ được quyền lợi của các CĐTS mà hơn thế nữa, nhà nước còn
Trang 22đảm bảo được các lợi ích cao hơn cho xã hội và các mục tiêu quan trọng, thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế Có thể nhận thấy vai trò của việc bảo vệ quyền lợi của CĐTS bao gồm:
1.1.5.1 Đối với chính công ty và nhà đầu tƣ
Xuất phát từ bản chất của vấn đề thì cả CTCP và TTCK cũng đều được xây dựng nên từ những nhà đầu tư, cụ thể là từ cổ đông của các CTCP Có thể nói không thể có CTCP cũng như TTCK nếu như không có nhà đầu tư nào chịu bỏ tiền
ra kinh doanh Chính vì vậy nhà nước muốn duy trì sự tồn tại và đảm bảo phát triển cho CTCP và TTCK, thì trước tiên và quan trọng hơn cả là phải bảo vệ được quyền lợi của các cổ đông mà trọng tâm là CĐTS Như một triết lý sinh tồn tự nhiên, phải bảo vệ được quyền lợi của CĐTS thì những CĐTS mới chịu bỏ tiền ra thành lập hoặc tham gia vào CTCP và đây là điều kiện để duy trì sự tồn tại và đảm bảo sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này cũng như TTCK Ngược lại, nếu như không có các công cụ pháp lý hữu hiệu để thực hiện các quyền của mình hay không tạo được niềm tin về việc họ đầu tư sẽ có lợi nhuận, thì có lẽ chẳng nhà đầu tư nào
bỏ tiền ra để thành lập hay tham gia CTCP cũng như mua chứng khoán trên TTCK, bởi đầu tư là mục đích tìm kiếm lợi nhuận và khi không có niềm tin sẽ được hưởng quyền lợi từ hoạt động đầu tư thì chắc chắn không ai lại bỏ tiền ra kinh doanh Khi pháp luật bảo vệ cổ đông hiệu quả, các nhà đầu tư có nhiều động lực hơn
bỏ vốn vào CTCP Đối với các công ty thu hút vốn cổ phần khả năng huy động vốn
sẽ gia tăng một khi nhà đầu tư yên tâm rằng đồng vốn đầu tư của mình được bảo toàn và phát triển, các quyền và lợi ích được bảo đảm
1.1.5.2 Đối với nền kinh tế
Bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các nhà đầu tư là một yếu tố quan trọng cho
sự phát triển của nền kinh tế
Thứ nhất, khuyến khích nhà đầu tư bỏ tiền ra kinh doanh, tăng nguồn vốn cho
nền kinh tế Trong bất kỳ thời đại nào, một quốc gia muốn phát triển nền kinh tế thì cần phải thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi từ người dân và nguồn vốn đầu tư nước ngoài Để huy động được các nguồn vốn từ nhà đầu tư, chúng ta
Trang 23cần phải đặt ra cơ chế pháp lý để bảo vệ họ, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng mà
họ thu được từ hoạt động đầu tư Một khi quyền lợi của các cổ đông không được đảm bảo thì họ sẽ không đầu tư hoặc lựa chọn các lĩnh vực đầu tư khác an toàn và hiệu quả hơn như gửi tiết kiệm ở ngân hàng, bất động sản hoặc cũng có thể mang tiền đi đầu tư ở những nơi có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn
Thứ hai, bảo vệ cổ đông tốt góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành
mạnh để thu hút đầu tư thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế Nền kinh tế quốc gia được xây dựng nên từ nguồn vốn và hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư, bao gồm
cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy thu hút được càng nhiều nhà đầu tư thì nền kinh tế sẽ càng pháp triển và đem lại hiệu quả cao cho xã hội Do
đó, cần thiết phải xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, có cơ chế bảo hộ quyền lợi cho nhà đầu tư thích đáng vì đây là điều kiện quan trọng và tiên quyết trong việc thu hút nhà đầu tư
1.2 Các hình thức bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số
Việc bảo vệ quyền của các CĐTS nhìn chung đòi hỏi cổ đông phải am hiểu các quyền của mình, phải biết sử dụng các quyền của mình, trong đó bao gồm các quyền chất vấn, quyền yêu cầu cung cấp thông tin, quyền khởi kiện người quản lý công ty… để bảo vệ quyền lợi của mình nói riêng và của công ty nói chung Nếu cổ đông không tự bảo vệ mình, thờ ơ với quyền lợi chính đáng của mình thì quyền và lợi ích của họ dễ bị xâm hại
Trên thực tế có rất nhiều cổ đông ít hiểu biết về các quyền của mình cũng như không nắm được các hình thức bảo vệ quyền để vận dụng Có thể lấy điều tra xã hội học của Tiến sĩ Bùi Xuân Hải làm minh chứng [18]: hơn 47% số cổ đông được hỏi không biết hoặc biết rất ít về các quyền của mình theo LDN 2005 và khoảng 36%
cổ đông không biết hoặc biết rất ít về các quyền của mình theo Điều lệ công ty Số liệu trên cho thấy các nhà đầu tư tham gia góp vốn vào CTCP một cách thụ động,
họ đã đánh đồng việc đưa tiền góp vốn hay mua cổ phiếu của CTCP như việc gửi tiền vào ngân hàng mà không cần quan tâm tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Trang 24mình đang đầu tư vào, không chú ý các công cụ sẵn có để bảo vệ quyền của mình, bảo vệ số tiền của mình góp vốn vào
Theo đây là một số các hình thức mà cổ đông có thể vận dụng để bảo vệ các quyền cổ đông của mình:
1.2.1 Thông qua các thiết chế đƣợc thiết lập tại công ty
Quyền lợi của CĐTS được bảo vệ thông qua các thiết chế được thiết lập tại công ty như điều lệ, các quy chế, thông lệ được quy định tại công ty nhằm xác định các quyền cổ đông, nhận biết được cơ cấu tổ chức nội bộ trong công ty (hay còn gọi
là cơ chế kiểm soát bên trong), can thiệp vào các cơ chế kiểm soát bên ngoài và đảm bảo các biện pháp cưỡng chế thực thi
Điều lệ công ty giữ vai trò đặc biệt quan trọng Điều lệ là một trong các căn
cứ, cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong nội bộ công ty Tùy theo hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mỗi công ty, các cổ đông thông qua ĐHĐCĐ có quyền quy định trong điều lệ và trong các quy định nội bộ công ty các nguyên tắc quản trị công ty, nguyên tắc công bố thông tin, cơ chế thông qua quyết định… theo hướng bảo vệ tốt hơn, mạnh hơn quyền lợi của cổ đông LDN
2014 có rất nhiều quy định cho phép công ty được quyền quy định cụ thể các vấn đề
trong điều lệ của mình, những cụm từ như “trừ trường hợp công ty có quy định
khác”, “trong trường hợp công ty có quy định khác thì…” hay “trường hợp Điều lệ công ty không có quy định thì…”, “tỷ lệ do Điều lệ công ty quy định”…
Tuy nhiên, nhiều cổ đông chưa chú trọng đúng mức Điều lệ và họ thường xem đây là một tài liệu bắt buộc phải có chỉ để thành lập doanh nghiệp chứ ít quan tâm đến nội dung của nó, việc xây dựng điều lệ là trách nhiệm của HĐQT, họ ít tham gia ý kiến Tâm lý không coi trọng điều lệ, dẫn đến hậu quả không tốt trong quản trị công ty và làm giảm khả năng tự điều chỉnh mà luật doanh nghiệp đã dành cho cổ đông Trong thực tế cổ đông cũng rất khó sử dụng Điều lệ để bảo vệ quyền lợi của mình hoặc ràng buộc nghĩa vụ của người quản lý vì điều lệ xây dựng sơ sài, thiếu những khoản cần thiết cho quản trị và giải quyết tranh chấp nội bộ và bảo vệ quyền
cổ đông
Trang 25Thông lệ thường diễn ra trên thực tế là nhiều nhà đầu tư mua cổ phần từ việc chào bán cổ phần hay nhận chuyển nhượng cổ phần từ các nhà đầu tư khác mà công
ty đã thành lập trước đó; trong trường hợp này, Điều lệ công ty đã có sẵn, những điều khoản liên quan đến quyền của cổ đông đã được quy định một cách cố định; khi đó việc CĐTS yêu cầu sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung vào Điều lệ công ty là hết sức khó khăn và thậm chí không thể thực hiện được
1.2.2 Thông qua kiểm tra giám sát của các cơ quan nhà nước
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế xã hội, phải bảo
vệ các lợi ích chính đáng cho các thành viên trong xã hội Vai trò bảo vệ cổ đông của nhà nước được thể hiện thông qua 03 nhóm cơ bản sau:
- Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật về doanh nghiệp, chứng khoán
và các quy định cần thiết trong đó có các quy định về địa vị pháp lý của cổ đông; quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty; chế độ công khai thông tin và những quy định khác nhằm bảo vệ quyền lợi chính đánh của các tổ chức / cá nhân, đầu tư kinh doanh
- Nhà nước thiết lập hệ thống cơ quan tư pháp cũng như cơ chế giải quyết thích hợp để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa công ty với các cổ đông và giữa cổ đông với nhau hoặc tranh chấp giữa người quản lý với cổ đông nhằm loại
bỏ tranh chấp và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cổ đông Tòa án và cơ quan thi hành án hoạt động hiệu quả thực thi pháp luật nghiêm minh sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ quyền lợi chính đáng của cổ đông
- Nhà nước xử phạt nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến công ty và quyền lợi chính đáng của cổ đông Pháp luật dù có hoàn thiện
và hợp lý đến đâu mà thiếu chế tài nghiêm minh thì cũng sẽ làm giảm hiệu lực điều chỉnh trên thực tế, dẫn đến rối loạn trật tự kỷ cương Những chế tài đối với hành vi
vi phạm quyền lợi cổ đông tùy theo mức độ vi phạm là xử phạt hành chính, buộc bồi thường thiệt hại hoặc có thể khởi tố hình sự
1.2.3 Hình thức khởi kiện
Trang 26LDN 2014 đã quy định một số điều khoản mà các cổ đông có quyền khởi kiện
để bảo vệ quyền lợi của mình và cho công ty
- Quyền khởi kiện đối với thành viên HĐQT, (Tổng) giám đốc: theo đó cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn
06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên HĐQT, (Tổng) giám đốc trong các trường hợp như: vi phạm nghĩa vụ người quản lý công ty; không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghị quyết của HĐQT; thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao trái với quy định của pháp luật, Điều lệ công ty hoặc nghị quyết của ĐHĐCĐ; sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ cho lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; sử dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác
- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong một thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác theo quy định của Điều lệ công ty có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết của ĐHĐCĐ trong 02 trường hợp (i) khi trình tự và thủ tục triệu tập cuộc họp không theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty và (ii) khi nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty LCK 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) đã dành trọn một chương để quy định
về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại đối với hoạt động chứng khoán nói riêng và quyền của cổ đông nói chung, Chương X – Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại, cụ thể:
- Khoản 1 Điều 132 quy định “tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc tổn thất do
hành vi vi phạm quy định của Luật này và pháp luật khác có liên quan có quyền tự mình hoặc cùng với tổ chức, cá nhân bị thiệt hại khác tiến hành khởi kiện để yêu cầu tổ chức, cá nhân gây ra thiệt hại phải bồi thường.”
- Khoản 1 Điều 133 quy định “cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện;
tổ chức có quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật Việc khiếu nại,
Trang 27tố cáo, khởi kiện và giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Nhìn chung, pháp luật doanh nghiệp, chứng khoán quy định quyền lợi thực hiện khởi kiện cho các cổ đông khá đầy đủ Tuy nhiên trên thực tế, khi những quyền lợi của cổ đông bị vi phạm thì các chế tài bảo vệ cổ đông không thật sự phát huy hiệu quả, nhiều quy định khó được thực hiện do quy định một cách sơ sài hoặc chưa thống nhất quy định về việc khởi kiện giữa các điều kiện đặt ra theo pháp luật doanh nghiệp và với quy định về điều kiện khởi kiện thuộc pháp luật tố tụng dẫn đến cổ đông không thể kiện HĐQT hay ban lãnh đạo công ty
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số
Bên cạnh việc bảo vệ quyền của CĐTS theo sự điều chỉnh của pháp luật trong nước việc nghiên cứu các mô hình tương tự CTCP, cơ chế quản lý, bảo vệ CĐTS tại một số nước trên thế giới là một việc làm cần thiết và để hài hòa, hội nhập sâu vào kinh tế thế giới
Trong khuôn khổ nội dung của Luận văn, tác giả nghiên cứu Bộ nguyên tắc quản trị công ty của OECD [22] và hoạt động quyền cổ đông ở một số quốc gia tiêu biểu như Hàn Quốc và Malaysia
1.3.1 Bảo vệ cổ đông theo Bộ nguyên tắc quản trị công ty của OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation for Economic operation and Development / OECD), thành lập năm 1961, hiện có 34 thành viên, chủ yếu là các nước phát triển OECD là diễn đàn đối thoại giữa các nước thành viên, các tổ chức quốc tế và giới nghiên cứu về các vấn đề kinh tế - xã hội; tiến hành nghiên cứu, dự báo, đưa ra khuyến nghị và tư vấn các nước thành viên trong hoạch định, phối hợp chính sách phát triển Các dữ liệu, thông tin, báo cáo của OECD có giá trị và độ tin cậy cao trong đó có Bộ nguyên tắc quản trị công ty được Hội đồng bộ trưởng OECD phê chuẩn lần đầu vào năm 1999 và từ đó trở thành chuẩn mực quốc tế cho các hoạch định chính sách, nhà đầu tư, công ty và các bên
Co-có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới (Bộ nguyên tắc)
Trang 28Bộ nguyên tắc nêu lên những khuyến nghị hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách trong quá trình xây dựng khung pháp lý, thể chế phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị và văn hóa của quốc gia mình, cũng như giúp các doanh nghiệp, hiệp hội xây dựng các quy tắc tốt nhất về quản trị công ty Tuy vậy, như bản thân tên gọi, Bộ nguyên tắc không sắp sẵn các quy định pháp luật cụ thể mà chỉ nêu ra những mục tiêu khái quát và các biện pháp để đạt mục tiêu đó Các nội dung liên quan đến quyền cổ đông được ghi nhận trong Bộ nguyên tắc bao gồm:
Quyền của cổ đông (quy định tại Mục II Bộ nguyên tắc)
Theo OECD, các nguyên tắc bao quát về quyền của cổ đông là “Khuôn khổ
quản trị công ty phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện các quyền của cổ đông”
Chủ trương của nguyên tắc này bao gồm tất cả những vấn đề nhằm chấp thuận các quyền lợi cơ bản của cổ đông bao gồm quyền ảnh hưởng đến công ty, quyền được cập nhật thông tin, quyền được bán hoặc chuyển nhượng cổ phần và quyền tham gia vào lợi nhuận hoặc thu nhập của công ty (quyền kinh tế) Quyền của cổ đông tập trung vào các quyền cơ bản như đề cử, bầu cử, bãi miễn thành viên HĐQT, sửa đổi quy định, điều lệ công ty… và tùy các loại cổ phần khác nhau sẽ có quyền khác nhau
Đối xử công bằng giữa các cổ đông (quy định tại Mục III Bộ nguyên tắc)
“Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo có sự đối xử bình đẳng đối với mọi
cổ đông, trong đó có CĐTS và cổ đông nước ngoài Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm” Chủ trương của nguyên tắc này là
để bảo vệ sự toàn vẹn của thị trường vốn bằng cách bảo vệ các cổ đông không có quyền kiểm soát, tránh khỏi sự lạm dụng, chẳng hạn các khoản chi tiêu hoang phí
do HĐQT, ban giám đốc và các cổ đông nắm quyền kiểm soát quyết định Các nhà đầu tư tin rằng lợi ích của họ nếu không bị lạm dụng sẽ làm giảm rủi ro đầu tư, hạ thấp chi phí vốn và làm tăng giá trị tài sản công khai và minh bạch
Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo công bố thông tin kịp thời và chính xác về các vấn đề thực tế liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty Thị trường tài chính nói chung và TTCK
Trang 29nói riêng là một môi trường phức tạp, đòi hỏi thông tin phải được công bố đầy đủ Người sử dụng thông tin cũng cần được đảm bảo về độ tin cậy của thông tin Cơ chế công bố thông tin tốt là cơ sở để thu hút vốn và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư Ngược lại, một cơ chế công bố thông tin kém hiệu quả và thiếu minh bạch có thể dẫn đến những hành vi vi phạm đạo đức gây hậu quả xấu cho công ty, cổ đông và cả nền kinh tế
Công bố thông tin và tính minh bạch (quy định tại Mục V Bộ nguyên tắc)
Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty
Công bố thông tin phải bao gồm, nhưng không hạn chế, các thông tin quan trọng về: (i) kết quả tài chính và hoạt động của công ty, (ii) mục tiêu của công ty, (iii) sở hữu cổ phần đa số và quyền biểu quyết, (iv) chính sách thù lao cho thành viên HĐQT và cán bộ quản lý cấp cao, bao gồm trình độ, quy trình tuyển chọn, các
vị trí đang nắm giữ tại công ty khác và liệu họ có được HĐQT coi là độc lập hay không, (v) các giao dịch với các bên liên quan, (vi) các yếu tố rủi ro có thể tiên liệu, (vii) các vấn đề liên quan đến người lao động và các bên có quyền lợi liên quan khác và (viii) cơ cấu và chính sách quản trị, cụ thể là nội dung của bất kỳ quy tắc hoặc chính sách quản trị nào và quy trình thực hiện nó
Trách nhiệm của HĐQT (quy định tại Mục V Bộ nguyên tắc)
Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công tác quản trị của HĐQT và trách nhiệm của HĐQT với công ty và cổ đông Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất bởi trách nhiệm thực thi quản trị công ty đầu tiên và trên hết thuộc về HĐQT Nguyên tắc này nhấn mạnh HĐQT cần làm việc vì quyền lợi tối cao của các cổ đông, tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông cũng như những người có liên quan, trách nhiệm công bố và minh bạch thông tin
Hiện nay trên thế giới, các nhà hoạch định chính sách và hiệp hội ngành nghề có xu hướng ban hành các chuẩn mực/hướng dẫn về quản trị công ty nhằm xây
Trang 30dựng môi trường và khung pháp lý về quản trị doanh nghiệp cho các công ty, nhà đầu tư và các bên liên quan tham khảo và thực hiện Rất nhiều quốc gia ban hành hướng dẫn hay chuẩn mực riêng về quản trị công ty tuy nhiên hiện nay bộ nguyên tắc quản trị công ty của OECD đã trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, công ty và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới Việc áp dụng những nội dung của Bộ nguyên tắc tại Việt Nam có thể được các nhà làm luật tham khảo và quy định vào các quy định pháp luật hoặc được các doanh nghiệp trực tiếp tham chiếu và áp dụng tại doanh nghiệp của mình
1.3.2 Hoạt động quyền cổ đông ở một số quốc gia trên thế giới
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy một tổ chức được trao quyền hoạt động quyền
cổ đông có thể mang đến hiệu quả và được xem như là một công cụ bảo vệ quyền lợi cho CĐTS mà Việt Nam có thể tham khảo Chúng ta sẽ nghiên cứu những mô hình sau:
1.3.2.1 Hàn Quốc
Hoạt động quyền cổ đông tại Hàn Quốc được dẫn dắt bởi một tổ chức phi chính phủ có tên là “People’s Solidarity for Paticipatory Democracy” (gọi tắt là PSPD), PSPD bắt đầu hoạt động quyền cổ đông từ tháng 01/1997, với chiến dịch
“Bảo vệ cổ đông nhỏ” Đây là cơ quan được thành lập hợp pháp tại Hàn Quốc có quyền theo dõi chính phủ, các nhà hành pháp, lập pháp và doanh nghiệp Mục tiêu hoạt động chính của PSPD là cải thiện tình hình quản trị doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi cổ đông của công ty PSPD hướng tới các công ty trong mô hình Tập đoàn Chaebol của Hàn Quốc
Phương thức hoạt động chủ yếu của PSPD bao gồm: kiện tụng, đàm phán giải quyết vấn đề với HĐQT và đề xuất bảo vệ lợi ích cho cổ đông Do không phải là nhà đầu tư lớn để có thể tham gia đầu tư lượng lớn cổ phiếu trong các công ty, nên PSPD thường hợp tác với các nhà đầu tư có tổ chức khác
Ban Kinh tế tham gia hoạt động (Participatory Economic Committee / PEC) là một cơ quan trực thuộc PSPD và đảm nhiệm vai trò chính trong tổ chức này với các
Trang 31chức năng tham gia phong trào cải cách kinh tế, hoạt động cổ đông và theo dõi các công ty lớn
Nhân sự của PEC gồm 03 nhân viên chuyên trách và 20 tình nguyện viên chuyên môn (luật sư, kế toán, giáo sư) Hoạt động của PEC bao gồm: (i) giám sát hoạt động công ty như thực hiện việc công bố thông báo, bố trí người giám sát bên ngoài, giao dịch với các bên có liên quan, phát hành trái phiếu gọi vốn mới và trái phiếu có liên quan tới vốn, tham gia các hoạt động của giám đốc (chương trình hoạt động, tham dự bỏ phiếu), thực hành kế toán và (ii) tham dự hội nghị cổ đông như thu thập và phân tích thông tin, thảo luận trước với đội ngũ quản lý về chương trình, gửi các thông báo về những khúc mắc và danh sách câu hỏi, cử đại điện thảo luận
về chương trình hội nghị cổ đông
Hoạt động quyền cổ đông của tổ chức này tại Hàn Quốc được đánh giá là khá hiệu quả, giúp cải thiện và tăng giá trị cho cổ đông từ các tập đoàn Chaebol lớn Trong số các công ty mà PSPD hoạt động quyền cổ đông, có những tên tuổi lớn như các tập đoàn Samsung, Hyundain Heavy Industries, Dacom, Daewoo, LG, Hanwha, Doosan Corporation và các định chế tài chính như Korea First Bank, Huyndai Investment Trust Co, Daehan Life Insurance Tuy nhiên, hoạt động của PSPD vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, trong đó, nhiều cuộc đấu tranh vì quyền lợi cổ đông bị thất bại Ngoài ra, do PSPD không hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận như các nhà đầu tư khác, do đó các đề xuất về hoạt động cổ đông mà tổ chức này đưa ra được cho là thiếu khả thi Các ứng viên được PSPD đề cử vào HĐQT cũng bị đánh giá là không phù hợp
1.3.2.2 Malaysia
Tương tự như Hàn Quốc, Malaysia cũng có một tổ chức dẫn dắt hoạt động quyền cổ đông như vậy Chính phủ Malaysia nhận định rằng các nhà đầu tư tổ chức không phải lúc nào cũng đại diện cho quyền lợi của tất cả các cổ đông Trên thực tế, tại Malaysia, ngoài 2 loại nhà đầu tư tổ chức lớn là các tổ chức đầu tư của chính phủ
và các tập đoàn gia đình, các nhà đầu tư nhỏ lẻ hoặc cá nhân khác hầu như không có tiếng nói và không thể tự bảo vệ mình khi bị xâm phạm quyền lợi Do đó, chính phủ
Trang 32đã thành lập tổ chức Bảo hộ quyền cổ đông (Minority Shareholder Watchdog Group- MSWG) vào năm 2000 để bảo vệ các cổ đông nhỏ lẻ và thực hiện vai trò giám sát hoạt động của các CTCP
MSWG được hình thành từ 05 cổ đông sáng lập bao gồm: Permodalan Nasional Berhad (PNB); quỹ Employee Povodent; Lembaga Tabung Angkatan Tentera (LTAT); Lembaga Tabung Haji (LTH) và Pertubuhan Keselamatan Sosial (PERSEKO) đều là các tổ chức đầu tư của chính phủ Từ năm 2005, MSWG được nhận hỗ trợ tài chính từ Quỹ phát triển thị trường vốn của Malaysia Kể từ đó, hoạt động của MSWG trở nên khá tích cực MSWG hiện giám sát khoảng 270 công ty bao gồm tất cả các công ty cấu thành chỉ số FBM 100, chỉ số MCG top 100, các công ty thuộc diện bắt buộc phải giám sát hoặc có đơn thư khiếu nại từ các cổ đông nhỏ lẻ MSWG cũng đã thành lập chỉ số quản trị doanh nghiệp Malaysia (chỉ số MCG) từ năm 2009 nhằm đánh giá tính hiệu quả của hệ thống quản trị tại các CTCP MSWG cũng tổ chức nhiều cuộc hội thảo về tăng cường quyền cổ đông trong các công ty
Mặc dù đã có những thành công nhất định nhưng hoạt động của tổ chức này vẫn còn tồn tại một số hạn chế Do HĐQT của MSWG được chỉ định từ các tổ chức đầu tư của chính phủ, nên các nhà đầu tư lo ngại việc các chính trị gia có thể can thiệp vào hoạt động của các CTCP và bản thân MSWG
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về CĐTS Trên thực tế, CĐTS còn được gọi với nhiều thuật ngữ khác nhau như cổ đông ít vốn hay cổ đông nhỏ Nhưng dù gắn liền với tên gọi nào đi nữa thì những khái niệm này cũng chung một ý nghĩa hàm chỉ những người sở hữu một tỷ lệ vốn góp nhỏ trong CTCP và không có khả năng chi phối đến hoạt động của công ty, trong đó yếu tố về khả năng kiểm soát, chi phối công ty là trọng tâm xây dựng nên định nghĩa này Trên cơ sở
đó, có thể hiểu CĐTS là cổ đông sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhỏ trong CTCP và không có khả năng chi phối, kiểm soát hoạt động của công ty một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Bảo vệ CĐTS ở đây cũng được hiểu dưới góc độ là bảo vệ các quyền
Trang 33và lợi ích hợp pháp của cổ đông chứ không phải cứ đặt ra vấn đề bảo vệ cổ đông mà không cân nhắc đến sự hài hòa trong quản trị doanh nghiệp hay dung hòa với quyền lợi của các cổ đông lớn
Vấn đề bảo vệ CĐTS được đặt ra khi mối quan hệ với cổ đông lớn, CĐTS luôn bị chèn ép, bị xâm phạm quyền lợi và với địa vị của cổ đông ít vốn, CĐTS không có khả năng tự bảo vệ được quyền lợi của mình Trên thực tế hiện nay tại Việt Nam, quyền lợi của CĐTS đang bị xâm phạm từng ngày và trở thành phổ biến, đáng tiếc là với cơ chế pháp lý hiện hành, CĐTS không có khả năng để tự bảo vệ được quyền lợi của mình Đồng thời, không ít một bộ phận CĐTS chưa ý thức được
sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của mình, họ thường không quan tâm hay mặc nhiên cho rằng đó là quyền lợi hiển nhiên của các cổ đông lớn Lý do để bảo vệ CĐTS thì nhiều nhưng đó là những lý do cơ bản và tạo ra yêu cầu bức thiết trong việc cần thiết phải hoàn thiện các cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền lợi của CĐTS Bảo vệ quyền lợi của cổ đông là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm, lợi ích của các cổ đông hay các nhà đầu tư trong nền kinh tế luôn có sự tác động trực tiếp đến sự phát triển của từng công ty và có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Cách thức lập pháp các quốc gia khác nhau bảo vệ cổ đông cũng khác nhau, tùy thuộc vào từng mức độ phát triển của nền kinh tế, thói quen trong kinh doanh Các quốc gia đều xây dựng và áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư sao cho có lợi nhất để ổn định và phát triển nền kinh tế của mình
Nước ta là một nước có nền kinh tế còn non trẻ, mới phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường và đang từng buôc hội nhập vào nền kinh tế thế giới Do vậy, chúng ta cần tham khảo kinh nghiệm từ các nước đã và đang phát triển trên thế giới theo cách thức có chọn lọc để áp dụng vào nền kinh tế nước mình một cách hợp lý nhất
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về bảo vệ các quyền của cổ đông thiểu số
2.1.1 Đối với nhóm quyền chính trị
2.1.1.1 Quyền tham dự và phát biểu tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông
- LDN 2005 và LDN 2014 quy định khá thống nhất về quyền tham dự cuộc dọp ĐHĐCĐ của cổ đông phổ thông Theo đó, không phụ thuộc vào việc giữ bao nhiêu phần trăm cổ phần công ty, mọi cổ đông phổ thông đều có quyền tham gia họp và nêu ý kiến tại cuộc họp ĐHĐCĐ Đây là một quy định tiến bộ tuy nhiên thực tiễn áp dụng quy định này đã và đang phát sinh nhiều vấn đề Chẳng hạn, các CTCP thường tạo những rào cản kỹ thuật ngăn cản CĐTS tham gia cuộc họp ĐHĐCĐ như quy định bắt buộc có tỷ lệ sở hữu cổ phần đạt mức tối thiểu nhất định mới được dự họp ĐHĐCĐ hoặc không cung cấp tài liệu cuộc họp, HĐQT của CTCP chỉ thông báo mời những cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ số cổ phần nhất định dự họp ĐHĐCĐ thường niên; cổ đông sở hữu cổ phần thấp hơn theo mức thông báo mà không liên kết thành nhóm cổ đông có đủ điều kiện thì đương nhiên mất quyền dự họp và biểu quyết… Cho dù lý do gì, việc các công ty này tạo thêm điều kiện, gây khó dễ cổ đông phổ thông khi tham gia cuộc họp ĐHĐCĐ rõ ràng là hành vi trái pháp luật
Trường hợp 1:
Công ty Cổ phần Bất động sản Tài chính Dầu khí Việt Nam (PVFC Land) thông báo về việc tổ chức cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên năm 2009 với nội dung như sau:
Thời gian: 08h00, ngày 25/4/2009 (thứ bảy)
Địa điểm: Tầng 3 Toà nhà HAREC, Số 4A Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội
Nội dung chính đại hội: báo cáo hoạt động của HĐQT; báo cáo kết quả sản
Trang 35xuất kinh doanh (SXKD) năm 2008, kế hoạch SXKD năm 2009; báo cáo tài chính năm 2008; phương án phân phối lợi nhuận năm 2008; phương án lựa chọn đơn vị kiểm toán năm 2009; báo cáo hoạt động của BKS; báo cáo mức lương và thù lao của HĐQT, BKS năm 2008; kế hoạch năm 2009; thông qua một số nội dung sửa đổi bổ sung Điều lệ công ty
Điều kiện tham dự: cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu 0,1% tổng số cổ phần phổ thông của công ty trở lên tại thời điểm chốt danh sách cổ đông ngày 25/3/2009 (theo quy định tại Điều lệ công ty)
Trường hợp 3:
Thông báo mời họp ĐHĐCĐ thường niên năm 2010 của Tổng Cổng ty Cổ phần Thiết bị Điện Việt Nam (VEC) quy định yêu cầu cổ đông phải gửi toàn bộ tài liệu mà mình đã nhận được như giấy đăng ký tham dự đại hội, giấy ủy quyền, phiếu đề cử thành viên HĐQT… qua bưu điện hoặc fax về công ty trước 16h ngày 24/11/2010 Ngoài ra, VEC còn khống chế quyền tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ của cổ đông nhỏ, cụ thể thông báo mời họp yêu cầu cổ đông hoặc nhóm
cổ đông sở hữu tối thiểu là 5.000 cổ phần mới được tham dự đại hội
Thực tế các vụ việc kể trên cho thấy việc các công ty tự đặt ra các quy định khác nhau để yêu cầu các cổ đông đáp ứng khi tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ là đi ngược lại quy định của pháp luật Tại Điểm a, Khoản 1 Điều 114 LDN 2014 về
quyền của cổ đông phổ thông quy định quyền “tham dự và phát biểu trong các Đại
hội đồng cổ đông …”; quyền này cũng được nhà làm luật đặt vị trí đầu tiên trong
Trang 36các quyền của cổ đông phổ thông cho thấy quyền tham dự cuộc họp là quyền tối thiểu nhất của các cổ đông
- Đối với quyền phát biểu của cổ đông cũng bị hạn chế trên thực tế, cụ thể một
số CTCP áp dụng thủ thuật hạn chế quyền phát biểu hay chất vấn của cổ đông bằng nhiều rào cản kỹ thuật như phải đăng ký trước thời hạn nhất định, bị hạn chế thời gian, hạn chế về chủ đề phát biểu do chủ tọa đưa ra… hay phải ghi câu hỏi ra giấy đưa lên bàn chủ tọa quyết định hoặc công khai câu hỏi trên website của công ty trước khi họp
Tại thời điểm tổ chức cuộc họp ĐHCĐ lần thứ nhất Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Ngoại thương Việt Nam có khoảng 15.800 cổ đông nhỏ nắm giữ 9% vốn điều lệ ngân hàng trong khi cổ đông nhà nước nắm giữ khoảng 90,3% vì thế tất cả mọi việc tại cuộc họp ĐHĐCĐ đều được quyết định bởi các vị đại diện cổ đông nhà nước Tại thời điểm họp cổ đông giá cổ phiếu của ngân hàng chỉ còn khoảng một nữa so với khi IPO và tính thanh khoản trên thị trường cũng rất kém cho nên nhiều cổ đông bức xúc muốn phát biểu nhưng lấy lý do thời gian có hạn chế nên chủ tọa đã bác bỏ quyền phát biểu của CĐTS gây ra sự bất bình trong các CĐTS
- Luật doanh nghiệp quy định cổ đông không đến dự cuộc họp ĐHĐCĐ thì có thể thực hiện ủy quyền cho người khác tham dự Tuy nhiên, pháp luật lại chưa quy định cụ thể việc ủy quyền dẫn đến tình trạng vi phạm nhiều về việc ủy quyền này
Đa số các công ty tạo điều kiện cho cổ đông tham dự đại hội bằng cách đăng tải mẫu ủy quyền lên trang web, ngược lại không ít công ty lợi dụng luật quy định còn lỏng lẻo, đã đưa ra những quy định riêng gây khó khăn cho các cổ đông
Trường hợp 1:
Biên bản họp ĐHĐCĐ thường niên năm 2012 và nhiệm kỳ II năm
2012-2017 của Công ty Cổ phần Nhựa y tế Mediplast ngày 20/7/2012, trong phần báo
cáo kiểm tra tư cách cổ đông ghi nhận“Ghi chú: có 04 giấy ủy quyền của các cổ
đông có mã số: A142; A151; A152; A159 không theo mẫu và không có dấu treo
Trang 37của công ty, do vậy ban tổ chức đã chiếu theo quy chế đại hội kết luận rằng 04 giấy ủy quyền này là không hợp lệ Do có ý kiến của một số cổ đông và được sự nhất trí của Chủ tịch đoàn nên 04 cổ đông được ủy quyền nêu trên tiếp tục được tham dự Đại hội với điều kiện phải viết giấy cam kết đảm bảo tính trung thực, chính xác của sự ủy quyền đó với Ban tổ chức đại hội”
Trường hợp 2:
Đại hội cổ đông bất thường lần thứ ba của Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT) do cổ đông lớn nhất Dệt may Gia Định tổ chức ngày 19/02/2012
Nhiều cổ đông phải chứng minh là cổ đông của BBT mới được cho tham dự
và giấy ủy quyền dự họp phải là bản chính có dấu đỏ của Dệt may Gia Định chứ không chấp nhận mẫu tải từ trang web Nhiều cổ đông được ủy quyền vì nhiều lý
do không có dấu đỏ không được tham dự
Ngoài ra, nhiều cổ đông còn bị hạn chế quyền phát biểu đều bị Ban tổ chức
từ chối với lý do đã hết giờ và đề nghị ghi câu hỏi ra bằng giấy
Theo nhận định của tác giả việc quy định giấy ủy quyền phải có dấu treo của công ty là không phù hợp, gây phiền phức cho cổ đông, thậm chí cổ đông không thể nào thực hiện đúng theo yêu cầu của công ty, một trường hợp thực tế đã diễn ra như thư mời trong đó có mẫu giấy ủy quyền bị thất lạc, không đến được tay của cổ đông
Để phù hợp với thực tế và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức ĐHĐCĐ thành công, luật doanh nghiệp nên đưa ra quy định rằng người ủy quyền và người được ủy quyền tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc ủy quyền, nếu việc ủy quyền sai thì phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Việc tham dự họp của cổ đông được pháp luật quy định dưới 02 hình thức là tham gia trực tiếp và thông qua đại diện (Điểm a Khoản 1 Điều 79 LDN 2005) Dưới sự phát triển của khoa học kỹ thuật, chúng ta có thể thấy các hình thức họp theo luật định là chưa phù hợp và là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật như đã đề cập ở trên Nghị định số 102/2010/NĐ-CP đã bổ sung hình thức tham gia ĐHĐCĐ là gửi phiếu biểu quyết bằng thư đảm bảo đến HĐQT chậm nhất
01 ngày trước khi khai mạc ĐHĐCĐ Đây là một hướng đi tích cực, tuy nhiên cũng
Trang 38không thể giải quyết hiệu quả vấn đề nêu trên bởi dù bổ sung hình thức thì quy định này vẫn còn tương đối cứng nhắc và không phải cổ đông nào cũng có điều kiện để tham gia họp ĐHĐCĐ theo 03 hình thức trên Nhiều công ty lớn đã áp dụng việc họp trực tuyến và biểu quyết online và đã thống nhất được các nội dung trong cuộc họp; tuy nhiên, để kết quả của việc biểu quyết được công nhận thì các cổ đông vẫn phải bỏ vào thư bảo đảm và gửi cho HĐQT Đây có thể xem là những phiền phức, gánh nặng không cần thiết đối với các cổ đông
LDN 2014 đã có một bước thay đổi rất tích cực, bên cạnh hình thức tham gia trực tiếp và thông qua đại diện theo ủy quyền thì còn có các “hình thức khác” do pháp luật, điều lệ công ty quy định (Điểm a Khoản 1 Điều 114 LDN 2014) Mặc dù
“các hình thức khác” ở đây cũng chưa được làm rõ, quy định này đã trao quyền chủ động cho các doanh nghiệp trong việc tổ chức họp ĐHĐCĐ, bảo đảm quyền và lợi ích của toàn bộ các cổ đông Các hình thức khác ở đây được hiểu là việc áp dụng linh hoạt các biện pháp, công cụ, phương tiện điện tử như truyền hình trực tiếp, kết nối trực tiếp hai chiều, các phần mềm họp trực tuyến… phù hợp với các đặc điểm
cụ thể của từng công ty
Tóm lại, mặc dù luật đã có những quy định bảo vệ quyền cổ đông trong đó có quyền tham dự, phát biểu và ủy quyền trong cuộc họp ĐHĐCĐ nhưng trên thực tế không ít doanh nghiệp đã vi phạm, tìm cách gây khó dễ, cản trở cổ đông tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ bằng nhiều lý do bất hợp lý, xâm phạm quyền lợi của CĐTS
2.1.1.2 Quyền triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông
Đối với các công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp, có 03 nơi được quyền triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ là HĐQT, BKS và (nhóm) cổ đông nắm trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng
Tuy nhiên, không phải lúc nào nhóm cổ đông 10% cũng có thể triệu tập họp ĐHĐCĐ mà chỉ được thực hiện quyền này khi thấy HĐQT vi phạm nghiêm trọng quyền cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao hoặc khi nhiệm kỳ của HĐQT đã quá 6 tháng nhưng chưa được bầu thay thế hoặc các trường hợp khác do Điều lệ quy định
Trang 39Trong những trường hợp trên, nhóm cổ đông 10% phải gửi yêu cầu triệu tập họp cho HĐQT kèm theo chứng cứ liên quan Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, HĐQT phải triệu tập họp ĐHĐCĐ Nếu HĐQT không triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ thì trong vòng 30 ngày tiếp theo, BKS thay thế HĐQT triệu tập họp ĐHĐCĐ Khi BKS không triệu tập họp ĐHĐCĐ thì nhóm cổ đông 10% có quyền thay thế HĐQT, BKS triệu tập họp ĐHĐCĐ
LDN 2014 (bảo lưu theo LDN 2005) yêu cầu cổ đông hoặc nhóm cổ đông triệu tập họp ĐHĐCĐ phải nêu được căn cứ và lý do yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ kèm theo yêu cầu phải có các tài liệu, chứng cứ về các vi phạm của HĐQT, mức độ
vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền
Từ cơ chế pháp lý về quyền triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ của cổ đông hay nhóm cổ đông như trên, chúng ta thấy có nhiều bất cập:
Thứ nhất, có thể thấy việc xác định tính “nghiêm trọng” hay “không nghiêm trọng” của hành vi vi phạm của người quản lý được xác định như thế nào trong khi
chỉ có cuộc họp ĐHĐCĐ là nơi duy nhất mà cổ đông có quyền phát biểu ý kiến của mình Nếu cổ đông nào đó cho rằng mức độ vi phạm của người quản lý là nghiêm trọng, ngược lại cổ đông khác cho rằng mức độ vi phạm trên chưa mang tính nghiêm trọng thì trong trường hợp này pháp luật chưa tiên liệu được
Thứ hai, tổng số tỷ lệ nhóm theo luật định (tỷ lệ sở hữu tối thiểu 10% tổng số
cổ phần phổ thông trong giới hạn liên tục ít nhất 6 tháng) là khá cao và có thể gây khó khăn cho CĐTS Trong các công ty niêm yết, có hàng ngàn cổ đông thì để các
cổ đông liên kết với nhau đạt đến một vài phần trăm tổng số cổ phần là không thể thực hiện Một số công ty có số lượng CĐTS lớn tính đến năm 2014 như:
- Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC (FLC), vốn điều lệ (VĐL) khoảng 4.500 tỷ đồng
có khoảng 16.630 cổ đông
- Công ty Cổ phần FPT (FPT), VĐL là 3.456 tỷ đồng có khoảng 15.525 cổ đông
- Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), VĐL là 10.739 tỷ đồng có khoảng 63.531 cổ đông
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB), VĐL khoảng 9.376 tỷ có khoảng
Trang 4027.527 cổ đông
Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2013 của FLC, FPT, Sacombank và ACB
Đối với việc tập hợp các cổ đông nhỏ đạt 10% tổng số cổ phần phổ thông trong 6 tháng liên tục là việc làm rất khó và không thể, có thể hiểu là khi đó điều luật đã vô hiệu với các doanh nghiệp có số lượng lớn cổ đông như thế này
Khác với pháp luật Việt Nam, vấn đề tương tự tại các nước như Úc, Neu Di Lân, Malaysia, Trung Quốc quy định một số cổ đông hay nhóm cổ đông chỉ cần sở hữu ít nhất 5% vốn có quyền biểu quyết của công ty hay một tập hợp 100 cổ đông (không tính đến tỷ lệ) cũng có quyền yêu cầu Hội đồng giám đốc (tương tự HĐQT
ở Việt Nam) triệu tập ĐHĐCĐ mà không cần phải chứng minh lý do như các cổ đông của CTCP ở Việt Nam [18, tr.253]
Thứ ba, như đã phân tích, việc cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông nêu trên
có quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ trong một số trường hợp là nhằm bảo vệ quyền lợi của CĐTS trong công ty, nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền lực kiểm soát công ty của các cổ đông lớn và những chủ thể quản lý công ty Tuy nhiên, Điểm m Khoản 2 Điều 149 LDN 2014 lại cho phép HĐQT có quyền duyệt chương trình, nội dung, tài liệu phục vụ họp ĐHĐCĐ Như vậy, nếu cổ đông hoặc nhóm cổ đông nêu trên triệu tập họp ĐHĐCĐ mà HĐQT không thông qua chương trình, nội dung, tài liệu cuộc họp thì ĐHĐCĐ trong trường hợp này có thể không tiến hành họp được Điều này rất dễ xảy ra trong trường hợp HĐQT lạm dụng quyền lực để tư lợi và không thông qua chương trình, nội dung cuộc họp
2.1.1.3 Tỷ lệ biểu quyết thông qua các quyết định trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông
Khi LDN 2005 ra đời, một trong những nội dung thay đổi quan trọng là nâng cao tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định của công ty, cụ thể là 65% phần vốn góp/phiếu biểu quyết đối với quyết định thông thường và 75% phần vốn góp/phiếu biểu quyết đối với quyết định quan trọng Mục tiêu của LDN 2005 là nâng cao mức
độ bảo vệ lợi ích của CĐTS
Tuy nhiên theo đánh giá của Ban soạn thảo luật doanh nghiệp sửa đổi 2014,