1.5 Khoảng trống, sự khác biệt của nghiên cứu Đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân nhưng để tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân
Trang 1N UYỄN K Ắ DUY
Á YẾU T ẢN ƯỞN ẾN T U N ẬP
Ủ Ộ NÔN DÂN TR N BƯỞ D X N
T T N P BẾN TRE
LUẬN VĂN T SỸ K N TẾ
TP M N - NĂM 2019
Trang 2LUẬN VĂN T C SỸ KINH TẾ
N ƢỜ ƢỚNG DẪN KHOA H C: PGS.TS NGUYỄN H NG NGA
TP H M N - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM O N
Tôi xin cam đoan luận văn “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân trồng bưởi da xanh tại thành phố Bến Tre” hoàn toàn do tôi thực hiện Các trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
TÁC GIẢ
Nguyễn Khắc Duy
Trang 4DANH MỤC Á CHỮ VIẾT TẮT
BDX: Bưởi da xanh HTX: Hợp tác xã HND: Hộ nông dân ND: Nông dân NN: Nông nghiệp NS: Năng suất THT: Tổ hợp tác TP: Thành phố XK: Xuất khẩu
Trang 5DANH MỤ Á BẢNG V SƠ
Danh mục các bảng Bảng 2.1 Tổng hợp giải thích và mã hóa biến 31
Bảng 3.1 Mô tả số liệu khảo sát của tác giả 37
Bảng 3.2 Diện tích BDX tại TP Bến Tre qua các năm 42
Bảng 3.3 Thu nhập của HND trồng BDX qua các năm tại TP Bến Tre 42
Bảng 3.4 Thống kê sản lượng BDX qua các năm tại TP Bến Tre 42
Bảng 3.5 Sản lượng BDX TP Bến Tre xuất khẩu 44
Bảng 4.1 Thống kê mô tả biến định lượng 47
Bảng 4.2 Thống kê mô tả biến định tính 48
Bảng 4.3 Thống kê mô tả biến tín dụng 48
Bảng 4.4 Thống kê mô tả biến kỹ thuật hiện đại 48
Danh mục sơ đồ Sơ đồ 2.1 Khung lý thuyết đề xuất của nghiên cứu 28
Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu 34
Trang 6
MỤC LỤC
Contents
ƯƠN 1: ỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể của luận văn 4
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu nghiên cứu 5
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu: 6
1.5 Khoảng trống, sự khác biệt của nghiên cứu 6
1.6 Ý nghĩa thực tế 6
1.7 Cấu trúc của luận văn 6
ƯƠN 2: Ơ SỞ LÝ T UYẾT V Á N ÊN ỨU L ÊN QU N 8
2.1 ác khái niệm liên quan và các lý thuyết tiêu biểu về thu nhập 8
2.1.1 Các khái niệm liên quan : 8
2.1.1.1 Khái niệm HND 8
2.1.1.2 Khái niệm về thu nhập nông hộ 9
2.1.1.3 Khái niệm NN và đặc điểm của sản xuất NN: 10
2.1.1.4 Khái niệm về BDX 15
2.1.2 Các lý thuyết liên quan đến thu nhập 17
2.1.2.1 Lý thuyết về hàm thu nhập của Mincer 17
2.1.2.2 Lý thuyết khung sinh kế bền vững: 18
Trang 72.1.2.3 Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển NN 20
2.1.2.4 Lý thuyết về vốn trong sản xuất NN 21
2.1.2.5 Lý thuyết về các yếu tố đầu vào cơ bản trong NN 21
2.2 ác nghiên cứu thực nghiệm 22
2.2.1 Nghiên cứu nước ngoài : 22
2.2.2 Nghiên cứu trong nước 23
2.3 Khung lý thuyết đề xuất 25
2.4 Mô hình nghiên cứu 28
2.5 ác giả thuyết của mô hình nghiên cứu, giải thích biến kỳ vọng và dấu của các hệ số 29
2.5.1 Các giả thuyết của mô hình 29
2.5.2 Giải thích biến và kỳ vọng dấu của các hệ số 29
ƯƠN 3: P ƯƠN P ÁP N ÊN ỨU V T ỰC TR N N ÊN CỨU 34
3.1 Quy trình nghiên cứu 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 35
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 37
3.4 Thực trạng nghiên cứu 37
3.4.1 Giới thiệu về TP Bến Tre 37
3.4.2 Đặc điểm của ngành trồng BDX ở Bến Tre hiện nay 38
3.4.3 Thực trạng về tình hình trồng BDX và thu nhập của HND trồng BDX tại TP Bến Tre 41
3.4.4 Tình hình tiêu thụ BDX của TP Bến Tre 43
3.4.5 Cơ hội và thách thức về phát triển BDX trong thời gian qua tại TP Bến Tre 44
3.4.5.1 Cơ hội 44
3.4.5.2 Thách thức 45
ƯƠN 4: KẾT QUẢ N ÊN ỨU V T ẢO LUẬN 47
4.1 Phân tích mô hình hồi quy 47
4.1.1 Thống kê mô tả các biến định lượng trong mô hình 47
Trang 84.1.2 Thống kê mô tả các biến định tính 48
4.1.3 Phân tích mô hình hồi quy 48
4.2 Kết quả nghiên cứu của mô hình và thảo luận 51
4.2.1 Kết quả nghiên cứu 51
4.2.2 Thảo luận từ kết quả mô hình hồi quy 51
4.3 So sánh kết quả nghiên cứu 54
ƯƠN 5: KẾT LUẬN V Ợ Ý N SÁ , Ả P ÁP 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Những gợi ý chính sách cho cơ quan nhà nước nhằm phát triển ngành BDX của TP Bến Tre 60
5.3 ề xuất giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của ND trồng BDX ở TP Bến Tre 66
5.4 Những hạn chế của nghiên cứu 68
DANH MỤ T L ỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC i
PHỤ LỤC 1 i
PHỤ LỤC 2 iii
P Ụ LỤ 3 v
PHỤ LỤC 4 xiii
Trang 9ƢƠN 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của nghiên cứu
Kể từ khi chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh
tế nước ta tiếp tục tăng trưởng mạnh, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện Tuy nhiên, Việt Nam nhìn chung vẫn còn là nước nông nghiệp (NN) và có thu nhập bình quân đầu người vào loại trung bình thấp Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là những hộ gia đình nông thôn ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới còn nhiều khó khăn, thu nhập vẫn thấp và bấp bênh
Bến Tre là một tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ, tuy đất nước đã gia nhập WTO nhiều năm nhưng nhìn chung các tỉnh miền Tây trong đó có Bến Tre vẫn chưa có khả năng vươn lên phát triển về mặt kinh tế như nhiều tỉnh khác ở miền Đông Nam
Bộ do đặc thù địa lý và tiềm năng phát triển Tuy nhiên ngược lại Bến Tre đất đai trù phú, màu mỡ với đặc sản cây ăn trái nức tiếng gần xa, Bến Tre có nhiều tiềm năng phát triển cây ăn trái với 5 loại cây ăn trái chủ lực như: chôm chôm, cam, bưởi, nhãn, sầu riêng Có thể thấy giống bưởi da xanh (BDX) hiện nay thị trường rất
ưa chuộng và giá cao có thể đem lại thu nhập cho người nông dân (ND) BDX là giống bưởi quý có nguồn gốc từ Bến Tre và được trồng nhiều ở các huyện trong tỉnh và ngoài tỉnh với diện tích lớn Việc tận dụng giống bưởi quý và nhu cầu thị trường với giá hấp dẫn để tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người trồng bưởi
là một vấn đề quan trọng và cần quan tâm Sản phẩm này đang dần khẳng định được chỗ đứng vững chắc do đem lại giá trị kinh tế cao, được xác định là loại cây chủ lực trong phát triển kinh tế vườn của tỉnh
Cây BDX được trồng tập trung ở các địa phương như: huyện Châu Thành,
Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm, Chợ Lách và TP Bến Tre Được biết, tỉnh Bến Tre có 27.500 ha đất trồng cây ăn trái, với nhiều chủng nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có BDX được đưa vào nhóm cây ăn quả chất lượng cao, có tiềm năng và lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước
Trang 10Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bến Tre, hiện toàn tỉnh trồng hơn 7.212 ha BDX, chiếm 26% diện tích cây ăn trái của toàn tỉnh Trong đó diện tích đã và đang cho trái là 4.800 ha, năng suất (NS) 13,5 tấn/ha, sản lượng khoảng 56.800 tấn /năm
Hiệu quả kinh tế từ cây BDX mang lại vượt trội so với các loại cây trồng khác, bình quân cho thu nhập từ 300 đến 350 triệu đồng/ha/năm Ngoài ra, người trồng BDX còn chủ động, nắm vững áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất và liên kết với doanh nghiệp tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm
BDX hiện cũng đang là loại cây trồng đem lại nguồn thu nhập chính cho nhiều gia đình ở tỉnh Bến Tre Đến nay, sản phẩm BDX đã trở nên rất phổ biến thậm chí còn trở thành cây làm giàu chủ lực của bà con địa phương Những năm qua, Bến Tre đã khuyến khích, tạo điều kiện để người dân địa phương tập trung trồng thâm canh cây BDX tăng thu nhập, làm giàu chính đáng Đến nay, nhiều người dân đã có thu nhập cao từ trồng bưởi với hàng trăm triệu đồng/năm Loại cây trồng này đã ngày càng thu hút được nhiều hộ gia đình tham gia và mở rộng diện tích
Nhu cầu thị trường về bưởi tươi tăng cao trong những năm gần đây cả trong
và ngoài nước do những đặc tính và công dụng tốt của trái bưởi lên sức khỏe con người Thị trường tiêu thụ BDX trong nước và xuất khẩu (XK) BDX ngày càng rộng thông qua việc quảng bá thương hiệu BDX ở các hội chợ trong nước và quốc
tế Các thị trường có thể XK: EU, Singapore, Nhật, Nga, Đức,…
Nhận thấy tiềm năng phát triển to lớn của cây BDX, những năm qua ngành
NN tỉnh Bến Tre đã đẩy mạnh xây dựng vùng nguyên liệu, đăng ký chỉ dẫn địa lý,
hỗ trợ thành lập các tổ hợp tác (THT) và hợp tác xã (HTX) sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP phục vụ thị trường XK
Nhưng thực tế chất lượng và sản lượng BDX của Bến Tre không đồng đều, điều này ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của nhiều hộ nông dân (HND) trồng BDX Chất lượng, sản lượng còn thấp làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường và ảnh hưởng đến giá bưởi, diện tích đất sản xuất của HND nhỏ lẻ, vấn đề giống trồng và
Trang 113
quy trình chăm sóc không đồng nhất và còn sản xuất, kỹ thuật canh tác theo truyền thống và tự phát, kiến thức về trồng trọt và chăm sóc BDX còn hạn chế Chưa có nhiều diện tích chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm có thể nguy cơ mất thị trường Tình hình dịch hại cây trồng ngày càng diễn biến phức tạp Chi phí đầu vào tăng cao như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến sinh trưởng và phát triển BDX, những thay đổi bất thường của thời tiết và thiếu kỹ thuật chăm sóc khoa học khiến quá trình chăm sóc gặp nhiều khó khăn Các vấn đề trên dẫn đến sản lượng, chất lượng bưởi giảm và ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của HND trồng BDX tại tỉnh Bến Tre Hiện nay tuy thị trường XK mở rộng, nhưng sản lượng BDX đủ tiêu chuẩn XK ở Bến Tre vẫn còn khiêm tốn với hơn 500 tấn/năm, không đủ số lượng lớn theo đơn hàng Hiện ngoại trừ Mỹ, thị trường các nước hầu hết đều đồng ý cho nhập trái bưởi đạt tiêu chuẩn GlobalGAP và một số theo tiêu chuẩn VietGAP
Việc nâng cao năng suất (NS), chất lượng BDX cho HND mang lại sản lượng thu hoạch cao góp phần cải thiện và nâng cao thu nhập, đời sống người dân, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn theo hướng tích cực, từng bước xây dựng bộ mặt nông thôn phát triển, góp phần vào sự ổn định của địa phương Để có thể nâng cao thu nhập cho HND trồng bưởi cần thiết phải tìm hiểu các yếu tố có ảnh hưởng đến thu nhập đối với HND và từ đó tìm ra nguyên nhân, gợi ý và đề xuất giải pháp, chính sách để nâng cao thu nhập cho người trồng bưởi
Địa bàn nghiên cứu của đề tài được thực hiện tại tỉnh Bến Tre bởi vì BDX có nguồn gốc xuất xứ tại Bến Tre và sau đó được trồng ở nhiều tỉnh khác trong cả nước, nhưng chất lượng và diện tích trồng BDX ở Bến Tre là cao nhất so với những tỉnh khác Tác giả chọn TP Bến Tre để khảo sát số liệu phục vụ nghiên cứu vì thực
tế BDX được trồng ở TP Bến Tre có NS cao và chất lượng hơn hẳn so với BDX được trồng ở những huyện khác trong tỉnh Sản lượng BDX xuất khẩu của TP Bến Tre chiến hơn 52% sản lượng BDX xuất khẩu của toàn tỉnh
Trang 12Với những lý do trên mà tác giả chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân trồng bưởi da xanh tại thành phố Bến Tre” để làm luận văn thạc sĩ của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND trồng BDX tại TP Bến Tre, trên cơ sở các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập qua quá trình nghiên cứu đề xuất các giải pháp và gợi ý chính sách phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao thu nhập của HND trồng bưởi tại địa phương và phát triển BDX tại TP Bến Tre góp phần nâng cao đời sống ND, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm khai thác tiềm năng và thế mạnh của tỉnh Bến Tre
1.2.2 Mục tiêu cụ thể của luận văn
(i) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND trồng BDX tại TP Bến Tre
(ii) Xem xét thực trạng và lượng hóa các yếu tác động đến thu nhập HND trồng BDX như thế nào
(iii) Đề xuất các giải pháp, gợi ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập cho HND trồng BDX trên địa bàn nghiên cứu
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
(i) Những yếu tố nào có ảnh hưởng đến thu nhập của HND trồng BDX tại
TP Bến Tre ?
(ii) Các yếu tố đó tác động như thế nào đến thu nhập của HND trồng bưởi ? (iii) Những chính sách và giải pháp nào được thực hiện để nâng cao thu nhập của HND trồng bưởi trên địa bàn ?
1.3 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
(i) Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND trồng bưởi tại TP Bến Tre điển hình như: kinh
Trang 13nghiệm, học vấn, tuổi, diện tích đất, số lao động nhằm phục vụ cho việc xác định các yếu tố ảnh hưởng và các giải pháp nâng cao thu nhập
(ii) Đối tượng khảo sát của đề tài là các HND trồng BDX tại TP Bến Tre
(iii) Thời gian : Sử dụng dữ liệu thứ cấp của 3 năm gần đây từ năm 2015 đến
2017, dữ liệu sơ cấp của năm 2017
(iv) Giới hạn nghiên cứu: Luận văn chưa so sánh với các địa phương trồng BDX khác trong tỉnh và ngoài tỉnh Bến Tre, quy mô khảo sát còn hạn chế do sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, thuận tiện kết hợp với phát triển mầm, chọn những phần tử mà có thể tiếp cận được để khảo sát và thông qua giới thiệu của HND, có những biến không thể đưa vào mô hình do dữ liệu khảo sát không thể tiếp cận được
1.4 Phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu
(i) Phương pháp định tính: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp Tổng hợp các lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước nhằm tạo khung lý thuyết và khung phân tích cho nghiên cứu từ đó xác định mô hình nghiên cứu của luận văn và là cơ sở để sử dụng phương pháp định lượng kiểm định mô hình từ phương pháp định tính đề xuất
(ii) Phương pháp định lượng: Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến, thống kê mô tả, so sánh được sử dụng trong nghiên cứu nhằm ước lượng mô hình yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND dựa trên mẫu số liệu khảo sát Mô hình sử dụng là mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, phần mềm hỗ trợ phân tích hồi quy SPSS để kiểm định các giả thuyết của mô hình và đánh giá, lượng hóa các yếu
tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND trồng BDX
Trang 141.4.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu: dữ liệu nghiên cứu của đề tài từ 2 nguồn:
(i) Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp: được thu thập, cập nhật từ số liệu của: phòng Kinh tế TP Bến Tre, Hội nông dân TP Bến Tre và chi cục thống kê TP Bến Tre
(ii) Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập từ: điều tra theo phương pháp khảo sát, phỏng vấn trực tiếp các chủ hộ gia đình, kết hợp quan sát trực tiếp và ghi chép tại các xã trồng BDX của TP Bến Tre mà tác giả khảo sát như: Xã Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận, Sơn Đông
1.5 Khoảng trống, sự khác biệt của nghiên cứu
Đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân nhưng để tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân trồng bưởi
da xanh tại thành phố Bến Tre” là nghiên cứu có sự khác biệt về ngành và địa bàn,
đề tài không trùng lắp với những đề tài, công trình khoa học nghiên cứu yếu tố tác
động đến thu nhập của hộ nông dân đã công bố
1.7 Cấu trúc của luận văn
Chương 1 Giới thiệu
Trang 15Chương 2 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu và thực trạng nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5 Kết luận và gợi ý chính sách
Tóm tắt chương 1
Giới thiệu nghiên cứu là bước đầu tiên trong báo cáo nhằm trình bày tóm lược những nội dung chính của nghiên cứu Trong chương 1 đề tài nghiên cứu đã trình bày từ tính cấp thiết của việc nghiên cứu đến mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu tiếp theo là phương pháp nghiên cứu
và dữ liệu nghiên cứu …Nội dung của chương 1 là khái quát những vấn đề chính sẽ được vận dụng nhằm phân tích dữ liệu trong các chương tiếp theo
Trang 16ƢƠN 2: Ơ SỞ LÝ T UYẾT V Á N ÊN ỨU
L ÊN QUAN 2.1 ác khái niệm liên quan và các lý thuyết tiêu biểu về thu nhập
2.1.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm HND
Theo tổ chức Nông Lương thế giới FAO (2007) định nghĩa: Nông hộ là những hộ có các hoạt động trong nghề trồng trọt, nghề rừng, nghề cá, nghề chăn nuôi và nghề nuôi trồng thủy sản Các sản phẩm NN được hình thành thông qua quá trình quản lý và tổ chức sản xuất bởi các thành viên trong gia đình và phần lớn chủ yếu dựa vào lao động nhà, bao gồm cả nam lẫn nữ
Theo tổ chức nông lương thế giới HND có những đặc điểm sau: (i) HND là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng; (ii) Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc, trình độ này quyết định quan hệ giữa HND và thị trường; (iii) Các HND ngoài hoạt động NN còn tham gia vào hoạt động phi NN với các mức độ khác nhau khiến khó giới hạn thế nào là một HND
Theo Đào Thế Tuấn (1997) định nghĩa: HND là những hộ gia đình làm NN
tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao Hoạt động NN theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi NN ở nông thôn
Như vậy, có thể kết luận rằng nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, họ vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng thể hiện trình độ phát triển của nông hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn, trình độ này quyết định quan hệ giữa nông hộ và thị trường Ngoài các hoạt động NN, nông hộ còn tham gia vào các hoạt động phi NN với nhiều mức độ khác nhau, do đó xác
định phạm vi hoạt động của nông hộ một cách chính xác là hết sức khó khăn
Trang 172.1.1.2 Khái niệm về thu nhập nông hộ
(i) Theo Michael P.Todaro (1998) cho rằng thu nhập của hộ gia đình ND là
số lượng hàng hóa và dich vụ vật chất mà hộ gia đình ND có thể dùng thu nhập bằng tiền của họ mua được Với thu nhập bằng tiền chỉ đơn giản là tổng số tiền mà
hộ gia đình kiếm được hàng tháng, năm
(ii) Theo Tổng cục thống kê (2010), đưa ra khái niệm thu nhập của hộ nói chung là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật sau khi trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
(iii) Theo tổ chức Nông Lương thế giới FAO (2007, trang 207) cũng đưa ra khái niệm về thu nhập của nông hộ như sau: “ Thu nhập của hộ gia đình ND trong sản xuất NN chính là phần tiền thưởng cho người chủ sở hữu các yếu tố sản xuất cố định như: đất đai, nguồn vốn và nguồn lao động khi đưa các yếu tố này tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm; hay thu nhập của hộ gia đình ND chính
là nguồn sản vật hộ gia đình ND nhận được mà họ có thể tiêu dùng và tiết kiệm
Khi xác định thu nhập từ sản xuất NN của một quốc gia, Tổ chức nông lương thế giới (FAO) coi thu nhập của hộ gia đình ND như là thu nhập của một doanh nghiệp tự làm chủ
Thu nhập của hộ gia đình = tổng giá trị nông sản ( doanh thu và tiêu dùng gia đình) - chi phí các yếu tố sản xuất trung gian đầu vào - chi trả nguồn vốn đã tiêu dùng - chi thuê lao động - chi trả lãi suất và chi trả tiền thuê đất
Từ quan điểm của Michael P Todaro, quan điểm của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) và thực tế xác định thu nhập của hộ gia đình ND tại Việt Nam có thể thấy rằng thu nhập của hộ gia đình ND trong năm chính là phần tiền còn lại của hộ gia đình ND sau khi lấy doanh thu từ bán các sản phẩm NN do HND sản xuất ra trong năm trừ đi các khoản chi phí để sản xuất ra chúng nhưng không bao gồm chi phí lao động của các thành viên trong gia đình trực tiếp tham gia vào các quá trình tạo ra sản phẩm
Như vậy có thể đưa ra nhận xét thu nhập của hộ gia đình trồng BDX chính là phần tiền còn lại của hộ gia đình sau khi lấy tổng doanh thu từ việc bán BDX trừ đi
Trang 18các khoản chi phí không bao gồm chi phí lao động gia đình đã tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra sản lượng bưởi được thu hoạch trong năm Các chi phí ngoài chi phí lao động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất gồm: chi phí trung gian đầu vào như chi phí phân bón, thuốc trừ sâu, chi phí mua các thiết bị để phục vụ cho việc trồng và chăm sóc vườn bưởi; chi phí thuê nhân công bên ngoài để thực hiện các công việc như làm cỏ, bồi bùn, bón phân, tỉa cành, thu hoạch, tưới nước; chi trả lãi vay cho các nguồn vốn vay trong nước…
2.1.1.3 Khái niệm NN và đặc điểm của sản xuất NN:
2.1.1.3.1 Khái niệm NN: NN theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật
chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo
ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm để thoả mãn các nhu cầu của mình NN theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp
Như vậy, NN là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời trực tiếp ảnh hưởng đến NS, sản lượng cây trồng, vật nuôi NN cũng là ngành sản xuất
có NS lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên;
là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra sản xuất NN ở nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác, lề thói, tập quán đã có từ hàng nghìn năm nay
Như vậy theo nghĩa thông thường, NN là ngành sản xuất vật chất sử dụng đất đai và sinh vật làm ra sản phẩm NN Cách định nghĩa này chỉ dừng lại ở sản xuất
NN truyền thống Tuy nhiên, nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu của xã hội với
NN càng cao NN không chỉ đơn thuần là sản xuất ra các sản phẩm tươi sống mà còn bao gồm cả khâu chế biến, marketing và tiêu thụ nông sản Do vậy, sản phẩm cuối cùng của NN không đơn thuần là nông sản (agro-products) mà thực phẩm nông sản (agrofoods) (Đỗ Kim Chung, 2002) Do đó, NN cần được định nghĩa ở phạm vi rộng hơn NN là ngành sản xuất – kinh doanh làm ra thực phẩm nông sản, bao gồm
cả sản xuất NN, chế biến, marketing và phân phối các thực phẩm nông sản
2.1.1.3.2 Đặc điểm chung của sản xuất NN:
Trang 19NN là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Sản xuất
NN có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là:
(i) Sản xuất NN được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặc biệt trên cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất NN Thế nhưng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết – khí hậu rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động NN cũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.v… trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất Do điều kiện đất đai, khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho NN mang tính khu vực rất rõ nét Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất NN cần phải chú ý các vấn đề kinh tế – kỹ thuật sau đây:
Thứ nhất, tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông – lâm – thuỷ sản
trên phạm vi cả nước cũng như tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp
Thứ hai, việc xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ
thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất NN ở từng vùng
Thứ ba, hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng,
từng khu vực nhất định
(ii) Trong NN, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau.Trong công nghiệp, giao thông v.v… đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao thông v.v… để con người điều khiến các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động
Trong NN, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn
Trang 20nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất NN sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm
(iii) Đối tượng của sản xuất NN là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong) Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi
về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân NN bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có NS cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương
(iv) Sản xuất NN mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù điển hình nhất của
sản xuất NN, bởi vì một mặt thì sản xuất NN là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong NN Tính thời vụ trong NN là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau Đối tượng của sản xuất NN là cây trồng – loại cây xanh có vai trò cực kỳ to lớn, là sinh vật có khả năng hấp thu và tàng trữ nguồn năng lượng mặt trời để biến từ chất vô cơ thành chất hữu cơ, tạo nguồn thức ăn cơ bản cho con người và vật nuôi Như vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với ND Tạo hoá đã cung cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho NN như: ánh sáng,
độ ẩm, lượng mưa, không khí Lợi thế tự nhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu
Trang 21biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp chất lượng
Để khai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối với NN đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu v.v… Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư – kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nông nhàn
2.1.1.3.3 Đặc điểm của sản xuất NN ở nước ta
Ngoài những đặc điểm chung của sản xuất NN nêu trên, NN nước ta còn có
những đặc điểm riêng cần chú ý đó là:
(a) NN nước ta đang từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền NN sản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền NN nước ta khi chuyển lên xây dựng, phát triển nền NN sản xuất hàng hoá là rất thấp so với các nước trong khu vực và thế giới Đến nay nhiều nước có nền kinh tế phát triển, NN đã đạt trình độ sản xuất hàng hoá cao, nhiều khâu công việc được thực hiện bằng máy móc, một số loại cây con chủ yếu được thực hiện cơ giới hoá tổng hợp hoặc tự động hoá NS lao động đạt trình độ cao, tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong NN và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tỷ lệ dân số và lao động NN giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối Đời sống người dân NN và nông thôn được nâng cao ngày càng xích gần với thành thị
Trong khi đó, NN nước ta với điểm xuất phát còn rất thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu kém, lao động thuần nông còn chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao động còn thấp v.v… Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, khẳng định phát triển nền
NN nhiều thành phần và HND được xác định là đơn vị tự chủ, NN nước ta đã có bước phát triển và đạt được những thành tựu to lớn, nhất là về sản lượng lương thực Sản xuất lương thực chẳng những trang trải được nhu cầu trong nước, có dự
Trang 22trữ mà còn dư thừa để XK Bên cạnh đó một số sản phẩm khác cũng phát triển khá như cà phê, cao su, chè, hạt điều v.v… đã và đang là nguồn XK quan trọng NN nước ta đang chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá Nhiều vùng của đất nước đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN và nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm NN tăng sản phẩm phi NN
Để đưa nền kinh tế NN nước ta phát triển trình độ sản xuất hàng hoá cao, cần thiết phải bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển NN và nông thôn Khẩn trương xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho NN và hệ thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn phù hợp Bổ sung, hoàn thiện và đổi mới hệ thống chính sách kinh tế NN, nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất, tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển hàng hoá Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh cho NN và nông thôn
(b) Nền NN nước ta là nền NN nhiệt đới, có pha trộn tính chất ôn đới, nhất là
ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp: trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển Đặc điểm này đem lại cho NN nhiều thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng có những khó khăn rất lớn trong quá trình phát triển sản xuất NN
Thời tiết, khí hậu của nước ta có những thuận lợi rất cơ bản Đó là hàng năm
có lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt rất phong phú cho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào, tập đoàn cây trồng
và vật nuôi phong phú, đa dạng Nhờ những thuận lợi cơ bản đó mà ta có thể gieo trồng và thu hoạch quanh năm, với nhiều cây trồng và vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao, như cây công nghiệp lâu năm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, điều kiện thời tiết – khí hậu nước ta cũng
có nhiều khó khăn lớn, như: mưa nhiều và lượng mưa thường tập trung vào ba tháng trong năm gây lũ lụt, ngập úng Nắng nhiều thường gây nên khô hạn, có nhiều vùng thiếu cả nước cho người, vật nuôi sử dụng Khí hạy ẩm ướt, sâu bệnh, dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan gây ra những tổn thất lớn đối với mùa màng
Trong quá trình đưa NN nước ta lên sản xuất hàng hoá, chúng ta tìm kiếm mọi cách để phát huy những thuận lợi cơ bản nêu trên và hạn chế những khó khăn
Trang 23do điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên gây ra, đảm bảo cho NN phát triển nhanh chóng và vững chắc
2.1.1.4 Khái niệm về BDX
Bưởi nói chung có thể chia làm hai loại chính là bưởi (bưởi đơn) và bưởi chùm Bưởi có kích thước lớn hơn và thường ra một trái trên một cành, nếu ra hai hoặc hơn thì trái bưởi sẽ bị nhỏ, chất lượng kém và thậm chí bị rụng sớm Bưởi chùm thường có kích thước nhỏ hơn, ra trái theo từng chùm
Về tên gọi, bưởi trong tiếng Anh gọi là Pomelo, tuy nhiên nhiều từ điển ở Việt Nam dịch bưởi ra thành grapefruit, thực ra grapefruit là tên gọi bằng tiếng Anh của bưởi chùm (Citrus paradisi) – là loại cây lai giữa bưởi và cam, có quả nhỏ hơn,
vỏ giống cam, mùi bưởi, ruột màu hồng, vị chua hơi đắng Trong tổ chức lương nông liên hợp quốc (FAO), chỉ có số liệu về các loại bưởi nói chung với tên tiếng Anh là “grapefruit (inc pomelos)”, bao gồm cả hai loại bưởi chùm và bưởi đơn BDX Bến Tre thuộc dòng bưởi đơn, tiếng Anh là pomelo hoặc pink pomelo có kích thước và trọng lượng khá lớn
Bưởi đơn là loại cây ăn trái có kích thước lớn nhất trong chi cam chanh (trái
có múi), thường có màu xanh lục nhạt cho tới vàng khi chín, có múi dày, tép xốp,
có vị ngọt hoặc chua ngọt tùy loại Nguồn gốc của cây bưởi xuất phát từ vùng Đông Dương và các nước Đông Nam Á khác, với khả năng thích nghi sinh thái tốt và rộng, hiện nay cây bưởi được trồng rộng rãi ở nhiều vùng trên thế giới, đặc biệt là vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Cây bưởi dễ trồng, ít bị bệnh, tuổi thọ cao và có giá trị kinh tế
Bưởi chùm có lịch sử khá gần đây, nó được phát hiện ở đảo quốc Barbados thuộc West Indies, Nam Mỹ vào khoảng thế kỷ 18 Nhiều người cho rằng, bưởi chùm là kết quả lai tạo tự nhiên giữa cam và bưởi đơn đến từ Indonesia vào thế kỷ
17 Bưởi chùm có tên là “grapefruit” (trái cây nho) vào năm 1814 tại Jamaica, cái tên phản ánh cách mà bưởi chùm ra trái như nho Chỉ từ thế kỷ 19 thì bưởi chùm mới được trồng rộng rãi và được tiêu thụ mang tính thương mại ở Floria Mỹ, Mexico, Brazil, Nam Phi và Israel
Trang 24Bưởi nói chung là loại trái cây có giá trị cao về mặt dinh dưỡng và y học, trong một trái bưởi có chứa nhiều thành phần dưỡng chất khác nhau rất có lợi cho sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật
BDX là một giống bưởi có nguồn gốc đầu tiên ở xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre sau đó được di chuyển đến nhiều địa phương trong tỉnh bằng cách cho, biếu lẫn nhau thông qua quan hệ bà con thân tộc, bạn bè Dần dần, BDX
đã định hình ở nhiều địa phương trong tỉnh, trong đó, nhiều người ghi nhận rằng trái BDX trồng ở xã Mỹ Thạnh An thuộc TP Bến Tre có phẩm chất ngon hơn so với BDX trồng ở những nơi khác Mỹ Thạnh An cũng là địa phương đầu tiên trồng nhiều BDX nhất, là nơi xuất phát của BDX ra ngoài tỉnh khi đăng ký tham gia Hội thi trái ngon ở Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam năm 1996 và đạt giải nhì.
Trái BDX có dạng hình cầu, nặng trung bình từ 1,2 – 2,5 kg/trái; vỏ có màu xanh đến xanh hơi vàng khi chín, dễ lột và khá mỏng; tép bưởi màu hồng đỏ, bó chặt và
dễ tách khỏi vách múi; vị ngọt không chua; mùi thơm; không hạt đến khá nhiều hạt (có thể có đến 30 hạt/trái); tỷ lệ thịt/trái >55% BDX là loại trái cây quý, thường dùng làm quà biếu vào các dịp lễ, tết Giá trị của trái BDX nằm ở chỗ nó không chỉ
là món ăn ngon và bổ dưỡng, mà còn có thể được xem là bài thuốc phòng và trị bệnh do thành phần dinh dưỡng có chứa nhiều loại Vitamin, khoáng chất vi lượng
và đa lượng, kể cả một số hoạt chất đặc biệt giúp phòng ngừa bệnh (như bệnh phổi, tim, gan,…) rất hiệu quả Biết được giá trị dinh dưỡng và phòng trị bệnh của BDX nên người Bến Tre dùng trái BDX hầu như không bỏ thứ gì, từ phần ruột cho đến phần vỏ đều có thể ăn tươi (múi bưởi) hoặc chế biến (vỏ bưởi) Trong điều kiện bình thường quả BDX có thể để lâu hơn 15 ngày
Giống bưởi này đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam công nhận là giống quốc gia BDX đã được XK sang 50 thị trường khác nhau trên thế giới
Trang 252.1.2 Các lý thuyết liên quan đến thu nhập
2.1.2.1 Lý thuyết về hàm thu nhập của Mincer
Hàm thu nhập của Mincer được mọi người biết đến và ứng dụng nhiều trong các đề tài nghiên cứu về thu nhập Mincer (1974) cho rằng thu nhập của hộ ảnh hưởng bởi các yếu tố: trình độ học vấn, kinh nghiệm nghề nghiệp
Mô hình thu nhập bỏ qua yếu tố thu nhập của Mincer được biểu thị như sau: Gọi:
S: là số năm đi học
Y0: là thu nhập hàng năm của người không có đi học
Ys: là thu nhập hàng năm của người có đi học S năm
r: là lợi suất biên, tức tỷ lệ phần trăm thu nhập tăng thêm một năm đi học thì hàm thu nhập theo số năm đi học của Mincer là:
lnYs = lnY + r*S
Phương trình trên trình bày kết luận căn bản rằng, logarit của thu nhập là hàm tỷ lệ thuận với số năm đi học S, và hệ số của S biểu thị tỷ lệ phần trăm gia tăng thu nhập khi tăng thêm một năm đi học chính là tỷ suất biên r Đây là hàm thu nhập thô sơ nhất
Mô hình học vấn trở nên đầy đủ hơn khi xét đến cả yếu tố kinh nghiệm như
là quá trình đào tạo này là có chi phí Diễn dịch toán học của Mincer đã quy đổi yếu
tố kinh nghiệm về đơn vị thời gian, từ đó dẫn đến hàm thu nhập phụ thuộc vào cả số năm đi học và số năm kinh nghiệm Hàm được thể hiện như sau:
lnYt = a0 + a1S + a2t + a3t2 + V
Các biến số trong hàm thu nhập của Mincer:
(i) Biến phụ thuộc Yt, thu nhập ròng trong năm t, được xem là mức thu nhập của dữ liệu quan sát được
(ii) Biến độc lập S là số năm đi học của quan sát cá nhân có mức thu nhập
Yt
Trang 26(iii) Biến độc lập t, là số năm biểu thị kinh nghiệm tiềm năng, với giả định kinh nghiệm là liên tục và bắt đầu ngay khi không còn đi học, được tính bằng tuối hiện tại quan sát được trừ đi số năm đi học và trừ đi số tuối bắt đầu đi học:
t = A – S – b
Ở đây, A là tuổi hiện tại và b là tuối bắt đầu đi học (Mincer (1974), trang 84)
V: là biến kiểm soát khác
Hệ số a1: cho ta giá trị ước lượng suất sinh lợi của việc đi học, giải thích phần trăm tăng thêm của thu nhập khi tăng thêm một năm đi học;
Hệ số a2: giải thích phần trăm tăng thêm của thu nhập khi kinh nghiệm tiềm năng tăng thêm một năm Hệ số này mang dấu dương
Hệ số a3: là âm, biếu thị mức độ suy giảm của thu nhập biên theo thời gian làm việc
Như vậy với hàm thu nhập của Mincer cho chúng ta thấy được yếu tố vốn con người trong đó cơ bản là số năm đi học và số năm làm việc có ảnh hưởng tới thu nhập của người lao động
2.1.2.2 Lý thuyết khung sinh kế bền vững:
Tiếp cận sinh kế theo khung sinh kế bền vững được trình bày trong các nghiên cứu của Chambers và Conway (1992), Soones (1998) Trong đó khung phân tích sinh kế bền vững do Bộ Phát triển quốc tế Anh (Department For International Development-DFID) được các học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi trong phân tích về sinh kế và đói nghèo Trong khung phân tích này đề cập đến các yếu tố và thành tổ hợp thành sinh kế bao gồm: (1) Các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; (2) Các chiến lược mà họ lựa chọn để theo đuổi các ưu tiên đó; (3) Các thể chế, chính sách và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả mà họ thu được; (4) Các tiếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử dụng hiệu quả các loại vốn mình có; (5) Bối cảnh sống của con người bao gồm các xu hướng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ
Trang 27Đề cập đến khái niệm vốn khung phân tích sinh kế bền vững cho rằng con người sử dụng các loại vốn mình có để kiếm sống Con người dựa vào năm loại tài sản vốn, hay hình thức vốn để đảm bảo an ninh sinh kế hay giảm nghèo, bao gồm: (a) Vốn vật chất đó là cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế; (b) Vốn tài chính ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà con người
sử dung để để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình; (c) Vốn xã hội là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng; (d) Vốn con người đại diện cho các kỹ năng tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo thành những điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau
và đạt được các mục tiêu sinh kế Ở cấp độ hộ gia đình vốn con người là số lượng
và chất lượng lao động của hộ và loại vốn này khác nhau tùy thuộc vào kích cỡ của
hộ, trình độ giáo dục và kỹ năng nghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức về các cấu trúc sở hữu chính thống và phi chính thống, (e) Vốn tự nhiên là tất cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế Có rất nhiều nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên bao gồm cả các nguồn lực đất đai, nước, rừng, đa
dạng sinh học và những nguồn tài nguyên không thể tái tạo được như khoáng sản
Theo đó trong nghiên cứu của Scoones (1998), trong lý thuyết khung Sinh
kế nông thôn bền vững, Scoones cho rằng những yếu tố tác động đến thu nhập, sinh
kế của hộ gia đình trong NN bao gồm: vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn con người
và vốn xã hội, vốn vật chất Vốn tự nhiên đó là đất, nước, không khí… Vốn tài chính bao gồm các khoản tiết kiệm và tín dụng Vốn con người miêu tả các yếu tố như: giáo dục, lực lượng lao động, giới tính
Lý thuyết về khung sinh kế bền vững được xem là lý thuyết nền tảng trong
đề tài nghiên cứu của tác giả vì lý thuyết đã đưa ra đầy đủ những yếu tố có tác động đến sinh kế, thu nhập của hộ gia đình và tác giả cũng kế thừa những nội dung trong
lý thuyết này để đề xuất các biến ảnh hưởng đến thu nhập của HND trồng BDX trong mô hình lý thuyết của đề tài nghiên cứu
Trang 282.1.2.3 Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển NN
(i) Mô hình Ricardo
Ricardo cho rằng giới hạn của đất làm cho lợi nhuận của người sản xuất có
xu hướng giảm và giới hạn của đất làm cho năng suất NN thấp ( David Ricardo, trích từ Đinh Phi Hổ, 2006) Mô hình cho thấy nguồn gốc của tăng trưởng là tài nguyên đất NN
(ii) Mô hình Kaldor
Nicholas Kaldor (1957) cho rằng trong quá trình sản xuất, phát minh và đổi mới công nghệ là để tiết kiệm các yếu tố đầu vào nhưng vẫn có thể sản xuất ra mức sản lượng như cũ nhưng với chất lượng tốt hơn Theo ông nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sự phát triển của tiến bộ kỹ thuật tức là trình độ công nghệ, nó không chỉ làm tăng sản lượng mà còn làm tăng chất lượng sản phẩm Ngày nay công nghệ được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm trong đó:
Phần cứng là máy móc, thiết bị, nhà xưởng…
Phần mềm là kiến thức, kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm của người lao động,
bí quyết sản xuất, quy trình công nghệ …
Kaldor cho rằng tăng trưởng và phát triển NN phụ thuộc vào phát triển kỹ thuật và trình độ công nghệ Mô hình Kaldor cho thấy trong NN, nhất là những nước đang phát triển cần chú ý phát triển kỹ thuật để tăng năng suất hiệu quả kinh
tế
(iii) Mô hình Park Sang Sung
Park Sang Sung (1992) cho rằng trong giai đoạn phát triển sản lượng NN phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào, theo ông sản lượng NN tăng là nhờ vào vốn và việc ứng dụng thành tựu mới của công nghệ sinh học vào trong sản xuất ( Park Sang Sung, 1992, trích từ Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2006) Có thể thấy rằng sản lượng sản phẩm của hộ gia đình nông dân phụ thuộc vào tích lũy vốn và công nghệ sinh học, việc ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ và công nghệ làm tăng sản lượng, nâng cao NS cho người lao động và qua đó nâng cao thu nhập cho hộ gia đình ND
Trang 29Park S S cho rằng NS lao động là điều kiện thay đổi thu nhập Các nhân tố tác động đến NS lao động cũng chính là tác động đến thu nhập
2.1.2.4 Lý thuyết về vốn trong sản xuất NN
Harrod-Domar (1940) cho rằng đầu ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào hoặc toàn bộ nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào tổng số vốn sản xuất Sự thay đổi quy mô vốn sản xuất sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi tổng sản lượng đầu ra từ đó có ảnh hưởng đến thu nhập của đơn vị kinh tế Theo ông tăng trưởng sản lượng trong NN phụ thuộc vào vốn đầu tư hàng năm tăng thêm cho sản xuất, theo đó vốn đầu tư càng cao thì sản lượng sản xuất NN càng cao
2.1.2.5 Lý thuyết về các yếu tố đầu vào cơ bản trong NN
Vốn trong NN: Vốn trong sản xuất NN là toàn bộ tiền đầu tư mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất NN Vốn trong NN được phân thành vốn cố định và vốn lưu động.Vốn sản xuất NN có đặc điểm là tính thời vụ do đặc điểm của tính thời vụ trong sản xuất NN và đầu tư vốn trong NN chứa đựng nhiều rủi ro vì kết quả sản xuất NN còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên.Vốn trong NN được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau: Vốn tích lũy từ bản thân khu vực NN, vốn từ tín dụng nông thôn và vốn đầu tư của ngân sách
Nguồn lao động NN: Nguồn lao động NN bao gồm toàn bộ những người tham gia vào sản xuất NN Nguồn lao động NN là yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ số lượng mà còn có chất lượng người lao động Đặc biệt là yếu tố phi vật chất của nguồn lao động như: kỹ năng kiến thức, kinh nghiệm của người lao động Do đó đầu tư nâng cao chất lượng nguồn lao động chính là đầu tư làm gia tăng giá trị yếu tố đầu vào đặc biệt này
Đất NN: Bao gồm đất canh tác cây hàng năm, đất canh tác cây lâu năm, đồng
cỏ dùng cho chăn nuôi Đất đai là nguồn tài nguyên nhưng có giới hạn do đó cần có
sự quản lý chặt chẽ và sử dụng các phương pháp để nâng cao NS trên một đơn vị diện tích từ đất góp phần tăng thu nhập trong NN Đất có ảnh hưởng quan trọng đến
NS và chất lượng sản phẩm
Trang 30Công nghệ: Công nghệ được xem là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, tăng NS lao động góp phần tăng thu nhập Ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất sẽ nâng cao quy mô sản lượng, chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất thấp do đó tác đông gia tăng lợi nhuận hiệu quả
Từ các lý thuyết liên quan đến thu nhập HND của các nhà kinh tế học trên thế giới Trong đó lý thuyết về khung sinh kế bền vững là lý thuyết có tính nền tảng cho đề tài nghiên cứu của tác giả Lý thuyết về khung sinh kế bền vững đưa ra kết luận rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND đó là vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn con người, vốn vật chất Trong những vốn đưa ra đã bao hàm tất cả những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND Do đó lý thuyết về khung sinh kế bền vững được coi là lý thuyết nền tảng cho đề tài nghiên cứu của tác giả
2.2 ác nghiên cứu thực nghiệm
2.2.1 Nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Hossain and Sen (1992) với đề tài: “Nghèo đói nông thôn ở Bangladesh, xu hướng và quyết định” Nghiên cứu được thực hiện tại Bangladesh
và được tiến hành khảo sát trên 750 hộ, nghiên cứu khám phá mối quan hệ của thu nhập hộ với các yếu tố chính như: quy mô diện tích, trình độ học vấn và số lao động Trong đó nghiên cứu của Hossain and Sen nhấn mạnh đến quy mô diện tích là yếu tố tác động đến thu nhập của hộ mạnh mẽ nhất
Nghiên cứu của Khan (1993) với chủ đề: “Các yếu tố quyết định thu nhập hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc” thực hiện ở Trung Quốc với 650 HND được khảo sát nhằm xác định các yếu tố có tác động đến thu nhập của HND, thông qua kết quả của mô hình hồi quy, Khan kết luận rằng thu nhập của nông hộ có mối quan
hệ chặt với trình độ học vấn, mức vốn, diện tích…, trong đó Khan đã kết luận rằng mức vốn và trình độ học vấn có tác động đến thu nhập của HND nhiều nhất
Theo nghiên cứu của Kondo và cộng sự (2007): “Tác động của tài chính vi
mô đến các hộ gia đình nông thôn ở Philippines”, Tác giả tiến hành khảo sát 460 hộ
ở khu vực nông thôn, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hồi quy OLS kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) để đánh giá tác động của các yếu tố
Trang 31đến thu nhập các hộ gia đình ở nông thôn Philippin Với các biến giải thích như: tín dụng, tuổi, giới tính, trình độ của chủ hộ, quy mô hộ Kết quả ước lượng cho thấy: tín dụng, có tác động tích cực đến mức sống của các hộ gia đình ở vùng nông thôn Philippin
Hai tác giả Gobezie và Garber (2007) với chủ đề: “Đánh giá tác động của tài chính vi mô tại khu vực Amhara miền Bắc Ethiopia” Với nghiên cứu về tác động của tín dụng ở Amhara phía bắc Ethiopia đã thực hiện khảo sát 400 hộ và cũng cho kết luận rằng tín dụng có tác động tích cực đến đời sống, khả năng giảm nghèo của các hộ gia đính sống tại khu vực này Bằng phương pháp hồi quy OLS nghiên cứu
đã xác định những nhân tố có ảnh hưởng thu nhập, mức sống các hộ gia đình giống như nhiều nghiên cứu khác là: tuổi giới tính, trình độ học vấn, tín dụng, giá trị khoản vay, trình trạng sức khỏe, trình trạng hôn nhân của chủ hộ
Theo nghiên cứu Abdulai và Crolerees ( 2001). “Các yếu tố quyết định sự đa dạng hóa thu nhập giữa các hộ gia đình nông thôn ở miền Nam Mali” Tác giả tiến hành khảo sát 600 HND ở nông thôn miền Nam Mali Trong nghiên cứu này tác giả kết luận thu nhập của HND chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bao gồm: đất đai, trình
độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất, số lao động
Theo Karttunen (2009) trong đề tài nghiên cứu: “Tạo ra thu nhập từ nông thôn đa dạng hóa: một nghiên cứu điển hình ở miền đông Zambia” Đề tài đã khảo sát 550 HND để thu thập số liệu nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho rằng nguồn lực vốn con người của hộ gia đình và các yếu tố nhân khẩu xã hội như: giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ ảnh hưởng đến thu nhập của hộ
2.2.2 Nghiên cứu trong nước
Nguyễn Việt Anh và cộng sự (2010) Với đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập HND có vốn vay ở huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình” Nhóm tác giả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND có vốn vay trên địa bàn huyện của tỉnh Quảng Bình Nghiên cứu tiến hành khảo sát 180 hộ trên địa bàn, qua kết quả khi nghiên cứu về thu nhập của nông hộ, nhóm tác giả xác định
Trang 32các nhân tố có tác động đến thu nhập nông hộ bao gồm: học vấn chủ hộ, tuổi chủ
hộ, số lao động, tín dụng và diện tích đất
Theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự ( 2011) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long” Trong nghiên cứu về thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 95 hộ gia đình trên địa bàn huyện Qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra kết luận về các yếu tố có ảnh hưởng đến thu nhập của của hộ gia đình như: số lao động, tuổi chủ hộ, học vấn của chủ hộ, kinh nghiệm sản xuất là những yếu tố quyết định mạnh mẽ đến thu nhập nông hộ
Nghiên cứu Nguyễn Tiến Dũng và cộng tác viên (2014) Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người ND trồng lúa ở Cần Thơ” Nghiên cứu của tác giả đã thực hiện khảo sát 190 HND tại các huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai thuộc TP Cần Thơ Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND trồng lúa ở đây Mô hình hồi quy tuyến tính được thiết lập với biến phụ thuộc là thu nhập bình quân của nông hộ và các biến độc lập như: giới tính, tuổi, trình độ học vấn diện tích đất, chi tiêu trong sản xuất NN, sản lượng lúa được bán…Kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu cho thấy thu nhập của HND trồng lúa ở Cần Thơ chịu tác động bởi các yếu tố như: diện tích đất, giới tính, chi tiêu cho sản xuất, sản lượng lúa
Nghiên cứu của Chu Thị Kim Loan và Nguyễn Văn Hướng (2015) với đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của nguồn lực đến thu nhập của nông hộ tỉnh Thanh Hóa” Nghiên cứu được thực nghiệm tại tỉnh Thanh Hóa Kết quả nghiên cứu được tổng hợp từ số liệu điều tra khảo sát của 80 nông hộ với phương pháp phân tích chính là thống kê mô tả và nghiên cứu sử dụng hàm hồi quy tuyến tính đa biến để lượng hóa
sự ảnh hưởng của các nguồn lực tới thu nhập của nông hộ Trong đó các biến độc lập thể hiện nguồn lực chủ yếu của nông hộ gồm: trình độ học vấn của chủ hộ, số lao động trong hộ, diện tích đất sản xuất, giá trị các phương tiện sản xuất, vốn Sau khi nghiên cứu, kết quả nghiên cứu cho thấy những nguồn lực của nông hộ như diện
Trang 33tích đất sản xuất, số lao động, trình độ học vấn của chủ hộ có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập và có tác động đáng kể đến thu nhập của nông hộ ở tỉnh Thanh Hóa
Nghiên cứu của Đinh Phi Hổ và Phạm Ngọc Dưỡng (2010) với đề tài “Năng suất lao động nông nghiệp chìa khóa của tăng trưởng, thay đổi cơ cấu kinh tế và thu nhập nông dân” Nghiên cứu mối quan hệ của NS lao động NN và thu nhập ND Bằng mô hình hồi quy nghiên cứu của tác giả đã chứng minh được rằng NS lao động NN tương quan cùng chiều và có ý nghĩa với thu nhập ND và trong nghiên cứu này tác giả cũng chứng minh được NS lao động NN phụ thuộc vào các yếu tố sau: quy mô vốn đầu tư, quy mô đất NN, trình độ cơ giới, trình độ kiến thức NN
Theo đề tài nghiên cứu của Lê Đình Hải (2017): “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trên địa bàn huyện Ba Vì TP Hà Nội” Trong nghiên cứu của tác giả tiến hành khảo sát trực tiếp 90 HND trên địa bàn nghiên cứu tại TP Hà Nội Kết quả phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến đã chỉ ra được 3 nhân tố có ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập nông hộ trên địa bàn nghiên cứu: quy mô vốn vay, diện tích đất nông hộ, áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất Kết quả phân tích cho thấy 3 nhân tố có ý nghĩa thống kế vay vốn, diện tích đất và áp dụng kỹ thuật có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập và thứ tự tầm quan trọng của các biến như sau (1) quy mô vốn vay, (2) diện tích đất nông hộ, (3) áp dụng kỹ thuật vào sản xuất
2.3 Khung lý thuyết đề xuất
Từ nội dung các lý thuyết tiêu biểu về thu nhập của các nhà kinh tế trên thế giới và kết quả nghiên cứu từ các nghiên cứu thực nghiệm của nhiều tác giả trong
và ngoài nước về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND trong lĩnh vực sản xuất NN và qua đó tác giả đề xuất khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu với 8 biến độc lập có ảnh hưởng đến thu nhập của HND trồng BDX tại TP Bến Tre Tám biến độc lập đề xuất là: kinh nghiệm của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, tuổi chủ hộ, quy mô diện tích đất, tín dụng, kỹ thuật hiện đại, số lao động NN
Trang 34Biến kinh nghiệm của chủ hộ được kế thừa từ nội dung lý thuyết về hàm thu nhập của Mincer (1974), mô hình Kaldor (1957), nghiên cứu của Abdulai và Crolerees (2001), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) Biến trình độ học vấn của chủ hộ được tác giả lựa chọn từ lý thuyết về hàm thu nhập của Mincer, lý thuyết về khung sinh kế bền vững, nghiên cứu của Khan (1993), Gobezie và Garber (2007), Hossain và Sen (1992), Abdulai và Crolerees (2001), Karttunen (2009), Nguyễn Việt Anh và cộng sự (2010), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011), Chu Thị Kim Loan và Nguyễn Văn Hướng (2015) Biến giới tính chủ hộ được kế thừa từ lý thuyết về khung sinh kế bền vững, kết quả nghiên cứu của Gobezie và Garber (2007), Karttunen (2009), Nguyễn Tiến Dũng và cộng tác viên (2014) Biến tuổi của chủ hộ được kế thừa từ kết quả nghiên cứu của Gobezie và Garber (2007), Nguyễn Việt Anh và cộng sự (2010), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011)
Biến quy mô diện tích đất được kế thừa từ lý thuyết về khung sinh kế bền vững, mô hình của Ricardo, kết quả nghiên cứu của Hossain và Sen (1992), Khan (1993), Abdulai và Crolerees (2001), Nguyễn Việt Anh và cộng sự (2010), Chu Thị Kim Loan và Nguyễn Văn Hướng (2015), Nguyễn Tiến Dũng và cộng tác viên (2014), Đinh Phi Hổ Và Phạm Ngọc Dưỡng (2010), Lê Đình Hải (2017)
Biến tín dụng kế thừa từ lý thuyết về khung sinh kê bền vững, mô hình Park Sang Sung (1992), lý thuyết về vốn trong sản xuất nông nghiệp của Harrod-Domar (1940), nghiên cứu của Khan (1993), Kondo và cộng sự (2007), Gobezie và Garber (2007), Nguyễn Việt Anh và cộng sự (2010), Đinh Phi Hổ Và Phạm Ngọc Dưỡng (2010), Lê Đình Hải (2017) Biến kỹ thuật hiện đại được kế thừa nội dung từ mô hình của Nicholas Kaldor (1957), Park Sang Sung (1992), Lê Đình Hải (2017)
Biến số lao động NN kế thừa từ lý thuyết về khung sinh kế bền vững, kết quả nghiên cứu của Abdulai và Crolerees (2001), Hossain và Sen (1992), Nguyễn Việt Anh và cộng sự (2010), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011), Chu Thị Kim Loan
và Nguyễn Văn Hướng (2015)
Trong đề tài nghiên cứu tác giả không đưa yếu tố điều kiện tự nhiên vào các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND trồng BDX để phân tích vì: khảo sát số
Trang 35liệu của tác giả khảo sát năm 2017 và trong năm 2017 là một năm rất thuận lợi về thời tiết, điều kiện tự nhiên Tác giả cũng đã lập bảng câu hỏi và khảo sát trước 10
hộ trước khi chỉnh sửa hoàn chỉnh bảng câu hỏi thì cho kết quả là điều kiện tự nhiên năm 2017 không có ảnh hưởng đến thu nhập Trong 100 hộ khảo sát chính thức tác giả tiến hành khảo sát về ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên ở ngoài bảng câu hỏi thì 100% cho kết quả là điều kiện tự nhiên trong năm như thiên tai, mưa bão, hạn hán… hầu như không có xảy ra, một năm điều kiện tự nhiên thuận lợi và 100 hộ đều cho kết luận điều kiện tự nhiên trong năm 2017 không có ảnh hưởng nhiều đến thu nhập của hộ, với lý do đó tác giả không đưa yếu tố điều kiện tự nhiên vào khung
lý thuyết đề xuất vì nó sẽ không có ý nghĩa thống kê do không có sự khác biệt về sự tác động của các yếu tố tự nhiên đến thu nhập của hộ
Trong đó yếu tố về thị trường như giá cả là yếu tố thường thấy có ảnh hưởng đến thu nhập của HND trong trồng trọt, chăn nuôi lại là biến thay đổi và rất phức tạp trong trường hợp của hộ trồng BDX Theo đó BDX được chia làm 4 loại với các mức giá khác nhau của từng loại: loại 1 giá 50 ngàn đến 53 ngàn/kg, loại 2 từ 30 đến 35 ngàn/kg, loại 3 từ 15-20 ngàn/kg và loại dạt (loại 4) từ 7-13 ngàn/ kg Hầu như là HND BDX mà tác giả khảo sát thì sản lượng bưởi thu hoạch đều có 4 loại bưởi như trên Cho nên không thể xác định được giá bưởi cho trường hợp này để đưa vào dữ liệu phân tích Một yếu tố khác là giá bưởi có xu hướng tăng mạnh vào giữa năm khoảng tháng 7 tháng 8 âm lịch và cuối năm chuẩn bị cho tết Nguyên đán Chính vì giá bưởi lên xuống theo thời gian và khác nhau về chủng loại như vậy nên khó có thể xác định được giả bưởi cụ thể HND trồng BDX thì không thể cung cấp thông tin về số lượng của các chủng loại bưởi đã cung ứng ra thị trường nên việc xác định biến giá cả là rất phức tạp, khó khăn, cho nên tác giả không thể đưa biến giá cả vào mô hình nghiên cứu và cũng không thể tùy tiện đưa ra một mức giá theo suy đoán vì sẽ làm kết quả phân tích không còn chính xác Đây cũng chính là hạn chế trong đề tài nghiên cứu của tác giả khi phân tích mô hình mà không đưa vào yếu tố điều kiện tự nhiên và yếu tố về thị trường
Qua đó tác giả đề xuất khung lý thuyết với 8 biến theo sơ đồ
Trang 36Sơ đồ 2.1 Khung lý thuyết đề xuất của nghiên cứu
Nguồn : Nghiên cứu đề xuất
2.4 Mô hình nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chọn mô hình hồi quy tuyến tính đa biến làm mô hình nghiên cứu nhằm xác định và lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của HND trồng BDX
Từ mô hình hồi quy tuyến tính đa biến có thể xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến thu nhập Mô hình đem lại sự tin cậy trong việc đánh giá các yếu tố tác động và mức độ tác động của những biến độc lập lên biến phụ thuộc Ngoài ra mô hình là cách tốt nhất để lượng hóa các yếu tố định lượng và đinh tính được thực hiện trong đề tài nghiên cứu này
Thu nhập hộ nông dân
Quy mô diện tích đất
Tín dụng
Giới tính của chủ hộ
Trình độ học vấn của chủ hộ
Kinh nghiệm của chủ hộ
Kỹ thuật hiện đại
Số lao động NN
Tuổi của chủ hộ
Trang 37Dạng hàm tổng quát của mô hình hồi quy tuyến tính đa biến
Với Y là thu nhập của hộ trong năm (triệu/năm)
Các biến độc lập bao gồm: KNGHIEM, HVAN, GTINH, DTICH, TUOI, TDUNG, KTHIENDAI, SOLAODONG
2.5 ác giả thuyết của mô hình nghiên cứu, giải thích biến kỳ vọng và dấu của các hệ số
2.5.1 Các giả thuyết của mô hình
Mô hình hồi quy với phương pháp ước lượng bình phương bé nhất cần thỏa mãn các giả thuyết sau:
Giả thuyết 1: Các giá trị của X được xác định trước và không phải là đại lượng ngẫu nhiên
Giả thuyết 2: Đại lượng sai số ngẫu nhiên có kỳ vọng bằng 0, nghĩa là E(ui)=0
Giả thuyết 3: Phương sai các sai số tại các giá trị X phải như nhau, nghĩa là Var(ui)=σ2= hằng số
Giả thuyết 4: Không có sự tương quan giữa các sai số ngẫu nhiên ui, có nghĩa
2.5.2 Giải thích biến và kỳ vọng dấu của các hệ số
Mô hình bao gồm 1 biến phụ thuộc là thu nhập và 8 biến độc lập (biến giải thích) được phân thành nhóm biến định lượng và nhóm biến định tính Trong đó
Trang 38biến định lượng bao gồm 6 biến: thu nhập (THUNHAP), kinh nghiệm của chủ hộ (KNGHIEM), trình độ học vấn của chủ hộ (HVAN), quy mô diện tích đất (DTICH), tuổi của chủ hộ (TUOI), số lao động ( SOLAODONG), biến định tính bao gồm 3 biến: giới tính của chủ hộ (GTINH), tín dụng (TDUNG), áp dụng kỹ thuật hiện đại (KTHIENDAI)
Biến thu nhập (THUNHAP) thể hiện số tiền thu được hàng năm của hộ gia đình trồng BDX (triệu đồng/năm) Thu nhập của hộ gia đình trồng BDX tại TP Bến Tre được xác định bằng doanh thu từ BDX trừ chi phí bỏ ra cho công việc chăm sóc
và thu hoạch bưởi (phân bón, thuốc trừ sâu, thuê nhân công….)
(i) Đối với nhóm biến định lượng: Biến kinh nghiệm sản xuất (KNGHIEM),
trình độ học vấn (HVAN), tuổi của chủ hộ (TUOI), diện tích đất (DTICH), đây là các biến có tính kế thừa từ các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước
Trong đề tài nghiên cứu này biến kinh nghiệm (KNGHIEM) của chủ hộ được
đo bằng số năm kinh nghiệm trong hoạt động trồng BDX, đơn vị đo là năm, hàm ý
kỳ vọng dấu của biến này là dương Nghĩa là số năm trồng bưởi của chủ hộ càng nhiều thì thu nhập sẽ càng tăng và ngược lại
Biến trình độ học vấn (HVAN) của chủ hộ thể hiện số năm đi học của chủ
hộ Đơn vị tính là năm và dấu kỳ vọng của biến này là dương Nghĩa là chủ hộ có số năm đi học càng nhiều thì sẽ có cơ hội tăng thu nhập càng cao và ngược lại, do có thể nắm bắt, tiếp thu, tiếp cận được những thông tin, kỹ thuật nhiều hơn chủ hộ có
số năm đi học ít hơn
Biến quy mô diện tích đất (DTICH) là một biến thường xuyên xuất hiện trong các nghiên cứu về thu nhập của HND Đối với HND thì diện tích đất là yếu tố quan trọng nhất để tăng thu nhập cho nông hộ và dấu kỳ vọng của biến này luôn luôn là dương, khi diện tích đất tăng thì thu nhập của HND cũng tăng lên và ngược lại, điều này có thể thấy rõ nhất trong thực tế Đơn vị đo lường của biến trong đề tài nghiên cứu này là m2
Trang 39
Tuổi của chủ hộ (TUOI): Đây là biến được được kế thừa từ các nghiên cứu trong và nước ngoài Trong các nghiên cứu này thể hiện tuổi của chủ hộ càng trẻ thi thu nhập càng cao và ngược lại Dấu kỳ vọng là âm
Số lao động (SOLAODONG): Thể hiện số người lao động trong một hộ Trong điều kiện không được cơ giới hóa thì số lao động có thể được là yếu tố quan trọng để tăng thu nhập cho hộ, dấu kỳ vọng của biến này là dương Nghĩa là số lao động trong NN của hộ càng nhiều thì cơ hội để tăng thu nhập càng cao và ngược lại Khi số lao động trong NN của hộ càng nhiều thì sẽ ít tốn chi phí thuê nhân công từ bên ngoài và hiệu quả hơn để chăm sóc vườn bưởi, việc chăm sóc và trồng BDX đòi hỏi phải tốn rất nhiều công chăm sóc và thời gian Việc hộ gia đình có nhiều người tham gia lao động NN tham gia chăm sóc vườn bưởi sẽ mang lại hiệu quả cao góp phần tăng NS và chất lượng bưởi
(ii) Đối với nhóm biến định tính: Cần hiểu rõ định nghĩa mà cách mã hóa
biến Các biến đều là biến giả có 2 giá trị 1 và 0 Định nghĩa và mà hóa biến được giải thích trong bảng 3.2
Biến giới tính của chủ hộ (GTINH) Trong sản xuất NN đòi hỏi cần có sự lao động chân tay thì có thể thấy việc giới tính của chủ hộ có ảnh hưởng đến thu nhập của HND là hợp lý Khi giới tính của chủ hộ là nam nhận giá trị 0 và khi giới tính của chủ hộ là nữ sẽ nhận giá trị 1 Kỳ vọng dấu của biến giải thích này là âm, nghĩa
là khi chủ hộ là nam thì thu nhập của HND trồng bưởi sẽ tăng và ngược lại
Biến tín dụng (TDUNG): Trong NN thì vốn là một trong các yếu có thể ảnh hưởng đến thu nhập HND trong sản xuất NN Nhận giá trị 1 nếu chủ hộ có vay vốn
từ các định chế chính thức, nhận giá trị 0 nếu hộ không có vay vốn, dấu kỳ vọng của biến này làm dương Nghĩa là khi hộ mà có vay vốn thì cơ hôi tăng thu nhập sẽ tăng
và ngược lại
Biến áp dụng kỹ thuật hiện đại (KTHIENDAI): Việc áp dụng kỹ thuật hiện đại sẽ góp phần nâng cao NS lao động chính vì vậy cũng đồng nghĩa với việc tăng thu nhập cho nông hộ Nhận giá trị 1 nếu chủ hộ có áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất và nhận giá trị 0 nếu chủ hộ không áp dụng Dấu kỳ vọng của biến này là
Trang 40dương Nghĩa là nếu chủ hộ có áp dụng kỹ thuật hiện đại vào trồng bưởi thì thu nhập sẽ tăng và ngược lại
Bảng 2.1 Tổng hợp giải thích và mã hóa biến
Biến số Diễn giải Nguồn thuyết giả Biến phụ thuộc:
Y: Thu nhập
(THUNHAP)
Triệu đồng/ năm/hộ
Park (1992), Scoones (1998), Mincer (1974)
Nam
Karttunen (2009), Nguyễn Tiến Dũng và ctv( 2014) (-)
X4: Quy mô diện
tích đất (DTICH)
Diện tích đất sản xuất của hộ (ha)
Scoones (1998);
Hossain and Sen (1992), Khan (1993) Nguyễn Tiến Dũng và cộng tác viên (2014) Đinh Phi Hổ và Phạm Ngọc Dưỡng (2011)