1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm nghiên cứu trượng hợp các nhân viên ngành công nghệ thông tin tại an giang

118 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I HỌ QUỐ GI TH NH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG I HỌC KINH TẾ - LUẬT BÙI BÍCH VÂN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ẾN HIỆU QUẢ LÀM VIỆC NHÓM: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC NHÂN VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Trang 1

I HỌ QUỐ GI TH NH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG I HỌC KINH TẾ - LUẬT

BÙI BÍCH VÂN

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ẾN HIỆU QUẢ LÀM VIỆC NHÓM: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC NHÂN VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ

THÔNG TIN T I AN GIANG

LUẬN VĂN TH SĨ KINH TẾ

An Giang – 2015

Trang 2

I HỌ QUỐ GI TH NH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG I HỌC KINH TẾ - LUẬT

BÙI BÍCH VÂN

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ẾN HIỆU QUẢ LÀM VIỆC NHÓM: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC NHÂN VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ

THÔNG TIN T I AN GIANG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60 34 05

LUẬN VĂN TH SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ THANH

An Giang – 2015

Trang 3

LỜI M O N

Tôi xin cam đoan luận văn: “Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm:

nghiên cứu trường hợp các nhân viên ngành công nghệ thông tin tại An Giang”

là kết quả của quá trình tự nghiên cứu của riêng tôi Ngoại trừ các nội dung tham khảo từ các công trình khác như đã nêu rõ trong luận văn, các số liệu điều tra, kết quả nghiên cứu đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào đã có từ trước

An Giang, ngày 15 tháng 05 năm 2015

Tác giả

Bùi Bích Vân

Trang 4

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngành công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp tại An Giang; đánh giá cường độ tác động của từng yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngành công nghệ thông tin; kiểm định sự khác biệt của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên có đặc điểm cá nhân khác nhau (giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và số năm kinh nghiệm)

Nghiên cứu được bắt đầu từ việc tham khảo các lý thuyết và kết quả nghiên cứu trước đây về hiệu quả làm việc nhóm, cùng với việc phân tích các đặc điểm nhân viên ngành công nghệ thông tin tại An Giang, tác giả đề xuất mô hình lý thuyết nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngành công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp ở An Giang bao gồm 7 nhân tố: thông tin liên lạc, phối hợp chuyên môn, sự gắn kết, niềm tin, sự hợp tác, giá trị đa dạng, lãnh đạo nhóm với 43 biến quan sát và một nhân tố thuộc thành phần hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên với 7 biến quan sát

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông quan kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung nhằm khám phá, điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát cho các thang đo Nghiên cứu chính thức được thực hiện thông qua nghiên cứu định lượng bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp các nhân viên ngành công nghệ thông tin thông qua bản câu hỏi chi tiết Số mẫu thu thập được là 265 Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0 Thang đo được đánh giá sơ bộ bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và kiểm định bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA) Dựa vào kết quả phân tích, mô hình nghiên cứu đề nghị ban đầu được hiệu chỉnh Sau

đó, tác giả đưa các nhân tố của mô hình nghiên cứu đã được điều chỉnh vào phân tích hồi quy tuyến tính Cuối cùng, là kiểm định có hay không sự biệt về hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên theo các đặc điểm cá nhân bằng phương pháp Independent Samples T- test và phân tích phương sai Anova với độ tin cậy 95%

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Đội làm việc 9

Hình 2.2: Nhóm làm việc 10

Hình 2.3: Mô hình hiệu quả làm việc nhóm T7 14

Hình 2.4: Mô hình hiệu quả nhóm GRPI 15

Hình 2.5: Mô hình hiệu quả nhóm 16

Hình 2.6: Mô hình hiệu quả làm việc nhóm 17

Hình 2.7: Mô hình hiệu quả làm việc nhóm của các sinh viên đại học 19

Hình 2.8: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm trong Ngân hàng Quốc gia Kenya 20

Hình 2.9: Mô hình quan hệ giữa niềm tin, sự gắn kết, sự hài lòng và hiệu quả làm việc nhóm 21

Hình 2.10: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả 22

Hình 2.11: Mô hình nghiên cứu đề nghị 30

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 32

Hình 4.1: Biểu đồ tần số Q-Q plot 54

Hình 4.2: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngành công nghệ thông tin tại An Giang 56

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1: Mô tả mẫu nghiên cứu 44

Bảng 4.2: Kết quả phân tích Cronbach’s alpha của thang đo 46

Bảng 4.3: Kiểm định KMO và Barlet’s test 49

Bảng 4.4: Ma trận hệ số tương quan 51

Bảng 4.5: Kết quả hồi quy của mô hình 53

Bảng 4.6: Bảng phân tích phương sai ANOVA 53

Bảng 4.7: Bảng tóm tắt các hệ số hồi quy 53

Bảng 4.8: Bảng tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết 55

Bảng 4.9: Bảng đánh giá tác động của giới tính đến các biến trong mô hình 58

Bảng 4.10: Bảng đánh giá tác động của tuổi đến các biến trong mô hình 60

Bảng 4.11: Bảng kết quả kiểm định phương sai nhóm trình độ học vấn 61

Bảng 4.12: Bảng đánh giá tác động của trình độ học vấn đến các biến 62

Bảng 4.13: Bảng kết quả kiểm định phương sai nhóm số năm kinh nghiệm 63

Bảng 4.14: Bảng đánh giá tác động của số năm kinh nghiệm đến các biến trong mô hình ANOVA 64

Bảng 4.15: Bảng kiểm định Post Hoc giá trị số năm kinh nghiệm và yếu tố hiệu quả nhóm 65

Bảng 4.16: Bảng kiểm định Post Hoc giá trị số năm kinh nghiệm và thông tin liên lạc 66

Bảng 4.17: Bảng kiểm định Post Hoc giá trị số năm kinh nghiệm và phối hợp chuyên môn 68

Trang 7

Bảng 4.18: Bảng kiểm định Post Hoc giá trị số năm kinh nghiệm và sự gắn kết 69

Bảng 4.19: Bảng kiểm định Post Hoc giá trị số năm kinh nghiệm và niềm tin 70

Bảng 4.20: Bảng kiểm định Post Hoc giá trị số năm kinh nghiệm và lãnh đạo 71

Bảng 5.1: Giá trị các đại lượng thống kê mô tả 79

Trang 8

MỤC LỤC

HƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 4

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 5

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

1.5 Phương pháp nghiên cứu 6

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 7

1.7 Kết cấu luận văn 7

HƯƠNG 2: Ơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8

2.1 Làm việc theo nhóm 8

2.1.1 Khái niệm nhóm 8

2.1.2 Lợi ích và chi phí nhóm 10

2.1.3 Làm việc theo nhóm 11

2.2 Hiệu quả làm việc nhóm 12

2.3 Các mô hình hiệu quả làm việc nhóm 13

2.3.1 Mô hình hiệu quả làm việc nhóm của Lombardo và Eichinger (1995) 13

2.3.2 Mô hình hiệu quả nhóm của Rubin và cộng sự (1977) 15

2.3.3 Mô hình hiệu quả nhóm của Hackman (2005) 16

2.4 Các nghiên cứu trước có liên quan 16

Trang 9

2.4.1 Nghiên cứu của Ghani KDA và cộng sự (2009) 17

2.4.2 Nghiên cứu của Caspersz D và cộng sự (2003) 17

2.4.3 Nghiên cứu của Nasila WA (2011) 19

2.4.4 Nghiên cứu của Fung HP (2014) 20

2.4.5 Nghiên cứu của Weimar E và cộng sự (2003) 21

2.5 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngành công nghệ thông tin tại An Giang 22

2.5.1 Đặc điểm của nhân viên ngành công nghệ thông tin 22

2.5.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu 25

Tóm tắt chương 2 31

HƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN ỨU 32

3.1 Qui trình thực hiện nghiên cứu 32

3.2 Nghiên cứu định tính 33

3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 33

3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính 33

3.3 Nghiên cứu định lượng 38

3.3.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu 38

3.3.2 Thiết kế bản câu hỏi và thu thập dữ liệu 38

3.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 39

3.3.3.1 Đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach's Alpha 39

Trang 10

3.3.3.2 Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA – Exploratory

Factor Analysis) 40

3.3.3.3 Phân tích hồi quy tuyến tính 40

3.3.3.4 Kiểm định sự khác biệt về hiệu quả làm việc nhóm theo các đặc điểm cá nhân bằng T-test và Anova 41

Tóm tắt chương 3 43

HƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

4.1 Mẫu nghiên cứu 44

4.2 Đánh giá sơ bộ thang đo hiệu quả làm việc nhóm và giá trị hệ số tương quan Cronbach’s alpha 45

4.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 48

4.4 Phân tích hồi quy bội 50

4.4.1 Phân tích tương quan (hệ số Pearson) 50

4.4.2 Phân tích hồi quy 52

4.5 Phân tích sự khác biệt theo các đặc điểm cá nhân 56

Tóm tắt chương 4 73

HƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN NGHỊ 74

5.1 Các nội dung chính và kết quả nghiên cứu đạt được 74

5.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 75

5.2.1 Về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngành công nghệ thông tin trên địa bàn An Giang 75

Trang 11

5.2.2 Về sự khác biệt mức độ đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc

nhóm theo các đặc điểm cá nhân 79

5.3 Kiến nghị 79

5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 12

HƯƠNG 1 TỔNG QU N VỀ NGHIÊN ỨU

1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu

Làm việc theo nhóm không phải là một hiện tượng mới Từ lâu trên thế giới đã xuất hiện hàng trăm nghiên cứu về vấn đề này Khái niệm làm việc nhóm, giá trị tinh thần đồng đội đã được xác nhận bởi nghiên cứu thực nghiệm của Kurt Lewin (1930) thông qua sự tương tác và cư xử giữa các thành viên trong nhóm Nghiên cứu của McGregor 1960 đã chỉ ra tầm quan trọng của việc làm việc nhóm và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này Tầm quan trọng của làm việc theo nhóm được chỉ định trong mọi lĩnh vực So với cá nhân, các nhóm đề xuất các giải pháp tốt hơn (Ingram và cộng sự, 1997) Làm việc theo nhóm sẽ mang lại kết quả cao hơn của một cá nhân (Lumsden và Lumsden, 2000; McLeod và Smith, 1996)

Ngày nay, hầu hết các ngành đều sử dụng mô hình làm việc nhóm như giải trí, thể thao, y tế, hoạt động khách sạn, công nghệ thông tin, quản lý và nhiều lĩnh vực khác (Fisher và cộng sự, 1997) Khảo sát chỉ ra rằng làm việc theo nhóm đang tăng lên và được coi là một khái niệm quan trọng của thế kỷ 21 (Peckham, 1996) Khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết Đơn giản vì không ai là hoàn hảo, làm việc theo nhóm sẽ tập trung những mặt mạnh của từng người và bổ sung cho nhau Hơn nữa, chẳng ai có thể cáng đáng hết mọi việc Khi áp lực công việc ngày càng cao, mức độ yêu cầu ngày càng phức tạp, mỗi cá nhân khó có thể tự hoàn thành tốt tất cả công việc được giao thì hiệu quả công việc phụ thuộc rất lớn vào khả năng làm việc nhóm của mỗi thành viên Tuy nhiên, một trong những rào cản lớn nhất là chúng ta chưa biết cách làm việc nhóm hiệu quả

Khái niệm làm việc nhóm đã trở nên quen thuộc với mọi người, nhưng làm sao để hoạt động nhóm đạt hiệu quả và thành công là một vấn đề đáng quan tâm Nhu cầu về nhân sự hiện nay của các công ty đã thay đổi, nhất là trong ngành công nghệ thông tin, ngoài kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm, thì khả năng làm việc

Trang 13

nhóm được đánh giá rất cao Do đó làm sao để hoạt động nhóm đạt hiệu quả là một vấn đề đáng quan tâm đối với đội ngũ nhân viên ngành công nghệ thông tin

Một vài năm trước đây, hầu hết các trường cao đẳng và đại học có thể không chú trọng đào tạo kỹ năng làm việc theo nhóm cho sinh viên ngành công nghệ thông tin, nhưng hiện nay nó là một kỹ năng rất quan trọng trong thị trường lao động của ngành này (Mulder và cộng sự, 1995) Một số nghiên gần đây cho thấy rằng các nhà

sử dụng lao động đòi hỏi kỹ năng làm việc theo nhóm khi tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp Họ phải có kỹ năng làm việc với những người khác trong cùng một nhóm (Van Slyke và cộng sự, 1998)

Nhóm không phải chỉ là một tập hợp những cá thể Mỗi cá thể đều có những kiến thức, phương pháp, cá tính và quan điểm khác nhau Thông thường, họ sẽ thích làm việc theo cách của mình Hiệu quả làm việc nhóm không đơn giản là hiệu quả của mỗi cá nhân trong nhóm, mà là một tổng hợp lực lượng không thể tách rời Theo Viện Nghiên cứu Giáo dục, năm 2010 có khoảng 83% sinh viên ra trường bị đánh giá là thiếu kỹ năng mềm Cũng theo khảo sát từ 5000 sinh viên Đại học ở TP HCM, 89% cho rằng cần thiết, 43% sinh viên không biết học Kỹ năng mềm ở đâu và học bằng cách nào Theo bà Lại Thị Hạnh, Trung tâm tin học Khoa học tự nhiên, nhấn mạnh ba kỹ năng mềm quan trọng bên cạnh kỹ năng chuyên môn

mà một người làm công nghệ thông tin phải có gồm: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian và căng thẳng Theo ông Vương Bảo Long, giám đốc Công ty LogiGear Corporation, bảy năm nay công ty luôn phải đào tạo thêm ít nhất sáu tháng đối với nhân viên mới "Tỉ lệ tuyển của công ty khoảng 1/10, nhưng người cuối cùng vẫn thiếu rất nhiều kỹ năng để có thể làm việc được, đặc biệt là kỹ năng mềm".1

1 http://vcam.edu.vn/hocnghe_blue/menu/dinhhuong_cntt.html

Trang 14

Với đặc trưng của ngành công nghệ thông tin, mỗi nhân viên làm bạn với một máy vi tính, giao tiếp với máy và những người bạn ảo đã dần làm cho khả năng giao tiếp và làm việc nhóm suy giảm Hầu hết chúng ta đều không biết cách phối hợp và tận dụng năng lực của nhau, không biết trao đổi thông tin, một khâu rất quan trọng trong làm việc nhóm và rất khó chấp nhận quan điểm của nhau Thông thường mỗi người thực hiện và chịu trách nhiệm một công đoạn nào đó và nỗ lực để hoàn thành tốt phần việc của mình Tuy nhiên, như thế chưa đủ để đem lại thành công cho một tập thể

Mô hình làm việc theo nhóm có thể thúc đẩy tinh thần hợp tác, sự phối hợp, hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, từ đó tạo ra những giải pháp mới cho mọi vấn đề khó khăn Những kỹ năng và sự hiểu biết của cả nhóm có ích lợi lớn đối với từng cá nhân Tuy nhiên, lợi ích lớn nhất của mô hình đội nhóm là tận dụng mọi nguồn lực chung của nhóm Kỹ năng của mỗi cá nhân và sự tự giám sát của nhóm sẽ tạo điều kiện cho việc hoàn thành mục tiêu một cách tốt nhất Thậm chí, với những vấn đề có thể được xử lý bởi một cá nhân, thì việc giao cho đội nhóm giải quyết vẫn có những ích lợi riêng, thứ nhất là việc tham gia của nhóm sẽ tăng khả năng quyết định và thực hiện, thứ hai là có những vấn đề mà nhóm sẽ có khả năng phân tích rõ hơn chỉ một cá nhân riêng lẻ Vì những lợi ích như vậy, nên việc xây dựng và phát triển nhóm là một nhiệm vụ rất quan trọng

Hiện nay trên thế giới cũng đã có một vài nghiên nghiên cứu về hiệu quả làm việc nhóm như: nghiên cứu của Ghani KDA và cộng sự (2009), nghiên cứu của Caspersz D và cộng sự (2003), Nasila WA (2011)…Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề này chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt tại An Giang vẫn chưa có nghiên cứu nào về hiệu quả làm việc nhóm trong ngành công nghệ thông tin Chính

vì vậy, nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm: trường hợp các nhân viên ngành công nghệ thông tin tại An Giang” là một nghiên cứu hết sức cần thiết để nhằm giúp các nhà quản trị trong các tổ chức ngành công nghệ thông tin hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên, từ

Trang 15

đó có thể giúp các nhóm làm việc đạt mục tiêu của nhóm cũng như mục tiêu chung của tổ chức

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Việc nghiên cứu hiệu quả hoạt động nhóm từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, tiến hành nghiên cứu và đề xuất nhiều mô hình để nhằm xác định các yếu

tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm để từ đó thúc đẩy, nâng cao tinh thần và gia tăng hiệu quả làm việc của các nhân viên

Ghani KDA và cộng sự (2009), đã kiểm tra mối liên hệ giữa hiệu quả làm việc nhóm và ba yếu tố bao gồm bối cảnh tổ chức, thiết kế nhóm và quá trình làm việc, trong ngành công nghiệp xi măng tại khu vực phía Bắc của bán đảo Malaysia Nghiên cứu của Caspersz D và cộng sự (2003) về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của các sinh viên đại học tại Úc Nghiên cứu đã kết luận có

7 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm bao gồm: niềm tin, sự hài lòng, chia sẻ công việc, thông tin liên lạc và hợp tác trong nhóm, chia sẻ trách nhiệm quản lý, năng lực lãnh đạo, quá trình làm việc

Nasila WA (2011) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên trong Ngân hàng Quốc gia Kenya Nghiên cứu đã kết luận các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm bao gồm: lãnh đạo, thông tin liên lạc và văn hóa tổ chức

Fung HP (2014) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa niềm tin, sự gắn kết, sự hài lòng và hiệu quả làm việc của nhóm dự án ở Malaysia Nghiên cứu đã kết luận các yếu tố: niềm tin, sự gắn kết và sự hài lòng có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm

Nghiên cứu của Weimar E và cộng sự (2003) về hiệu quả làm việc của nhóm phát triển phần mềm Nghiên cứu đã kết luận có 6 yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của nhóm bao gồm: thông tin liên lạc, phối hợp chuyên môn, sự gắn kết, niềm tin, sự hợp tác và giá trị đa dạng

Trang 16

Nghiên cứu của Lê Thanh Thư (2014) về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên trong các công ty phần mềm tại Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu đã kết luận có 5 thành phần ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm: mục tiêu nhóm quan trọng và rõ ràng, cấu trúc nhóm hướng đến kết quả, cam kết thực hiện mục tiêu, môi trường hợp tác, năng lực của lãnh đạo nhóm

Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm như: nghiên cứu của Hoàng Thị Hạnh (2012) về hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên khối văn phòng, nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Vân và cộng sự (2013) về những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Tuy nhiên tại An Giang còn rất ít nghiên cứu về hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngành công nghệ thông tin

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên

- Xác định mức độ tác động của từng yếu tố đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngành công nghệ thông tin tại An Giang

- Đề xuất kiến nghị nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động nhóm của nhân viên trong ngành công nghệ thông tin tại An Giang

Để làm rõ các mục tiêu nghiên cứu trên, cần trả lời các câu hỏi sau:

 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của các nhân viên?

 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó như thế nào đến hiệu quả làm việc nhóm?

 Cần có những đề xuất nào nhằm gia tăng hiệu quả làm việc nhóm của các nhân viên ngành công nghệ thông tin?

Trang 17

1.4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu

ối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là: các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm

và các vấn đề liên quan đến hiệu quả làm việc nhóm

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng chủ yếu 2 phương pháp chính là: nghiên cứu định tính

và nghiên cứu định lượng

(1) Nghiên cứu định tính được sử dụng thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung với sự tham gia của hai nhóm: nhóm 1 gồm các trưởng nhóm trong ngành công nghệ thông tin và nhóm 2 gồm các thành viên trong các nhóm thuộc ngành công nghệ thông tin nhằm khám phá, điều chỉnh, bổ sung các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm đồng thời phát triển thang đo những yếu tố này và thang đo hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngành công nghệ thông tin

(2) Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp các nhân viên thông qua bản câu hỏi chi tiết Cách thức chọn mẫu là thuận tiện, phi xác suất Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0 Thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) Sau khi đánh giá sơ bộ, kiểm định mô hình lý thuyết bằng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính bội qua đó xác định cường độ tác động của các yếu tố đến hiệu quả làm việc nhóm của các nhân viên ngành công nghệ thông tin tại

An Giang Cuối cùng, kiểm định T- test, ANOVA được thực hiện để so sách khác

Trang 18

biệt về các yếu tố ảnh hưởng và hiệu quả làm việc nhóm giữa các nhân viên có đặc điểm cá nhân khác nhau

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu

tổ chức, nhằm gia tăng hiệu quả của tổ chức

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo, đem lại những thông tin hữu ích cho các nhân viên ngành công nghệ trong việc nâng cao hiệu quả làm việc nhóm

1.7 Kết cấu luận văn

Luận văn được kết cấu thành 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 5: Thảo luận và kiến nghị

Trang 19

Lumsden và Lumsden (2000) cho rằng “một nhóm gồm đa dạng những người chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo để tạo ra một nỗ lực liên kết với nhau để đạt được một mục tiêu”

Verma (1997) định nghĩa nhóm như “một nhóm người hợp tác để hoàn thành một nhiệm vụ chung và tất cả mọi người làm việc độc lập trên các nhiệm vụ cụ thể của họ”

Theo Kozlowski và Bell (2003), nhóm là một tập thể cùng thực hiện nhiệm vụ chung của tổ chức, chia sẻ một hay nhiều mục tiêu, ảnh hưởng phụ thuộc lẫn nhau

về nhiệm vụ Các nhiệm vụ chính của nhóm là để cho phép trao đổi thông tin, tạo ra các đề xuất cho các đơn vị được đại diện, phát triển những ý tưởng mới và các giải pháp cho các vấn đề hiện phối hợp và cũng hỗ trợ sự phát triển của thực tiễn và chính sách mới

Nhiều tác giả sử dụng hai khái niệm “đội” và “nhóm” thay thế cho nhau Mô hình áp dụng cho nhóm, cũng áp dụng cho các đội Fisher và cộng sự (1997) đề cập đến một số tác giả có quan điểm rằng hai khái niệm này là một và giống nhau Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu tin rằng có một sự khác biệt giữa đội và nhóm Yancey (1998) cho rằng sự khác biệt lớn giữa đội và nhóm, đó là sự phụ thuộc lẫn nhau Lumsden và Lumsden (2000) cũng cho rằng một đội khác với một nhóm vì

nó là tập trung và các thành viên phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn, do đó tổng lợi ích lớn hơn của từng cá nhân Một sự khác biệt lớn giữa các đội và nhóm là nhóm làm

Trang 20

việc phụ thuộc lẫn nhau và thúc đẩy sự đóng góp của thành viên trong nhóm của họ Ngược lại, khi kích thước của nhóm tăng thì vai trò, tầm quan trọng và sự đóng góp của từng cá nhân trong nhóm giảm

Theo Nguyễn Văn Quì và cộng sự (biên dịch) (2006): Nhiều công ty, tổ chức vẫn hay sử dụng từ nhóm làm việc một cách khá tùy tiện Xét về bản chất, nhóm là một sự thống nhất về mục đích, là sự phối hợp và đối với một số người thì nhóm là một biểu hiện của sự bình đẳng Tuy nhiên ít có nhân viên nào lại hội đủ điều kiện của nhóm, mà thông thường đó chỉ là các đội làm việc Trong đội làm việc, một nhà quản lí hay giám sát chung sẽ chỉ đạo các thành viên và các thành viên đó không nhất thiết phải hợp tác với nhau mới có thể hoàn tất nhiệm vụ của họ Trong đội chỉ

có sự hợp tác giữa nhà quản lý với từng nhân viên chứ không có sự hợp tác giữa các nhân viên với nhau (Hình 2.1)

Hình 2.1: ội làm việc

(Nguồn: Nguyễn Văn Quì và cộng sự, 2006) Trong khi đó, nhóm không đơn giản chỉ là một tập hợp nhiều người làm việc cùng nhau hoặc làm việc dưới sự chỉ đạo của một quản lý Nhóm là một tập hợp những cá nhân có các kỹ năng bổ sung cho nhau và cùng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện một mục tiêu chung Các thành viên trong nhóm tương tác với nhau và với trưởng nhóm để đạt được mục tiêu chung (Hình 2.2) Các thành viên trong nhóm phụ thuộc vào thông tin của nhau để thực hiện phần việc của mình Họ kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ và phụ thuộc vào trưởng nhóm để được cung

Cấp trên

Nhân viên 4 Nhân viên 3

Trang 21

cấp nguồn lực, được huấn luyện khi cần thiết cũng như khi cần sự phối hợp hay liên kết với những phòng ban khác trong tổ chức Trái với đội làm việc, nơi nhà quản lý

có toàn quyền ra quyết định, quyết định của nhóm phản ánh bí quyết và kinh nghiệm của nhiều người, điều này có thể dẫn đến những quyết định phù hợp, chính xác và khách quan hơn

Hình 2.2: Nhóm làm việc

(Nguồn: Nguyễn Văn Quì và cộng sự, 2006) Theo J Richard Hackman 4 đặc điểm của một nhóm làm việc: Nhiệm vụ và ranh giới được xác định rõ ràng, quyền hạn được phân chia cụ thể để quản lý các quy trình làm việc, và cần phải có một sự ổn định về các thành viên của nhóm trong một khoảng thời gian nhất định

2.1.2 Lợi ích và chi phí nhóm

Theo Nguyễn Văn Quì và cộng sự (biên dịch) (2006):

Lợi ích và chi phí nhóm khác với các tổ làm việc truyền thống Sau đây là những lợi ích mà một nhóm hoạt động hiệu quả đem lại:

- Nhóm có thể đưa ra những giải pháp sáng tạo

Trang 22

- Việc ra quyết định theo nhóm xác nhận một các gián tiếp sự đồng thuận giữa những người phải thực thi quyết định

- Nhóm có nhân viên với các kỹ năng khác nhau nhằm mục đích bổ sung những

kỹ năng riêng biệt để tháo gỡ các vấn đề nan giải

- Nhóm có thể thu thập được nhiều thông tin và học hỏi nhiều kinh nghiệm, bí quyết hơn nhờ có nhiều thành viên

- Nhóm có thể tạo ra sự giao tiếp và hợp tác tốt hơn trong tổ chức

Nhiều ưu điểm của nhóm xuất phát từ sự phối hợp các kỹ năng và kinh nghiệm của những thành viên trong nhóm Bên cạnh đó, nhóm có xu hướng tạo ra những quy trình giao tiếp mới, cho phép giải quyết vấn đề một cách liên tục Hơn nữa, nhiều người thích làm việc theo nhóm bởi nhóm như một động lực thúc đẩy giúp họ đạt được hiệu suất công việc tối ưu nhất

Tuy nhiên, những lợi ích này phải đánh đổi bằng một cái giá nhất định Việc xây dựng nhóm với các thành phần phù hợp về lãnh đạo, nguồn lực và nhân viên…sẽ mất khá nhiều thời gian, đồng thời quản lý nhóm như thế nào cần phải có những kỹ năng đặc biệt Khác với những công việc thông thường, các nỗ lực và sự phối hợp của nhóm đòi hỏi phải được theo dõi và quan tâm liên tục Ngoài ra còn có các nguy cơ là các thành viên trong nhóm không thể hợp tác với nhau để hoàn thành mục tiêu chung, hoặc sự khác biệt giữa các cá nhân hay tính tư lợi có thể làm suy yếu các mối liên kết cần thiết để thành công Trong một chừng mực nào đó, nhóm là một thử nghiệm mang tính mạo hiểm và không phải lúc nào cũng có thể nhìn thấy trước sự thành công

2.1.3 Làm việc theo nhóm

Theo Scarnati (2001) làm việc theo nhóm là quá trình hợp tác giữa các cá nhân

để công việc hiệu quả hơn Nhóm là một phần không thể thiếu của tổ chức và được hình thành để giải quyết một phần công việc của tổ chức Để làm việc nhóm thành công phải dựa vào sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Môi trường làm việc

Trang 23

nhóm phải tích cực, các thành viên phải cùng nhau nỗ lực và hợp tác để hoàn thành mục tiêu chung chứ không thể vì mục tiêu cá nhân và cạnh tranh lẫn nhau (Luca và Tarricone, 2001)

Theo Hoegl và Gemuenden (2001), các nhóm có thể được xác định theo (1) nhóm là một hệ thống nhỏ trực thuộc một tổ chức, (2) các thành viên trong nhóm tự nhận thức mình thuộc về một nhóm và thông qua đánh giá, thừa nhận của các thành viên khác, (3) các thành viên làm việc cùng nhau vì một nhiệm vụ chung Để thực hiện được mục tiêu chung của nhóm, các thành viên phải phối hợp làm việc với nhau Mỗi thành viên trong nhóm có vai trò và phân công công việc cá nhân cụ thể Đây là hoạt động cá nhân của thành viên trong nhóm mà không đòi hỏi sự tương tác, phụ thuộc lẫn nhau với các thành viên khác của nhóm

Làm việc theo nhóm là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực Công nghệ thông tin (IT) Thực tế là làm việc theo nhóm là một phần không thể thiếu của tất cả các hoạt động phát triển phần mềm và quản trị hệ thống mạng, một nửa thời gian của bất kỳ lập trình viên được ghi nhận là tương tác với khác các thành viên khác trong nhóm (Sommerville, 1992) Một qui trình phát triển phần mềm bao gồm nhiều giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ, phân tích, thiết kế, xây dựng, kiểm thử Bất kỳ một giai đạo nào cũng có thể được thực hiện bởi một người duy nhất, nhưng nghiên cứu đã chứng minh được hiệu quả khi làm việc nhóm cao hơn của cá nhân (McConnell, 1996) Các dự án nhỏ có thể được hoàn thành bởi một cá nhân duy nhất, mà không cần hoạt động theo nhóm Tuy nhiên, các dự án lớn phụ thuộc vào sự hợp tác của các thành viên Yếu tố quan trọng nhất trong tất cả các dự án phần mềm là con người và sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm (Pressman, 1997)

2.2 Hiệu quả làm việc nhóm

Hiệu quả làm việc nhóm có thể được đánh giá dựa trên tính hiệu quả và năng suất Tính hiệu quả là mức độ mà khi đó kết quả thực hiện đáp ứng được sự mong đợi về chất lượng của nhóm Năng suất đề cập đến mức độ mà nhóm đáp ứng được các mục tiêu về thời gian và chi phí

Trang 24

Hiệu quả làm việc nhóm được coi là sự đánh giá khả năng của một nhóm để đạt được mục tiêu về chi phí, thời gian và chất lượng sản phẩm Do đó, hoạt động của một nhóm có thể được cho là thành công khi một sản phẩm có chất lượng đầu ra của nhóm đạt mức độ mong muốn và được hoàn thành trong thời gian cho phép và trong giới hạn về chi phí (Hoegl và Gemuenden 2001) Hiệu quả có thể được đánh giá theo ba tiêu chí: hiệu quả về số lượng và chất lượng đầu ra, thái độ thành viên,

và sự đa dạng trong đội, lãnh đạo, tinh thần đồng đội, trao quyền, quản lý xung đột, phần thưởng và công nhận, và thông tin phản hồi Tám yếu tố này đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu

Hacman (2002) cho rằng hiệu quả làm việc nhóm phải đáp ứng 3 tiêu chí: đạt được mục tiêu về chất lượng và các tiêu chuẩn đã đặt ra, các thành viên tiếp tục làm việc cùng nhau trong các dự án tương lai, làm việc nhóm sẽ góp phần vào sự phát triển kỹ năng chuyên môn và lợi ích cá nhân của các thành viên

2.3 ác mô hình hiệu quả làm việc nhóm

2.3.1 Mô hình hiệu quả làm việc nhóm của Lombardo và Eichinger (1995)

Để tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm, Lombardo

và Eichinger (1995) đã phát triển mô hình T7 để xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm Họ đã xác định năm yếu tố bên trong và hai yếu tố bên ngoài tác động đến hiệu quả làm việc nhóm Mỗi yếu tố đều bắt đầu bằng chữ “T”, bao gồm:

Năm yếu tố bên trong:

Trang 25

- Động lực (Thrust): Yếu tố tác động, thúc đẩy các thành viên trong nhóm đạt được mục đích chung của nhóm

- Niềm tin (Trust): Sự tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm

- Trình độ chuyên môn (Talent): Trình độ chuyên môn của từng thành viên trong nhóm để hoàn thành mục tiêu chung của nhóm

- Kỹ năng đồng đội (Teaming Skills): Kỹ năng làm việc nhóm để đạt hiệu quả cao

- Kỹ năng công việc (Task Skills): Kỹ năng tiếp nhận và hoàn thành công việc Hai yếu tố bên ngoài:

- Đội ngũ lãnh đạo (Team-Leader Fit): Mức độ các nhà lãnh đạo nhóm đáp ứng các nhu cầu của các thành viên trong nhóm

- Hỗ trợ của Tổ chức (Team Support from the Organization): Sự hỗ trợ của tổ chức để nhóm hoàn thành công việc tốt nhất

Hình 2.3: Mô hình hiệu quả làm việc nhóm T7

(Nguồn: Lombardo và Eichinger, 1995)

Động lực

Niềm tin

Trình độ chuyên môn

Kỹ năng đồng đội

Kỹ năng công việc Đội ngũ lãnh đạo

Hỗ trợ của tổ chức

Trang 26

Năm yếu tố nội bộ là những yếu tố cốt lõi đối với hoạt động của nhóm Tuy nhiên, các nhóm không thể đạt hiệu suất cao nếu không có sự hỗ trợ của tổ chức và lãnh đạo phù hợp (Lombardo và Eichinger, 1995)

2.3.2 Mô hình hiệu quả nhóm của Rubin và cộng sự (1977)

Rubin và cộng sự (1977) đã phát triển mô hình GRPI bao gồm: mục tiêu, vai trò và trách nhiệm, qui trình làm việc và mối quan hệ giữa các thành viên, đây là một trong những mô hình lâu đời nhất về hiệu quả làm việc nhóm Các tác giả trình bày mô hình này như một kim tự tháp tương tự như lý thuyết hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow (1954) Tuy nhiên, không giống như lý thuyết của Maslow, mô hình này bắt đầu ở trên cùng của kim tự tháp

Theo mô hình, một nhóm nên bắt đầu từ mục tiêu Sau khi xác định mục tiêu, vai trò và trách nhiệm sẽ trở nên rõ ràng hơn Khi làm việc nhóm, các thành viên thường cho rằng mục tiêu, vai trò và trách nhiệm không rõ ràng Do đó họ cần phải xác định lại chúng Việc xác định này giúp họ điều chỉnh lại các quá trình làm việc nhóm như giai đoạn ra quyết định, giải quyết xung đột, quy trình thực hiện công việc Khi đó họ sẽ phát triển được mối quan hệ cần thiết giữa các thành viên trong nhóm và giữa thành viên với lãnh đạo nhóm

Hình 2.4: Mô hình hiệu quả nhóm GRPI

Trang 27

2.3.3 Mô hình hiệu quả nhóm của Hackman (2005)

Hackman (2005) cho rằng nhóm làm việc hiệu quả khi thỏa mãn các điều kiện: (1) là một nhóm thực chứ không phải là một cái tên, (2) nhóm tạo được sự hấp dẫn cho công việc, (3) nhóm có một cấu trúc cho phép tạo điều kiện làm việc theo nhóm, (4) có sự hỗ trợ của tổ chức, và (5) có chuyên gia huấn luyện làm việc theo nhóm Theo Hackman, hiệu quả nhóm được đo lường thông qua (1) các sản phẩm

và dịch vụ đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi của khách hàng, (2) kỹ năng, kiến thức

và trình độ chuyên môn của từng cá nhân trong nhóm ngày càng phát triển, (3) nhu cầu, mục tiêu cá nhân của từng thành viên được thỏa mãn

Hình 2.5: Mô hình hiệu quả nhóm

(Nguồn: Hackman, 2005)

2.4 Các nghiên cứu trước có liên quan

Việc nghiên cứu hiệu quả làm việc nhóm từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, tiến hành nghiên cứu và đề xuất nhiều mô hình để nhằm đo lường hiệu quả làm việc nhóm để từ đó cải thiện, nâng cao tinh thần và thúc đẩy hiệu quả làm việc của các nhân viên

Cấu trúc nhóm

Sự hấp dẫn công việc

Nhóm thực sự

Hiệu quả làm việc nhóm

Sự hỗ trợ của tổ chức

Chuyên gia huấn luyện

Trang 28

2.4.1 Nghiên cứu của Ghani KDA và cộng sự (2009)

Nghiên cứu nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm trong ngành công nghiệp xi măng tại khu vực phía Bắc của bán đảo Malaysia Nghiên cứu đã khám phá ra 3 thành phần có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm: Bối cảnh tổ chức, Thiết kế nhóm, Quá trình làm việc nhóm Trong đó:

Bối cảnh tổ chức: bao gồm các yếu tố như sự hỗ trợ của đội ngũ quản lý, sự khuyến khích nhân viên và văn hóa, khen thưởng, hệ thống thông tin liên lạc, cơ cấu

Hình 2.6: Mô hình hiệu quả làm việc nhóm

(Nguồn: Ghani KDA và cộng sự, 2009)

2.4.2 Nghiên cứu của Caspersz D và cộng sự (2003)

Caspersz D và cộng sự (2003) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của các sinh viên đại học tại Úc Nghiên cứu đã kết luận 8 yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm bao gồm: niềm tin, tổ chức nhóm, sự hài lòng, chia sẻ công việc, thông tin liên lạc và hợp tác trong nhóm, chia sẻ trách nhiệm quản lý, năng lực lãnh đạo, quá trình làm việc Trong đó:

Niềm tin: mức độ tin tưởng giữa các thành viên trong nhóm (Simons và Petersen, 2000)

Trang 29

Sự hài lòng: Sự hài lòng của thành viên trong nhóm về công việc chung của nhóm và mục tiêu riêng của từng cá nhân được thỏa mãn (Earley và Mosakowski, 2000)

Chia sẻ công việc: chia sẻ khối lượng công việc giữa các thành viên trong nhóm (Campion và cộng sự, 1993)

Thông tin liên lạc và hợp tác trong nhóm: thông tin trao đổi rõ ràng và sự chia

sẻ hợp tác trong nhóm (Adler, 1997; Watson và Kumar, 1992)

Chia sẻ trách nhiệm quản lý: thành viên trong nhóm chia sẻ trách nhiệm như nhau trong việc thúc đẩy quá trình nhóm bằng cách khuyến khích quan điểm khác nhau, giúp nhóm đạt được sự đồng thuận, và lấy ý kiến của tất cả các thành viên trong nhóm (Watson và cộng sự, 1998)

Lãnh đạo nhóm: một thành viên trong nhóm tuy không phải lúc nào cũng là lãnh đạo chính thức nhưng được trao quyền lãnh đạo và có sức ảnh hưởng đến các thành viên khác trong nhóm (Schneider và Goktepe, 1983)

Quá trình làm việc: mối quan hệ tương tác, hỗ trợ, phối hợp cùng làm việc giữa các thành viên trong nhóm để đạt được kết quả mong đợi chung của nhóm (Hyatt và Ruddy, 1997)

Trang 30

Hình 2.7: Mô hình hiệu quả làm việc nhóm của các sinh viên đại học

(Nguồn: Caspersz D và cộng sự, 2002 ) Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả làm việc nhóm chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Lãnh đạo nhóm, thứ hai là Chia sẻ trách nhiệm quản lý, thứ ba là Quá trình làm việc, thứ tư là Chia sẻ công việc, thứ năm là Niềm tin, thứ sáu là Thông tin liên lạc và hợp tác trong nhóm và cuối cùng là Sự hài lòng

2.4.3 Nghiên cứu của Nasila WA (2011)

Nasila WA (2011) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm trong Ngân hàng Quốc gia ở Kenya Nghiên cứu đã kết luận các thành phần

có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm bao gồm: lãnh đạo, thông tin liên lạc và văn hóa Trong đó:

Lãnh đạo: là người có khả năng thuyết phục và gây ảnh hưởng đến người khác, giữ vai trò dẫn dắt, định hướng, chỉ đạo và xây dựng mối quan hệ giữa những

Niềm tin

Sự hài lòng

Chia sẻ công việc

Thông tin liên lạc và

Trang 31

thành viên trong cùng một tập thể cùng vận hành theo một hệ thống nhất định, để hoàn thành những mục tiêu mong muốn (Hackman, 2002)

Thông tin liên lạc: là việc cho, nhận hoặc trao đổi thông tin, ý kiến hoặc ý tưởng bằng văn bản, lời nói hoặc các phương tiện trực quan để những người có liên quan có thể hoàn toàn hiểu được ý của nhau (Taylor, 1991)

Văn hóa: là tập hợp các giá trị và chuẩn mực cụ thể được chia sẻ bởi con người và các nhóm trong một tổ chức và kiểm soát cách thức họ tương tác lẫn nhau

và với các bên ngoài tổ chức (Williams, 1988)

Hình 2.8: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm trong

Ngân hàng Quốc gia Kenya

(Nguồn: Nasila WA., 2011)

2.4.4 Nghiên cứu của Fung HP (2014)

Fung HP (2014) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa niềm tin, sự gắn kết, sự hài lòng và hiệu quả làm việc của nhóm dự án ở Malaysia Nghiên cứu đã kết luận các thành phần: niềm tin, sự gắn kết, sự hài lòng có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm Trong đó:

Niềm tin: Sự tin tưởng lẫn nhau trong nội bộ nhóm Ring (1996) Khi có niềm tin trong nhóm sẽ thúc đẩy sự chia sẻ thông tin và hợp tác giữa các thành viên trong nhóm (Cook và cộng sự, 1997)

Sự gắn kết: là trạng thái cảm xúc mà nhân viên cảm thấy đam mê, tràn đầy năng lượng, cam kết gắn bó với công việc của nhóm và mức độ gắn bó giữa các thành viên trong nhóm (Cook và cộng sự, 1997)

Lãnh đạo Thông tin liên lạc

Văn hóa

Hiệu quả làm việc nhóm

Trang 32

Sự hài lòng: là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, bằng niềm tin, thái độ và hành vi của các thành viên trong nhóm Nó bao gồm sự hài lòng về công việc của nhóm và thái độ hài lòng giữa các thành viên (Dailey, 1993; Nguyen

2.4.5 Nghiên cứu của Weimar E và cộng sự (2003)

Nghiên cứu của Weimar E và cộng sự (2003) về hiệu quả làm việc của nhóm phát triển phần mềm Nghiên cứu đã kết luận có 6 yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của nhóm bao gồm: thông tin liên lạc, phối hợp chuyên môn, sự gắn kết, niềm tin, sự hợp tác, giá trị đa dạng Trong đó:

Thông tin liên lạc: là quá trình truyền thông trong nhóm, trao đổi thông tin, chia sẻ ý tưởng giữa các thành viên trong nhóm (Pinto và Pinto, 1990)

Phối hợp chuyên môn: chia sẻ kiến thức, hợp tác hỗ trợ nhau về chuyên môn giữa các thành viên trong nhóm (Hoegl và Gemuenden, 2001)

Trang 33

Sự gắn kết: sự gắn bó giữa các thành viên trong nhóm, sự gắn kết với hoạt động của nhóm (Bollen và Hoyle, 1990)

Niềm tin: sự tin tưởng, thúc đẩy các thành viên trong nhóm hỗ trợ và hợp tác với nhau (Friedl và cộng sự, 1970)

Sự hợp tác: sự tôn trọng, giúp đỡ và hỗ trợ khi cần thiết, và kích thích những ý tưởng của các thành viên khác (Tjosvold, 1995)

Giá trị đa dạng: sự khác biệt về đặc điểm cá nhân của các thành viên trong nhóm về văn hóa, đạo đức, mục tiêu cá nhân, kỹ năng, trình độ chuyên môn (Jehn

2.5.1 ặc điểm của nhân viên ngành công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin có mặt ở khắp mọi nơi, hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Hơn thế, công nghệ thông tin hiện là ngành được đầu tư và chú

Thông tin liên lạc

Phối hợp chuyên môn

Trang 34

trọng phát triển ở mọi quốc gia từ những nước nghèo tới các nước công nghiệp phát triển, và tất nhiên trong đó có Việt Nam

Công nghệ thông tin luôn phát triển từng ngày, từng giờ với tốc độ chóng mặt nên nhu cầu nhân lực là rất lớn Hầu như các tổ chức, các công ty, các doanh nghiệp đều cần đến người làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin

Nhân viên ngành công nghệ thông tin là người phải chịu rất nhiều áp lực trong công việc Có thể nói không một ngành nghề nào lại liên tục biến đổi và phát triển như ngành này Họ phải luôn nắm bắt được những tri thức mới nhất, công nghệ hiện đại nhất của nhân loại Công việc của người làm trong ngành công nghệ thông tin rất thú vị nhưng cũng đầy vất vả và căng thẳng Có khi họ phải ngồi làm việc liên tục bên máy vi tính từ cả ngày để hoàn thành công việc Nó đặc biệt đòi hỏi ở bạn khả năng làm việc dưới áp lực công việc lớn, thời gian gắt gao

Hiện ở Việt Nam, tỉ lệ nữ trong ngành công nghệ thông tin tương đối thấp, chỉ vào khoảng 15% Đặc thù của một ngành nghề hiện đại đã gây cản trở việc tham gia của người phụ nữ vì những áp lực rất vất vả Điển hình là công việc lập trình hoàn toàn không nhẹ nhàng và đơn giản, đặc biệt là vào giai đoạn thay đổi thiết kế hoặc phải giao dự án đúng hạn thì thức đêm và làm việc vào những ngày nghỉ là chuyện bình thường Trong khi đó, người phụ nữ còn phải đối mặt với những công việc xã hội, con cái, gia đình Hơn thế nữa, nhân viên của ngành công nghệ thông tin luôn phải đối mặt với những bài toán hóc búa, những rắc rối nhỏ trên linh kiện, chỉ cần một lỗi trong dòng lệnh khi lập trình đến một giải thuật chưa tối ưu khi phân tích bài toán thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả chung của cả nhóm Nếu một nhân viên thiếu đi tính kiên trì, nhẫn nại thì sẽ không thể giải quyết được những vấn đề khó khăn và không thể đi đến được thành công Do đó, nhân viên ngành công nghệ thông tin phải luôn có ý thức trách nhiệm với công việc, tự nhận thức mình thuộc về nhóm, là một thành viên của nhóm, gắn kết với công việc, với nhóm thì họ mới có thể vượt qua những thách thức và áp lực để hoàn thành mục tiêu chung của nhóm

Trang 35

Công nghệ thông tin là một ngành đặc biệt đề cao khả năng làm việc theo nhóm Làm việc theo nhóm không những giúp các thành viên giảm bớt gánh nặng

và độ phức tạp của công việc mà hơn thế, còn giúp cả nhóm hoàn thành công việc nhanh hơn, hiệu quả hơn Các thành viên trong nhóm có thể bổ khuyết được cho nhau, mỗi cá nhân hạn chế được những nhược điểm của bản thân và phát huy tối đa năng lực sáng tạo của mình Tuy nhiên, chỉ cần một sự bất cẩn của bất kì thành viên trong một dòng mã lệnh lập trình, phân tích một vấn đề không hợp lý hay một sơ suất nhỏ trong chế tạo, lắp ráp thiết bị cũng có thể làm cho một ứng dụng, một chương trình hay cả một hệ thống, một dự án sụp đổ Bởi vậy, ngành công nghệ thông tin luôn đòi hỏi các thành viên trong nhóm phải đảm bảo tính chính xác trong công việc, chia sẻ trách nhiệm, cùng nhau hợp tác và phối hợp tốt về chuyên môn để giúp cả nhóm giảm nhẹ gánh nặng công việc của cả tập thể và tạo dựng được niềm tin đối với khách hàng

Theo một thống kê từ Trung tâm tin học Trường đại học Khoa học tự nhiên, 42% sinh viên ngành công nghệ thông tin thiếu kỹ năng mềm và 70% sinh viên vào làm phải được các doanh nghiệp đào tạo lại Trong khi theo đề án nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2020 của Chính phủ yêu cầu 80% nguồn nhân lực phải đạt chuẩn quốc tế Nhiều sinh viên trong ngành vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của việc trau dồi kỹ năng mềm bên cạnh kỹ năng chuyên môn Trong thực tế, khi các sinh viên ngành công nghệ thông tin tốt nghiệp và bắt đầu làm việc tại các doanh nghiệp thì hầu như tất cả các nhân viên trong ngành này đều phải được đào tạo lại các kỹ năng mềm., nhất là kỹ năng làm việc nhóm

Tại các doanh nghiệp, những sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp thì ý thức trách nhiệm khi làm việc nhóm luôn được đề cao Những nhân viên có thâm niên làm việc nhiều năm trong ngành này đều có kỹ năng hợp tác và làm việc với nhau hiệu quả hơn

Trang 36

Bên cạnh đó, các điểm của người nhân viên ngành công nghệ thông tin như: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và số năm kinh nghiệm sẽ có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên ngành công nghệ thông tin tại các doanh nghiệp

2.5.2 ề xuất mô hình nghiên cứu

Việt Nam là một trong những nước tăng trưởng khá nhanh về công nghệ thông tin, nhất là lĩnh vực công nghệ phần mềm Trong lĩnh vực này, An Giang cũng là một địa bàn phát triển mạnh với các ứng dụng phần mềm triển khai trên các máy tính cục bộ và hệ thống mạng tương tự như lĩnh vực công nghệ phần mềm trong nghiên cứu của Weimar E và cộng sự (2003)

Ngành công nghệ thông tin luôn đòi hỏi các nhân viên phải làm việc nhóm, phải gắn kết với nhóm, gắn kết với công việc, họ phải chia sẻ trách nhiệm và công việc với nhau, hỗ trợ, hợp tác và phối hợp tốt về chuyên môn Nghiên cứu của tác giả về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm trong ngành công nghệ thông tin sẽ có những điểm tương đồng với nghiên cứu của Weimar E và cộng sự (2003) Do vậy, tác giả kế thừa mô hình nghiên cứu này, kết hợp với đặc điểm công việc của nhân viên ngành công nghệ thông tin tại Việt Nam mà cụ thể là tỉnh An Giang để đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 7 yếu tố bao gồm: (1) Thông tin liên lạc, (2) Phối hợp chuyên môn, (3) Sự gắn kết, (4) Niềm tin, (5) Sự hợp tác, (6) Giá trị đa dạng, (7) Lãnh đạo nhóm Cụ thể là:

Thông tin liên lạc

Theo Taylor (1991), thông tin liên lạc có thể được định nghĩa là trao đổi thông tin, ý kiến hoặc ý tưởng bằng văn bản, lời nói hoặc các phương tiện trực quan để tất

cả mọi người có liên quan đều hiểu được

Theo Pinto và Pinto (1990), thông tin liên lạc là một thành phần cơ bản khi làm việc theo nhóm Mục đích là để trao đổi thông tin, chia sẻ ý tưởng giữa các thành viên, phối hợp nỗ lực và cung cấp thông tin phản hồi Quan trọng hơn nữa là thông tin phải được gửi đến đúng người và đúng ý tưởng của người gửi (Pinto và Pinto 1990, Brodbeck 2001, Brother và cộng sự 2007) Thông tin liên lạc cũng là cơ

Trang 37

sở để xác định các yếu tố khác có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm như sự phối hợp, sự gắn kết và sự tin tưởng

Theo Luxiang và cộng sự (2010) cho thấy, việc thiếu thông tin liên lạc hoặc tồn tại sự hiểu lầm giữa các thành viên và giữa các bên có liên quan của dự án là hai nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của dự án

Nghiên cứu của Caspersz D và cộng sự (2002), của Nasila WA (2011) và của Weimar E và cộng sự (2003) đã cho thấy, yếu tố thông tin liên lạc có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả làm việc nhóm Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H1: Thông tin liên lạc có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả làm việc nhóm

Phối hợp chuyên môn

Hoegl và Gemuenden (2001) cho rằng phối hợp là một khía cạnh quan trọng của làm việc nhóm Theo Nonaka và Takeuchi (1995), các thành viên trong nhóm nên chia sẻ kiến thức và chuyên môn của họ Weick và Roberts (1993), tinh thần làm việc nhóm phát triển khi các thành viên trong nhóm nhận thức được nhiệm vụ của họ có ảnh hưởng đến nhiệm vụ của một thành viên khác trong nhóm

Nghiên cứu của Weimar E và cộng sự (2003) đã cho thấy, yếu tố này có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết

H2: Phối hợp chuyên môn có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả làm việc nhóm

Sự gắn kết

Theo Bollen và Hoyle (1990), gắn kết được định nghĩa là cảm giác của một cá nhân thuộc về một nhóm cụ thể và cảm giác bản thân có liên quan đến các thành viên khác trong nhóm Sự gắn kết bao gồm hai khía cạnh: (1) cảm giác thuộc về một nhóm, (2) tinh thần, ý thức trách nhiệm Nếu không có cảm giác thuộc về nhóm

và không có tinh thần, ý thức trách nhiệm thì sẽ không có động lực để đạt mục tiêu của nhóm và của tổ chức

Trang 38

Sự gắn kết là tiền đề quan trọng khi làm việc nhóm (Carron và cộng sự, 1985) Nếu một thành viên không có cảm giác thuộc về nhóm và mong muốn ở lại trong nhóm thì không thể nâng cao tinh thần đồng đội (Hoegl và Gemuenden, 2001) Đặc biệt đối với công việc phát triển phần mềm, một lĩnh vực đòi hỏi sự phối hợp chuyên môn cao thì sự gắn kết là rất quan trọng (Devine G và Whitney, 1995) Nghiên cứu của Fung HP (2014), Weimar E và cộng sự (2003) đã kết luận rằng sự gắn kết có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm Từ đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H3: Sự gắn kết có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả làm việc nhóm

Niềm tin

Niềm tin là sự tin tưởng lẫn nhau trong nội bộ nhóm, thúc đẩy các thành viên trong nhóm hỗ trợ và hợp tác với nhau Niềm tin là một cơ chế hỗ trợ quan trọng của làm việc theo nhóm vì nó có ảnh hưởng đến nhiều quá trình của nhóm như sẵn lòng chia sẻ thông tin, đưa ra phản hồi có giá trị và quản lý thời gian một cách chính xác (Berscheid, 1994)

Nghiên cứu của Caspersz D và cộng sự (2002), Fung HP (2014), Weimar E

và cộng sự (2003) đã cho thấy, niềm tin có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm

Từ đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H4: Niềm tin có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả làm việc nhóm

Sự hợp tác

Sự hợp tác là sự hỗ trợ lẫn nhau vì một mục đích chung của nhóm Làm việc theo nhóm phải dựa trên sự hỗ trợ lẫn nhau của các thành viên trong nhóm chứ không phải là sự cạnh tranh giữa họ (Hoegl và Gemuenden, 2001) Mặc dù cạnh tranh có thể có ảnh hưởng tích cực đến động lực và thực hiện nhiệm vụ cá nhân nhưng đối với những công việc đăc thù và phụ thuộc lẫn nhau như ngành phát triển phần mềm, thì sự hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm là rất quan trọng Thành viên trong nhóm phải vì một mục tiêu chung cố gắng để hỗ trợ

Trang 39

nhau thay vì cố gắng thể hiện chuyên môn của bản thân Họ phải thể hiện sự tôn trọng, giúp đỡ và hỗ trợ nhau khi cần thiết, và kích thích những ý tưởng của các thành viên khác và cùng nhau phát triển nó

Nếu các thành viên thể hiện các hành vi cạnh tranh, điều này có thể dẫn đến mất lòng tin và thất vọng trong nhóm (Tjosvold, 1995) Khi các thành viên trong nhóm hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau thì chất lượng và ý tưởng cho công việc sẽ tăng lên (Cooke và Szumal, 1994) Do đó hỗ trợ lẫn nhau là một yếu tố quan trọng của làm việc theo nhóm và cần thiết để đạt được mục tiêu của nhóm

Nghiên cứu của Nasila WA (2011), Caspersz D và cộng sự (2002), Weimar

E và cộng sự (2003) đã cho thấy, sự hợp tác có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm Từ đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H5: Sự hợp tác có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả làm việc nhóm

Giá trị đa dạng

Giá trị đa dạng là sự khác biệt về đặc điểm cá nhân của các thành viên trong nhóm về văn hóa, đạo đức, mục tiêu cá nhân, kỹ năng, trình độ chuyên môn Bên cạnh chuyên môn chính, một nhóm cần các chuyên môn từ các lĩnh vực nghiên cứu

và phát triển, chất lượng, kỹ thuật hoặc các lĩnh vực khác nhau tùy vào nhu cầu cụ thể Nhóm có khả năng kết hợp kiến thức và kỹ năng từ những người có nguồn gốc, chức năng khác nhau là một động lực quan trọng để phát triển nhóm Tuy nhiên, do các chức năng chuyên môn khác nhau có thể dẫn đến sự căng thẳng, gây tổn hại đến

sự gắn kết nhóm (Keller 2001)

Đa dạng giá trị phát sinh khi các thành viên trong nhóm có những quan điểm khác nhau về nhiệm vụ và mục tiêu chung của nhóm Sự khác biệt như vậy có thể dẫn đến sự mâu thuẫn và xung đột trong nhóm Sự đa dạng giá trị thấp là cần thiết

để đạt hiệu quả làm việc cao trong nhóm Nếu trao đổi thông tin trong nhóm hiệu quả thì sự đa dạng giá trị của các thành viên trong nhóm sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả làm việc nhóm

Trang 40

Nghiên cứu của Weimar E và cộng sự (2003) đã cho thấy, yếu tố giá trị đa dạng có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H6: Giá trị đa dạng có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả làm việc nhóm

Lãnh đạo nhóm

Lãnh đạo nhóm là người có khả năng thuyết phục và gây ảnh hưởng đến người khác, giữ vai trò dẫn dắt, định hướng, chỉ đạo và xây dựng mối quan hệ giữa những thành viên trong cùng một tập thể cùng vận hành theo một hệ thống nhất định, để hoàn thành những mục tiêu mong muốn

Sự hỗ trợ của lãnh đạo nhóm rất quan trọng đối với sự thành công của nhóm Nghiên cứu của Morgan (1996) cho rằng 77% nhóm thất bại là do thiếu sự hỗ trợ của lãnh đạo Trong hoạt động của nhóm, lãnh đạo giữ vai trò định hướng và hỗ trợ các hoạt động cho các thành viên (Kozlowski, 1998; Kozlowski và cộng sự, 1996) Theo Tannenbaum và cộng sự (1998), lãnh đạo nhóm có thể thúc đẩy việc học tập trong nhóm thông qua việc lập kế hoạch và thúc đẩy quá trình nhận thức nhóm, thực hiện công việc để đạt hiệu quả nhóm Lãnh đạo hiệu quả có thể sẽ sử dụng các chiến lược để xây dựng lòng tin, nhiệm vụ trong nhóm (Kozlowski và cộng sự, 1996) Các nghiên cứu của Isenberg (1981), Mintz (1951), Strauss (1944), Sugiman

và Misumi (1988) đã chứng minh rằng mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm

sẽ ít căng thẳng hơn nếu lãnh đạo nhóm định hướng rõ ràng mục tiêu, chiến lược và vai trò của từng thành viên

Nghiên cứu của Caspersz D và cộng sự (2002) và Nasila WA (2011) đã cho thấy, yếu tố lãnh đạo nhóm có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H7: Lãnh đạo nhóm có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả làm việc nhóm

Ngoài ra, như đã phân tích mục 2.5.1, để đáp ứng được yêu cầu công việc thì mỗi nhân viên công nghệ thông tin đều chịu rất nhiều áp lực, phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển chung của nhóm Nghĩa là, các đặc điểm cá nhân của nhân viên

Ngày đăng: 21/01/2021, 21:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w