Có hai l do để khẳng định VKS không thể có quyền kháng nghị quá hạn đó là: Xuất phát từ chức năng của VKS là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự nên VKS không thể viện
Trang 1ĐINH VĂN TRÀ
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 2ĐINH VĂN TRÀ
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THỊ THÚY HƯƠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 3cứu khoa học của tác giả dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Lê Thị Thúy Hương Nội dung luận văn chưa được tác giả hoặc chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
NGƯỜI CAM ĐOAN
ĐINH VĂN TRÀ
Trang 4BLDS Bộ luật dân sự
KSND Kiểm sát nhân dân
TAND Tòa án nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
H N M Đ U 1
do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
ục đ ch, nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KHÁNG NGHỊ HÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và điều kiện kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 7
Khái niệm và đặc điểm kháng nghị phúc thẩm án vụ dân sự 7
2 Vai trò của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 9
3 Điều kiện kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 10
4 Chủ thể, đối tượng kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 12
2 Các quy định pháp luật về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 14
2 Thẩm quyền và thời hạn kháng nghị phúc thẩm dân sự 14
2.2 Thông báo kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 18
2.3 Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm dân sự 18
Trang 6THỰC TI N Á DỤNG QUY ĐỊNH VỀ KHÁNG NGHỊ HÚC THẨM
VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 26
2.1 Thực tiễn thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện KSND tỉnh Bình Định 26 2.1.1 Những kết quả đạt được trong kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện KSND hai cấp tại tỉnh Bình Định 27 2.1.2 Các dạng vi phạm kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 29 2.2 Những khó khăn gặp phải trong thực tiễn áp dụng pháp luật kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 32 2.3 ột số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 40 2.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định trong B TTDS năm 20 về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 40 2.3.2 Giải pháp nhằm nâng chất lượng kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44 KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
Kháng nghị phúc thẩm là một trong những chế định quan trọng trong tố tụng dân sự Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát (VKS) có quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Đây là cơ sở pháp l cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án, qua đó kịp thời phát hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp dưới cả về nội dung cũng như hình thức tố tụng, đảm bảo sự công bằng của pháp luật, bảo vệ lợi ch của nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Bản án, quyết định của Tòa án không chỉ có ảnh hưởng đến những người tham gia tố tụng mà còn ảnh hưởng tới sự công bằng của xã hội Ch nh
vì vậy, bản án, quyết định của Tòa án được tuyên ra phải đảm bảo ch nh xác, đúng pháp luật Nhưng không phải trong mọi trường hợp Tòa án, đặc biệt là Tòa án cấp sơ thẩm đều đáp ứng được yêu cầu này Cũng ch nh vì điều đó mà pháp luật quy định nguyên tắc hai cấp xét xử Kháng nghị của VKS là một trong những cơ sở làm phát sinh thủ tục phúc thẩm và hiện thực hoá nguyên tắc hai cấp xét xử Kháng nghị phúc thẩm là biện pháp quan trọng trong việc thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân (KSND), đó là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án
Từ khi Bộ luật tố tụng dân sự (B TTDS) năm 2004 ra đời (“B TTDS năm 2004”) và sau đó được thay thế bằng B TTDS năm 20 , có hiệu lực thi hành từ ngày 0 20 , các quy định của pháp luật về tố tụng ngày càng được hoàn thiện, tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn những điểm chưa đầy đủ trong quy định của pháp luật về kháng nghị phúc thẩm dẫn đến việc kháng
Trang 8nghị phúc thẩm của VKS vẫn chưa đạt được kết quả tối ưu nhất, nhiều trường hợp các sai phạm của Tòa án cấp sơ thẩm vẫn chưa được khắc phục kịp thời,
từ đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ch hợp pháp của những người tham gia tố tụng, làm cho mục đ ch xét xử không đạt được, làm giảm
uy t n của Tòa án V dụ: Khoản 3 Điều 280 BLTTDS năm 20 , quy định hoàn toàn mới về việc VKS phải giải th ch với Tòa án khi kháng nghị quá hạn: “Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải th ch bằng văn bản và nêu rõ l do” Vì hiện nay, BLTTDS năm 20 chưa có văn bản hướng dẫn nên quy định tại khoản 3 Điều 280 BLTTDS năm 20 còn gây ra nhiều cách hiểu khác nhau
Câu hỏi được đặt ra là quy định VKS phải giải th ch bằng văn bản và nêu rõ l do khi kháng nghị quá hạn có được hiểu là BLTTDS năm 2015 cho phép VKS có quyền kháng nghị quá hạn hay không? Với mỗi góc độ tiếp cận khác nhau thì khoản 3 Điều 280 BLTTDS năm 20 đều thể hiện sự bất hợp
lý Nếu tinh thần của Điều 280 BLTTDS năm 20 cho phép VKS có quyền kháng nghị quá hạn thì quy định này là trái với l luận của tố tụng dân sự Có hai l do để khẳng định VKS không thể có quyền kháng nghị quá hạn đó là: Xuất phát từ chức năng của VKS là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự nên VKS không thể viện dẫn nguyên tắc khách quan hay chủ quan để kháng nghị quá hạn được; hơn nữa Viện trưởng VKS là người có thẩm quyền, chuyên môn, kiến thức pháp l cao nên họ phải biết và có đủ điều kiện để thực hiện việc kháng nghị theo đúng thời hạn pháp luật quy định; Nếu cho VKS kháng nghị quá hạn sẽ làm cho bản án, quyết định sơ thẩm đã
có hiệu lực pháp luật trở thành chưa có hiệu lực Bởi lẽ, khi hết thời hạn
Trang 9kháng cáo, kháng nghị nếu không có chủ thể nào kháng cáo, kháng nghị thì bản án sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành, nếu để VKS được kháng nghị quá hạn thì bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật lại trở thành không có hiệu lực pháp luật, đây là quy định rất bất hợp l trong các thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền lợi ch hợp pháp của các đương sự Ngược lại, nếu tinh thần của Điều 280 BLTTDS năm
2015 không cho phép VKS có quyền kháng nghị quá hạn thì dựa vào đâu pháp luật lại quy định khi kháng nghị quá hạn, VKS phải giải th ch bằng văn bản và nêu lõ l do cho Tòa án? Thiết nghĩ, Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 20 phải có quy định cụ thể về trường hợp này để tạo nên t nh thống nhất giữa khi áp dụng pháp luật Và thực tiễn áp dụng các quy định của
B TTDS năm 20 (Điều -quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
và Điều 3 0- hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ
sơ vụ án theo thủ tục phác thẩm) cho thấy còn có sự không thống nhất giữ các Hội đồng xét xử phúc thẩm Đây là một trong những nguyên nhân gây vướng
mắc cho công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự của VKS
Để thực hiện tốt kháng nghị, ngày 06 4 20 6 Viện trưởng Viện KSND tối cao đã ban hành Chỉ thị số 0 CT-VKSTC về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, vụ án hành
ch nh Ch nh vì vậy, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về kháng nghị phúc thẩm là hết sức cần thiết Từ những nghĩa cấp thiết nêu trên, cùng với mong muốn nghiên cứu của bản thân nên em đã chọn
đề tài: “Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu
Chế định kháng nghị phúc thẩm dân sự đã được một số tác giả, công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ, kh a cạnh khác nhau Tuy nhiên các nghiên cứu, bài viết và chuyên đề đều đề cập đến những kh a cạnh nhất định hoặc những vấn đề chung nhất ỗi bài viết, công trình nghiên cứu chỉ tập trung giải quyết một hoặc những vấn đề chung nhất ỗi bài viết, công trình nghiên cứu chỉ tập trung giải quyết một hoặc vài nội dung cụ thể liên quan đến chế định kháng nghị phúc thẩm dân sự, chưa có bài viết hay công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết dưới góc độ l luận, thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự của VKS hai cấp tỉnh Bình Định, l giải các yếu tố ảnh hưởng, đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục và nâng cao hơn nữa chất lượng kháng nghị phúc thẩm dân sự ở Viện KSND tỉnh Bình Định trong thời gian tới
3 Đố ượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là quyền kháng nghị phúc thẩm dân sự của VKS các cấp
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu đề tài là trên cơ sở l luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam Cụ thể, để đạt được mục đ ch nêu trên, luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau đây: Phân t ch làm rõ khái niệm và đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự; Phân t ch, đánh giá các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự;
Trang 11Phân t ch, đánh giá thực tiễn về hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự tại tỉnh Bình Định Từ đó làm rõ những vướng mắc trong quy định của pháp luật, những tồn tại trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân của những vướng mắc, tồn tại đó Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
4 P ươ g p áp g ê ứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- ênin, tư tưởng Hồ Ch inh về nhà nước và pháp luật, các nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong tiến trình cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp để nghiên cứu toàn bộ nội dung của chương và chương 2
Phương pháp phân t ch, thống kê, so sánh kết hợp với thực tiễn áp dụng trong chương 2
5 Mụ ệm vụ nghiên cứu
ục đ ch nghiên cứu đề tài là trên cơ sở l luận và thực tiễn, khóa luận
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam Cụ thể, để đạt được mục
đ ch nêu trên, khóa luận giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
Phân t ch làm rõ khái niệm và nghĩa của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Phân t ch, đánh giá các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Trang 12Phân t ch, đánh giá thực tiễn về hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự (cụ thể tại tỉnh Bình Định) Từ đó làm rõ những vướng mắc trong quy định của pháp luật, những tồn tại trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân của những vướng mắc, tồn tại đó Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động
6 Kết cấu của luậ vă
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung luận văn gồm hai chương:
Chương 1: Khái quát về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện
kiểm sát
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định về kháng nghị phúc thẩm vụ án
dân sự và một số kiến nghị
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KHÁNG NGHỊ HÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1.1 K á ệm ặ ểm va rò v u k ệ k á g g ị p ú
ẩm vụ á â sự
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm kháng nghị phúc thẩm án vụ dân sự
Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là quyền năng pháp l được Nhà nước giao cho Viện KSND để kháng nghị đối với những bản án, quyết định
sơ thẩm giải quyết án dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp
và cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ch hợp pháp cho các bên đương sự
Từ những phân t ch trên đây, có thể rút ra một số đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện KSND, đó là:
Thứ nhất, kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp l đặc biệt mà
Nhà nước chỉ giao cho ngành kiểm sát Theo quy định tại khoản Điều 2
B TTDS năm 2015 thì công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là một trong những quyền năng được pháp luật quy định để ngành kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự Đây thực sự là một quyền năng quan trọng và duy nhất mà pháp luật giao cho ngành kiểm sát để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, nhằm mục đ ch phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân
sự, từ đó thực hiện thẩm quyền kháng nghị để bảo vệ các quyền và lợi ch hợp pháp của các bên
Trang 14Thứ hai, kháng nghị phúc thẩm là công cụ đặc biệt và là một trong
những biểu hiện rõ nhất về quyền năng của VKS trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án
Trong quá trình VKS thực hiện chức năng kiểm sát, khi phát hiện bản
án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật, VKS có quyền kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp trên (cấp phúc thẩm) xét xử lại vụ án Thông qua kháng nghị phúc thẩm, VKS đã thực hiện chức năng việc tuân theo pháp luật và kiểm sát trong hoạt động tư pháp của Tòa án
Cơ sở những quan điểm trình bày ở trên, người viết xin đưa ra một
khái niệm chung về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự như sau: “Kháng
nghị phúc thẩm vụ án dân sự là quyền mà Nhà nước giao cho Viện kiểm sát các cấp thực hiện thông qua một văn bản pháp lý, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm Thông qua việc kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm, đồng thời nhằm khắc phục các vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa
án chưa có hiệu lực pháp luật”
Ngoài kháng nghị phúc thẩm thì VKS còn kháng nghị giám thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn có thiếu sót, mắc sai lầm vì những nguyên nhân khác nhau nhưng bị phát hiện thiếu sót hoặc sai lầm nghiêm trọng thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm T nh chất đặc biệt của thủ tục này thể hiện ở chỗ, nó chỉ được áp dụng đối với những vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền được pháp luật quy định Theo quy định của uật tổ chức Viện KSND năm 20 4 và B TTDS năm 20 , Viện KSND là một trong những chủ thể được tiến hành kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Kháng nghị
Trang 15với Tòa án nhân dân, Cơ quan thi hành án dân sự, Cơ quan thi hành án hình
sự, Nhà tạm giữ, tạm giam theo quy định của uật tổ chức Viện KSND năm 2014
Tóm lại, kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là thể hiện sự bất đồng, không thống nhất quan điểm đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm của chủ thể có thẩm quyền theo quy định pháp luật Khi có kháng nghị phúc thẩm thì việc xét xử là bắt buộc để kiểm tra lại t nh hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Vì vậy, việc kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là phù hợp với “nguyên tắc hai cấp xét xử” và đảm bảo cho nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.1.2.Vai trò của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là công cụ hữu hiệu để đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xét xử của Tòa án
Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh và triệt để VKS thực hiện chức năng của mình, thực hiện quyền kháng nghị nói chung và quyền kháng nghị phúc thẩm
vụ án dân sự nói riêng để đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án tuân theo pháp luật một cách nghiêm chỉnh, đảm bảo mọi sai sót và mọi vi phạm đều được phát hiện và xử l kịp thời Đồng thời thông qua việc thực hiện quyền kháng nghị của mình, VKS cũng bảo đảm cho hoạt động xét xử của Tòa án được khách quan, công bằng, không có sự nhân nhượng, ưu ái, xét xử phải áp dụng đúng pháp luật
Trang 16Việc thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng của VKS kiểm sát là việc thực hiện tuân theo pháp luật và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử
Với vai trò là kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật thì VKS có quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án xét xử lại vụ án, qua đó để Tòa án ra được một bản án ch nh xác, có căn cứ pháp luật
Việc thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng mà Nhà nước giao cho Viện KSND Khi VKS thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nếu xét thấy bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai phạm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật dân sự, xâm phạm đến lợi ch của Nhà nước, xã hội
và mọi quyền, lợi ch hợp pháp của những người tham gia tố tụng thì VKS phải có trách nhiệm yêu cầu đưa vụ án lên Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bằng quyền năng pháp l do luật định đó là kháng nghị phúc thẩm
1.1.3.Điều kiện kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Để thực hiện việc kháng nghị phúc thẩm có chất lượng, đúng pháp luật việc đánh giá quyết định, bản án của Tòa án những vi phạm về nội dung là rất quan trọng, phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về nội dung để thể hiện quan điểm trong quyết định kháng nghị của VKS Trước hết đó là Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác như: uật đất đai, uật hôn nhân và gia đình…Nghị quyết của Quốc Hội, Uỷ ban Thường vụ quốc hội, các Nghị định của Ch nh phủ, các Thông tư liên tịch, Nghị quyết Hội đồng thẩm phán TAND tối cao và các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền khác liên quan đến dân sự, trong đó, chú trọng vận dụng những văn bản hướng dẫn
Trang 17của ngành Kiểm sát hoặc liên ngành TAND tối cao -VKSND tối cao về một
số vấn đề cụ thể trong áp dụng pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung đã được
Thu thập chứng cứ không đầy đủ;
Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;
Có sai lầm nghiêm trọng việc áp dụng pháp luật
Đó là tiêu ch đánh giá vụ án dân sự cần được kháng nghị phúc thẩm, trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm 01 trong
04 căn cứ trên thì VKS thực hiện kháng nghị phúc thẩm theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, khi xem xét những vi phạm về thủ tục (vi phạm thủ tục tố tụng) phải lưu là vi phạm đó có t nh nghiêm trọng hay không (V dụ như:
Vụ án không đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; không tham gia hòa giải…) Cũng ch nh từ việc vi phạm về thủ tục đó dẫn tới nội dung vụ án có sai sót, không bảo vệ được quyền lợi của những người liên quan Vì vậy, VKS cần kháng nghị để khắc phục Trong trường hợp có vi phạm tố tụng, nhưng t nghiêm trọng, chưa đến lúc phải kháng nghị
Trang 18V dụ: Khi xét xử vụ án chia thừa kế, thủ tục triệu tập một đương sự là người có quyền lợi liên quan chưa hợp lệ nên họ vắng mặt tại phiên tòa, song bản án vẫn quyết định chia phần thừa kế đúng quy định pháp luật, sau đó họ cũng không kháng cáo, trong trường hợp này thì VKS chỉ cần kiến nghị để yêu cầu Tòa án khắc phục những vi phạm tương tự Còn các vi phạm những căn cứ khác như: Thu thập chứng cứ không đầy đủ; Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; Có sai lầm nghiêm trọng việc áp dụng pháp luật thì cần thiết kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm
1.1.4.Chủ thể, đối tượng kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Chủ thể kháng nghị phúc thẩm
Để bảo đảm t nh hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định của Tòa
án Điều 2 8 B TTDS năm 20 quy định “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” Theo khoản , Điều 5 uật tổ chức VKSND năm 2014, thì “ Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm
quyền con người, quyền công dân, lợi ch của Nhà nước, quyền và lợi ch hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị.” Quy định này nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của VKS các cấp trong việc thực hiện tuân theo pháp luật và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có sai lầm, thiếu sót trong việc đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật, VKS có quyền kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại Việc quy định cả VKS cùng cấp và
Trang 19VKS cấp trên trực tiếp đều có quyền kháng nghị là nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời các sai sót về xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm t nh hợp pháp và có căn cứ của các bản án hoặc quyết định sơ thẩm trước khi đưa ra thi hành Theo Điều 57 BLTTDS năm 20 thì người có thẩm quyền quyết
định việc kháng nghị phúc thẩm là Viện trưởng các cấp
Kháng nghị phúc thẩm cũng có điểm khác so với kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm: chủ thể có quyền kháng nghị phúc thẩm là VKS cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; chủ thể có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là VKS cấp trên trực tiếp hoặc cấp trên nữa, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp không có quyền
kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
VKS được tổ chức và hoạt động theo hệ thống ngành dọc, cấp dưới phải phục tùng cấp trên Nếu kháng nghị của VKS cấp sơ thẩm có nội dung mâu thuẫn với kháng nghị của VKS cấp phúc thẩm (ví dụ: VKS cấp sơ thẩm kháng nghị yêu cầu sửa một phần nội dung trong bản án, nhưng VKS cấp phúc thẩm lại kháng nghị theo hướng hủy toàn bộ nội dung bản án để xét
xử lại), thì Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung mâu thuẫn theo kháng nghị của VKS phúc thẩm Trường hợp hai bản kháng nghị không mâu thuẫn với nhau thì việc xem xét nội dung kháng nghị được tiến hành đồng thời theo quy định của pháp luật
Đối tượng kháng nghị phúc thẩm
Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Như vậy, đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định khi
Trang 20có hiệu lực pháp luật thì không phải là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm
mà là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Việc xét xử phúc thẩm không chỉ là xét lại t nh hợp pháp và t nh có căn
cứ của bản án, quyết định sơ thẩm mà trên cơ sở tài liệu, chứng cứ đã có trong
vụ án xét xử lại nội dung vụ án, không chỉ trong phạm vi những phần bản án, quyết định bị kháng cáo mà có thể xem xét cả phần bản án, quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng liên quan đến việc giải quyết tổng thể
vụ án Theo quy định của luật BLTTDS thì chỉ những bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mới bị kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, một số bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật vẫn có thể trở thành đối tượng của kháng cáo, kháng nghị như trường hợp kháng cáo quá hạn
1.2 Cá quy ị p áp luậ v k á g g ị p ú ẩm vụ á â sự 1.2.1.Thẩm quyền và thời hạn kháng nghị phúc thẩm dân sự
Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm dân sự
Để đảm bảo t nh hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm Điều 2 8 B TTDS năm 20 quy định: “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” B TTDS 20 quy định rõ chức danh người k quyết định kháng nghị là Viện trưởng Viện KSND cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm Quy định nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của VKS các cấp trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án trong quá trình giải
Trang 21quyết vụ việc dân sự Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm trong quá trình giải quyết thì VKS có quyền kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại, cụ thể quy định cả Viện trưởng VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp đều có quyền kháng nghị là nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời những sai sót về xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm t nh hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm trước khi được đưa ra thi hành ặt khác, tại khoản 2, Điều B TTDS năm 20 quy định: “Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của Viện trưởng, trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm d khoản Điều này ”; điểm d, khoản , Điều B TTDS quy định “ Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này” Như vậy, việc k quyết định kháng nghị chỉ giao cho chức danh là Viện trưởng k ban hành quyết định1
Tuy nhiên, trong thực tế trên cơ sở phân công các khâu công tác nghiệp
vụ của Ngành kiểm sát, phần lớn Viện trưởng ủy quyền k cho Phó viện trưởng k quyết định kháng nghị
Thời hạn kháng nghị phúc thẩm dân sự
uật tổ chức Viện KSND và B TTDS năm 20 quy định quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và kháng nghị theo thủ tục tái thẩm án dân sự thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kháng nghị án dân sự được xác định là một trong những
định số 364 QĐ-VKSTC ngày 02 0 20 của Viện trưởng Viện KSND tối cao
Trang 22nhiệm vụ quan trọng của ngành kiểm sát Để thực hiện tốt việc kháng nghị bản án dân sự ngoài việc cần nghiên cứu kỹ nội dung, hình thức của bản án thì cũng cần xem xét về cách tính thời hạn kháng nghị vì việc này rất là quan trọng
Hiện nay, theo cách tính thời hạn kháng nghị của BLTTDS năm 2015 thì còn một số vướng mắc, cụ thể như sau:
Trước đây, tại Khoản Điều 2 2 BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) (“B TTDS năm 2004”) quy định: “Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án” Và theo Nghị quyết 06 20 2 NQ-HĐTP ngày 03 2 20 2 hướng dẫn cách t nh thời hạn kháng nghị bản án của
B TTDS năm 2004 (“Nghị quyết 06 20 2 NQ-HĐTP”), tại Khoản 2 Điều 4 quy định: “Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng nghị bản án sơ thẩm là ngày tiếp theo của ngày được xác định Ngày được xác định là ngày Toà án tuyên
án, trong trường hợp Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên toà sơ thẩm hoặc
là ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án sơ thẩm trong trường hợp Viện kiểm sát cùng cấp không tham gia phiên toà sơ thẩm”
Như vậy, theo hướng dẫn của Nghị quyết 06 20 2 NQ-HĐTP thì thời hạn kháng nghị bản án được t nh là ngày tiếp theo ngày tuyên án trong trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên toà Ví dụ: Vụ án có kiểm sát viên tham gia phiên toà, và toà tuyên án vào ngày 3 20 thì thời hạn kháng nghị sẽ được
t nh từ ngày 6 3 20
Trang 23Trong khi đó, thời hạn kháng nghị bản án tại khoản Điều 280
B TTDS năm 20 quy định: “Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Toà
án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án” Như vậy, theo quy định của B TTDS năm 2015 thì thời hạn kháng nghị được t nh kể từ ngày tuyên án trong trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên toà Và cho đến thời điểm này, vẫn chưa có Nghị quyết hướng dẫn cách t nh thời hạn kháng nghị theo quy định của BLTTDS năm 20 Từ đó dẫn đến hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trong khi chưa có Nghị quyết hướng
dẫn thì vẫn sẽ áp dụng Nghị quyết 06 20 2 NQ-HĐTP đối với B TTDS năm
2015
Quan điểm thứ hai cho rằng: Do chưa có Nghị quyết hướng dẫn nên
thời hạn kháng nghị sẽ được t nh kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Khoản Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 20 , không áp dụng Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP cho B TTDS năm 2015
Thế nhưng, tại Khoản 4 Điều 4 uật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 20 6 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì
văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng
thời hết hiệu lực” Vì BLTTDS năm 2004 đã hết hiệu lực, nên việc sử dụng Nghị quyết 06 20 2 NQ-HĐTP ngày 03 2 20 2 để áp dụng cho BLTTDS
20 có phù hợp với tình thần điều khoản trên hay không?
Trang 241.2.2.Thông báo kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Điều 28 B TTDS năm 20 quy định về thông báo về việc kháng nghị Theo quy định tại điều luật này, VKS đã ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị đó cho các đương sự có liên quan đến kháng nghị Người được thông báo về việc kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm Văn bản nêu kiến của người được thông báo phải được lưu vào hồ sơ vụ án
Trường hợp người được thông báo gửi văn bản nêu kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm mà hồ sơ vụ án chưa gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm, thì Tòa án cấp sơ thẩm đưa văn bản này vào hồ sơ vụ
án và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm; nếu hồ sơ vụ án đã gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi văn bản đó cho Tòa án cấp phúc thẩm để đưa vào hồ sơ vụ án và xem xét khi xét xử phúc thẩm
Như vậy, ngoài việc gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ việc thì việc gửi quyết định kháng nghị cho các đương sự cũng
là trách nhiệm của VKS, không phải của Tòa án
1.2.3.Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm dân sự
Trong thời hạn kháng nghị, toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Khi hết thời hạn kháng nghị mà có quyết định kháng nghị thì những phần của bản án, quyết định bị kháng nghị chưa được đưa ra thi hành2 Điều 282 B TTDS năm 20 quy định, bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được
2
Trần Anh Tuấn (20 ), bình luận khoa học B TTDS, nhà xuất bản tư pháp
Trang 25đưa ra thi hành, trừ pháp luật quy định cho thi hành ngay như các quyết định
về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về t nh mạng, sức khỏe, trả tiền công lao động, cấm hoặc buộc phải thực hiện hành vi nhất định thì Hội đồng xét xử có thể quyết định cho thi hành ngay mà không cần chờ bản án, quyết định phúc thẩm3
Bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị4 Bên cạnh đó, xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm phần bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành, góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc nhanh chóng, ch nh xác và đúng pháp luật BLTTDS năm 2015 quy định Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị (Điều 293 B TTDS năm 20 ) Do bị giới hạn bởi nội dung kháng nghị, đối với những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không
có kháng cáo, kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có thẩm quyền xem xét, quyết định
Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị và được đưa ra thi hành khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
Độc lập với những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị;
Trang 26Việc xét kháng nghị đối với những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị không có liên quan đến những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng nghị
V dụ: Tại bản án số 3 2016 HNGĐ-ST ngày 15/02/2016, Tòa án nhân dân huyện AL, tỉnh BĐ đã quyết định cho anh A được ly hôn với chị B; giao chị B trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung là cháu C, anh A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng con mỗi tháng là 200.000 đồng và chia tài sản chung của vợ chồng cho anh A và chị B5 Sau khi xét xử sơ thẩm, anh A chị B không kháng cáo, chỉ VKS kháng nghị bản án sơ thẩm về quyết định chia tài sản chung của vợ chồng Trong trường hợp này, những phần của bản án sơ thẩm về ly hôn giữa anh A và chị B; về trông nôm, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn không bị kháng nghị, độc lập với phần bản án sơ thẩm mà bị VKS kháng nghị và việc xét kháng nghị phần bản án sơ thẩm này không có liên quan đến những phần của bản án sơ thẩm không bị kháng nghị; do đó những phần của bản án sơ thẩm không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành
1.2.4.Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Để bảo đảm sự tôn trọng quan điểm của Viện kiểm sát và của người k quyết định kháng nghị, trong trường hợp họ muốn thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng nghị, pháp luật đã quy định trình tự thay đổi, bổ sung kháng nghị nhằm bảo đảm việc kháng nghị được ch nh xác, đầy đủ và cần thiết6