Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế, xã hội
Trang 2VŨ TRỌNG HIỆP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
TẠI TỈNH GIA LAI
C KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG
M 6031010101
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯ NG D N KHOA HỌC PGS TS NGU N HỒNG NGA
TP HCM, Năm 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn “Nâng cao hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Gia Lai” là do bản thân tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hồng Nga
T G
VŨ TRỌNG HIỆP
Trang 4Chữ viết tắt Diễn giải
Trang 5Bảng 2.2 Cơ cấu đầu tư công cho giáo dục 36 Bảng 2.3 Nguồn vốn đầu tư theo cấp học GDMN và GDPT tại Gia Lai 37 Bảng 2.4 Nguồn vốn đầu tư công cho Đào tạo trên địa bàn tỉnh Gia Lai 39
Bảng 2.6 Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư công cho giáo dục tỉnh Gia
Bảng 2.9 Tổng hợp kết quả kiểm định tính dừng của các biến bằng kiểm định ADF 45 Bảng 2.10 Kết quả xác định độ trễ tối ưu thông qua mô hình VAR 46
Bảng 2.14 Mức độ phù hợp của việc đầu tư công đối với giáo dục 49 Bảng 2.15 Mức độ đa dạng của các chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư
Bảng 2.17 Vai trò của thanh tra giám sát, trong đầu tư công cho giáo dục 51 Bảng 2.18 Mức độ đánh giá Vai trò của các cấp, các ngành trong đầu tư công cho giáo dục tại địa phương 52 Bảng 2.19 Mức độ phù hợp của đầu tư công cho đội ngũ cán bộ, giáo viên 52
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1 Đầu tư công cho giáo dục theo cấp học trên địa bàn tỉnh Gia
Lai
36
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu đầu tư công cho giáo dục trên địa bàn tỉnh Gia Lai 37 Biểu đồ 2.3 Nguồn vốn đầu tư theo cấp học địa bàn tỉnh Gia Lai 38
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu đề tài 5
7 Bố cục trình bày 7
CHƯƠNG 1 :CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG TRONG
LĨNH VỰC GIÁO DỤC 7
1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư công 7
1.2 Cơ sở lý luận về đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục 15
1.3 Cơ sở lý luận về hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục 18
1.4 Bài học kinh nghiệm về hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục ở
một số tỉnh thành 25
CHƯƠNG 2 :PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CÔNG TRONG LĨNH
VỰC GIÁO DỤC TẠI TỈNH GIA LAI 32
2.1 Giới thiệu tổng quan tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh Gia Lai 32
2.2 Tổng quan hoạt động đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục tại Gia Lai 35
2.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục tại
Gia Lai 40
2.4 Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của quá trình thực hiện đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục ở Gia Lai trong thời gian qua 54
Trang 73.1 Mục tiêu, định hướng đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Gia Lai 58
3.2 Cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công trong
lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Gia Lai……….58
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh
Gia Lai 59
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cần thiết của đề tài
Đầu tư nói chung và đầu tư trong giáo dục nói riêng đang còn nhiều bất cập Mới đây, tại kỳ họp Quốc hội, nhiều hạn chế, tồn tại trong đầu tư đã được nêu
ra, trong đó có nhiều ý kiến tập trung vào vấn đề thất thoát, lãng phí nguồn vốn Đầu tư trong giáo dục mặc dù là lĩnh vực đầu tư đặc thù song có quan hệ tới Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Giáo dục nên những vướng mắc, khó khăn, tồn tại hạn chế trong quan hệ đầu tư là không thể tránh khỏi Do đó, hiệu quả đầu tư chưa được phát huy tối đa, thậm chí đây đó còn xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí Trong bối cảnh hiện nay, nhất là trong thời điểm giáo dục nước nhà đang gặp nhiều khó khăn, việc đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả, chất lượng đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là điều kiện rất căn bản để tạo động lực vực dậy nền giáo dục nước nhà, đi tới xây dựng nền “giáo dục sạch” (Bùi Trần Phượng), công khai, minh bạch và có các điều kiện cơ bản để người học phát huy tối đa năng lực
Trong những năm qua, Ngành giáo dục của tỉnh Gia Lai liên tiếp mở rộng quy
mô, cải thiện về chất lượng đào tạo, nhất là chất lượng mũi nhọn, cơ sở vật chất đầu
tư công cho công tác dạy và học được chú trọng Bên cạnh những thành tích, kết quả
đó, ngành giáo dục của tỉnh vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: chất lượng giáo dục chưa đồng đều, cơ sở vật chất phục vụ dạy và học một số nơi chưa đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới; một số trường, sĩ số lớp học chưa đạt theo quy định… Những hạn chế, tồn tại nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân
từ chất lượng, hiệu quả đầu tư trong giáo dục Do đó, đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trong giáo dục là cách thức cụ thể, thiết thực nhất để khắc phục các tồn tại, hạn chế, đồng thời tạo động lực để ngành giáo dục của tỉnh ngày càng phát triển toàn diện, gặt hái được nhiều kết quả hơn Từ những lý do trên, tác giả chọn đề
Trang 9tài“Nâng cao hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục trên địa bàn tỉnh Gia Lai” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hoạt động đầu tư công và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục tại Gia Lai
2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư công;
Đánh giá thực trạng đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong giai đoạn 2005 – 2016;
Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục trên địa bàn tỉnh Gia Lai
3 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục trên địa bàn tỉnh Gia Lai thời gian qua như thế nào?
Hoạt động đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục trên địa bàn tỉnh Gia Lai thời gian qua có mang lại hiệu quả không?
Các giải pháp nào được đề xuất để nâng cao hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục trên địa bàn tỉnh Gia Lai?
4 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Năm 1991, trên Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (số 5), tác giả Nguyễn Hồng
Sơn viết bài "Chính sách đầu tư cho giáo dục - nhìn từ góc độ thực tiễn" Đi lên từ những khảo sát cụ thể về đầu tư cho giáo dục, tác giả đã khẳng định việc đầu tư cho giáo dục đã được quan tâm song vẫn còn đó nhiều hạn chế, bất cập
Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, năm 1993 (số 03), tác giả Nguyễn Quang Kính
cho đăng bài "Một số đề xuất về đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo" Với quan sát của một người quan tâm tới ngành giáo dục và đào tạo, tác giả Nguyễn Quang Kính đã đề xuất 3 vấn đề cơ bản mà ngành giáo dục lúc đó đang quan tâm là:
Trang 10đổi mới công tác quản lý theo hướng chú trọng hiệu quả giáo dục; tăng cường đầu
tư cơ sở vật chất, chú trọng xây dựng các trường điểm; phân khai nguồn vốn hợp lí,
có sự ưu tiên cho các mục tiêu trước mắt
Tác giả Trần Xuân Hải năm 2001 bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Kinh tế
với đề tài Giải pháp tạo vốn đầu tư phát triển sự nghiệp đào tạo giai đoạn hiện nay
ở Việt Nam Có thể nói, đây là công trình có quy mô đầu tiên bàn về vấn đề đầu tư
cho giáo dục, đào tạo Trong công trình của mình, tác giả đã giành phần đầu luận án
để bàn về thực trạng đầu tư cho sự nghiệp giáo dục Ở phần sau, tác giả đề ra các giải pháp khai thác nguồn vốn đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo giai đoạn 2001 - 2020
Tác giả Nguyễn Thị Hương trong bài "Một vài suy nghĩ về đầu tư cho giáo
dục", Tạp chí Giáo dục, số 107, năm 2005 đã nêu một số một số vấn đề cơ bản
trong công tác đầu tư cho giáo dục như: Cần hoàn thiện cơ sở lí luận, thực tiễn, cơ chế chính sách và các giải pháp xã hội hóa giáo dục, khuyến khích huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục, phát triển các trường ngoài công lập, mở rộng các quỹ khuyến học
Trên Tạp chí Giáo dục, số 112, năm 2005, tác giả Ngô Văn Hiền đăng bài
"Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục đào tạo thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"
Năm 2012, tác giả Hoàng Anh Tuấn bảo vệ thành công luận văn Phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
đã bàn đến các lĩnh vực, các biểu hiện cơ bản của tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục Trong công trình của mình, tác giả đã giành một số dung lượng trang viết về sự quản lý lỏng lẻo nguồn tài chính, dẫn đến thất thoát, lãng phí Trên thực tế, đấy là sự lãng phí nguồn lực đầu tư vào giáo dục
Trang 11Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Dũng,Từ Quang Phương (2012), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam Tạp chí KT&PT Số 178 (II), tháng 04 năm 2012, trang 3-8 Nghiên cứu đã phân tích tình hình đầu tư công trong những năm qua và đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Nghiên cứu của PGS.TS Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư & ThS Lê Hoàng Phong, “Tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: Góc nhìn thực nghiệm từ mô hình ARDL Tạp chí phát triển và hội nhập Số 19 (29) - Tháng 11-12/2014 Nghiên cứu cho thấy tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn không có ý nghĩa thống kê, nhưng có tác động thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn Tuy nhiên, tác động này là thấp nhất so với đầu tư từ các khu vực khác Từ các phát hiện của nghiên cứu, bài viết đề xuất một vài khuyến nghị hoàn thiện chính sách đầu tư công của VN trong thời gian tới
Như vậy, qua sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu ở trên, có thể thấy: Các tác giả đã làm rõ một số nội dung căn bản xoay quanh vấn đề đầu tư công nói chung và đầu tư công cho giáo dục nói riêng như xác định vai trò của hoạt động đầu tư đối với việc nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo; mục đích, nội dung, hình thức, các yêu cầu cơ bản của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục Áp dụng vào thực tiễn giáo dục Việt Nam hiện nay, các tác giả bước đầu cũng đề xuất một số giải pháp trọng tâm để nâng cao hiệu quả đầu tư như xây dựng cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư cho giáo dục, xác định các lĩnh vực đầu tư trọng điểm, tăng cường quản
lý nguồn vốn, phòng chống tham nhũng…
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vấn đề đầu tư trong lĩnh vực giáo dục hầu hết chỉ mới ở dạng bài viết ngắn, các ý kiến Bởi thế, hầu hết các tác giả mới chỉ đề cập đến vấn đề này một cách khái quát hoặc quan tâm đến một số khía cạnh, một số nội dung mà xã hội quan tâm, chưa bàn một cách đầy đủ các vấn đề liên quan trong đầu
tư trong lĩnh vực giáo dục
Trang 125 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Về thời gian: Thời gian nghiên cứu đề tài từ năm 2005 – 2016
6 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu đề tài
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa tài liệu liên quan để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp Điều tra qua các phiếu hỏi: Số liệu sơ cấp được thu thập từ 140 cán bộ lãnh đạo, giáo viên tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Gia Lai, bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi (thông qua việc chọn mẫu ngẫu nhiên) Bên cạnh đó tiến hành thăm dò lấy ý kiến từ phía các cá nhân là những người có kinh nghiệm công tác lâu năm, nhất là lãnh đạo đơn vị, phòng Tổ chức cán
bộ chuyên môn trong lĩnh vực đầu tư công giáo dục;
Phương pháp chọn mẫu điều tra: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu theo cụm địa lý kết hợp định mức theo tỷ lệ để thu thập số liệu và quan sát Các bước chọn mẫu được tiến hành như sau:
- Bước 1: Căn cứ trên khả năng thực hiện để xác lập cỡ mẫu cần thiết
- Bước 2: Chọn 03 huyện, thành phố, thị xã tại Gia Lai để khảo sát: Chư Sê,
TP Pleiku, thị xã An Khê
- Bước 3: Chọn địa bàn điều tra, trên 30 đối tượng để đảm bảo qui luật số lớn trong việc phân tích thống kê Tổng số mẫu điều tra là 140 mẫu
Phương pháp điều tra, khảo sát: Phỏng vấn trực tiếp bằng các câu hỏi cấu
trúc trong phiếu điều tra được thiết kế sẵn
Trang 13Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến cán bộ, các chuyên gia trong ngành về đầu tư công nói chung và đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục nói riêng
Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp Tổng kết kinh nghiệm giáo dục; Phương pháp Nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
6.3 Phương pháp Thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này để xử lý các số liệu thu được về mặt định lượng bằng phần mềm Eview
6.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Về lý luận: Đề tài hệ thống hoá các cơ sở lý luận về đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
Về thực tiễn: Khảo sát thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực giáo dục của Gia Lai
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư công trong
lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Gia Lai
Trang 14hoặc thúc đẩy mọi thành phần kinh tế (Viện Chính sách Kinh tế Hoa Kỳ , 2011)
Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục
vụ phát triển kinh tế, xã hội (Luật đầu tư công ở Việt Nam)
Các lĩnh vực đầu tư công bao gồm: Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích; Đầu tư của nhà nước tham gia thực hiện theo hình thức đối tác công tư
Vốn đầu tư công gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương
để đầu tư [9, tr25]
1.1.2 Qúa trình hình thành và phát triển
Ngày 8 tháng 10 năm 1955, ngày Hội đồng Chính phủ họp quyết định thành lập Ủy ban Kế hoạch Quốc gia được xác định là ngày thành lập Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 15Ngày 1 tháng 11 năm 1995, Chính phủ đã ra Nghị định số 75/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên
cơ sở hợp nhất Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu
tư
Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về kế hoạch, đầu tư phát triển và thống kê, bao gồm: tham mưu tổng hợp về chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; quy hoạch phát triển, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể; đầu tư trong nước, đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; khu kinh tế (bao gồm cả khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghệ cao và các loại hình khu kinh tế khác); quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt ODA) và viện trợ phi chính phủ nước ngoài; đấu thầu; thành lập, phát triển doanh nghiệp và khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã; thống kê; quản
lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của
Bộ theo quy định của pháp luật
Nhằm tạo lập hệ thống cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, nâng cao hiệu quả đầu tư công, tại kỳ họp thứ 7, ngày 18 tháng 6 năm 2014 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 Ngày 30 tháng 6 năm 2014, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 14/2014/L-CTN công bố Luật Đầu tư công.Luật Đầu tư công sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.Luật Đầu tư công quy định nhiều nội dung đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn đầu tư công và phù hợp với các thông lệ quốc tế Luật Đầu tư công được kết cấu thành 6 chương với 108 điều Phạm vi điều chỉnh Luật quy định việc quản lý và sử dụng các nguồn vốn đầu tư công Các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động đầu tư công, quản lý và sử dụng vốn đầu tư công thuộc đối tượng áp dụng của Luật
1.1.3 Đặc điểm của đầu tư công
Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có một vai trò rất lớn trong đầu tư công để tạo những bước đột phá phát triển đất nước Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều
Trang 16thành phần thì khu vực tư nhân trong nước và khu vực nước ngoài cũng tham gia đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình thức thích hợp (ví dụ như BOT, BTO, BT, )
Đầu tư công của ngân sách nhà nước là khoản chi tích lũy: Chi đầu tư công trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản
cố định cho nền kinh tế quốc dân Vấn đề này thể hiện rõ nét thông qua việc nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như: giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục…Sự tăng lên về số lượng và chất lượng của hàng hoá công này là
cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: phát triển cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài và tạo động lực, cú hích cho sự tăng trưởng [9]
Quy mô và cơ cấu chi đầu tư công của ngân sách nhà nước không cố định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ
và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Theo kinh nghiệm phát triển cho thấy, trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, quy mô chi đầu tư công của ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng đầu tư xã hội
Ở giai đoạn này, do khu vực kinh tế tư nhân còn yếu trong khi chính sách thu hút vốn đầu tư chưa hoàn thiện nên nhà nước phải tăng cường quy mô đầu tư từ ngân sách nhà nước để tạo đà cho tiến trình công nghiệp hoá Đi đôi với sự gia tăng quy mô thì cơ cấu chi đầu tư cũng rất đa dạng để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đặt
ra, như chi hỗ trợ, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội…Quy mô chi đầu tư công của nhà nước sẽ giảm dần theo mức độ thành công của chiến lược công nghiệp hoá và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Khi đó chi đầu tư phát triển của nhà nước chủ yếu tập trung vào điều chỉnh nhằm đạt tới sự ổn định của kinh tế vĩ mô và các khoản chi cho vay chỉ định, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội sẽ được cắt giảm
Trang 17Chi đầu tư công phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư: Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu tư Sự gắn kết giữa 2 nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, không tình đến hiệu quả khai thác
Nội dung chi đầu tư công gồm 4 lĩnh vực: Chi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước; chi cho quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; chi dự trữ nhà nước Trong đó, chi đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và được thực hiện theo phương thức không hoàn trả Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của nhà nước hướng vào củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng [9, tr49]
Thực chất loại chi này nhằm đảm bảo tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất
mở rộng tài sản cố định cho các ngành sản xuất vật chất và không sản xuất, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Sự tham gia của nhà nước vào các lĩnh vực nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, bởi nó nhằm kích thích đầu tư, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh đồng thời tạo ra các trung tâm kinh tế
1.1.4 Nguồn vốn cho đầu tư công
Một là nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách: Căn cứ vào mục đích của
các khoản chi thì nội dung chi đầu tư phát triển của NSNN bao gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và các khoản chi không có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản Chi đầu
tư xây dựng cơ bản là khoản chi lớn của NSNN, là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Ngoài việc tạo ra cơ sở vật chất
kỹ thuật, năng lực sản xuất phục vụ và vật tư hàng hoá dự trữ cần thiết của nền kinh
tế Chi đầu tư phát triển từ NSNN còn có ý nghĩa là vốn mồi để thu hút các nguồn
Trang 18vốn trong nước và ngoài nước vào đầu tư phát triển theo định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ Quy mô và tỷ trọng chi NSNN cho đầu tư phát triển trong từng thời kỳ phụ thuộc vào chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và khả năng nguồn vốn NSNN Nhìn chung các quốc gia luôn có sự ưu tiên NSNN cho chi đầu tư phát triển, nhất là các quốc gia đang phát triển, cơ sở hạ tầng còn thấp kém Thứ tự và tỷ trọng ưu tiên chi đầu tư phát triển của NSNN từng lĩnh
vực kinh tế - xã hội thường có sự thay đổi giữa các thời kỳ
Hai là nguồn vốn trái phiếu chỉnh phủ: Trái phiếu chính phủ (TPCP) được
phát hành cho mục đích đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Trung ương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước Đây là nguồn vốn bổ sung, hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng hàng năm của nhà nước bên cạnh các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, có tính chất tập trung cao nhằm hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo mục tiêu, chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội ở từng giai đoạn, từng thời kỳ Toàn bộ số tiền thu được từ phát hành trái phiếu chính phủ đều được tập trung vào ngân sách Trung ương để sử dụng theo
đúng mục đích phát hành theo quy định của pháp luật
Ba là nguồn vốn tín dụng nhà nước: Nguồn tín dụng ngân hàng là một kênh
huy động vốn quan trọng cho đầu tư công Nhưng do đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội cần một nguồn vốn lớn nhưng thu hồi vốn chậm hoặc không có khả năng thu hồi vốn, nên rất ít các ngân hàng thương mại đầu tư vốn trực tiếp để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, mà nguồn vốn này tập trung chủ yếu ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam, tổ chức tài chính thuộc sở hữu 100% của Chính phủ và hoạt
động không vì mục tiêu lợi nhuận
Bốn là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA: Nguồn vốn này gồm
các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi, được phân bổ theo công trình, dự án Chính phủ lên danh sách các lĩnh vực kêu gọi vốn viện trợ phát triển, hàng năm chính phủ họp với nhà tài trợ để kêu gọi tài trợ, các nhà tài trợ sẽ xác định
lĩnh vực cần viện trợ, xây dựng dự án và tài trợ theo dự án
Trang 19Đây là một trong những nguồn vốn quan trọng của Nhà nước, sử dụng cho những mục tiêu ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội Năm lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA bao gồm: phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, thuỷ sản kết hợp xóa đói, giảm nghèo); xây dựng hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại; xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục và đào tạo, dân số và phát triển và một số lĩnh vực khác); bảo vệ môi truờng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên và; tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai
Năm là nguồn vốn đầu tư từ DNNN: Đây cũng là một nguồn vốn đầu tư phát
triển vô cùng quan trọng do tiềm lực kinh tế của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước rất lớn, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Sáu là nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và khu vực tư nhân: Do nguồn
vốn có hạn, nên ngân sách nhà nước chỉ có thể đầu tư cho các lĩnh vực, công trình trọng điểm, các vùng nông thôn, miền núi, vùng khó khăn, còn lại Nhà nước khuyến khích mạnh mẽ xã hội hóa, thông qua các cơ chế, chính sách động viên các cá nhân,
tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đầu tư xây dựng, quy hoạch, phát triển kết cấu hạ tầng là mục tiêu hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững
Nguồn vốn FDI và các nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chủ yếu dưới các hình thức đầu tư sử dụng các nguồn vốn tư nhân, nguồn vốn hỗn hợp nhà nước - tư nhân cho các công trình, dự
án BOT, BT, BTO v.v… nhằm mở rộng huy động đầu tư toàn xã hội để phát triển
hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
1.1.5 Vai trò và ý nghĩa của đầu tư công
Đầu tư công có ý nghĩa xã hội rất lớn trong định hướng phát triển chung của đất nước, do đó, nếu chỉ tính hiệu quả kinh tế đơn thuần thì sẽ không chính xác, mà phải tính hiệu quả cả trong xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, an sinh xã hội
Kết cấu hạ tầng là đối tượng chính của đầu tư công, là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ
Trang 20bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục Kết cấu hạ tầng cũng được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội được diễn ra một cách bình thường.Toàn bộ kết cấu
hạ tầng có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau Cụ thể như:
Nếu căn cứ theo lĩnh vực kinh tế -xã hội thì kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế, kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xã hội và kết cấu hạ tầng phục vụ an ninh quốc phòng Tuy nhiên, trên thực tế, ít có loại kết cấu hạ tầng nào chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại
Nếu căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân thì kết cấu hạ tầng
có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng trong công nghiệp, trong nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, xây dựng, hoạt động tài chính, ngân hàng,
y tế, giáo dục, văn hoá xã hội…
Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ thì kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng đô thị, kết cấu hạ tầng nông thôn; kết cấu hạ tầng kinh tế biển (ở những nước có kinh tế biển, và nhất là khi kinh tế biển lớn như nước ta), kết cấu hạ tầng đồng bằng, trung du, miền núi, vùng trọng điểm phát triển, các thành phố lớn…
Kết cấu hạ tầng trong mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi khu vực bao gồm những công trình đặc trưng cho hoạt động của lĩnh vực, ngành, khu vực và những công trình liên ngành đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống Trong nhiều công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng, các tác giả thường phân chia kết cấu hạ tầng thành 2 loại cơ bản, gồm: kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội
Kết cấu hạ tầng kinh tế: thuộc loại này bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như: năng lượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường ống), bưu chínhviễn thông, các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất
Trang 21nông- lâm –ngư nghiệp…Kết cấu hạ tầng kinh tế là bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải thiện cuộc sống dân cư
Kết cấu hạ tầng xã hội: xếp vào loại này gồm nhà ở, các cơ sở khoa học, trường học, bệnh viện, các công trình văn hoá, thể thao… và các trang, thiết bị đồng
bộ với chúng Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Như vậy, kết cấu hạ tầng xã hội là tập hợp một
số ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con người cả về thể chất lẫn tinh thần
Với tính chất đa dạng và thiết thực, kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia cũng như vùng lãnh thổ.Có kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững.Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, phát triển kết cấu hạ tầng có tác động tích cực đến phát triển kinh tế-xã hội ở cả các nước phát triển và đang phát triển.Trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng đến trình độ phát triển của đất nước, có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và công tác xoá đói giảm nghèo
Nghiên cứu về tác động của việc phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam, tác giả Phạm Thị Tuý (2006) đã phát hiện ra sáu tác động quan trọng sau đây:
Kết cấu hạ tầng phát triển mở ra khả năng thu hút các luồng vốn đầu tư đa dạng cho phát triển kinh tế-xã hội;
Kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại là điều kiện để phát triển các vùng kinh tế động lực, các vùng trọng điểm và từ đó tạo ra các tác động lan toả lôi kéo các vùng liền kề phát triển;
Kết cấu hạ tầng phát triển trực tiếp tác động đến các vùng nghèo,hộ nghèo thông qua việc cải thiện hạ tầng mà nâng cao điều kiện sống của hộ
Trang 22Phát triển kết cấu hạ tầng thực sự có ích với người nghèo và góp phần vào việc giữ gìn môi trường;
Đầu tư cho kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông nông thôn,đem đến tác động cao nhất đối với giảm nghèo; và Phát triển kết cấu hạ tầng tạo điều kiện nâng cao trình độ kiến thức và cải thiện tình trạng sức khoẻ cho người dân, góp phần giảm thiểu bất bình đẳng về mặt xã hội cho người nghèo
Tóm lại, kết cấu hạ tầng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia, tạo động lực cho sự phát triển.Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội
Ngược lại, một hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển là một trở lực lớn đối với sự phát triển Ở nhiều nước đang phát triển hiện nay, kết cấu hạ tầng thiếu và yếu đã gây ứ đọng trong luân chuyển các nguồn lực, khó hấp thụ vốn đầu tư, gây ra những “nút cổ chai kết cấu hạ tầng” ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế
Thực tế trên thế giới hiện nay, những quốc gia phát triển cũng là những nước
có hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ và hiện đại Trong khi đó, hầu hết các quốc gia đang phát triển có hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển.Chính vì vậy, việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đang là ưu tiên của nhiều quốc gia đang phát triển
1.2 Cơ sở lý luận về đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm
Đầu tư là sự chi tiêu nguồn lực hiện tại để thực hiện một hoạt động nào đó nhằm thu được lợi ích nhất định trong tương lai lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra
Đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục là việc sử dụng nguồn vốn nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển ngành giáo dục, không nhằm mục đích kinh doanh Như vậy đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục nói chung là đầu
tư phát triển Nó có đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư khác ở chỗ là:
Dưới góc độ kinh tế học đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục là đầu tư để cải thiện và nâng cao chất lượng của vốn nhân lực thông qua việc đào tạo nhân lực có
Trang 23trình độ có kỹ năng cao Về khoa học - kỹ thuật và có năng lực trí tuệ sáng tạo thích ứng nhanh với sự thay đổi của sự phát triển kinh tế - Xã hội
Mục tiêu của đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục không đơn thuần làm tăng thu nhập cho các nhà đầu tư mà còn nhằm thực hiện các mục tiêu Xã hội khác và tạo nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế
Đầu tư (Chi phí) cho giáo dục chịu ảnh hưởng có tính quyết định bởi các yếu
tố bên trong và bên ngoài trường học (các cơ sở đào tạo)
Việc đánh giá hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục phải được nhìn nhận trên góc độ hiệu quả kinh tế - Xã hội tổng hợp và dài hạn
Những đặc điểm trên có ảnh hưởng rất lớn đến qui mô cách thức thu hút và
Sử dụng vốn đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
1.2.2 Sự cần thiết phải đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
Ngành giáo dục - đào tạo muốn phát triển được và đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ mới, nhất thiết phải được đầu tư cả về sức người lẫn sức của Có thể hiểu đầu tư cho giáo dục - đào tạo là hành động bỏ tiền ra để tiến hành hoạt động nhằm tạo tài sản mới cho nền kinh tế nói chung và cho ngành giáo dục - đào tạo nói riêng Giáo dục - đào tạo vừa gắn với yêu cầu phát triển chung của đất nước, vừa phù hợp với
xu thế phát triển của thời đại
Phát triển giáo dục chính là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo con người có văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động
tự chủ, sáng tạo Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục - đào tạo là nhằm xây dựng những con người XHCN, ý chí kiên cường trong xây dựng và bảo vệ tỗ quốc; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và có khả năng tiếp thu văn hóa nhân loại; phát huy tiềm nảng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng
và phát huy tinh thần ham học hỏi của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, tác phong công nghiệp, có tổ chức kỷ luật cao; có sức khỏe, là người kế thừa xây dựng CNXH Giữ vững mục tiêu XHCN trong nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo, trong các chính sách nhất là chính sách công bằng xã hội Tiếp tục phát huy những ảnh hường
Trang 24tích cực, hạn chế ảnh hường tiêu cực của nền kinh tế thị trường đối với giáo dục đào tạo.Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu.Giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là những nhân tố cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội.Thực hiện các chính sách tiền lương.Có các giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục
Trong quá trình triển khai thực hiện các quy định về đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục nảy sinh một số điểm chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tiễn, một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho rõ ràng hơn, dễ hướng dẫn, dễ thực hiện Những sửa đổi, bổ sung các quy định về đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục tạo cơ
sở cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, thực hiện chế độ chính sách đối với người học, tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn
1.2.3 Quy định pháp luật về đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21/4/2017 quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục Nghị định quy định việc thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể; cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục đối với: Cơ sở giáo dục mầm non; cơ sở giáo dục phổ thông; cơ sở giáo dục thường xuyên; trường chuyên biệt; trường đại học, học viện; thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể trường trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm; đăng ký, đăng ký bổ sung hoạt động giáo dục nghề nghiệp đối với nhóm ngành đào tạo giáo viên; cấp, thu hồi, đình chỉ giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp đối với nhóm ngành đào tạo giáo viên trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng
Nghị định cũng quy định thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục; đăng ký bổ sung hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục; đình chỉ hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục; giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; đăng ký cấp giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ tư vấn
du học; đình chỉ kinh doanh dịch vụ tư vấn du học, thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ tư vấn du học;
Trang 251.3 Cơ sở lý luận về hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
1.3.1 Khái niệm hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
Để hiểu khái niệm về hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục, trước hết
ta sẽ tìm hiểu các khái niệm liên quan là khái niệm về hiệu quả và hiệu quả đầu tư công:
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của đơn vị cũng như của nền kinh tế để thực hiện tốt nhất các mục tiêu đề ra với mức chi phí thấp nhất và được lượng hóa bằng cách so sánh giữa kết quả đầu ra
và chi phí đầu vào
Từ khái niệm trên, hiệu quả đầu tư công có thể được định nghĩa như sau: Hiệu quả đầu tư công là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn vốn của Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án có hiệu quả cao nhất nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước với chi phí thấp nhất
Hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục phản ảnh trình độ sử dụng nguồn vốn của Nhà nước để đầu tư vào lĩnh vực giáo dục có hiệu quả cao nhất nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển giáo dục của đất nước với chi phí thấp nhất
1.3.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
Đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục là một trường hợp riêng của hoạt động đầu tư công Một hoạt động đầu tư diễn ra có sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau, đem lại kết quả của hoạt động đầu tư đó Đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
là hoạt động đầu tư bằng vốn của Nhà nước cho các dự án giáo dục mang lại lợi ích cho toàn xã hội, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện và hiệu quả của hoạt động đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục.Các nhân tố này bao gồm khách quan, chủ quan Đó là các yếu tố do tự nhiên mang lại, các loại rủi ro có thể đo lường trước, không lường trước; là các yếu tố do con người mang lại như trình độ chuyên môn của các nhà quản lý, các điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật.,…
Trang 261.3.2.1 Nhân tố khách quan
Đó là các nhân tố không lường trước như thiên tai, các rủi ro từ sự biến động của nền kinh tế thế giới, của cả nước tác động tới địa phương một cách trực tiếp hay gián tiếp, các chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô của Nhà nước, các chiến lược về kinh
tế như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển ngành giáo dục Các nhân tố khách quan này có tác động đối với ngành giáo dục, vì vậy phải tính toán, lường trước các rủi ro để giảm thiểu các thiệt hại có thể xảy ra
Thứ nhất: Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội:
Sự ổn định về kinh tế - chính trị - xã hội là nhân tố quan trọng, có tác động lớn tới hiệu quả sử dụng vốn tại các dự án đầu tư trong lĩnh vực giáo dục bằng ngân sách nhà nước Môi trường chính trị-xã hội ổn định, nền kinh tế tăng trưởng ổn định, ít lạm phát có thể kiểm soát sẽ tạo ra cho các nhà đầu tư một tâm lý yên tâm trong quá trình huy động và sử dụng vốn, do đó vốn nhà nước có điều kiện được bảo toàn và phát triển Nền kinh tế nước ta mới chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường - một cơ chế kinh tế luôn được quan niệm là năng động, nhưng dễ bất ổn định, chứa đựng nhiều cơ hội và cả những khó khăn Trong thời gian qua, do nhiều
lý do như ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế khu vực, thiên tai khiến môi trường kinh
tế nước ta chưa thực sự ổn định Mặt khác, môi trường kinh tế hiện nay của nước ta còn đang thiếu nhiều yếu tố cần thiết để tạo điều kiện cũng như tạo động lực cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Tiềm lực tài chính của Nhà nước, quy mô, chất lượng và hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục Tiềm lực tài chính lớn là điều kiện tiên quyết để thực hiện các chương trình,dự án giáo dục phong phú, thực hiện các mục tiêu dài hạn Ngược lại, nguồn tài chính hạn hẹp hoặc cung cấp không đủ, không đúng thời hạn thì khó có thể thực hiện được mục tiêu, dễ có nguy cơ kéo dài Tiềm lực tài chính của Nhà nước phụ thuộc vào quy mô ngân sách, luật sử dụng ngân sách, khả năng hoàn trả (vốn ODA, trái phiếu chính phủ, quan hệ giữa các nhóm lợi ích )
Các nhân tố trên đây đều tác động lớn tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại các dự án đầu tư trong lĩnh vực giáo dục sử dụng Ngân sách nhà nước Bởi vậy việc
Trang 27nghiên cứu tác động của từng nhân tố cũng như tác động tổng hợp của các nhân tố tới hoạt động quản lý vốn nhà nước là hết sức cần thiết Từ đó tìm ra được các nguyên nhân dẫn đến những bất hợp lý trong hoạt động quản lý vốn nhà nước, đưa
ra những đề xuất để hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng vốn nhà nước trong các
dự án đầu tư trong lĩnh vực giáo dục phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội
Thứ hai: Các chính sách kinh tế của Trung ương và địa phương:
Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động lớn nhất đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Các chính sách này gồm chính sách định hướng phát triển kinh tế như: Chính sách công nghiệp hoá - hiện đại hoá, các chính sách về ưu đãi (bao gồm
cả đối với các nguồn vốn từ nước ngoài), chính sách thương mại, chính sách về tiền lương, chính sách phát triển giáo dục và các chính sách làm công cụ điều tiết vĩ
mô hoặc vi mô như: Chính sách tài khoá (công cụ chủ yếu là chính sách làm công
cụ điều tiết của Chính phủ), chính sách tiền tệ (công cụ là chính sách lãi suất và mức cung ứng tiền) chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách khấu hao
Các chính sách kinh tế tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu tư, góp phần tạo ra một cơ cấu hợp lý hay không cũng tác động làm giảm hoặc tăng thất thoát vốn đầu tư, theo đó mà vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả hoặc kém hiệu quả Trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành,các chính sách kinh tế tác động làm cho các đối tượng này phát huy tác dụng tích cực hay tiêu cực, vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp
Khi đã lựa chọn mô hình chiến lược công nghiệp hoá đúng, nếu các chính sách kinh tế được xác định phù hợp có hệ thống, đồng bộ và nhất quán thì sự nghiệp công nghiệp hoá sẽ thắng lợi, vốn đầu tư sẽ mang lại hiệu quả sử dụng cao Nếu các chính sách kinh tế phù hợp với mô hình chiến lược công nghiệp hoá thì tạo điều kiện cho sự thành công của công nghiệp hoá, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả
Trang 281.3.2.2 Nhân tố chủ quan
Công tác tổ chức quản lý vốn đầu tư và quản lý dự án đầu tư: Công tác này không chỉ ở một địa phương riêng lẻ, mà nó được phân cấp từ trung ương đến địa phương Hệ thống quản lý có tác động mạnh tới hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và kết quả của các dự án đầu tư trong lĩnh vực giáo dục cũng như công cuộc đầu tư nói chung
Tổ chức quản lý đầu tư xây dựng là một lĩnh vực rất rộng, bao gồm nhiều nội dung nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng, của địa phương trong từng thời kỳ, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao vật chất đời sống tinh thần của nhân dân
Sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư do Nhà nước quản lý, chống thất thoát lãng phí Bảo đảm xây dựng dự án theo quy hoạch xây dựng yêu cầu bền vững, mỹ quan, bảo vệ môi trưưòng sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, áp dụng công nghệ tiên tiến, đảm bảo chất lượng và tiến độ, an toàn và hiệu quả của dự án
Việc tổ chức quản lý chặt chẽ theo đúng trình tự thực hiện dự án đối với các
dự án thuộc nguồn vốn NSNN, vốn tín dụng do các Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước và vốn trong doanh nghiệp nhà nước Quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước phải được phân cấp rõ ràng, chủ đầu tư,
tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư và xây dựng nhằm sử dụng có hiệu qủa vốn đầu tư Theo đó, nội dung quản lý vốn đầu tư trong lĩnh vực giáo dục bao gồm:
Phân loại các dự án đầu tư theo tính chất và quy mô đầu tư của các dự án trong lĩnh vực giáo dục, dự báo các cân đối vĩ mô
Công tác giám định đầu tư các dự án trong lĩnh vực giáo dục cho cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư
Trang 29Công tác xây dựng cơ chế chính sách về quản lý quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn quy phạm, quy chuẩn trong lĩnh vực xây dựng, quy trình thiết kế xây dựng, các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng, hệ thống định mức chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí tư vấn, xây dựng đơn giá,
Công tác chuẩn bị đầu tư, thăm dò thị trường, thu nhập tài liệu, môi trường sinh thái, điều tra khí tượng thuỷ văn, lập dự án đầu tư, điều tra, khảo sát thiết kế,
Công tác đấu thầu xây dựng theo quy chế
Công tác tổ chức chuẩn bị thực hiện dự án, quản lý thi công, triển khai thực hiện dự án đầu tư
Công tác kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn đầu tư
Nhóm nhân tố này ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, trước hết là tác động đến việc tạo ra kết quả đầu tư
1.3.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
1.3.3.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
Với sự đa dạng về lợi ích thu về, do vậy, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu
tư công cũng đa dạng, phong phú, gồm cả góc độ vĩ mô và vi mô; cả định tính và định lượng Tùy thuộc vào mục đích chính trị mà mỗi quốc gia, địa phương lựa chọn cho mình hệ thống những chỉ tiêu khác nhau Dưới đây là một số những chỉ tiêu chủ yếu thường được sử dụng:
Chỉ tiêu định tính như: sự hài lòng của người dân đối với các dự án xã hội; mức độ phù hợp với xu thế phát triển xã hội của dự án; chuỗi các đối tượng thụ hưởng dự án…
Chỉ tiêu định lượng: Hệ số ICOR, mô hình VECM và phương pháp Hàm sản xuất Cobb-Douglas là những chỉ tiêu định lượng được sử dụng phổ biến để đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư công Cụ thể như sau:
Mô hình VECM
Trang 30Mô hình VECM là mô hình kinh tế thường được dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam Mô hình này giúp xác định được mối quan hệ dài hạn giữa các biến như: GDP, PI…
Công thức tính:
Trong đó: GDP - Tổng sản phẩm quốc nội; PI- đầu tư của khu vực nhà nước;
ECT - phần hiệu chỉnh sai số;
Phương pháp hàm sản xuất Cobb-Douglas (MP)
Đây là phương pháp mới đang dần được ứng dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư công.Phương pháp hàm sản xuất đã được sử dụng phổ biến tại nhiều nước để đánh giá hiệu quả đầu tư công.Tuy nhiên, tại Việt Nam việc áp dụng phương pháp này vào đánh giá hiệu quả đầu tư lại chưa được nghiên cứu nhiều Nội dung cơ bản của phương pháp này như sau:
Để đánh giá hiệu quả đầu tư của khu vực nhà nước đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế ta sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas có dạng:
Trong đó:
A: Công nghệ Y: GDP của toàn nền kinh tế K1: Tích lũy vốn của khu vực khác (tổng tích lũy vốn trừ tích lũy vốn khu vực nhà nước)
K2: Tích lũy vốn khu vực nhà nước L: Lao động
Lấy vi phân hàm sản xuất theo lợi tức của khu vực nhà nước ta có:
Trang 31(Với MP là sản phẩm cận biên của khu vực nhà nước)
Ở đây, chỉ số MP là lợi tức một ngành sản xuất hay của một khu vực Về một khía cạnh nào đó có thể được coi như chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của khu vực hay ngành đó Trong trường hợp này là hiệu quả đầu tư của khu vực nhà nước
Tương tự, để đánh giá hiệu quả đầu tư công của một ngành cụ thể, ta thay các số liệu về tích lũy vốn và lao động của ngành đó vào công thức của hàm Cobb-Douglas Phương pháp hàm sản xuất Cobb-Douglas có ưu điểm là việc áp dụng khá đơn giản và thuận tiện, có thể áp dụng được để đánh giá trong từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế ở Việt Nam, phương pháp này sẽ gặp khó khăn nếu dùng đề đánh giá hiệu quả đầu tư cơ sở hạ tầng bởi Việt Nam chưa tách được số liệu đầu tư cơ sở hạ tầng thành một số liệu riêng
1.3.3.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
* Tiêu chí đánh giá chung về xã hội
- Các chương trình, dự án đầu tư trong giáo dục có mang lại những lợi ích xã hội sau: Cải thiện điều kiện giảng dạy và học tập cho ngành giáo dục trên địa bàn; tăng nhu cầu việc làm, thu nhập cho giáo viên, cán bộ công nhân viên, nâng cao điều kiện và tăng chất lượng học tập trên địa bàn; Tạo điều kiện nâng cao và phát triển nguồn nhân lực địa phương
- Mức độ hoàn thành mục tiêu mà dự án, chương trình trong lĩnh vực giáo dục có trách nhiệm thực hiện? Lợi ích của dự án, chương trình giáo dục có thể đánh giá bằng cách trả lời các câu hỏi: Tình hình sẽ như thế nào nếu dự án, chương trình đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục không được triển khai? Sản phẩm mà dự án, chương trình đầu tư công trong giáo dục mang lại là gì?
- Đánh giá chi phí phải bỏ ra cho các chương trình dự án đầu tư công trong giáo dục: Có thể có phương án khác hoặc dự án khác thấp hơn dự án này trong khi vẫn đạt được mục tiêu của dự án này hay không? Chi phí triển khai có hợp lý và
Trang 32nằm trong dự toán không? Chi phí phát sinh có thuyết minh được không? Các khoản chi của dự án có khoản nào có thể giảm thấp hơn không?
- Hiệu quả xã hội chỉ mang tính chất bổ sung và có thể đánh giá bằng phương pháp giám định
* Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý các chương trình, dự án đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục
- Tổ chức bộ máy QLDA có phù hợp với quy chế, yêu cầu và mục tiêu của dự
án đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục?
- Bộ máy quản lý có thực sự gọn nhẹ, vận hành hiệu quả?
- Quy trình và hạt động quản lý có tuân thủ quy định hiện hành không?
- Trình độ đội ngũ, nhân lực có đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của dự án?
* Tiêu chí tỷ lệ hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư công
Được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa vốn thực tế giải ngân trong các chương trình, kế hoạch, dự án đầu tư công cho giáo dục và vốn đầu tư công cho giáo dục trong kế hoạch hàng năm
1.4 Bài học kinh nghiệm về hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục ở một
số tỉnh thành
1.4.1 Kinh nghiệm TP Hồ Chí Minh
Theo báo cáo của Sở giáo dục TP Hồ Chí Minh năm 2017, số phòng học đã tăng 1,86 lần (so với 2010) để theo kịp số học sinh tăng 1,51 lần Đó là nỗ lực vô cùng lớn của Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện sự quan tâm, đầu tư ưu tiên cho giáo dục của Lãnh đạo Thành phố Đi đầu trong công tác phổ cập giáo dục, TP Hồ Chí Minh đã sớm hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2002 (trong khi cả nước hoàn thành vào năm 2010) Đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương duy nhất hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông (năm 2009) và cũng vừa được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi Hàng năm, Thành phố đều thực hiện rà soát, kiểm tra việc hoàn thành phổ cập ở tất cả 24 quận, huyện Đến nay, 24/24 quận, huyện đã hoàn thành và được UBND TP công nhận đạt chuẩn phổ cập
Trang 33giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; 100% trẻ 6 tuổi vào học lớp 1; tỷ lệ trẻ 11 – 14 tuổi vào học bậc THCS là 97,8%; tỷ lệ trẻ 14 – 17 tuổi theo học bậc THPT là 91%
Trong 40 năm xây dựng và phát triển, Ngành Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiều lần được nhận các loại Huân chương Cờ Thi đua, Bằng khen của Lãnh đạo các cấp để ghi nhận những nỗ lực và thành tích mà các thế hệ nhà giáo, cán bộ quản lý, học sinh, sinh viên Thành phố đã đạt được Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã vinh dự được tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng 3, Huân chương Lao động Hạng 1 và nhiều lần được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; nhận Cờ Thi đua Chính phủ vào các năm 2007 và 2013; nhiều lần nhận Cờ Thi đua, Bằng khen vì các thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban nhân dân Thành phố
Năm 2017, UBND TP Hồ Chí Minh cho phép triển khai Dự án “Đầu tư trang thiết bị hỗ trợ dạy và học cho các trường THPT trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2017” với tổng mức đầu tư 792,157 tỷ đồng và Dự án “Đầu tư trang thiết
bị hỗ trợ dạy và học cho các trường THPT trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2018-2019” với tổng mức đầu tư 753,912 tỷ đồng Toàn ngành Giáo dục – Đào tạo
TP Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục bậc trung học, phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non 5 tuổi Công tác xóa mù chữ được chú trọng, đặc biệt cho đối tượng trên 35 tuổi; tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các Đề án đã được UBND thành phố phê duyệt là Đề án Nâng cao năng lực sử dụng Tiếng Anh cho học sinh phổ thông
và chuyên nghiệp thành phố; Đề án Hỗ trợ giáo dục mầm non Bên cạnh đó, sẽ thực hiện nghiêm Quy định quản lý dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố.Kiên quyết xử lý nghiêm khắc các trường hợp dạy thêm không đúng quy định
Sở Giáo dục – Đào tạo TP Hồ Chí Minh đã được Bộ Giáo dục – Đào tạo phê duyệt chấp thuận cho phép biên soạn bộ Sách Giáo khoa mới phù hợp với thực tiễn thành phố và bám sát chương trình khung Quốc gia Sở đã phối hợp Nhà xuất bản Oxford biên soạn bộ sách tiếng Anh cho học sinh tiểu học phù hợp điều kiện văn hóa, xã hội thành phố
Trang 341.4.2 Kinh nghiệm tại TP Hà Nội
Theo báo cáo, của Sở GD&ĐT Hà Nội, năm học 2015-2016, quy mô giáo dục Hà Nội tiếp tục được ổn định và phát triển mạnh Hiện, toàn thành phố có hơn 2.620 trường, với khoảng 1 triệu 720 nghìn học sinh và khoảng 140 nghìn cán bộ giáo viên các cấp học từ mầm non đến THPT
Tổng số trẻ mầm non ra lớp tiếp tục duy trì và tăng tỷ lệ trẻ mẫu giáo 5 tuổi đạt hơn 99% Tỷ lệ học sinh được học 2 buổi/ ngày tăng hơn so với năm trước 30/30 đơn vị cấp huyện đạt phổ cập chuẩn phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 Chất lượng giáo dục toàn diện và chất lượng giáo dục mũi nhọn có chuyển biến mạnh mẽ và rõ nét Đội ngũ giáo viên được tăng cường đảm bảo chất lượng chuyên môn và năng lực sư phạm Đến nay, toàn thành phố đã phổ cập giáo dục THCS mức
1.4.3 Kinh nghiệm tại tỉnh Quảng Bình
Những năm gần đây sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh không ngừng phát triển Quy mô trường lớp, mạng lưới giáo dục tiếp tục mở rộng; cơ sở vật chất đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; đội ngũ giáo viên đào tạo và đào tạo lại đảm bảo đạt chuẩn, trên chuẩn; chất lượng giáo dục được nâng lên cả về đại trà lẫn mũi nhọn
Toàn tỉnh Quảng Bình hiện có 688 trường và cơ sở giáo dục, bao gồm 254 trường và cơ sở giáo dục mầm non (GDMN), có 76 nhóm trẻ độc lập; 210 trường tiểu học (01 trường tư thục và 03 Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật); 148 trường THCS; 18 trường Tiểu học và THCS (có 06 trường PTDT bán trú); 27 trường THPT (trong đó, có 24 trường THPT, 01 trường THPT Chuyên, 01 trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh, 01 trường THPT kỹ thuật); 06 trường THCS&THPT (có 01 trường tư thục); 01 TTGDTX tỉnh; 08 Trung tâm GD-DN cấp huyện; 01 trường Đại
Trang 35học; 04 trường TCCN; 05 trung tâm ngoại ngữ, 04 trung tâm ngoại ngữ - tin học và
03 trung tâm tin học 159/159 xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh đã thành lập Trung tâm học tập cộng đồng, đạt tỷ lệ 100%
Thời gian qua, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tích cực chỉ đạo thực hiện các Đề
án "Xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia", cơ sở vật chất trường lớp đã được cải thiện theo hướng kiên cố hóa; các trường triển khai xây dựng phòng học bộ môn, phát động giáo viên tích cực làm đồ dùng dạy học, bổ sung thiết bị còn thiếu theo hướng hiện đại hóa Sở cũng đã tích cực tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng hệ thống trường lớp, tăng trưởng cơ sở vật chất Hiện nay, hệ thống mạng lưới trường học cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh.Toàn tỉnh có 266 trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia (12/33 trường THPT, 69/148 trường THCS, 146/207 trường TH, 66/179 trường MN)
Nhằm đảm bảo phát triển giáo dục nhanh và bền vững, đáp ứng kịp tốc độ phát triển chung của xã hội, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành liên quan, đặc biệt là Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục củng cố vững chắc kết quả PCGD MNT5T; nâng cao chất lượng PCGD TH, PCGD THCS và xóa mù chữ gắn với các mục tiêu cụ thể: Tỷ lệ trẻ 5 tuổi đến lớp đạt 99,9%; tỷ lệ trẻ em khuyết tật được tiếp cận giáo dục đạt 69%; 159/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD MNT5T, đạt 100%; 8/8 huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn PCGD MNT5T; tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,9%; tỷ lệ HS lớp 9 TN THCS đạt 99,9%; tỷ lệ người trong độ tuổi 15-
60 biết chữ mức 2 đạt 98,5%; tỉnh đạt chuẩn PCGD MNT5T; đạt chuẩn PCGD TH mức độ 3; PCGD THCS mức độ 2; đạt chuẩn XMC mức độ 2…
1.4.4 Kinh nghiệm tại tỉnh Phú Yên
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, chỉ đạo của Thủ
tướng Chính phủ tại Công thư số 281/LĐCP ngày 06 tháng 9 năm 2016, chỉ đạo của
Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Công văn số 1428/BGDĐT-CSVCTBTH ngày 07/4/2017; UBND tỉnh tỉnh Phú Yên có có văn bản yêu cầu các sở, ngành, địa
Trang 36phương liên quan tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu Sở Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan rà soát, hoàn thiện quy hoạch mạng lưới trường, lớp học phù hợp với điều kiện kinh tế, điều kiện về biến đổi khí hậu và thiên tai, quy mô phát triển giáo dục của địa phương để làm cơ sở cho việc đầu tư Đồng thời, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trong đó đảm bảo quỹ đất để xây dựng các
cơ sở giáo dục phù hợp với quy hoạch mạng lưới trường, lớp học, đảm hiệu quả đầu
tư lâu dài Ưu tiên quỹ đất để xây dựng trường học khi di chuyển thu hồi các kho bãi, khu đất bị bỏ hoang, sử dụng kém hiệu quả ; bố trí quỹ đất tại các khu đô thị mới, khu tái định cư, khu vực đông dân cư để xây dựng trường học; ưu đãi về chính sách đất đai để đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục theo các quy định của Nhà nước; Đánh giá thực trạng cơ sở vật chất hiện có của các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; trên cơ sở đó, xác định nhu cầu xây dựng mới, sữa chữa, cải tạo, với mục tiêu ưu tiên các hạng mục công trình: phòng học, thư viện, nhà vệ sinh, nhà ăn, phòng ở cho học sinh nội trú, học sinh bán trú và đặc biệt chú trọng các vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; Điều chỉnh, bố trí, sắp xếp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất hiện có của các cơ sở giáo dục Kiểm tra và giám sát việc lập kế hoạch, tổ chức quản lý sử dụng, sửa chữa và bảo quản cơ sở vật chất ở các cơ sở giáo dục để đảm bảo khai thác và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục
Ưu tiên ngân sách địa phương, tăng cường huy động nguồn lực xã hội đầu tư
cơ sở vật chất: Dành ngân sách thỏa đáng từ nguồn vốn ngân sách địa phương để đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục; thực hiện lồng ghép có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia (Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020), chương trình mục tiêu của ngành giáo dục (Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2014 - 2015, lộ trình đến năm 2020, Chương trình mục tiêu giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn giai đoạn 2016-2020, Đề án bảo
Trang 37đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt) và các chương trình, dự án, đề án khác
đã được phê duyệt Đồng thời, khuyến khích, huy động đến mức cao nhất mọi nguồn lực, các nguồn vốn trong dân cư, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và các nhà đầu tư dưới nhiều hình thức (góp vốn xây dựng, hiến đất xây dựng, đầu tư xây dựng trực tiếp, cho vay vốn đầu tư xây dựng ) để góp phần giải quyết các khó khăn trong đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục
Bên cạnh đó, xây dựng các chương trình, đề án, dự án ưu tiên đầu tư cho giáo dục nhất là các vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách trên cơ sở quy hoạch mạng lưới trường, lớp học và yêu cầu đảm bảo chất lượng giáo dục và đồng thời xây dựng các đề án huy động nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước để tăng cường đầu tư cho cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục
1.4.5 Bài học kinh nghiệm rút ra
Một là, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong đầu tư công,
hoàn thiện quy hoạch mạng lưới giáo dục trên địa bàn
Hai là, trong bố trí kế hoạch vốn đầu tư phải lựa chọn những dự án trọng điểm
để tập trung vốn đầu tư từ NSNN Chủ trương đầu tư phải hợp lý có lựa chọn và cân nhắc, trong bố trí đầu tư công trong giáo dục tránh bố trí dàn trải, cần tập trung hơn cho các công trình trọng điểm mang tính đột phá góp phần quyết định trong thu hút đầu tư công cho phát triển giáo dục tại địa phương
Ba là, thực hiện nghiêm ngặt đúng trình tự đầu tư công đúng giai đoạn, thực
hiện xong bước trước mới thực hiện bước sau tạo điều kiện quản lý vốn chặt chẽ Bốn là, thực hiện nhiệm vụ phát triển nâng cao đội ngũ nhà giáo; đầu tư cơ sở vật chất; đẩy mạnh phân luồng và định hướng nghề nghiệp cho học sinh các cấp
Tiểu kết chương 1
Chương 1 trình bày một cách tổng quan về đầu tư công, đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục và hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục.Bên cạnh đó chương 1 nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục, tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục Ngoài
Trang 38ra đánh giá bài học kinh nghiệm về hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục ở một số tỉnh thành nhằm tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo ở chương 2
Trang 39CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CÔNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
TẠI TỈNH GIA LAI
2.1 Giới thiệu tổng quan tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh Gia Lai
2.1.1 Nông - Lâm nghiệp
Gia Lai có gần 500.000 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có hơn 291.000 ha đất cho trồng cây hàng năm và hơn 208.000 ha cây lâu năm nên có tiềm năng rất lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp Do tính chất đặc trưng của đất đai và khí hậu, tỉnh Gia Lai có thể bố trí một tập đoàn cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng, có giá trị kinh tế cao; xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung có quy mô lớn với những sản phẩm hàng hóa có lợi thế cạnh tranh Đặc biệt, trong 7 nhóm đất chính của tỉnh, nhóm đất đỏ ba zan có 386.000ha, tập trung chủ yếu vùng tây Trường Sơn (thành phố Pleiku và các huyện Mang Yang, Đăk Đoa, Chư Sê, Chư Pưh, Chư Prông, Đức Cơ, Chư Păh, Ia Grai) có thể canh tác các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, bông vải Các huyện, thị xã phía đông của tỉnh (An Khê, Kbang, Kông Chro, Đăk Pơ, Ayun Pa, Ia
Pa, Phú Thiện, Krông Pa), do chịu ảnh hưởng khí hậu của vùng đồng bằng giáp ranh (Bình Định, Phú Yên) nên thích hợp cho các loại cây trồng ngắn ngày và là vùng nguyên liệu mía chính cung cấp cho hai nhà máy đường An Khê và Ayun Pa với công suất 4.000 tấn mía cây/năm Riêng huyện Đăk Pơ và thị xã An Khê còn là vựa rau, hàng ngày cung cấp trên 100 tấn rau các loại cho các tỉnh thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên Các huyện phía đông nam của tỉnh như Phú Thiện, Ia
Pa và thị xã Ayun Pa, với lợi thế có hồ thuỷ lợi Ayun Hạ, là một trong những vựa lúa của cả khu vực Tây Nguyên Với diện tích 1.112.452,8 ha đất lâm nghiệp, trong
đó, có 773.447,7 ha đất cho rừng sản xuất (chiếm 69,5% diện tích đất lâm nghiệp) nên tỉnh Gia Lai có tiềm năng lớn phát triển lâm nghiệp Hàng năm, các sản phẩm
gỗ khai thác từ rừng (kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng) làm nguyên liệu cho công
Trang 40nghiệp chế biến gỗ, bột giấy với quy mô lớn và chất lượng cao Gia Lai còn có quỹ đất lớn để phát triển rừng trồng, rừng nguyên liệu giấy
2.1.2 Công nghiệp
Trên cơ sở nguồn tài nguyên nông lâm nghiệp và khoáng sản, mở ra triển vọng phát triển các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến nông lâm sản với quy mô vừa và lớn
Trong sản xuất vật liệu xây dựng, trước hết với nguồn đá vôi tại chỗ có thể
phát triển sản xuất xi măng phục vụ cho một phần nhu cầu các tỉnh phía Bắc Tây Nguyên và các tỉnh Đông Bắc Campuchia Hiện có hai nhà máy sản xuất xi măng với công suất 14 vạn tấn/năm, đến nay đã phát huy vượt công suất Với nguồn đá granit sẵn có, phong phú về màu sắc có thể chế biến ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu trong tỉnh và xuất khẩu
Trong chế biến nông lâm sản, với trữ lượng gỗ lớn trong tỉnh và khả năng
nhập khẩu gỗ từ các nước Đông Nam Á đảm bảo ổn định nguyên liệu cho sản xuất chế biến các mặt hàng gỗ lâu dài, chế biến song mây, sản xuất bột giấy
2.1.3 Du lịch - Dịch vụ
Xuất phát từ điều kiện địa lý, là vùng núi cao có nhiều cảnh quan tự nhiên cũng như nhân tạo, nên Gia Lai có tiềm năng du lịch rất phong phú Gia Lai là đầu nguồn của hệ thống sông Ba đổ về miền duyên hải Trung Bộ và hệ thống sông Sê San đổ về Cam-pu-chia cùng nhiều sông, suối lớn nhỏ khác Gia Lai còn có nhiều
hồ, ghềnh thác, đèo và những cánh rừng nguyên sinh tạo nên những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng, mang đậm nét hoang sơ nguyên thủy của núi rừng Tây Nguyên Đó là rừng nhiệt đới Kon Ka Kinh và Kon Chư Răng nơi có nhiều động vật quí hiếm; thác Xung Khoeng hoang dã ở huyện Chư Prông; thác Phú Cường thơ mộng ở Du lịch trên lưng voi huyện Chư Sê Nhiều danh thắng khác như suối Đá, bến Mộng trên sông Pa ở Ayun Pa, Biển Hồ (hồ Tơ Nưng) trên núi mênh mông và phẳng lặng, được ví như là đôi mắt của thành phố Pleiku Nhiều núi đồi như Cổng Trời MangYang, núi Hàm Rồng cao 1.092m ở Chư Prông mà đỉnh là miệng của một núi lửa đã tắt Cảnh quang nhân tạo có các rừng cao su, đồi chè, cà phê bạt