Thực hiện có hiệu lực và hiệu quả công tác thanh tra sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước; bảo đảm trật tự, kỷ cương; bảo vệ quyền và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
PHẠM BẢO NAM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CƠ QUAN THANH TRA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, không sao chép công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các
số liệu được trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng Kết quả trình bày trong luận văn này
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Học viên
Phạm Bảo Nam
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ 45
Bảng 2.2 Biên chế phân bổ các phòng trực thuộc năm 2018 51
Bảng 2.3 Số lượng tăng, giảm CBCC, nhân viên năm 2015 - 2018 53
Bảng 2.4 Các đoàn thanh tra thực hiện theo kế hoạch từ năm 2015 - 2018 55
Bảng 2.5 Kết quả qua thanh tra từ năm 2015 đến năm 2018 55
Bảng 2.6 Công tác tiếp công dân từ năm 2015 đến năm 2018 57
Bảng 2.7 Công tác thanh tra về PCTN từ năm 2015 - 2018 60
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ hoạt động thanh tra 18
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước 22
Hình 2.1 Biên chế cơ quan TTTP (từ năm 2015 đến năm 2018) 51
Hình 2.2 Kết quả đánh giá CBCC, nhân viên từ năm 2015 - 2018 54
Hình 2.3 Số lượng đơn tiếp nhận và xử lý từ năm 2015 - 2018 58
Hình 2.4 Kết quả xác minh đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền từ năm 2015 - 2018 59
Hình 2.5 Kết quả xác minh đơn tố cáo thuộc thẩm quyền từ năm 2015 - 2018 59
Hình 3 Các đặc tính cơ bản của quản trị nhà nước tốt 88
Trang 7MỤC LỤC
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, danh mục hình
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến Luận văn 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa, tính mới của luận văn và hạn chế 6
7 Kết cấu của luận án nghiên cứu 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA NHÀ NƯỚC 9
1.1 Những vấn đề cơ bản về tổ chức công 9
1.1.1 Khái niệm tổ chức 10
1.1.2 Khái niệm hệ thống tổ chức nhà nước: 11
1.1.3 Khái niệm tổ chức công: 11
1.1.4 Phân loại tổ chức công: 13
1.1.5 Hiệu lực, hiệu quả của tổ chức công và các tiêu chí đánh giá: 14
1.2 Những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh tra nhà nước: 16
1.2.1 Khái niệm thanh tra: 16
1.2 2 Đặc điểm chủ yếu của thanh tra nhà nước: 19
1.2 3 Vai trò của thanh tra: 20
1.2.4 Nội dung hoạt động của thanh tra nhà nước: 20
1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh: 23
1.3.1 Vị trí và chức năng của Thanh tra tỉnh: 23
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thanh tra tỉnh: 23
1.3.3 Lãnh đạo Thanh tra tỉnh: 28
Trang 81.3.4 Cơ cấu tổ chức Thanh tra tỉnh: 28
1.3.4 Biên chế của Thanh tra tỉnh 29
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Thanh tra tỉnh: 30
1.4.1 Yếu tố chủ quan: 31
1.4.2 Yếu tố khách quan: 35
1.5 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra: 36
1.6 Mô hình cơ quan Thanh tra của một số nước: 37
1.6.1 Thanh tra Quốc hội 37
1.6.2 Thanh tra, giám sát hành chính: 39
1.6.3 Thanh tra chuyên ngành 41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 44
2.1 Tổng quan về cơ quan Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh: 44
2.1.1 Vị trí, chức năng 44
2.1.2 Tư cách pháp lý 44
2.1.3 Nhiệm vụ và quyền hạn 44
2.1.4 Quy trình giải quyết công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo 45
2.2 Cơ cấu tổ chức và nhân sự Cơ quan thanh tra TP.HCM 47
2.2.1 Về tổ chức bộ máy: 47
2.2.2 Về nhân sự: 50
2.3 Tình hình thực hiện và kết quả công việc của Thanh tra TP.HCM 55
2.3.1 Về thanh tra: 55
2.3.2 Công tác tiếp công dân, xử lý đơn, xác minh khiếu nại, tố cáo: 56
2.3.3 Về công tác phòng, chống tham nhũng: 59
2.3.4 Công tác khác: 61
2.4 Đánh giá kết quả hoạt động: 65
2.4.1 Những thành tựu: 65
2.4.2 Các khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của Thanh tra Thành phố 67
Trang 9CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA THANH TRA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 72
3.1 Quan điểm và định hướng của Chính phủ và UBND TP.HCM 72
3.1.1 Nâng cao vị trí, vai trò của ngành Thanh tra Thành phố 72
3.1.2 Kiện toàn tổ chức, bộ máy của các cơ quan Thanh tra 73
3.1.3 Đổi mới phương thức hoạt động của các cơ quan thanh tra 74
3.1.4 Đổi mới công tác cán bộ 76
3.1.5 Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật 78
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra Thành phố: 79
3.2.1 Giải pháp về quản lý công việc chuyên môn, nghiệp vụ: 79
3.2.2 Xác định đúng vị trí việc làm, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Thanh tra Thành phố: 80
3.2.3 Xây dựng văn hóa tổ chức phù hợp: 85
3.2.3 Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ thông tin: 86
3.2.4 Nâng cao việc sử dụng các quyền của Thanh tra Thành phố trong việc xây dựng Chính quyền Thành phố 87
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quản lý nhà nước là hoạt động cơ bản, chủ yếu trong quản lý công Quản lý công không bao giờ hoạt động được nếu không cùng bản chất, là quản lý nhà nước Quản lý công phải được tiến hành bằng tổ chức công, tổ chức nhà nước Nhà nước của mọi quốc gia là một tổ chức lớn nhất trong tất cả các tổ chức Quy
mô của tổ chức này không chỉ ở số lượng người làm việc trong tổ chức nhà nước
mà còn trên nhiều phương diện khác nhau Đó là một tổ chức có quy mô hoạt động rộng lớn, trên nhiều phương diện khác nhau và trên mọi vùng lãnh thổ của quốc gia, sử dụng nguồn nhân lực và tài lực lớn nhất Tổ chức nhà nước cũng là
tổ chức có nhiều mục tiêu nhất, các mục tiêu của nhà nước tác động đến nhiều nhóm đối tượng khác nhau và có không ít mục tiêu tác động đến mọi người dân Nhà nước cũng là một tổ chức có quyền lực đặc biệt nhất so với mọi loại tổ chức khác - đó là quyền lực nhà nước, thể hiện ở quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp Thực hiện ba quyền lực đó làm cho nhà nước là một tổ chức mạnh hơn bất kỳ tổ chức nào trong điều chỉnh xã hội và công dân
Công tác thanh tra là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động quản
lý hành chính nhà nước, là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước Thực hiện có hiệu lực và hiệu quả công tác thanh tra sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước; bảo đảm trật tự, kỷ cương; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của nước ta Do đó, đòi hỏi công tác quản lý hành chính trong các cơ quan phải không ngừng đổi mới theo hướng thông suốt, nhanh gọn, hiệu quả, thiết thực, khoa học, chuyên nghiệp hơn Phục vụ yêu cầu đó, Thanh tra Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò là cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thực hiện chức năng kiểm soát, chống xu hướng lạm quyền của các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp cấp tỉnh, Thanh tra TP.HCM
Trang 11cũng đã có những đóng góp tích cực giúp Chính quyền TP.HCM về quản lý nhà nước và tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp đã thực hiện, Thanh tra TP.HCM vẫn còn tồn tại, hạn chế, Đồng thời, để thực hiện thành công Kế hoạch và Chiến lược phát triển ngành của Thanh tra Thanh tra Chính phủ và UBND TP.HCM thì Thanh tra TP.HCM cần phải có những giải pháp phù hợp góp phần nâng cao chất lượng ngành thanh tra và nâng cao hiệu quả kiểm soát của chính quyền thành phố Do đó, tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài
“Nâng cao hiệu quả hoạt động cơ quan Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh”
làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành Kinh tế & Quản lý công
2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến Luận văn
Ngân hàng thế giới và Thanh tra Chính phủ với báo cáo (2016) “Quản lý
xung đột lợi ích trong khu vực công - Quy định và thực tiễn tại Việt Nam”
(Managing conflict of interest in the public sector: law and practice in Vietnam) cho biết Việt Nam đã đạt được tiến bộ lớn trong phát triển kinh tế xã hội trong ba thập kỷ qua Nhưng việc chuyển đổi từ kế hoạch kinh tế trung tâm sang hệ thống định hướng thị trường hơn đã thúc đẩy sự tương tác giữa khu vực công và tư nhân, khiến cần phải giải quyết khả năng ngày càng tăng xung đột lợi ích bằng luật pháp và thực thi chính sách tốt hơn Mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu là đề xuất các biện pháp để chính phủ Việt Nam và các bên liên quan nhận thức và giảm thiểu các tình huống xung đột lợi ích mà công chức gặp phải trong công việc, cải thiện chất lượng thể chế của khu vực công và tốt hơn phòng chống tham nhũng Báo cáo cho thấy sự hiểu biết hạn chế về xung đột lợi ích trong xã hội Việt Nam, cũng như giữa các quan chức nhà nước và các hình thức xung đột lợi ích khác nhau trong khu vực công đang trở thành luật chơi, điều này có thể làm suy yếu tính hiệu quả và liêm chính trong các tổ chức công
Nghiên cứu của IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) với đề tài “Cách tiếp cận của
IMF để thúc đẩy quản trị nhà nước tốt và chống tham nhũng - Hướng dẫn” (The
IMF's Approach to Promoting Good Governance and Combating Corruption —
Trang 12A Guide, năm 2005) Nghiên cứu này IMF rất chú trọng đến quản trị nhà nước tốt khi cung cấp tư vấn chính sách, hỗ trợ tài chính và hỗ trợ kỹ thuật cho 184 quốc gia thành viên Nó thúc đẩy quản trị nhà nước tốt bằng cách giúp các quốc gia đảm bảo luật pháp, nâng cao hiệu quả và trách nhiệm giải trình của các khu vực công và giải quyết nạn tham nhũng
Bo Rothstein (2011) với nghiên cứu “Chất lượng của chính phủ: tham
nhũng, tin tưởng xã hội và bất bình đẳng trong quan điểm quốc tế” (The quality
of government: corruption, social trust, and inequality in international perspective) Trong nghiên cứu này, tác giả cung cấp một nền tảng lý thuyết để phân tích thực nghiệm về mối liên hệ giữa chất lượng của chính phủ và các kết quả kinh tế, chính trị và xã hội quan trọng
Nghiên cứu “Quản lý và phát triển tổ chức công” của GS.TS Đinh Văn Tiến trong Giáo trình Quản lý công do PGS.TS Phan Huy Đường làm chủ biên
(2014), trong nghiên cứu này đã tổng quát các khái niệm về tổ chức công, đặc trưng và nguyên tắc hoạt động của tổ chức công, cũng như quản lý và phát triển
tổ chức công
Nghiên cứu “Vận dụng mô hình Quản trị nhà nước tốt ở Việt Nam” của
PGS.TS Phạm Thị Hồng Điệp (2017), trong nghiên cứu, tác giả phân tích bối cảnh thực hiện quản trị nhà nước tốt ở Việt Nam, đánh giá thành quả và các vấn
đề đặt ra của mô hình quản lý này trong thời gian qua trên một số khía cạnh như xây dựng nhà nước pháp quyền, minh bạch và phòng chống tham nhũng, tăng cường sự tham gia của người dân, tăng cường trách nhiệm giải trình, đồng thuận,
từ đó đề xuất một số kiến nghị thúc đẩy cải cách quản lý công trong thời gian tới
Nghiên cứu “Vai trò của thanh tra trong kiểm soát quyền lực đối với hệ
thống cơ quan hành chính ở một số nước trên thế giới” của ThS Đậu Công Hiệp
và ThS Thái Thị Thu Trang (2018), trong nghiên cứu này, nhóm tác giả nghiên cứu về hệ thống thanh tra nước ngoài nhằm tìm ra được những điểm hợp lý và có khả năng áp dụng tại Việt Nam, nhóm tác giả đã đề xuất ra các giải pháp như: đảm bảo tính độc lập cho cơ quan thanh tra, đảm bảo sự minh bạch trong hoạt
Trang 13động thanh tra, tiêu chuẩn của thanh tra viên phải đảm bảo về trình độ chuyên môn và có đội ngũ giúp việc để hỗ trợ công việc, đảm bảo cơ sở pháp lý để hoạt động thanh tra có hiệu lực
Nghiên cứu “Một số vấn đề về vai trò của cơ quan thanh tra đối với việc
kiểm t quyền lực trong hoạt động hành chính nhà nước” của TS Trần Văn
Long (2018), trong nghiên cứu này tác giả đề cập đến yêu cầu đang đặt ra hiện nay đối với ngành Thanh tra về thực hiện hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ
về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân thực thi theo Hiến pháp năm 2013
Nghiên cứu “Chất lượng thanh tra viên ở tỉnh Quảng Nam” trong luận văn
thạc sỹ (đã được bảo vệ thành công) của Đặng Thị Xuân Lệnh (2017) Trong nghiên cứu này, luận văn đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thanh tra viên, trong đó có đề cập về tổ chức, điều hành, quản lý của các cơ quan thanh tra, qua đó một trong các giải pháp để nâng cao chất lượng thanh tra viên là đổi mới khâu tổ chức, chỉ đạo, điều hành trong các cơ quan thanh tra Hạn chế của luận văn là chỉ tập trung vào nhân sự tại cơ quan Thanh tra cấp tỉnh (một trong các mối quan hệ nội tại của cơ quan thanh tra), chưa đánh giá, đề xuất các giải pháp
để thích ứng với các mối quan hệ bên ngoài của cơ quan Thanh tra cấp tỉnh
Nghiên cứu “Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên
môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh” trong luận văn thạc sỹ (đã được
bảo vệ thành công) của Lê Nguyễn Hải Quỳnh (2016) Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và đề ra giải pháp như: Giải pháp về nhận thức; Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức; Xây dựng và hoàn thiện thái độ, hành vi của công chức trong thực thi công vụ; Nâng cao công tác quản lý, tạo động lực làm việc và kiểm tra giám sát hoạt động thực thi công vụ của công chức
Trang 14Ở hầu hết các nghiên cứu nêu trên, các tác giả nghiên cứu đã đưa ra các nghiên cứu chung về quản lý công và phát triển tổ chức công, mô hình quản trị nhà nước tốt, các vấn đề về giải quyết công việc tại cơ quan thanh tra (phòng, chống tham nhũng; tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo) Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu tổng hợp các giải pháp nâng cao hiệu quả cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, đặc biệt cơ quan thanh tra cấp tỉnh
Vì vậy, luận văn này sẽ chọn lọc những nội dung trọng tâm mà những nghiên cứu trước đây đã phân tích Sau đó, luận văn sẽ đi sâu phân tích các các giải pháp có thể áp dụng tại cơ quan Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt, luận văn còn căn cứ vào một số chỉ tiêu trong Kế hoạch số 2160/KH-UBND ngày 10 tháng 5 năm 2016 của UBND Thành phố về thực hiện chiến lược phát triển ngành thanh tra thành phố để xây dựng mục đích, mục tiêu phát triển của Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh tra nhà nước, Thanh tra tỉnh và các yếu tố ảnh hưởng để làm cơ sở để phân tích các kết quả đạt được của Thanh tra TP.HCM và làm rõ những tồn tại, hạn chế và đề ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tại cơ quan Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh
Câu hỏi nghiên cứu:
Những vấn đề cơ bản của hoạt động thanh tra nhà nước và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cơ quan Thanh tra tỉnh?
Thực trạng hoạt động của cơ quan Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh? Những vấn đề tồn tại, hạn chế là gì?
Những giải pháp để cơ quan Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh nâng cao hiệu quả hoạt động là gì?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: cơ quan Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh và một số chỉ tiêu về theo quan điểm và định hướng của Chính phủ và
Trang 15UBND thành phố Hồ Chí Minh về chiến lược phát triển ngành thanh tra thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030
- Không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động của Cơ quan Thanh tra TP.HCM
- Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động của cơ quan thanh tra TP.HCM trong những năm gần đây (số liệu thống kê từ năm 2015 – 2018)
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn bao gồm những phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan để
có những luận cứ khoa học cho việc đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cơ quan Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp thống kê: qua việc thu thập các số liệu thứ cấp bao gồm các tài liệu, báo cáo của Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan có liên quan để phân tích thực trạng nguồn nhân lực, cơ cấu tổ chức bộ máy cũng như cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy tại Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp phân tích tổng hợp: trong việc tiến hành phân tích luận văn
sử dụng việc so sánh, khái quát hóa để nghiên cứu các vấn đề lý luận, các tài liệu khoa học, các đề tài nghiên cứu liên quan đến luận văn để tổng hợp cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu từ đó tiến hành phân tích thực trạng hoạt động của của cơ quan Thanh tra cấp tỉnh, xác định những nguyên nhân còn tồn tại và tổng hợp thành những giải pháp để nâng cao hiệu quả
Về phương pháp luận: luận văn sử dụng những phương pháp luận về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước về Chiến lược phát triển ngành thanh tra và công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn hiện nay
6 Ý nghĩa, tính mới của luận văn và hạn chế
6.1 Ý nghĩa khoa học
Trang 16Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức công, phát triển tổ chức công thông qua việc làm rõ các hạn chế của cơ quan Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh Sử dụng phương pháp phân tích thống kê, mô tả, có sự so sánh thực trạng
cơ quan Thanh tra TP.HCM với những khái niệm chung về hiệu quả tổ chức công Đánh giá những kết quả chuyên môn mà Thanh tra TP.HCM đạt được và nghiên cứu những vấn đề đang đặt ra trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển Ngành thanh tra thành phố Hồ Chí Minh Từ đó, đề xuất những giải pháp để cơ quan Thanh tra TP.HCM hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt là ứng dụng một số giải pháp tại mô hình quản trị nhà nước tốt
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có giá trị ứng dụng đối với Lãnh đạo, cán
bộ, công chức Thanh tra TP.HCM nói riêng và cơ quan thanh tra các tỉnh nói chung; có giá trị tham khảo đối với những đọc giả có quan tâm đến hoạt động cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
6.3 Hạn chế của luận văn
Chưa thể đánh giá hết được hiệu quả của hoạt động phòng, chống tham nhũng của cơ quan Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh do việc tiếp cận số liệu nghiên cứu Việc tổng hợp yếu tố ảnh hưởng của cơ quan Thanh tra tỉnh dựa trên
cơ sở các yếu tố ảnh hưởng của tổ chức công được nghiên cứu phân tích tại
nghiên cứu “Quản lý và phát triển tổ chức công” của GS.TS Đinh Văn Tiến,
chưa tiếp cận được hiệu quả hoạt động thanh tra nhà nước của một số tỉnh thành trong và ngoài nước để xây dựng tiêu chí sâu hơn đánh giá hiệu quả hoạt động của Thanh tra tỉnh Để các tiêu chí đánh giá hiệu quả toàn diện hơn thì hướng nghiên cứu tiếp theo cần xác định hiệu quả Hoạt động thanh tra nhà nước ở một tỉnh hơn chỉ tập trung hiệu quả hoạt động của cơ quan Thanh tra tỉnh
7 Kết cấu của luận án nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm có 03 phần: Chương 1 Cơ sở lý thuyết về hoạt động thanh tra nhà nước
Chương 2 Thực trạng hoạt động của Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh
Trang 17Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA NHÀ NƯỚC 1.1 Những vấn đề cơ bản về tổ chức công
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động thực hiện chức
năng của Nhà nước với tư cách là một tổ chức đặc biệt do giai cấp thống trị lập ra
để quản lý xã hội Nhà nước có quyền ban hành pháp luật, pháp luật do nó ban hành có giá trị bắt buộc chung và được bảo đảm thực thi bằng các biện pháp cưỡng chế do Nhà nước thực hiện Ở đây, hoạt động quản lý nhà nước cũng bao hàm cả hoạt động tài phán đối với các tranh chấp phát sinh bằng pháp luật mà Nhà nước định ra Nói cách khác, theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp của loại chủ thể đặc biệt là Nhà nước,
nó dùng để phân biệt với hoạt động quản lý của các chủ thể khác trong xã hội như tổ chức hay cá nhân
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động của một loại cơ quan trong
bộ máy Nhà nước Loại cơ quan này có chức năng chuyên trách quản lý mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội dựa trên các quy định của hệ thống pháp luật do
cơ quan lập pháp ban hành Đó là hoạt động của cơ quan hành pháp, hay còn được gọi là cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan quản lý Nhà nước Đặc điểm của hoạt động quản lý theo nghĩa hẹp là nó chuyển hóa các quy định của pháp luật vào đời sống xã hội bằng các biện pháp quản lý, tác động trực tiếp đến hành vi ứng xử của các đối tượng quản lý Hoạt động này hiện diện ở mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội Đây cũng là hoạt động trực tiếp quản lý tài nguyên, lao động, công sản, nền tài chính công và các nguồn lực của xã hội Nói cách khác, cơ quan quản lý nhà nước là cơ quan có thực quyền Hoạt động của nó không chỉ chịu sự giám sát của nhiều thiết chế khác như giám sát của cơ quan lập pháp, của xã hội, của nhân dân…mà bản thân nó phải có các cơ chế thanh tra, kiểm tra để bảo đảm hiệu quả và tính hợp pháp của hoạt động quản lý
Như vậy, có thể thấy Quản lý nhà nước là hoạt động cơ bản, chủ yếu và cùng bản chất là quản lý công Trong đó, Quản lý công phải được tiến hành bằng
Trang 19tổ chức công, tổ chức nhà nước Tổ chức lớn nhất trong tất cả các tổ chức ở mọi quốc gia là Nhà nước Quy mô của tổ chức này không chỉ ở số lượng người làm việc trong tổ chức nhà nước mà còn trên nhiều phương diện khác nhau Đó là một tổ chức có quy mô hoạt động rộng lớn, trên nhiều phương diện khác nhau và trên mọi vùng lãnh thổ của quốc gia, sử dụng nguồn nhân lực và tài lực lớn nhất
Tổ chức nhà nước cũng là tổ chức có nhiều mục tiêu nhất, các mục tiêu của nhà nước tác động đến nhiều nhóm đối tượng khác nhau
Trong nghiên cứu “Quản lý và phát triển tổ chức công” của GS.TS Đinh
Văn Tiến (2014) [24] đã tổng quát các khái niệm về tổ chức, hệ thống tổ chức nhà nước, tổ chức và phân loại tổ chức công, quan niệm về phát triển tổ chức và chu trình phát triển tổ chức, cụ thể như sau:
1.1.1 Khái niệm tổ chức
Tổ chức là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống hàng ngày Xét trên tổng thể tổ chức đòi hỏi ít nhất hai người trở lên có sự liên kết với nhau nhằm hướng tới mục tiêu chung Tổ chức là một hệ thống gồm nhiều phân
hệ có những mối quan hệ hữu cơ hợp lý, rõ ràng hợp tác và phân phối chặt chẽ tác động lẫn nhau trong một tổng thể Như vậy có thể hiểu tổ chức là một hệ thống tập hợp của hai hay nhiều người, có sự phối hợp một cách có ý thức, có phạm vi (lĩnh vực chức năng hoạt động) tương đối rõ ràng; hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung
Có nhiều cách tiếp cận “tổ chức” Cách đưa ra các cách tiếp cận khác nhau
về tổ chức cũng xuất phát từ cách nghiên cứu tổ chức từ nhiều giác độ:
- Tổ chức được xem như là một “cỗ máy”;
- Tổ chức được xem xét như “một cơ thể sống”;
- Tổ chức được nhìn nhận như là một “bộ não”;
Trang 201.1.2 Khái niệm hệ thống tổ chức nhà nước:
Nhà nước là một tổ chức lớn, chặt chẽ và do đó thường được gọi là bộ máy nhà nước
Tổ chức nhà nước bao gồm nhiều thành tố có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, tùy theo từng điều kiện cụ thể của sự phát triển nhà nước
Trong thời kỳ phong kiến, khi quyền lực nhà nước tập trung trong tay vua, mọi yếu tố cấu thành nhà nước do nhà vua xác định thông qua ý chí của mình Trong thời đại ngày nay, nhà nước theo nguyên tắc pháp quyền, các yếu tố cấu thành nhà nước (tổ chức nhà nước) hay các tổ chức con của tổ chức nhà nước được hình thành theo nguyên tắc, quy định của pháp luật Tổ chức nhà nước có thể chia thành:
- Các tổ chức thực hiện chức năng lập pháp: Là cơ quan duy nhất có
quyền sửa đổi, ban hành các văn bản hiến pháp, luật để điều chỉnh các mối quan
hệ chung của xã hội
- Các tổ chức thực hiện chức năng tư pháp: Được hiến pháp giao cho các
cơ quan trong bộ máy tư pháp nhằm xét xử dựa trên cơ sở hiến pháp, các bộ luật, luật do tổ chức lập pháp ban hành
- Các tổ chức thực hiện chức năng hành pháp: Tạo nên bộ máy hành chính
nhà nước có quyền quản lý và cưỡng bức, bắt buộc mọi công dân phải thi hành các văn bản pháp luật đã được ban hành
Các tổ chức thực hiện các chức năng trên được tổ chức rất chặt chẽ, theo những nguyên tắc do pháp luật quy định và do đó tập hợp các tổ chức trên gọi là các bộ máy: bộ máy thực thi quyền lập pháp, bộ máy thực thi quyền tư pháp, bộ máy thực thi quyền hành pháp
1.1.3 Khái niệm tổ chức công:
Tổ chức nhà nước có ba loại công việc lớn: xây dựng, ban hành luật, thi hành luật và xét xử các vi phạm luật Ba loại công việc đó hình thành ra ba ngành quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Sự phân bổ giữa ba ngành quyền này khác nhau giữa các quốc gia và chính sự khác nhau trong quan hệ giữa ba ngành
Trang 21quyền tạo nên sự khác nhau trong tổ chức bộ máy nhà nước, đặc biệt là tổ chức thực hiện chức năng hành pháp (tổ chức bộ máy hành chính nhà nước) hay còn gọi là tổ chức công
Tổ chức công được hình thành theo quy định của pháp luật Tùy thuộc vào thể chế nhà nước của từng quốc gia mà việc thành lập, cơ cấu của hệ thống tổ chức công có nhiều dạng khác nhau
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, một tổ chức chính thức, có
cơ cấu thực hiện chức năng rõ ràng, bền vững được đặc trưng bởi những trình tự, thủ tục, luật lệ thống nhất thường được gọi là tổ chức công Tổ chức công được thiết lập để thực hiện các chức năng quản lý tổng hợp thông qua việc ban hành các chính sách và thủ tục nhằm duy trì sự ổn định của hệ thống kiểm soát hướng đến việc đạt được mục tiêu đã xác định của tổ chức
Bỏ qua những khác biệt do các yếu tố chính trị, lịch sử truyền thống và quan niệm về sự phân chia quyền lực nhà nước, tính chất chung của tổ chức công là: quy mô rộng lớn, chiếm đại đa số nhân lực của bộ máy nhà nước, nắm giữ tài nguyên quốc gia, tiêu tốn phần lớn ngân sách nhà nước
Hình thức tổ chức phổ biến nhất là chia thành hệ thống các tổ chức thực thi quyền hành pháp trung ương - gọi chung là chính phủ và hệ thống các tổ chức thực thi quyền hành pháp địa phương thành hệ thống hành chính địa phương
Tổ chức công bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước được đặt trong một tổng thể hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung
Cơ quan hành chính nhà nước hay cơ quan chấp hành và điều hành là hệ thống các cơ quan liên hệ mật thiết và gần gũi nhất với hoạt động quản lý nhà nước, tức thực hiện chức năng quản lý nhà nước Cũng có thể hiểu đó là hoạt động quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp (không thực hiện chức năng lập pháp và chức năng tư pháp) Các cơ quan này thực hiện các quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước; trực tiếp chỉ đạo, điều khiển các cơ quan, tổ chức, công dân
và điều hành hoạt động hàng ngày
Trang 22Tổ chức công ra đời gắn liền với sự phân công, phân cấp hoạt động quản lý nhà nước của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước Đó là sự phân công giữa
ba ngành quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp Tùy thuộc vào mối quan hệ và sự phân công mà hệ thống các tổ chức công có vị thế riêng hay phụ thuộc
1.1.4 Phân loại tổ chức công
Như đã nêu trên, thuật ngữ tổ chức công mang ý nghĩa tổng quát vừa chỉ hệ thống các tổ chức hành chính nhà nước, vừa chỉ một thực thể tổ chức cụ thể Tổ chức công có thể chia thành nhiều loại, nhóm khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu
Phân loại các tổ chức công theo mối quan hệ trực thuộc trực tiếp hay gián tiếp:
Đó là cách thể hiện hệ thống của các cơ quan hành chính nhà nước phụ thuộc trực tiếp vào một cơ quan hành chính nhà nước - gọi là cấp trên Ví dụ: Chính phủ với hệ thông các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến tận
cơ sở
Cách phân loại phụ thuộc gián tiếp Hình thức này cũng có thể gọi theo cách trực thuộc hai đầu
Phân loại các tổ chức công theo lãnh thổ:
Cách phân loại này căn cứ vào tác động quy mô lãnh thổ để phân chia Đó
là hệ thống tố chức hành chính trung ương, hoạt động trên quy mô cả nước và hệ thống các tổ chức hành chính hoạt động trên từng địa bàn lãnh thổ nhất định - hệ thống tổ chức hành chính địa phương Tính chất lãnh thổ địa phương và tên gọi rất đa dạng, tùy thuộc từng quốc gia
Phân loại theo thẩm quyền:
Đó là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung, quản lý hoạt động trong tất cả các lĩnh vực trên lãnh thổ nhất định: đó là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền riêng
Phân loại theo hình thức thành lập:
Trang 23Mỗi tổ chức công được thành lập theo những căn cứ pháp lý khác nhau, do
đó có những quyền hạn cũng như quy mô hoạt động khác nhau Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thành lập theo quy định của hiến pháp (Chính phủ,
Bộ, UBND); một số tổ chức công được thành lập theo quy định của luật như cơ quan thuộc chính phủ, sở, ban, ngành; một số cơ quan khác được thành lập theo những văn bản pháp quy
Phân loại theo phương thức hoạt động:
Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách (cơ quan thẩm quyền chung) và các tổ chức công hoạt động theo nguyên tắc thủ trưởng Khi những hoạt động quản lý công đối với những vân đề phức tạp, mức độ tác động rộng thì quyết định được ban hành dựa trên ý kiến tập thể, đòi hỏi sự tham gia của nhiều người có những tri thức trên nhiều ngành, lĩnh vực; trong đó có những lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn cao, sâu, ý kiến của chuyên gia có ý nghĩa quyết định
Phân loại theo nguồn tài chính được sử dụng:
Đó là những cơ quan hành chính nhà nước có tài chính cấp 1, 2 (như ở Việt Nam) hoặc đó là những cơ quan hành chính nhà nước được phê chuẩn ngân sách trực tiếp từ Quốc hội (khác với Việt Nam) Tất cả các cơ quan quản lý công đều hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước nhưng nguồn tài chính có thể được phân
bổ trực tiếp từ Bộ tài chính hoặc được phân qua cơ quan hành chính câp trên
1.1.5 Hiệu lực, hiệu quả của tổ chức công và các tiêu chí đánh giá:
Trong hoạt động quản lý, thuật ngữ hiệu lực được sử dụng nhằm chỉ một hoạt động quản lý tạo ra một kết quả nhất định, nhưng được xem xét cả khía cạnh tác động của kết quả đó Quyết định quản lý hành chính nhà nước có thể tạo ra một sản phẩm là tất cả mọi người dân chấp hành nhưng sự tác động của quyết định đó lên đời sống người dân hạn chế Trong trường hợp đó, hiệu lực của quyết định chỉ đạt mức độ thấp
Trong khi đó, hiệu quả là một khái niệm, mang tính chất tương đối nhằm chỉ sự so sánh các hoạt động tạo ra những sản phẩm với nhiều cách thức và chi
Trang 24phí khác nhau Nếu đạt được mức độ hiệu lực như nhau, chi phí thấp hơn có nghĩa hoạt động có hiệu quả hơn
Hiệu quả tổ chức hay tổ chức có hiệu quả được xem xét mang tính tổng thể trên tất cả các hoạt động của tổ chức
Hiện nay, hiệu quả của tổ chức được xem xét không chỉ giới hạn trong tổ chức mà còn gắn liền với sự vận động và phát triển của tổ chức khi môi trường bên trong và bên ngoài thay đổi Tổ chức hiệu quả là tổ chức đạt được những mục tiêu của mình và thích ứng một cách tốt nhất với sự thay đổi của môi trường Cách tiếp cận này của tổ chức hiệu quả không chỉ xem xét tính hiện tại mà còn quan tâm cả đến tiềm năng phát triển của tổ chức, tức tính thích ứng của tổ chức đối với sự thay đổi
Hiệu quả hoạt động của tổ chức hay một tổ chức hiệu quả được xác định thông qua ba nhóm tiêu chí đánh giá sau:
- Đạt được mục tiêu đã đề ra trong từng giai đoạn cụ thể (mục tiêu ngắn hạn, trước mắt, cụ thể; mục tiêu dài hạn, mục tiêu chiến lược) và có thể lượng hóa thông qua một số chỉ tiêu mang tính định tính và định lượng như: sản phẩm, năng suất, chất lượng, chi phí, giá thành, sản phẩm
- Duy trì được sự phát triển bền vững, ổn định của tổ chức (bao gồm các vấn đề về cơ cấu tổ chức, nhân sự tổ chức, văn hóa tổ chức ) Đây là một trong những tiêu chí chứa đựng nhiều yếu tố khó có thể lượng hóa như:
+ Số người xin rời khỏi cơ quan công vụ chuyển sang ngành nghề khác, sự vắng mặt không có lý do của công chức;
+ Mức độ hài lòng của công chức đối với công vụ;
+ Mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức với nhau;
+ Sự tham gia của đội ngũ cán bộ, công chức trong quyết định của tổ chức; + Kỹ năng quản lý thay đổi;
+ Kỹ năng quản lý con người;
+ Kỹ năng quản lý và trao đổi thông tin;
+ Các giá trị nguồn nhân lực của tổ chức
Trang 25- Thích ứng với sự thay đổi của môi trường bên ngoài thông qua việc điều chỉnh một cách hợp lý, khoa học các mục tiêu của tổ chức Đây là nhóm tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá hiệu quả tổ chức trên quan điểm phát triển Nếu tổ chức có thể thích ứng được với sự thay đổi của môi trường bên ngoài thì tổ chức
đó được đánh giá hiệu quả hơn những tổ chức khác Một số tiêu chí sau thường được chú ý:
+ Mức độ kiểm soát của tổ chức;
+ Linh hoạt, thích ứng;
+ Sự hợp tác với tổ chức bền ngoài;
+ Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
1.2 Những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh tra nhà nước
1.2.1 Khái niệm thanh tra
Thanh tra xuất phát từ nguồn gốc Latinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định Theo Từ điển Pháp luật Anh - Việt động từ “inspect” có nghĩa
là “thanh tra” và được giải thích là hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra; còn theo nghĩa của danh từ “inspectorate” trong Từ điển Anh - Anh - Việt “thanh tra” lại có nghĩa là một cơ quan, tổ chức, bộ phận thanh tra ví dụ như ban thanh tra, cơ quan thanh tra… Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích “thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động
có tính trực thuộc” Theo từ điển tiếng Việt “thanh tra (người thuộc cơ quan có thẩm quyền) kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”; thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm
vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”
Từ những nghĩa như vậy, thanh tra với vai trò là danh từ chung có thể được hiểu là một thực thể pháp lý, một thiết chế nhà nước về thanh tra để chỉ cơ quan,
tổ chức thanh tra hoặc bộ phận, lĩnh vực thanh tra nhất định
Trang 26Tùy thuộc vào chế độ chính trị, cấu trúc Nhà nước hoặc quan niệm về quyền lực mà các quốc gia hiện đại đã sử dụng thiết chế thanh tra theo những cách khác nhau Có quốc gia chỉ sử dụng thanh tra nhà nước (thanh tra của Quốc hội); thanh tra của Chính phủ (thanh tra hành pháp); kiểm toán; có quốc gia chỉ
sử dụng thanh tra chuyên ngành; có quốc gia sử dụng thanh tra như một lực lượng cảnh sát (hoặc bán cảnh sát) hoặc phân về các ngành quản lý để phục vụ quyền lực Đồng thời, thanh tra với ý nghĩa là một động từ còn là khái niệm để chỉ hoạt động kiểm tra, kiểm soát của cơ quan, tổ chức, người được giao nhiệm
vụ, quyền hạn nhằm: “xem xét và phát hiện, ngăn chặn với những gì trái với quy định” của các tổ chức, cá nhân là đối tượng của thanh tra
Quan niệm về thanh tra hiện nay cũng như trong lịch sử nước ta được thể hiện qua mô hình các cơ quan nhà nước, các quy định của Hiến pháp và pháp luật và được đề cập ở các giác độ khác nhau:
- Trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 [4], hoạt động thanh tra của các tổ chức Thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 quy định nhiệm vụ của các tổ chức
thanh tra nhà nước là: “thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ,
kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan Điều tra, Kiểm sát, Toà án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của cơ quan trọng tài kinh tế”
- Đến Luật Thanh tra năm 2004 và Luật Thanh tra năm 2010, khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyện hạn của các cơ quan Thanh
tra Nhà nước Luật Thanh tra năm 2010 định nghĩa: “Thanh tra nhà nước là hoạt
động xem xét, đ nh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.”
Trang 27Tóm lại, thanh tra là khái niệm để chỉ hoạt động thanh tra của các cơ quan
thực hiện chức năng thanh tra, đó là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị,
cá nhân theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân Xuất phát từ quan niệm coi thanh tra là chức năng thiết yếu của Nhà nước, Luật Thanh tra năm 2010 đã thể chế hóa hoạt động thanh tra nhà nước
và quy định hoạt động này bao gồm:
- Hoạt động thanh tra hành chính (hướng vào bản thân bộ máy quản lý);
- Hoạt động thanh tra chuyên ngành (hướng vào xã hội, các đối tượng quản lý)
Bên cạnh đó, Luật Thanh tra năm 2010 cũng thể chế hóa hoạt động thanh tra nhân dân với nhiệm vụ giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan,
tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước
Hình 1.1 Sơ đồ hoạt động thanh tra
HOẠT ĐỘNG THANH TRA
THANH TRA NHÀ NƯỚC
THANH TRA HÀNH CHÍNH
THANH TRA CHUYÊN NGÀNH
THANH TRA NHÂN DÂN
Trang 281.2.2 Đặc điểm chủ yếu của thanh tra nhà nước:
Thứ nhất, thanh tra luôn gắn với quản lý nhà nước
Với tư cách là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, thanh tra gắn
liền với hoạt động quản lý nhà nước Lênin đã viết: “Quản lý đồng thời phải có
thanh tra, quản lý và thanh tra là một chứ không phải là hai” Như vậy, quản lý
nhà nước và thanh tra có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong mối quan hệ này, quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra Tuy nhiên, xét về mặt cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là phương tiện, công cụ để quản lý nhà nước
Thứ hai, thanh tra mang tính quyền lực nhà nước
Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra gắn bó chặt chẽ với tính quyền uy – phục tùng, một đặc tính quan trọng của quản lý nhà nước Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra được thể hiện ở những mặt: Ra các quyết định bắt buộc thực hiện đối với đối tượng thanh tra về những vấn đề đã bị thanh; trong quá trình thanh tra, trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước khi cần thiết; Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra; yêu cầu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm pháp luật…
Thứ ba, thanh tra có tính khách quan
Tính khách quan của hoạt động thanh tra được biểu hiện ở chỗ mọi hoạt động thanh tra đều dựa trên cơ sở pháp luật và phải tuân theo pháp luật Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra Mọi nhận định, đánh giá trong quá trình thanh tra và đưa ra kết luận thanh tra phải dựa trên chứng cứ có thật, sự kiện thực tế, không bình luận chủ quan Tính khách quan đảm bảo hoạt động thanh tra được minh bạch, khách quan, công bằng
Thứ tư, thanh tra có tính độc lập tương đối
Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan quản lý nhà nước tự tiến hành, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách có nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định Luật Thanh tra 2010
Trang 29đã tập trung tăng cường các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra cũng như người đứng đầu các cơ quan này: Các cơ quan thanh tra có quyền chủ động tiến hành thanh tra theo kế hoạch đã được phê duyệt; Thủ trưởng cơ quan thanh tra tự quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm về quyết định của mình
1.2 3 Vai trò của thanh tra:
Thứ nhất, thanh tra là một trong những chức năng thiết yếu của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Thứ hai, thanh tra là phương thức bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản lý nhà nước Thứ ba, thanh tra là phương thức bảo đảm việc thực hiện các quyền, tự do công dân Thứ tư, thanh tra là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật
1.2.4 Nội dung hoạt động của thanh tra nhà nước:
Theo quy định của pháp luật, các cơ quan thanh tra nhà nước có vai trò, trách nhiệm quan trọng trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, quản lý nhà nước trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng
Do đó, bên cạnh các quy định chung về tổ chức, nhân sự Nội dung hoạt động của thanh tra nhà nước còn được điều chỉnh bởi các quy định tại Luật Thanh tra năm 2010, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018
Theo Luật Thanh tra năm 2010 [10], cơ quan Thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra Chính phủ; Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (gọi chung là Thanh tra bộ); Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Thanh tra tỉnh); Thanh tra sở; Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Thanh tra huyện) Các cơ quan Thanh tra nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý trực tiếp của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp Bên cạnh việc thanh tra các cơ quan, đơn vị, Thanh tra nhà nước có nhiệm vụ tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp thực
Trang 30hiện công tác quản lý nhà nước về thanh tra như: tuyên truyền các quy định pháp luật về thanh tra, hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra, tổng hợp số liệu về công tác thanh tra, theo dõi việc thực hiện các kết luận thanh tra, rà soát tính chính xác các kết luận thanh tra để tiến hành thanh tra lại (nếu có), tiến hành thanh tra trách nhiệm thủ trưởng các cơ quan, đơn vị hành chính cấp dưới về công tác quản lý nhà nước về thanh tra
Theo Luật Khiếu nại năm 2011 [11] quy định: Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại trong phạm vi cả nước Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thanh tra sở, thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp quản lý công tác giải quyết khiếu nại như: xử lý đơn khiếu nại, xác minh nội dung khiếu nại, tuyên truyền các quy định pháp luật về khiếu nại, hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, tổng hợp số liệu về công tác giải quyết khiếu nại, theo dõi việc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, tiến hành thanh tra trách nhiệm thủ trưởng các cơ quan, đơn vị hành chính cấp dưới về công tác giải quyết khiếu nại Theo Luật Tố cáo năm 2018 [12] quy định: Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi thẩm quyền của Chính phủ Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi quản lý của mình Cơ quan thanh tra giúp người đứng đầu cơ quan quản
lý nhà nước cùng cấp quản lý công tác giải quyết tố cáo như: xử lý đơn tố cáo, xác minh nội dung tố cáo, tuyên truyền các quy định pháp luật về khiếu nại, hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết tố cáo, tổng hợp số liệu về công tác giải quyết tố cáo, rà soát tính chính xác các kết luận nội dung tố cáo để kiến nghị giải quyết tố cáo tiếp (nếu có), tiến hành thanh tra trách nhiệm thủ trưởng các cơ quan, đơn vị hành chính cấp dưới về công tác giải quyết tố cáo
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 [13] quy định: Trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra
Trang 31tỉnh ra quyết định thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng khi có căn cứ theo quy định của Luật Thanh tra Đồng thời, trong công tác phòng ngừa tham nhũng, tùy theo thẩm quyền từng cấp quản lý hành chính, Thanh tra Chính phủ và Thanh tra tỉnh là cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, doanh nghiệp nhà nước; người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (gọi là người
có nghĩa vụ kê khai) thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương Cơ
sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập được xây dựng và quản lý tập trung tại Thanh tra Chính phủ
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước
Trang 321.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh:
Theo Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-TTCP-BNV ngày 08 tháng 09 năm 2014 của Thanh tra Chính phủ - Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh [15], như sau:
1.3.1 Vị trí và chức năng của Thanh tra tỉnh:
Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Thanh tra tỉnh) là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Thanh tra tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
mà trực tiếp là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thanh tra tỉnh:
Thanh tra tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật
về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
Dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng;
Dự thảo quy hoạch, kế hoạch 5 năm và hàng năm; chương trình, đề án, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao;
Trang 33Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể tiêu chuẩn chức danh đối với cấp Trưởng, cấp Phó các tổ chức thuộc Thanh tra tỉnh; Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra sở; Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh
Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
Dự thảo quyết định, chỉ thị cá biệt về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Dự thảo kế hoạch thanh tra hàng năm và các chương trình, kế hoạch khác theo quy định của pháp luật
Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Thanh tra tỉnh
Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế
hoạch về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng
Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, Giám đốc sở trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác tổ chức, nghiệp vụ thanh tra hành
chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Thanh tra sở
Về thanh tra:
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch thanh tra của Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Thanh tra sở;
Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thanh tra vụ việc phức tạp có liên quan đến trách nhiệm
Trang 34của nhiều sở, Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập và các cơ quan, đơn vị khác theo kế hoạch được duyệt hoặc đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
Thanh tra vụ việc khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao;
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của Chánh Thanh tra tỉnh và của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử
lý sau thanh tra của Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chánh Thanh tra sở, Chánh Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khi cần thiết;
Quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Giám đốc sở kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chánh thanh tra sở, Chánh Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
Yêu cầu Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thanh tra trong phạm vi quản lý của sở, Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không đồng ý thì có quyền ra quyết định thanh tra, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Về giải quyết khiếu nại, tố cáo:
Hướng dẫn Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các
cơ quan, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc tiếp công dân, xử
lý đơn khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện việc tiếp công dân tại trụ sở làm việc theo quy định;
Trang 35Thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiến nghị các biện pháp để làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc phạm vi quản lý của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi được giao;
Xem xét, kết luận việc giải quyết tố cáo mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Giám đốc sở đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo
có vi phạm pháp luật thì kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, giải quyết lại theo quy định;
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý tố cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Về phòng, chống tham nhũng:
Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các cơ quan, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Phối hợp với cơ quan Kiểm toán nhà nước, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong việc phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người
có hành vi tham nhũng;
Tiến hành xác minh kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; tổng hợp kết quả kê khai, công khai, xác minh, kết luận, xử lý vi phạm về minh bạch tài sản, thu nhập trong phạm vi địa phương mình; định kỳ báo cáo kết quả về Thanh tra Chính phủ;
Trang 36Kiểm tra, giám sát nội bộ nhằm ngăn chặn hành vi tham nhũng trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và phòng, chống tham nhũng được thực hiện quyền hạn của Thanh tra tỉnh theo quy định của pháp luật; được yêu cầu cơ quan, đơn vị có liên quan cử cán
bộ, công chức, viên chức tham gia các Đoàn thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc
ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thanh tra Chính phủ
Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật; xây dựng cơ sở
dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ được giao
Tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động thanh tra, giải quyết
khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng Thực hiện công tác thông tin, tổng hợp, báo cáo kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Thanh tra Chính phủ
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của văn phòng, các phòng
nghiệp vụ thuộc Thanh tra tỉnh; quản lý biên chế, công chức, thực hiện các chế
độ, chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức thuộc phạm vi quản lý của Thanh tra tỉnh theo quy định của pháp luật
và phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Phối hợp với Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh Thanh tra; tham gia ý kiến thỏa thuận về việc điều động, luân chuyển Thanh tra viên thuộc Thanh tra sở, Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Quản lý, sử dụng tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật
và phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Trang 37Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao và theo quy định của pháp luật
1.3.3 Lãnh đạo Thanh tra tỉnh:
Thanh tra tỉnh có Chánh Thanh tra và không quá 03 Phó Chánh Thanh tra; đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không quá 04 Phó Chánh Thanh tra
Chánh Thanh tra tỉnh là người đứng đầu cơ quan Thanh tra tỉnh, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Thanh tra tỉnh
- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Chánh Thanh tra tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ do Thanh tra Chính phủ ban hành và sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ
- Việc miễn nhiệm, cách chức Chánh Thanh tra tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo quy định của pháp luật sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ
Phó Chánh Thanh tra tỉnh là người giúp Chánh Thanh tra tỉnh và chịu trách nhiệm trước Chánh Thanh tra tỉnh và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công; khi Chánh Thanh tra tỉnh vắng mặt, một Phó Chánh Thanh tra tỉnh được Chánh Thanh tra tỉnh ủy nhiệm điều hành các hoạt động của Thanh tra tỉnh
- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Phó Chánh Thanh tra tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ do Thanh tra Chính phủ ban hành và đề nghị của Chánh Thanh tra tỉnh
- Việc miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh Thanh tra tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo quy định của pháp luật và đề nghị của Chánh Thanh tra tỉnh
Việc khen thưởng, kỷ luật và các chế độ chính sách khác đối với Chánh Thanh tra và Phó Chánh Thanh tra tỉnh thực hiện theo quy định của pháp luật
1.3.4 Cơ cấu tổ chức Thanh tra tỉnh:
Các tổ chức được thành lập thuộc Thanh tra tỉnh gồm:
Trang 38- Văn phòng: Văn phòng có chức năng tham mưu giúp Chánh Thanh tra tỉnh về công tác tổng hợp, hành chính, văn thư, lưu trữ, tài chính, quản trị, phục
vụ đảm bảo các hoạt động của cơ quan Thanh tra tỉnh, công tác tổ chức cán bộ, thi đua khen thưởng, pháp chế, tiếp dân
- Các Phòng Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo 1, 2, 3 : Các Phòng Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo giúp Chánh Thanh tra tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo lĩnh vực và địa bàn thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi được phân công phụ trách
- Phòng Thanh tra phòng, chống tham nhũng: Phòng Thanh tra phòng, chống tham nhũng có chức năng giúp Chánh Thanh tra tỉnh quản lý nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng
- Phòng Giám sát, kiểm tra và xử lý sau thanh tra: Phòng Giám sát, kiểm tra
và xử lý sau thanh tra có chức năng giúp Chánh Thanh tra tỉnh giám sát, kiểm tra hoạt động đoàn thanh tra của Thanh tra tỉnh; thẩm định dự thảo kết luận thanh tra
do đoàn thanh tra của Thanh tra tỉnh soạn thảo; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của Thanh tra tỉnh
và của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Căn cứ vào tính chất, đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước đối với công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng tại địa phương, Chánh Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định số lượng và tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Thanh tra tỉnh những số lượng phòng, văn phòng không quá 7; đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không quá 9
1.3.4 Biên chế của Thanh tra tỉnh
Biên chế công chức của Thanh tra tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và nằm trong tổng biên chế
Trang 39công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính của tỉnh được cấp có thẩm quyền giao
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức được cấp có thẩm quyền phê duyệt, hàng năm Thanh tra tỉnh xây dựng kế hoạch biên chế công chức theo quy định của pháp luật bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được giao
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Thanh tra tỉnh:
Trên cơ sở lý thuyết về hiệu quả của tổ chức công đã trình bày nêu trên, theo đó một tổ chức hiệu quả được xác định thông qua ba nhóm tiêu chí đánh giá sau: Đạt được mục tiêu đã đề ra; Duy trì được sự phát triển bền vững, ổn định của tổ chức; Thích ứng với sự thay đổi của môi trường bên ngoài
Theo Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 08 tháng 12 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành “Chiến lược phát triển ngành Thanh tra đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030” xác định mục tiêu phát triển ngành thanh tra:
- Mục tiêu chung: Xác lập địa vị pháp lý của các cơ quan thanh tra phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tăng cường tính tập trung, thống nhất, chủ động và tự chịu trách nhiệm trong tổ chức và hoạt động của ngành Thanh tra; xây dựng ngành Thanh tra, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thanh tra chuyên nghiệp, trách nhiệm, kỷ cương, liêm chính nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế
Trang 40+ Giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2030: Xây dựng và tăng cường tính hệ thống của ngành Thanh tra theo hướng quản lý tập trung, thống nhất về tổ chức, biên chế; nâng cao vai trò của các cơ quan thanh tra trong quản lý nhà nước về giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tăng cường tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, kỷ cương, liêm chính của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Thanh tra
- Các cơ quan thanh tra theo cấp hành chính chuyển mạnh sang xem xét, đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước
- Các cơ quan thanh tra ngành, lĩnh vực tập trung kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm của các tổ chức, cá nhân trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày và lợi ích của người dân
Qua việc phân tích nội dung hoạt động, tổ chức của Thanh tra tỉnh và mục tiêu theo Chiến lược phát triển ngành Thanh tra; có thể thấy với vị trí của Thanh tra tỉnh (theo hệ thống Ngành: bên trên là Thanh tra Chính phủ, bên dưới là Thanh tra huyện và Thanh tra Sở) việc đảm bảo khả năng đạt được mục tiêu Chiến lược là một áp lực lớn đòi hỏi Thanh tra tỉnh không chỉ nâng cao nâng lực nội tại cơ quan Thanh tra tỉnh (yếu tổ chủ quan) mà còn phải đảm bảo tính thức ứng, thông suốt trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng của toàn Ngành Thanh tra trên địa bàn tỉnh (yếu tố khách quan)
Từ những cơ sở trên, có thể tổng hợp các yếu tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Thanh tra tỉnh như sau:
1.4.1 Yếu tố chủ quan:
1.4.1.1 Công tác quản lý hoạt động, đào tạo, sử dụng công chức:
Hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của cơ quan Thanh tra tỉnh Điều đó lại phụ thuộc rất nhiều vào mức độ nhận thức vai trò, vị trí, chức năng và thẩm