1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc khai thác, sử dụng quyền tác giả tại tòa án

52 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 554,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó có một số đề tài đang chú ý như: đề tài Giải quyết tranh chấp dân sự về quyền tác giả tại Tòa án, năm 2009 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Phương; đề tài Tranh chấp dân sự do xâm p

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

ĐẶNG NGỌC THẮNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH

TỪ VIỆC KHAI THÁC, SỬ DỤNG QUYỀN TÁC GIẢ TẠI TÒA ÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

ĐẶNG NGỌC THẮNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH

TỪ VIỆC KHAI THÁC, SỬ DỤNG QUYỀN TÁC GIẢ TẠI TÒA ÁN

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ĐÌNH HUY

TP HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Người viết xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính người viết, các số liệu, các nội dung hoặc tài liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và có xuất xứ rõ ràng, các phân tích, đánh giá hoặc phát hiện trong luận văn thạc sĩ này là kết quả nghiên cứu của chính người viết

TÁC GIẢ

ĐẶNG NGỌC THẮNG

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3

5 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1 TRANH CHẤP QUYỀN TÁC GIẢ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN TÁC GIẢ TẠI TÒA ÁN 4

1.1 Tranh chấp quyền tác giả 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Tranh chấp về quyền tác giả 7

1.1.3 Giải quyết tranh chấp quyền tác giả 9

1.2 Giải quyết tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án 14

1.2.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền quyền tác giả 14

1.2.2 Người có quyền khởi kiện tranh chấp quyền tác giả 17

1.2.3 Chứng cứ trong việc giải quyết quyền tác giả tại Tòa án nhân dân 18

1.2.4 Giám định trong việc giải quyết quyền tác giả tại Tòa án 20 1.2.5 Xác định mức bồi thường trong việc giải quyết quyền tác giả tại Tòa án20

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN TÁC

GIẢ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 22

2.1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp một số vụ án về quyền tác giả tại Tòa án22 2.2 Một số hạn chế, bất cập và những khó khăn, vướng mắc trong công tác giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền tác giả tại Tòa án 36

2.2.1 Thời gian giải quyết kéo dài 36

2.2.2 Thiếu các biện pháp khẩn cấp tạm thời hữu hiệu đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả 37

2.2.3 Năng lực giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền tác giả chưa đáp ứng được yêu cầu 40

2.2.4 Khó khăn trong việc xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra 40

2.3 Một số kiến nghị 41

KẾT LUẬN 43

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, sự phát triển của khoa học và công nghệ, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đang là một vấn để ngày càng trở nên nóng bỏng Đứng trước yêu cầu đó và thực tế phát triển kinh tế xã hội của nước ta, việc bảo hộ quyền tác giả đang được Nhà nước

ta quan tâm, đặc biệt sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa kỳ được ký kết

và Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong đó quyền sở hữu trí tuệ là một bộ phận quan trọng trong các nội dung

được đem ra đàm phán và Việt Nam ta cần phải cam kết thực hiện

Có mặt trong sân chơi này, cũng có nghĩa là môi trường văn hóa Việt Nam sẽ được thanh lọc, tình trạng vi phạm bản quyền, dùng tác phẩm của người khác để khai thác lợi nhuận sẽ bị loại trừ Khi công sức của mình được công nhận, quyền lợi chính đáng được bảo hộ một cách nghiêm túc, các tác giả sẽ có nhiều động lực để thúc đẩy sự sáng tạo Người Việt Nam sẽ được thưởng thức nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật hay hơn không chỉ vì nguồn lực sáng tạo trong nước được thúc đẩy, mà còn vì chất lượng nguồn tác phẩm nước ngoài vào Việt Nam sẽ được chọn lọc kỹ càng hơn Bởi muốn dịch một tác phẩm của các nước thành viên Công ước sang tiếng Việt để sử dụng ở Việt Nam, người sử dụng phải được sự đồng ý và trả phí sử dụng cho người giữ bản quyền tác phẩm, vì thế, họ sẽ phải nghiên cứu kỹ hơn, cân nhắc chi phí và hiệu quả kinh doanh trước khi quyết định

Bên cạnh đó, hiện nay tình trạng xâm phạm quyền quyền tác đang tiếp tục gia tăng, gây ra những hậu quả xấu đối với phát triển xã hội, việc giải quyết về quyền tác giả hiện nay ở một số Tòa án trong cả nước còn nhiều bất cập, mỗi Tòa

án địa phương giải quyết theo cách này nhưng có Tòa án nơi khác thì giải quyết một cách khác, có khi trong một Tòa án thì có Thẩm phán giải quyết hướng này có Thẩm phán giải quyết ngược lại

Trang 7

Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu một cách sâu rộng và toàn diện về tranh chấp quyền tác giả và thực tiễn áp dụng trong quá trình giải quyết là cần thiết góp phần hoàn thiện hơn các quy định và các đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của việc giải quyết tranh chấp quyền tác giả Vì các lẽ trên tác giả quyết định chọn đề tài “Giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc khai thác, sử dụng quyền tác giả tại Tòa án” để làm luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài "Giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc khai thác, sử dụng tại quyền tác giả tại Tòa án" đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học khai thác trên nhiều

góc độ khác nhau Trong đó có một số đề tài đang chú ý như: đề tài Giải quyết tranh chấp dân sự về quyền tác giả tại Tòa án, năm 2009 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Phương; đề tài Tranh chấp dân sự do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, năm 2014 của tác giả Nguyễn Thị Hường; đề tài Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học dân gian theo pháp luật, năm 2013 của tác giả Nguyễn

Thị Triển và một số bài viết về thực tiễn giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân của thạc sĩ Nguyễn Văn Tiến – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Đề tài luận văn thạc sĩ tác giả đã phân tích nội dung của pháp luật liên quan đến tranh tụng tại Tòa án dưới góc độ lý luận và nêu ra những vướng mắc thực tiễn

áp dụng pháp luật Tuy nhiên, thời điểm nghiên cứu Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và

bộ luật Dân sự năm 2015 chưa được ban hành, những văn bản mới chưa được cập nhật

Do đó, để phân tích đánh giá các quy định của pháp luật về thực trạng tại Tòa án các cấp đang giải quyết các loại án về quyền tác giả để chỉ ra những thiếu sót, quan điểm nhận thức về pháp luật của các Tòa án của các địa phương hiện nay,

đề ra phương pháp hoàn thiện trong việc tranh chấp phát sinh từ việc khai thác, sử dụng tại quyền tác giả tại Tòa án

Trang 8

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Bản luận văn này tác giả tập trung vào vấn đề bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam theo những quy định của pháp luật trong mối tương quan về nội dung pháp lý với thực tiễn giải quyết quyền tác giả của các Tòa án và một số văn bản liên quan

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng thu thập các thông tin về tình hình giải quyết các loại án tranh chấp quyền tác giả, việc các cá nhân, tổ chức đang và đã

có những phản ứng ra sao với việc dần dần phải quen với việc sử dụng sản phẩm có bản quyền… Do đó, tác giả đã dành một phần để quan tâm đến tình hình thực tiễn trên thông tin báo chí Việt Nam hiện nay, cố gắng nhìn nhận vấn đề và đưa ra các giải pháp

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về nhà nước và pháp luật kết hợp với việc sử dụng các phương pháp như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh, đối chiếu Luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật Tố tụng dân sự, các văn bản hướng dẫn

áp dụng pháp luật Tố tụng dân sự, các bản án của Tòa án các cấp qua đó, rút ra những kết luận, đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện các vụ án tranh chấp quyền tác giả về lý luận và thực tiễn áp dụng

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Tranh chấp quyền tác giả và giải quyết tranh chấp quyền tác giả

tại Tòa án

Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án nhân

dân và giải pháp hoàn thiện

Trang 9

CHƯƠNG 1 TRANH CHẤP QUYỀN TÁC GIẢ

VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN TÁC GIẢ TẠI TÒA ÁN 1.1 Tranh chấp quyền tác giả

1.1.1. Khái niệm

Quyền tác giả hay tác quyền (tiếng Anh: copyright) là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa (cũng còn được gọi là tác phẩm) như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh

tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này Một phần người ta cũng nói đó

là sở hữu trí tuệ (intellectual property) và vì thế là đặt việc bảo vệ sở hữu vật chất

và sở hữu trí tuệ song đôi với nhau, thế nhưng khái niệm này đang được tranh cãi gay gắt Quyền tác giả không cần phải đăng ký và thuộc về tác giả khi một tác phẩm được ghi giữ lại ít nhất là một lần trên một phương tiện lưu trữ Quyền tác giả thông thường chỉ được công nhận khi sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả

và có thể chỉ ra được là có tính chất duy nhất

Quyền tác giả tại Việt Nam đã được quy định chi tiết trong Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả Theo đó, Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với

tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu1 Việc ban hành Luật sở hữu trí tuệ năm

2005 là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với thông lệ quốc tế

Tương tự như thuật ngữ “quyền sở hữu trí tuệ” không có một định nghĩa cụ thể về “quyền tác giả” trong các điều ước quốc tế Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại khoản 2 Điều 4 Luật sửa đổi một số điều Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì

“Quyền tác giả là quyền của tổ chức, các nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”

1

khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005

Trang 10

Tính đặc thù của quyền tác giả: quyền tác giả khác với quyền sở hữu tài sản thông thường về đối tượng sở hữu Nếu như đối tượng của quyền sở hữu thường là các tài sản vật chất hữu hình có thể cầm nắm vào nó thì đối tượng của quyền tác giả

là những tài sản vô hình được hình thành từ lao động bằng trí óc của con người Từ khác biệt về thuộc tính đối tượng giữa quyền tác giả với quyền sở hữu tài sản thông thường dẫn đến sự khác biệt về nội dung chiếm giữ đối tượng của quyền tác giả và quyền sở hữu tài sản thông thường Nếu như đối với quyền sở hữu tài sản thông thường thì quyền chiếm hữu được xem là tiền đề để thực hiện quyền sử dụng và quyền định đoạt thì đối với quyền tác giả, do đặc tính vô hình về quyền tác giả, vấn

đề chiếm hữu đối tượng không được đặt ra Bởi lẽ, khi đầu tư công sức, thời gian, tiền bạc để nghiên cứu, sáng tạo ra một tác phẩm, người sáng tạo luôn mong muốn sản phẩm của mình phải được đưa vào khai thác, sử dụng mang lại lợi ích cho xã hội và cho chính tác giả Như vậy, yếu tố quan trọng trong quyền tác giả không phải

là quyền chiếm hữu mà là việc xác định ai là người có quyền khai thác, sử dụng tác phẩm trong đa số các trường hợp luôn gắn với mục đích thương mại của việc sử dụng tác phẩm

Quyền tác giả cũng khác với quyền sở hữu tài sản thông thường về thời hạn bảo hộ: một tài sản hữu hình sẽ thuộc về người chủ sở hữu mãi mãi nếu người đó không làm mất hay chuyển quyền sở hữu cho người khác, quyền tác giả bị giới hạn

về thời gian, chỉ được bảo hộ trong một thời gian nhất định, được quy định cụ thể trong luật2 Thời hạn này được tính từ thời điểm tác phẩm đó được thực hiện dưới một hình thức vật chất nhất định và được tiếp tục cho đến một thời điểm nào đó sau cái chết của tác giả (50 năm) Quyền nhân thân của tác giả (trừ quyền công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm – thực chất là quyền tài sản) được bảo

Trang 11

Pháp luật cũng quy định mọi trường hợp chuyển giao các quyền nhân thân và các quyền tài sản đều không được vượt quá thời hạn bảo hộ mà pháp luật đã quy định Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ4

quy định thời hạn bảo hộ (nếu không được tính trên cơ sở đời người) không ít hơn 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố hợp pháp hoặc nếu tác phẩm không công bố hợp pháp trong vòng 25 năm

kể từ khi tác phẩm được tạo ra thì thời hạn đó không ít hơn 100 năm kể từ khi tác phẩm được tạo ra5 Thời hạn này dài hơn các thời hạn được quy định trong công ước Berne6

(sau đây gọi tắt là công ước Berne) về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật mà hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại và quyền sở hữu trí tuệ của hiệp định Trips7 có dẫn chiếu và các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả

Cùng nằm trong nhóm quyền sở hữu trí tuệ nhưng quyền tác giả khác với quyền sở hữu công nghiệp về điều kiện bảo hộ: Việc bảo hộ quyền tác giả không phụ thuộc vào việc tác phẩm được tạo ra được đăng ký hay chưa Theo quy định của công ước Berne: Quyền tác giả phát sinh ngay sau khi tác phẩm được quy định hình dưới một hình thức vất chất nhất định, không lệ thuộc vào bất kỳ thủ tục hay hình thức nào như đăng ký, nộp lưu chuyển hoặc các thủ tục tương tự Tuy, pháp luật các nước đều có quy định về việc đăng ký quyền tác giả, nhưng điều đó không có nghĩa chỉ tác phẩm đã được đăng ký mới được pháp luật bảo hộ Việc đăng ký quyền tác giả được tiến hành tương đối nhanh và ít tốn kém ở hầu hết các nước Mặc dù quyền tác giả được bảo hộ kể từ khi tác phẩm được xác định dưới một hình thức, vật chất

1971, Công ước Roma 1981 và Hiệp định Washington 1989

Trang 12

nhất định nhưng ở một số nước việc đăng ký quyền tác giả cũng mang lại cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả một số lợi ích quan trọng Tuy nhiên, Hiệp định Trips đã yêu cầu loại bỏ quy định về cơ chế đăng ký quyền tác giả như một điều kiện tiên quyết đối với công dân nước ngoài trước khi bắt đầu việc khiếu kiện nhằm ngăn chặn việc vi phạm quyền tác giả hoặc để thu hồi phí tổn, như phí luật sư của việc thực thi quyền tác giả Theo quy định tại Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ thì quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký Đây là một khác biệt cơ bản của quyền tác giả trong việc xác lập quyền so sánh với việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp Việc xác lập quyền tác giả của một tác phẩm không căn

cứ vào tiêu chí nộp đơn đầu tiên như yêu cầu quan trọng nhất trong sáng chế và nhãn hiệu hàng hóa – đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp

1.1.2. Tranh chấp về quyền tác giả

Tranh chấp dân sự là những tranh chấp về quyền, quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự như tranh chấp trong việc ký kết thi hành và thanh toán các hợp đồng mua bán, đầu tư, chuyển giao công nghệ, vận chuyển, bảo hiểm… Hoặc trong việc thực hiện các quyền về nhân thân có gắn liên quan hệ tài sản như quyền tác giả, phát minh, sáng chế, trong ly hôn, thừa kế vv… Như vậy, có thể hiểu: theo nghĩa pháp lý tranh chấp là sự bất đồng hay xung đột về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các bên được thể hiện ra bên ngoài mặt khách quan thông qua các bằng chứng cụ thể Nhìn chung, tranh chấp là vấn đề về nhận thức, có nghĩa là nếu không một ai nhận thức được những bất đồng thì có nghĩa là thực sự không có tranh chấp Những bất đồng này phải được biểu hiện ra bên ngoài bằng những bằng chứng cụ thể, chẳng hạn như những ý kiến bất đồng hay một văn bản gửi đến bên kia như thông báo đòi nhà trong các vụ án dân sự nhưng cũng có khi được thể hiện bằng việc gửi đơn khởi đến Tòa án yêu cầu giải quyết Quan điểm này được khẳng định trong định nghĩa về việc dân sự tại Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp

Trang 13

nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự….Yêu cầu công nhận cho mình về quyền dân sự, thực tế xét xử ở Tòa án cho thấy, có những trường hợp 2 bên có những bất đồng hay xung đột về quyền lợi, nghĩa vụ nhưng đã tự hòa giải và cùng yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý nào đó như công nhận việc ly hôn, công nhân việc phân chia tài sản… Về mặt nhận thức thì rõ ràng hai bên có mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi nhưng biểu hiện ra bên ngoài là một ý chí thống nhất thì về mặt pháp lý, trường hợp này không được gọi là tranh chấp, khi các bên đến Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án giải quyết thành một việc dân sự chứ không phải là một vụ án dân sự Vì quyền tác giả là quyền dân sự nên về bản chất, tranh chấp về quyền tác giả là một tranh chấp dân sự Có thể định nghĩa tranh chấp dân sự về quyền tác giả như sau: Tranh chấp về quyền tác giả là sự bất đồng hay xung đột về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các bên về quyền tác giả, được thể hiện ra bên ngoài mặt khách quan thông qua các bằng chứng cụ thể Các tranh chấp về quyền tác giả có thể phát sinh trực tiếp từ đối tượng được bảo hộ quyền tác giả (bao gồm

cả vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) hoặc từ các giao dịch dân sự và các mối quan hệ có liên quan tới việc khai thác các đối tượng này như hợp đồng chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, hợp đồng dịch vụ bản quyền tác giả, hợp đồng lao động, hợp đồng nghiên cứu… (các loại tranh chấp về quyền tác giả sẽ được nghiên cứu tại phần thẩm quyền theo loại việc của Tòa án) Chúng ta cần phân biệt tranh chấp về quyền tác giả với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản đối với quyền tác giả

Với những khách thể đặc thù như đã phân tích ở các phần trước có thể khẳng định tranh chấp về quyền tác giả là loại tranh chấp phức tạp gắn liền với các yếu tố

kỹ thuật chuyên sâu liên quan đến nhiều lĩnh vực văn học – nghệ thuật – khoa học,

do vậy không thể dễ dàng nhận thức và đánh giá chính xác bản chấp và tình huống của các tranh chấp loại này ngay cả đối với các bên tranh chấp Trên thực tế đã có rất nhiều tranh chấp xảy ra hoàn toàn không phải do chủ ý của bất kỳ bên nào mà là

Trang 14

do sự không nhận thức hoặc nhận thức không đầy đủ về hành vi xâm phạm của mình

Tranh chấp về quyền tác giả có tính đa quốc gia: các tranh chấp loại này có thể phát sinh từ các mối quan hệ trải rộng trên nhiều quốc gia khác nhau, địa điểm xảy ra tranh chấp có thể cùng một lúc tại nhiều nơi trên thế giới Do vậy, các tranh chấp về quyền tác giả cũng chịu sự điều chỉnh của nhiều điều ước quốc tế, điển hình

là Công ước Berne và Hiệp định Trips Phán quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về quyền tác giả cũng đòi hỏi phải có sự công nhận Quốc tế để có thể thi hành trên thực tế

1.1.3. Giải quyết tranh chấp quyền tác giả

Giải quyết tranh chấp là cách thức, biện pháp nhằm khắc phục hoặc loại trừ các tranh chấp phát sinh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Như vậy, mục đích của việc giải quyết tranh chấp là nhằm đảm bảo sự công bằng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên có tranh chấp với nhau Từ đó, có thể định nghĩa giải quyết tranh chấp về quyền tác giả là cách thức, biện pháp nhằm khắc phục hoặc loại trừ các tranh chấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ pháp luật về quyền tác giả, cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ quyền tác giả

Việc giải quyết tranh chấp thỏa đáng giúp cho quyền lợi hợp pháp của các bên được bảo vệ (cả quyền lợi vật chất và tinh thần), loại bỏ sự nặng nề về tâm lý, duy trì mối quan hệ giữa các bên Việc giải quyết đúng đắn các tranh chấp về quyền tác giả nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể, giữa các công dân trước pháp luật góp phần thiết lập sự công bằng trong toàn xã hội Việc giải quyết nhanh chóng, thuận tiện góp phần tạo dựng và hoàn thiện môi trường lành mạnh cho các tác giả nâng cao sức sáng tạo của mình Thông qua việc giải quyết tranh chấp về quyền tác giả tại Tòa án có thể đánh giá được sự phù hợp của pháp luật với thực tiễn

để tìm ra những điểm chưa phù hợp, chưa đồng bộ, chồng chéo, từ đó có phương hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Khi có tranh chấp về quyền tác

Trang 15

giả nếu không tự hòa giải được với nhau, các bên có thể lựa chọn cho mình một phương thức giải quyết tranh chấp có sự can thiệp của “người thứ ba” mà cho rằng hiệu quả nhất Tùy từng trường hợp các tranh chấp về quyền tác giả có thể được giải quyết bằng một trong các phương thức sau:

Trung gian hòa giải;

Tố tụng trọng tài;

Tố tụng Tòa án

Trung gian hòa giải: Hòa giải có thể là phương thức giải quyết không chính thức hoặc là thủ tục bắt buộc trong tố tụng Tòa án hay ở trọng tài Ở đây chúng ta không đề cập đến việc hòa giải trong tố tụng hay việc tự hòa giải giữa các bên với nhau mà chỉ để vấn đề hòa giải như một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng với sự tham gia của một người thứ ba đóng vai trò là trung gian hòa giải Trong khi ở Việt Nam chưa có quy định về trình tự, thủ tục cho phương thức trung gian hòa giải thì phương thức này đã được sử dụng phổ biến trên thế giới, đặc biệt trong việc giải quyết các tranh chấp quyền tác giả Hòa giải khác với giải quyết bằng Tòa án hay Trọng tài ở chỗ bên thứ ba không có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với cả hai bên tranh chấp Bên thứ ba chỉ giúp đỡ, gợi ý, thuyết phục các bên tháo gỡ bất hòa để tìm ra giải pháp giải quyết xung đột chứ không có quyền tài phán Thực chất bên thứ ba là người hỗ trợ cho các bên không thể tiến hành trực tiếp Việc hòa giải có thành công hay không phụ thuộc vào sự kết hợp giữa hai yếu tố: Sự trao đổi thông tin và sự tin cậy lẫn nhau Vì vậy, bên thứ ba phải là người mà các bên tranh chấp đủ tin cậy để trao đổi những lập trường riêng tư của họ trong việc giải quyết tranh chấp Rõ ràng, nếu một người nắm được các bất đồng, đồng thời lại biết được những tâm tư, nguyện vọng của các bên thì có thể tháo gỡ những rào cản, hàn gắn sự rạn nứt trong quan hệ của các bên tranh chấp Mặc dù không có quyền quyết định việc giải quyết tranh chấp nhưng vai trò của người trung gian hòa giải rất quan trọng Với những kinh nghiệm và những

kỹ năng của mình người trung gian hòa giải tạo điều kiện cho các bên trao đổi và

Trang 16

cung cấp thông tin mới, giúp các bên hiểu được quan điểm của nhau, khuyến khích các bên đưa ra các cách giải quyết mềm dẻo và gợi ý các giải pháp đáp ứng được lợi ích của cả hai phía Đối với tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và tranh chấp về quyền tác giả nói riêng, phương thức này sẽ phát huy hiệu quả nếu hai bên tìm được một người am hiểu cả pháp luật lẫn các khía cạnh về quyền tác giả

Tố tụng trọng tài: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp theo đó các bên thỏa thuận đưa những tranh chấp đã hoặc sẽ pháp sinh ra trước một trọng tài viên duy nhất hoặc một ủy ban trọng tài để giải quyết Ủy ban trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất sau khi xem xét vụ việc sẽ đưa ra một phán quyết trọng tài ràng buộc các bên tranh chấp Về phân xử bằng trọng tài chỉ có thể được thực hiện nếu

cả bên thống nhất sử dụng bằng một thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài phải được ghi nhận thành một điều khoản trong hợp đồng để áp dụng trong các tranh chấp tương lai phát sinh từ hợp đồng hoặc một thỏa thuận riêng được ký sau thời điểm phát tranh chấp Sau khi thỏa thuận trọng tài được xác lập một cách hợp pháp, một bên không thể đơn phương rút khỏi thỏa thuận trọng tài Cũng trên cơ sở các thỏa thuận, các bên có thể tự mình chọn hình thức trọng tài với điều kiện phải thể hiện cụ thể thỏa thuận trọng tài xem hình thức trọng tài được lựa chọn (trọng tài vụ việc hay trọng tài quy chế) Các bên có thể cùng nhau lựa chọn trọng tài độc lập hoặc mỗi bên chỉ định 1/3 thành viên hội đồng trọng tài để tìm ra các chuyên gia dày dạn trong việc giải quyết tranh chấp, am hiểu cả pháp luật lẫn các khía cạnh kỹ thuật của quyền tác giả Điều này đáp ứng các đặc điểm phức tạp của tranh chấp này, điều mà tố tụng Tòa án khó có thể thỏa mãn được bởi không phải tất cả các Thẩm phán điều có chuyên môn sâu về lĩnh vực quyền tác giả Tranh chấp về quyền tác giả thường có yếu tố nước ngoài cho nên pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp nhiều khi là các điều ước quốc tế hoặc luật pháp nước ngoài Do đó, nếu chọn được một trọng tài hoặc một hội đồng trọng tài biết ngoại ngữ, am hiểu cả pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia thì các tranh chấp sẽ được giải quyết nhanh chóng hơn Mặc khác, các bên có thể lựa chọn trọng tài không cùng quốc tịch với các bên tranh chấp để đảm bảo sự khách quan trong khi các bên không thể lựa chọn một Tòa

Trang 17

án hay Thẩm phán giải quyết tranh chấp ở một quốc gia thứ ba Mặc dù Thẩm phán

có thể là khách quan nhưng họ vẫn buộc phải sử dụng ngôn ngữ và áp dụng trình tự, thủ tục tố tụng quốc gia họ mà thường có cùng quốc tịch với một bên

Các phiên tòa do Tòa án tiến hành hầu hết là công khai mà nếu có xử kín thì quyết định của Tòa án phải công khai Trong khi đó, các phiên họp giải quyết tranh chấp của trọng tài không được tổ chức công khai mà chỉ có các bên tranh chấp mới nhận quyết định Đây là một ưu điểm của xét xử trọng tài

Quyết định của trọng tài có hiệu lực thi hành ngay không bị kháng cáo như bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án Cơ hội hủy quyết định của trọng tài cũng rất

ít, chủ yếu là do các sai sót thủ tục tố tụng cơ bản Phán quyết của Tòa án thường rất khó đạt được sự công nhận quốc tế và thường phải thông qua một hiệp định song phương hoặc theo các quy tắc rất nghiêm ngặt trừ một số ngoại lệ khu vực Đối với trọng tài, quyết định của trọng tài đạt được sự công nhận quốc tế thông qua một loạt các điều ước quốc tế, đặc biệt là Công ước New York8

về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài mà hiện có hơn 120 quốc gia là thành viên, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, mặc dù có ưu điểm như vậy nhưng khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cần lưu ý rằng quyết định của trọng tài không có giá trị ràng buộc với bên thứ ba mà chỉ có giá trị ràng buộc của các bên đã ký thỏa thuận trọng tài Do đó, không thể bắt buộc nhân chứng hay giám định viên tham gia phiên họp xét xử trọng tài nếu họ không tự nguyện Một điểm khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụng Tòa án nữa là trọng tài không nhân danh quyền lực tư pháp của nhà nước mà nhân danh ý chí tối cao của các bên đương sự nên các quyết định của trọng tài không được đảm bảo cưỡng chế thi hành bằng quyền lực của nhà nước, cũng như trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài không có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời do đó rất cần sự hỗ trợ

8 Công ước New York, được thông qua vào năm 1958 và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 7/6/1959 Hiện nay đã có 137 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia Công ước New York Việt Nam tham gia Công ước vào ngày 12 tháng 12 năm 1995.

Trang 18

lớn từ phía Tòa án để đảm bảo cho việc giải quyết đạt hiệu quả cao cũng như phán quyết trọng tài có giá trị thi hành trong thực tế

Tố tụng tại Tòa án: Đây là một phương thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán nhà nước (Tòa án) thực hiện Pháp luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý cho hoạt động tại Tòa án, vì vậy kể cả những người tiến hành tố tụng và người tham gia

tố tụng đều phải tuân thủ theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Trong tố tụng Tòa án thì Thẩm phán là người đóng vai trò là người trọng tài

để phân xử giữa các bên tranh chấp Chức năng chủ yếu của Thẩm phán là người cầm cân công lý để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng, duy trì trật tự tại phiên tòa và quá trình tranh tụng giữa hai bên, hướng quá trình tranh tụng vào việc giải quyết các yêu cầu của đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các bên đương sự, khác với phương thức tố tụng trọng tài người tiến hành tố tụng là Thẩm phán nhân danh quyền lực nhà nước, quyền lực công Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ

án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án với những tiêu chuẩn bổ nhiệm rất chặt chẽ Khác với tố tụng trọng tài, các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức

xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành Cơ quan có nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ở việt Nam là các cơ quan thi hành án dân sự, được tổ chức và hoạt động theo luật Thi hành án dân sự Việt Nam)

Giải quyết tranh chấp về quyền tác giả tại Tòa án là cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hữu hiệu nhất trên thế giới hiện nay Lựa chọn việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án tức là lựa chọn một cơ quan tài phán với thủ tục dân sự mang tính cưỡng chế ở nhà nước Ở các nước công nghiệp vai trò của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp dân sự về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đặc biệt coi trọng bởi chỉ có Tòa án mới giải quyết dứt điểm các tranh

Trang 19

chấp Khi khởi kiện tại Tòa án các chủ thể quyền tác giả không chỉ được quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi xâm phạm một cách có hiệu quả bằng cưỡng chế nhà nước mà có được bên vi phạm bồi thường thiệt hại do hành

vi đó gây ra (bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần) mặc khác đối với các

vụ tranh chấp trong lĩnh vực quyền tác giả, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền giải quyết để đảm bảo quyền dân sự của các bên có tranh chấp

1.2 Giải quyết tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án

1.2.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền quyền tác giả

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu quyền tác giả nói riêng của Tòa án theo Tố tụng dân sự được xác định như sau9:

Nếu tranh chấp quyền tác giả thuần túy là tranh chấp dân sự, thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện10

Nếu tranh chấp quyền tác giả thuần túy là tranh chấp dân sự nhưng có đương

sự hoặc đối tượng quyền tác giả ở nước ngoài, thuộc quyền của Tòa án cấp tỉnh;

Nếu tranh chấp quyền tác giả giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận được coi là tranh chấp thương mại, kinh doanh và thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh11

Trước đây, để phân biệt hai loại tranh chấp này pháp luật đã đưa ra dấu hiệu

“mục đích lợi nhuận” Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã giải thích rõ:“Đối với các tranh chấp quy định tại khoản 2 Điều 29 Bộ luật Tố tụng năm 2004 thì không nhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận thì đó là tranh chấp về dân sự quy định tại khoản 4 Điều 25 Bộ luật tố tụng

11

Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Trang 20

dân sự năm 2004”12 Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau mà không có mục đích lợi nhuận thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện; tranh chấp về quyền tác giả đều có mục đích lợi nhuận thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương13 Đồng thời, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xác định tranh chấp kinh doanh, thương mại thì không nhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại; nếu chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận, thì tranh chấp đó là tranh chấp về dân sự.14

Thực tế cho thấy, hầu hết các hành vi xâm phạm quyền quyền tác giả đều vì mục đích lợi nhuận Khi thụ lý các vụ án tranh chấp quyền tác giả, các cấp Tòa án khó xác định rõ ràng được cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận; căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tòa án có thể xác định được bên bị đơn có mục đích lợi nhuận, còn nguyên đơn, không xác định được Vì vậy, khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền tác giả, có Tòa án xác định vụ án kinh doanh, thương mại; có Tòa xác định vụ án dân sự; nên giữa Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh nhiều trường hợp “đùn đẩy” thẩm quyền cho nhau; gây khó khăn cho người khởi kiện

Chúng ta phải thừa nhận rằng: “Rõ ràng, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp về quyền tác giả theo thủ tục tố tụng dân sự chưa cụ thể, chưa đầy đủ Điều này gây khó khăn cho các cơ quan giải quyết tranh chấp và cho cả đương sự, làm cho hiệu quả thực thi quyền tác giả ở nước ta không cao Bởi vậy, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền tác giả theo thủ tục tố tụng dân sự vô

cao

nhân dân tối cao

Trang 21

cùng cần thiết” Có ý kiến cho rằng: “Nên thống nhất giao các vụ án giải quyết tranh chấp quyền tác giả thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện” Tác giả nhận thấy, so với các tranh chấp quyền tác giả thường phức tạp,

nên năng lực của Thẩm phán Tòa án cấp huyện không thể đảm đương được Do đó, pháp luật Tố tụng dân sự cần có hướng dẫn áp dụng thống nhất tất cả tranh chấp về quyền tác giả, tổ chức với nhau có mục đích lợi nhuận hay không có mục đích lợi nhuận thì đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp nào giải quyết

Trên cơ sở các quy định rải rác trong các văn bản pháp luật kể trên về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp quyền tác giả và thực tế phát sinh, giải quyết các tranh chấp này, thẩm quyền theo vụ việc có thể được xác định như sau:

Những tranh chấp về quyền tác giả thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

Tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức nhằm xác định tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;

Tranh chấp giữa tác giả, đồng tác giả không phải là chủ sở hữu tác phẩm và chủ sở hữu tác phẩm về các quyền nhân thân, quyền tài sản của các chủ thể này;

Tranh chấp về thừa kế quyền tác giả;

Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng sử dụng tác phẩm;

Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dịch vụ bản quyền tác giả;

Tranh chấp giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm gốc với tác giả, chủ sở hữu tác phẩm phái sinh (tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn);

Tranh chấp giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với những người có quyền kề cận (quyền liên quan đến quyền tác giả) là người biểu diễn, tổ chức sản xuất băng ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng;

Trang 22

Tranh chấp giữa những tổ chức, cá nhân có quyền liên quan đến quyền tác giả, bao gồm: người biểu diễn, tổ chức sản xuất băng ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng và những người khác có hành vi vi phạm quyền của họ;

Tranh chấp giữa tác giả, đồng tác giả với những người có liên quan nhưng không phải là tác giả, bao gồm: người sưu tầm tài liệu cho tác giả, người cung cấp tài chính và phương tiện vật chất khác

1.2.2. Người có quyền khởi kiện tranh chấp quyền tác giả

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Nguyên đơn trong vụ án dân sự

là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm” Nguyên đơn có các quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 7115 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Cụ thể được quy định như sau:

Đối với những tranh chấp về quyền tác giả, những người sau đây có quyền khởi kiện:

Tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;

Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;

Chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả;

Người được thừa kế của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;

Người có quyền liên quan đến quyền tác giả, bao gồm: người biểu diễn; tổ chức sản xuất băng âm thanh, băng hình; tổ chức phát sóng;

Người có quyền sử dụng hợp pháp tác phẩm thông qua hợp đồng sử dụng tác phẩm;

Trang 23

Tổ chức, cá nhân được các chủ thể trên uỷ quyền theo quy định của pháp luật

Khi xác định nguyên đơn trong trong tranh chấp về quyền tác giả, cần lưu ý:

Đối với quyền tác giả, quyền khởi kiện yêu cầu bảo hộ quyền tác giả phát sinh từ thời điểm cá nhân sáng tạo ra tác phẩm và thể hiện sự sáng tạo đó dưới một hình thức vật chất nhất định Tức là, nếu một người có ý tưởng sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, nhưng chưa thể hiện ý tưởng này dưới bất kỳ hình thức nào thì không thể khởi kiện yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền của mình đối với

ý tưởng Hơn nữa, trong trường hợp tác giả, chủ sở hữu tác phẩm khởi kiện cá nhân,

tổ chức xâm phạm quyền của họ, việc khởi kiện chỉ được chấp nhận trong thời hạn tác phẩm được bảo hộ Thời hạn đó là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết

1.2.3. Chứng cứ trong việc giải quyết quyền tác giả tại Tòa án nhân dân

Khi giải quyết tranh chấp về quyền tác giả, cũng như đối với các vụ án dân

sự khác, đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh” được quy định tại Điều

91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tuy nhiên, việc chứng minh trong vụ án về quyền tác giả thường khó khăn hơn rất nhiều so với các vụ án dân sự khác

Trong các loại chứng cứ được quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các nguồn sau đây có thể được sử dụng khi giải quyết tranh chấp về quyền tác giả: các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; các vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; kết quả định giá tài sản Tuỳ từng loại tranh chấp cụ thể mà chứng cứ được sử dụng khác nhau, đương sự có thể đưa ra một hoặc một số loại chứng cứ

Trang 24

Đối với tranh chấp về quyền tác giả, các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được có giá trị là chứng cứ bao gồm:

Giấy chứng nhận bản quyền tác giả do Bộ văn hóa, thể thao và Du lịch cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả là chứng cứ để chứng minh người có tên trong giấy này là tác giả của tác phẩm Trong trường hợp đương sự không làm thủ tục đăng ký tại Cục bản quyền tác giả, nếu muốn chứng minh là tác giả, đương sự phải chứng minh mình đã sáng tạo ra tác phẩm và sự sáng tạo đó đã được định hình dưới một hình thức vật chất;

Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học thể hiện dưới hình thức: bài báo, sách, tạp chí, băng, đĩa âm thanh, băng, đĩa hình… có nội dung vi phạm tác phẩm

Hoá đơn thanh toán thù lao, nhuận bút trong trường hợp giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền hưởng các khoản này của tác giả

Trang 25

1.2.4. Giám định trong việc giải quyết quyền tác giả tại Tòa án

Vấn đề giám định thường được đặt ra trong trường hợp đối tượng sở hữu trí tuệ đang tranh chấp là đối tượng phức tạp Theo Điều 102 Bộ luật Tụng dân sự năm

2015, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định theo sự thoả thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự Kết luận giám định là một nguồn chứng cứ quan trọng Tuy nhiên, Điều 79 Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015 về người giám định chỉ quy định chung chung và chưa có sự thống nhất bằng văn bản pháp luật (Người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy định của lĩnh vực có đối tượng cần giám định) Cho đến nay, trong lĩnh vực quyền tác giả chỉ có việc cấp giám định quyền tác giả, chưa có kiến thức cụ thể, chuyên sâu về quyền tác giả nên gặp nhiều khó khăn ở những nơi không có người giám định và xác định mức độ thiệt hại cụ thể về bồi thường khi có tranh chấp về quyền tác giả

1.2.5. Xác định mức bồi thường trong việc giải quyết quyền tác giả tại Tòa

án

Thủ tục tố tụng dân sự cho phép tác giả, chủ sở hữu của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và tác giả, chủ sở hữu cũng như các chủ thể có quyền liên quan khác được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận quyền của mình; buộc người có hành vi xâm phạm quyền tác giả chấm dứt hành vi xâm phạm; yêu cầu người có hành vi xâm phạm và buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể về cách thức xác định thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp quyền tác giả bị xâm hại Nếu

chỉ căn cứ vào các quy định về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” tại chương XX, phần thứ ba của Bộ luật dân sự năm 2015 sẽ không thoả

đáng khi giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do đối tượng quyền tác giả bị xâm phạm Hơn nữa, theo nguyên tắc, nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh mức độ thiệt hại thực tế và thiệt hại tiềm tàng của mình do hành vi xâm phạm gây ra Tuy nhiên,

để chứng minh được điều này là điều không đơn giản với nguyên đơn Hiện nay, ở

Trang 26

các Toà án rất lúng túng trong việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn Trong hầu hết các vụ việc, việc xác định mức bồi thường cho nguyên đơn là không thoả đáng, bởi vậy không bảo vệ được lợi ích chính đáng của họ Về vấn đề này cần được xác định rõ trong Luật sở hữu trí tuệ hoặc hướng dẫn xét xử của Toà án nhân dân tối cao

Ngày đăng: 21/01/2021, 20:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Thùy Dương (2006), Pháp luật quốc tế về kinh nghiệm một số nước bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, Luận văn Thạc sĩ khoa luật trường đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật quốc tế về kinh nghiệm một số nước bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc
Tác giả: Trần Thị Thùy Dương
Năm: 2006
2. Nguyễn Thị Triển (2013) , Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học dân gian theo pháp luật” Luận văn thạc sĩ khoa luật - Trường đại học luật quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học dân gian theo pháp luật
3. Hoàng Minh Thái (2001), Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Minh Thái
Năm: 2001
4. Nguyễn Anh Đức (2014), Bảo hộ quyền tác giả trước những xâm phạm từ Internet trên thế giới và Việt Nam, phân tích dưới góc độ quyền con người. Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền tác giả trước những xâm phạm từ Internet trên thế giới và Việt Nam, phân tích dưới góc độ quyền con người
Tác giả: Nguyễn Anh Đức
Năm: 2014
1. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020;II. Văn bản pháp luật Khác
1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2012 Khác
6. Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung bổ sung năm 2009 7. Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Khác
8. Nghị quyết số 03/2012/NQ – HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Khác
9. Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định về chứng minh và chứng cứ Khác
10. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000 11. Hiệp định TRIPS năm 1995 Khác
13. Nghị định 100/2006/NĐ – CP ngày 21/09/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, Hà Nội Khác
14. Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/10/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ về quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ, Hà Nội Khác
15. Nghị định số 119/2010/NĐ – CP ngày 30/12/2010 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/ NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của chính Khác
16. Nghị định số 85/2011/NĐ – CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ – CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLDS, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, Hà Nội Khác
1. Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội - Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2008 Khác
2. Bài viết của về thực tiễn giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân của thạc sĩ Nguyễn Văn Tiến – Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao Khác
3. Vụ pháp luật quốc tế (2005), Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp Khác
4. Cục Bản quyền tác giả và Cục Sở hữu trí tuệ (2002), Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập”, Hà Nội Khác
5. Hội thảo quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số và các hiệp ước internet của Wipo ngày 22/12/2017 Khác
6. Trần Văn Nam (2014), Quyền tác giả ở Việt Nam – Pháp luật và thực thi, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w