Qua đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm tiến hành kiểm định các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành Thép như: Tài sản hữu hình TANG, Tăng trưởng GROWTH, Quy mô doa
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2TRẦN NHẬT VY
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRONG NGÀNH THÉP TẠI VIỆT NAM, THÁI LAN VÀ MALAYSIA
Ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS DƯƠNG NHƯ HÙNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 3Tác giả cam đoan đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp sản xuất trong ngành Thép tại Việt Nam, Thái Lan và Malaysia” là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Nội dung trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, do chính tác giả thu thập và phân tích Tác giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời cam đoan danh dự của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 06 năm 2019
Tác Giả
Trần Nhật Vy
Trang 4ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
LEV Chỉ số đòn bẩy tài chính
OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Square)
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp các giả thuyết đặt ra trong nghiên cứu 19
Bảng 3.1: Tổng hợp các biến đo lường được sử dụng trong nghiên cứu 23
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 31
Bảng 4.2: Ma trận tương quan các biến 40
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 41
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy bằng phương pháp Pooled OLS 42
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành Thép 32
Biểu đồ 4.2: Tài sản hữu hình (TANG) và chỉ số nợ (LEV) 33
Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ tăng trưởng tài sản (GROWTH) của các doanh nghiệp Thép 34
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ tăng trưởng tài sản (GROWTH) và chỉ số nợ (LEV) 35
Biểu đồ 4.5: Biến động thu nhập (VOLA) và chỉ số nợ (LEV) 36
Biểu đồ 4.6: Quy mô của các doanh nghiệp Thép Việt Nam, Thái Lan, Malaysia 37
Biểu đồ 4.7: Quy mô doanh nghiệp (SIZE) và chỉ số nợ (LEV) 38
Biểu đồ 4.8: Tính thanh khoản (LIQ) và chỉ số nợ (LEV) 39
Biểu đồ 4.9: GDP của Việt Nam, Thái Lan, Malaysia 40
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.4 Các câu hỏi nghiên cứu 6
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.6 Phương pháp nghiên cứu 7
1.7 Ý nghĩa và điểm mới trong nghiên cứu 7
1.8 Kết cấu luận văn 8
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 10
2.1 Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn 10
2.1.1 Khái quát về cấu trúc vốn 10
2.1.2 Ý nghĩa của cấu trúc vốn trong hoạt động cuả doanh nghiệp 10
2.1.3 Các thành phần của cấu trúc vốn 11
2.2 Các lý thuyết nghiên cứu 12
2.2.1 Lý thuyết của Modigliani và Miller (M&M) 12
2.2.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off Theory) 12
2.2.3 Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) 13
2.2.4 Thuyết tín hiệu (Signaling Theory) 14
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn và các nghiên cứu thực nghiệm 14
2.3.1 Tài sản hữu hình (TANG) 15
Trang 82.3.2 Tốc độ tăng trưởng (GROWTH) 16
2.3.3 Biến động (VOLA) 17
2.3.4 Quy mô doanh nghiệp (SIZE) 17
2.3.5 Tính thanh khoản (LIQ) 18
2.3.6 Tăng trưởng kinh tế quốc gia (GDP) 18
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Mô hình nghiên cứu 20
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
3.3.1 Phương pháp ước lượng (Pooled OLS) 25
3.3.2 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 26
3.3.3 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 29
3.3.4 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 29
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Thống kê mô tả 31
4.2 Ma trận tương quan các biến 40
4.3 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 41
4.4 Kiểm định phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan 41
4.5 Kết quả hồi quy 42
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Những hạn chế 49
5.3 Đề xuất và Kiến nghị 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 01 54
PHỤ LỤC 02 55
PHỤ LỤC 03 56
Trang 91.1 Lý do chọn đề tài
Ngành thép là ngành Công nghiệp nặng cơ sở của mỗi quốc gia Nền Công nghiệp gang thép mạnh là sự đảm bảo ổn định và đi lên của nền kinh tế một cách chủ động, vững chắc Sản phẩm thép là vật tư, nguyên liệu chủ yếu, là “lương thực” của nhiều ngành kinh tế quan trọng như ngành cơ khí, ngành xây dựng; nó có vai trò quyết định tới sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước
Nếu như thời kỳ trước những năm 90, chỉ có các doanh nghiệp Nhà nước tham gia sản xuất thép như Công ty Gang thép Thái Nguyên, Công ty Gang thép Miền Nam…thì trong những năm qua các doanh nghiệp sản xuất thép tư nhân cũng như các doanh nghiệp thép nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng gia tăng đáng kể
Đối với Việt Nam thì ngành Thép trong những năm qua cũng có những tăng trưởng đáng kể Trong năm 2017, nhờ sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong nước, sự hồi phục của bất động sản khi các dự án bất động sản được triển khai khá nhiều, góp phần giúp cho ngành thép có những tăng trưởng vượt bậc trong năm, cải thiện hơn so với những năm 2015-2016 Điển hình sản xuất thép năm 2017 đạt 21 triệu tấn, tăng 24,3% và tiêu thụ thép các loại đạt 18 triệu tấn, tăng 20,7% so với năm 2016 Bên cạnh đó, ngành Thép cũng là một trong những ngành đã có nhiều đóng góp trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, xuất khẩu thép năm 2017 đạt 5,5 triệu tấn, tăng 28,5% và giá trị xuất khẩu đạt 3,6 tỷ Đôla Mỹ, tăng 45% so với năm 2016
Có thể thấy trong quá trình hội nhập kinh tế Thế giới, một mặt đang mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển kinh tế, nhưng cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp trong ngành Thép là không ngoại lệ, nếu các doanh nghiệp không đủ tiềm lực cạnh tranh, khả năng tài chính kém thì trong quá trình hội nhập có thể dẫn đến sự phá sản là điều không tránh khỏi
Trang 10Chính vì vậy, để có thể tồn tại và phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng cải tiến, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, cân đối dòng tài chính, sử dụng vốn một cách hiệu quả
Do đó, vấn đề quản trị cấu trúc vốn hợp lý và sử dụng sao cho có hiệu quả nguồn vốn luôn là mục tiêu mà các doanh nghiệp quan tâm và hướng đến Có như vậy mới giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp và gia tăng giá trị doanh nghiệp, phát triển kinh doanh bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay
Đặc biệt hiện nay trước vấn đề áp lực từ chính sách bảo hộ của Mỹ đối với sản phẩm thép sẽ ảnh hưởng đến thị trường thép và các doanh nghiệp thép Việt Nam hay cũng như các doanh nghiệp thép cùng khu vực như Thái Lan, Malaysia khi mức thuế nhập khẩu vào thị trường này gia tăng đến 25%, làn sóng chuyển dịch
từ thị trường Trung Quốc chuyển sang các nước khu vực ASEAN cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp ngành thép tại các thị trường này
Đề tài nghiên cứu về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong ngành thép tại Việt Nam, Thái Lan và Malaysia với 108 doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán tại ba quốc gia trong giai đoạn 2006-2017, đây cũng là ba quốc gia đại diện cho các doanh nghiệp thép điển hình, được đánh giá là một trong những quốc gia đi đầu trong ngành Thép trong khu vực ASEAN
Qua đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm tiến hành kiểm định các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành Thép như: Tài sản hữu hình (TANG), Tăng trưởng (GROWTH), Quy mô doanh nghiệp (SIZE) đều có ảnh hưởng cùng chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong ngành thép, Biến động thu nhập (VOLA), Tính thanh khoản (LIQ) có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong ngành thép, ngoài ra nghiên cứu cũng đưa ra kiểm định giả thuyết yếu tố đặc thù quốc gia như về tăng trưởng kinh tế quốc gia (GDP)
có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp như thế nào với mức sử dụng nợ của các doanh nghiệp Thép tại ba quốc gia này
Ngoài thực hiện nghiên cứu các nhân tố tác động đến công trúc vốn của các doanh nghiệp, nghiên cứu cũng nhằm mục tiêu đánh giá mức sử dụng nợ của doanh
Trang 11nghiệp sản xuất thép Việt Nam có khác biệt như thế nào so với các doanh nghiệp sản xuất thép trong cùng khu vực ASEAN như Thái Lan và Malaysia
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài có thể cho thấy sức khoẻ tài chính của các doanh nghiệp thép Việt Nam, từ đó giúp cho các nhà quản trị trong ngành nhận diện
và có những giải pháp xây dựng một cấu trúc vốn hợp lý, cải thiện hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan
Về mặt lý thuyết, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về cấu trúc vốn của doanh nghiệp, trong đó có thể kể đến các Lý thuyết của Modigliani và Miller, Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, Lý thuyết trật tự phân hạng Mặc dù vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau về thứ tự ưu tiên tài trợ vốn của doanh nghiệp, các lý thuyết trên đều được xây mang tính kế thừa
Về mặt nghiên cứu thực nghiệm, trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp như: Titman & Wessels (1988); Frank và Goyal (2009), Chen (2003), Ozkan (2011), Graham và Harvey; Barclay and Smith (1995); Pathak (2010); Nguyễn Thị Cành và Nguyễn Thành Cường (2011); Đặng Thị Ngọc Lan và Nguyễn Ngọc Hưng, các nghiên cứu thực nghiệm này chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp như: rủi ro kinh doanh, tỷ lệ tài sản cố định, cơ hội tăng trưởng, tính thanh khoản, lợi nhuận và quy mô công ty Tuy nhiên, đối với nghiên cứu đặc thù cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành Thép tại Việt Nam cũng như có đối sánh với các doanh nghiệp ngành Thép trong cùng khu vực hiện nay theo tiếp cận của tác giả còn chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này
Trong nghiên cứu của Huang & Song (2006) khi nghiên cứu về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Trung Quốc Trong bộ mẫu dữ liệu từ 1.000 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, Huang và Song đã xem xét tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn thông qua đo lường biến đòn bẩy được đo lường bởi Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản và Nợ dài hạn/Tổng tài sản Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy trong các công ty Trung Quốc tăng theo quy mô
Trang 12doanh nghiệp, lá chắn thuế phi nợ và tài sản cố định (đối với tỷ lệ được đo lường bởi nợ dài hạn), và giảm khi lợi nhuận gia tăng Khác với nghiên cứu trước đó, kết quả nghiên cứu của Huang & Song (2006) cho thấy đòn bẩy trong các công ty Trung Quốc tăng lên với sự biến động khi xem xét đòn bẩy tổng nợ, và các công ty
có xu hướng có nợ dài hạn thấp hơn nhiều Các công ty có tốc độ tăng trưởng doanh
số nhanh chóng có xu hướng có đòn bẩy cao hơn trong khi các công ty có cơ hội tăng trưởng ổn định hơn thì có xu hướng có ít đòn bẩy hơn
Tương tự Huang&Song (2006), trong nghiên cứu của Chen (2003) về các nhân
tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Trung Quốc, kết quả từ mô hình cho kết quả khá tương đồng, cho thấy có sự ảnh hưởng ngược chiều giữa lợi nhuận
và nợ; ảnh hưởng xu hướng cùng chiều giữa cơ hội tăng trưởng, tài sản cố định với nợ; ảnh hưởng ngược chiều giữa quy mô và nợ dài hạn Bênh cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy các doanh nghiệp có quy mô lớn tại Trung Quốc thích sử dụng nợ ngắn hạn hơn là nợ dài hạn
Đối với nghiên cứu trong nước, từ nghiên cứu của Ts Đặng Thị Ngọc Lan và Ths Nguyễn Ngọc Hưng về cấu trúc vốn của doanh nghiệp khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ bộ dữ liệu của 30 doanh nghiệp khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2009-2015 Trong nghiên cứu xem xét tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn thông qua đo lường biến đòn bẩy được đo lường bởi Tổng nợ/Tổng tài sản, Nợ dài hạn/Tổng tài sản và
cả Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản, nghiên cứu đã tìm ra 7 yếu tố có tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp khoán sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó có 5 yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp đó là: Quy mô doanh nghiệp (SIZE), Tài sản cố định hữu hình (TANG), lợi nhuận (PORF), tính thanh khoản (LIQ), tấm chắn thuế phi nợ (NDTS), còn lại
2 yếu tố có mức độ ít ảnh hưởng đến cấu trúc vốn đó là: tăng trưởng (GROWTH)
và rủi ro kinh doanh (RISK)
Khi tiếp cận các nghiên cứu thực nghiệm trước đây lẫn trong nước và ngoài nước về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp và các nhân tố tác động đến cấu trúc
Trang 13vốn của các doanh nghiệp thì các nghiên cứu này chủ yếu được phân tích các doanh nghiệp trong phạm vi một quốc gia, hay các nghiên cứu trong phạm vi các doanh nghiệp trong một nhóm ngành và trong một quốc gia Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy có những điểm khác nhau về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tại mỗi quốc gia như từ nghiên cứu của Chen (2003), Huang&Song (2006), hay điển hình
từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong nước đã nêu trên, cho thấy có sự khác nhau về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành khác nhau với những đặc thù ngành khác nhau Tuy nhiên, từ các tiếp cận của tác giả, đặc biệt cho thấy chưa có nhiều nghiên cứu về cấu trúc vốn và nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong ngành Thép khi đây là ngành có đặc thù về mức đầu tư
và khả năng sử dụng nợ cao, đặc biệt là từ khía cạnh ngành Thép tại Việt Nam chưa
có nhiều nghiên cứu về cấu trúc vốn các doanh nghiệp trong ngành này và đối sánh với các doanh nghiệp trong ngành tại các quốc gia khác như thế nào
Như vậy, các thiết kế nghiên cứu của đề tài ngoài kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây, nghiên cứu bổ sung với trọng tâm nghiên cứu về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong ngành Thép tại Việt Nam cũng như đối sánh với các doanh nghiệp tại Thái Lan, Malaysia, để từ kết quả nghiên cứu có thể giúp các nhà quản trị doanh nghiệp trong ngành hoạch định một cấu trúc vốn phù hợp hơn với doanh nghiệp cũng như không chỉ phạm vi trong nước mà còn cái nhìn tổng quan so với các doanh nghiệp trong ngành tại các quốc gia khác, đảm bảo khả năng cạnh tranh khi quá trình hội nhập ngày càng tiến triển
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quan: vận dụng các lý thuyết về cấu trúc vốn và kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây để từ đó xây dựng mô hình phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong ngành Thép Việt Nam, Thái Lan và Malaysia Phân tích đặc trưng cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Thép Việt Nam so với các doanh nghiệp thép tại Thái Lan và Malaysia Qua đó rút ra các kết luận khoa học giúp các nhà
Trang 14quản trị doanh nghiệp hoạch định một cấu trúc vốn phù hợp hơn với doanh nghiệp
1.4 Các câu hỏi nghiên cứu
- Đặc trưng cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong ngành thép tại Việt Nam, Thái Lan và Malaysia như thế nào?
- Những nhân tố quan trọng nào có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành Thép Việt Nam, Thái Lan, Malaysia
- Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thép Việt Nam có khác biệt gì so với cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Thép tại Thái Lan và Malaysia?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu là các nhân tố tác động đến
cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong ngành thép
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của
các doanh nghiệp trong ngành thép tại Việt Nam, Thái Lan và Malaysia
+ Về thời gian: dữ liệu báo cáo tài chính thu thập của 108 doanh nghiệp
thuộc ngành Thép được niêm yết trên thị trường chứng khoán của ba nước Việt Nam, Thái Lan, Malaysia trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2017 Trong đó có 57 doanh nghiệp ngành thép của Thái Lan,
Trang 1528 doanh nghiệp ngành thép của Malaysia và 23 doanh nghiệp trong ngành thép tại Việt Nam
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu của đề tài bao gồm phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định tính: sử dụng tổng hợp các phương pháp bao
gồm diễn giải, phân tích, tổng hợp, so sánh để mô tả số liệu thống kê về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong ngành thép tại Việt Nam, Thái Lan và Malaysia Phương pháp định tính còn được sử dụng để phân tích, lựa chọn các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong ngành thép dựa trên các nghiên cứu lịch sử về cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata 14 trong phân tích định lượng (phân tích hồi quy dữ liệu bảng không cân bằng) Xây dựng mô hình hồi quy và kiểm định tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép tại Việt Nam, Thái Lan và Malaysia
1.7 Ý nghĩa và điểm mới trong nghiên cứu
1.7.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu làm rõ thêm cơ sở lý luận về cấu trúc vốn bao gồm các khái niệm, các lý thuyết về cấu trúc vốn, các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Nghiên cứu cũng trình bày các quan điểm và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn của doanh nghiệp cũng như các nhân tốt tác động đến cấu trúc vốn
Trang 16đến chỉ số nợ của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, khác với kết quả thực nghiệm trước đây của Panda, Mohapatra và Moharana (2013) ; Pathak (2010), Antoniou, Guney và Paudyal (2008) hay kết quả nghiên cứu của Jong, Kabir và Thuy Thu Nguyen (2007), trong kết quả nghiên cứu của đề tài với trường hợp các doanh nghiệp trong ngành thép lại chỉ ra rằng hệ số thanh khoản (LIQ) và chỉ số tăng trưởng kinh tế quốc gia (GDP) không có ảnh hưởng đến chỉ số nợ của các doanh nghiệp Trong nghiên cứu cũng cho thấy chỉ số nợ của các doanh nghiệp thép Việt Nam ở cao hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực Từ đó, tác giải cũng đã có những khuyến nghị đối với các nhà quản lý, để từ đó dần cải thiện cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thép Việt Nam, xây dựng một cấu trúc vốn hợp lý, giảm thiểu rủi ro tài chính
1.8 Kết cấu của luận văn
Kết cấu đề tài bao gồm 5 Chương:
- Chương 1: Tổng quan về đề tài
Nội dung chương 1 nhằm xác định mục tiêu của đề tài nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra với mong muốn xác định những nhân tố nào tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong ngành thép, mức độ sử dụng nợ của các doanh nghiệp Thép Việt Nam có khác biệt so với các doanh nghiệp Thép tại các quốc gia như Thái Lan và Malaysia Với mong muốn tìm ra kết quả thực nghiệm giúp đưa ra các hàm ý về quản lý cho doanh nghiệp thép Việt Nam có thể cải thiện cơ cấu vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
- Chương 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan
Nội dung chương 2 khái quát các lý thuyết nghiên cứu về cấu trúc vốn, cơ sở
lý thuyết giải thích cho hành vi lựa chọn cấu trúc vốn của các nhà quản trị doanh nghiệp Từ các cở sở lý thuyết và dẫn chứng từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây, đưa ra cơ sở về nhân các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp cũng như đề ra giả thuyết về kỳ vọng tương quan của các nhân tố đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép thuộc đề tài nghiên cứu
- Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Trang 17Xác định nguồn của cơ sở dữ liệu được dùng để nghiên cứu, số mẫu quan sát, phương pháp nghiên cứu áp dụng đối với cơ sở dữ liệu đã có để phân tích dữ liệu, kiểm định sự phù hợp của mô hình và các biến nghiên cứu Xác định mô hình nghiên cứu với Biến phụ thuộc và các biến động được đề ra, phương pháp đo lường các biến
và các giả thuyết kiểm định cho mô hình nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Phân tích tổng quan về thị trường ngành thép thế giới, khu vực ASEAN, đặc điểm sử dụng nợ của các doanh nghiệp thép tại Việt Nam, Thái Lan, Malaysia
Phân tích chạy mô hình hồi quy bằng phương pháp Pooled OLS, kiểm định các khuyết tật của mô hình, xác định kết quả hồi quy thu được về ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp so với các giả thuyết đã đề ra trong nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp kết quả nghiên cứu thu được, những nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thép tại Việt Nam, Thái Lan và Malaysia, điểm mới thu được từ nghiên cứu, đối sánh về mức độ sử dụng nợ của các doanh nghiệp Thép Việt Nam so với các doanh nghiệp thép tại hai quốc gia còn lại
Xác định những hạn chế còn tồn tại trong quá trình nghiên cứu của tác giả Qua kết quả nghiên cứu của đề tài, nhận định về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thép Việt Nam, các kiến nghị đối với các nhà quản lý nhằm cải thiện cơ cấu vốn của các doanh nghiệp, giảm thiểu rủi ro tài chính
Trang 18CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
2.1 Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn
2.1.1 Khái quát về cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn của một doanh nghiệp luôn là đề tài được quan tâm, nghiên cứu
từ trước đến nay Nền tảng cho các nghiên cứu là nghiên cứu của Modigliani và Miller (M&M), trong nghiên cứu tập trung phân tích ảnh hưởng của chi phí vốn đến giá trị của doanh nghiệp, trong đó xem xét phần vốn tham gia tài trợ cho tài sản hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ thuần tuý (khoản nợ thường xuyên mang tính chất dài hạn) và vốn chủ sở hữu Cơ cấu vốn là tỷ trọng tương đối của vốn chủ hữu và nợ vay trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Theo Ross, Westerfield và Jordan 2008 theo cấu trúc vốn của doanh nghiệp
là sự kết hợp cụ thể của nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động của mình Cũng theo tác giả một cấu trúc vốn được xem là tối
ưu hơn một cấu trúc vốn khác khi nó có chi phí sử dụng vốn là thấp nhất Một tỷ lệ giữ nợ và vốn chủ sở hữu thể hiện cấu trúc vốn tối ưu khi nó dẫn đến chi phí sử dụng vốn bình bình quân là thấp nhất Cấu trúc vốn tối ưu này cũng được gọi là cấu trúc vốn mục tiêu của doanh nghiệp
Theo Brigham E.F và Houston J.F (2010), ngoài nguồn vốn có tính chất dài hạn như nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, cổ phần thường thì các khoản vay ngắn hạn cũng là một yếu tố cấu thành trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Tuy nhiên, trong quan điểm đầu tư, phân tích cấu trúc vốn của doanh nghiệp các khoản nợ ở đây được sử dụng trong phân tích chủ yếu là nợ dài hạn, đây là khoản nợ có tính chất ổn định và thường được sử dụng trong các nghiên cứu
2.1.2 Ý nghĩa của phân tích cấu trúc vốn trong hoạt động của doanh nghiệp
Trong hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào thuộc các lĩnh vực, nguồn vốn đầu tư tham gia vào trong hoạt động của doanh nghiệp đều nhằm mang lại hiệu quả, tăng thêm lợi nhuận và tăng thêm giá trị cho doanh nghiệp Tuy nhiên, như trong các nghiên cứu đã đề cấp đến thì việc gia tăng, huy động thêm vốn đáp ứng cho quá
Trang 19trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ gánh chịu một rủi ro nhất định về tài chính Chính vì vậy, việc huy động thêm vốn từ nguồn nào và sử dụng ở mức nào, quản lý và sử dụng nguồn vốn như thế nào cho hiệu quả với việc giảm thiểu rủi ro, giảm trong chi phí sử dụng vốn luôn là vấn đề quan tâm của các doanh nghiệp
Với lợi ích có được từ lá chắn thuế, việc sử dụng nợ vay tham gia vào vốn hoạt động của doanh nghiệp có thể gia tăng giá trị doanh nghiệp khi lợi ích từ lá chắn thuế có thể bù đắp các chi phí phát sinh rủi ro Tuy nhiên, việc sử dụng nợ vay quá mức có thể ảnh hưởng đến quản lý hoạt động của doanh nghiệp, chi phí phát sinh rủi ro càng lớn càng ảnh hưởng đến doanh nghiệp, thậm chí dẫn đến phá sản Chính vì vậy, việc sử dụng nợ vay ở mức như thế nào là phù hợp, một tỷ trọng cơ cấu vốn giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu như thế nào đảm bảo hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp và gia tăng giá trị doanh nghiệp, đây là vấn đề cần được phân tích
và có ý nghĩa lớn đối với hoạt động của một doanh nghiệp
2.1.3 Các thành phần của nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp
Các thành phần nguồn vốn được doanh nghiệp lựa chọn tài trợ được chia
thành hai nhóm: Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu (Ross, Westerfield và Jordan 2008)
Nợ phải trả của doanh nghiệp sẽ bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
- Nợ ngắn hạn là khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong thời gian tối đa là 12 tháng (gồm nợ phải trả ngắn hạn và nợ vay ngắn hạn)
- Nợ dài hạn là nguồn vốn mà công ty có thể huy động dưới hình thức đi vay
nợ Ngân hàng với thời gian từ trên 12 tháng Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể gia tăng nợ vay từ việc phát hành trái phiếu trên thị trường vốn
Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn do chủ sở hữu, các thành viên hay các
cổ đông của công ty góp vào hoặc là phần lợi nhuận tích luỹ được giữ lại để tái đầu
tư, nguồn kinh phí và trích các quỹ
Tuy nhiên, trong phân tích cấu trúc vốn đó là sự kết hợp cụ thể của nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động của mình
Trang 202.2 Các lý thuyết nghiên cứu
2.2.1 Lý thuyết của Modigliani và Miller (M&M)
Nghiên cứu về cơ cấu vốn được Modigliani và Miller đưa ra từ 1958 trở thành nền tảng cho các nghiên cứu về cấu trúc vốn hiện đại sau này, nghiên cứu đưa
ra kết luận quan trọng về cấu trúc vốn của doanh nghiệp dựa trên hai trường hợp nghiên cứu là Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường không thuế và Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường có thuế
Theo đó , trong điều kiện không thuế thì giá trị của doanh nghiệp có vay nợ (VL) bằng giá trị của doanh nghiệp không có vay nợ (VU), tức VL=VU, tức cơ cấu nợ/vốn (D/E) không có ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp Vì vậy, sẽ không
có cơ cấu vốn nào tối ưu và công ty cũng không thể nào tăng giá trị bằng cách thay đổi cơ cấu vốn
Còn trong trường hợp hoạt động của doanh nghiệp có thuế, giá trị công ty có vay nợ (VL) bằng giá trị công ty không vay nợ (VU) cộng với hiện giá của lá chắn thuế, biểu hiện qua công thức:
VL = VU + Tc.D Thuyết M&M được đưa ra với giả định rằng thị trường là hoàn hảo, không
có các chi phí kiệt quệ tài chài chính, không có chi phí giao dịch Tuy nhiên, trong thực tế khi công ty tăng sử dụng nợ sẽ làm cho rủi ro của công ty càng gia tăng, điều này sẽ dẫn đến chi phí kiệt quệ tài chính tác động đồng thời với lợi ích của lá chắn thuế và đến một thời điểm nhất định chi phí kiệt quệ tài chính sẽ vượt qua cả lợi ích của lá chắn thuế
Trong thực tế thị trường dù có vận hành tốt nhất cũng không thể hoàn hảo, các nhà đầu tư phải chịu một khoản chi phí vốn với các lãi suất khác nhau Chính những bất cập này đã hạn chế việc ứng dụng thuyết M&M vào trong thực tiễn
2.2.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off Theory)
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off Theory) được phát triển bởi Kraus & Litzenberger (1973), theo đó nghiên cứu đã cho thấy việc tài trợ từ nợ có
ưu điểm là được hưởng lợi ích từ lá chắn thuế Ở mức nợ trung bình, xác suất kiệt
Trang 21quệ tài chính là không đáng kể và chi phí kiệt quệ tài chính cũng nhỏ nên việc vay
nợ sẽ là một lợi thế cho doanh nghiệp Tuy nhiên, khi doanh nghiệp càng vay nợ nhiều thì rủi ro phá sản sẽ càng ngày tăng cao và làm giảm giá trị doanh nghiệp, đến một lúc nào đó giá trị của lá chắn thuế bằng với giá trị của chi phí kiệt quệ tài chính
- Chi phí kiệt quệ
tài chính
Như vậy nhà quản trị có thể tối ưu cấu trúc vốn của mình bằng cách xác định điểm mà tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm vừa đủ bù đắp cho sự gia tăng của chi phí kiệt quệ tài chính dự tính trong điều kiện các kế hoạch đầu tư và tài sản của doanh nghiệp là không đổi
Thuyết đánh đổi đã giải thích được mặt hạn chế của lý thuyết M&M về chi phí kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp khi vay nợ Bên cạnh đó, lý thuyết đánh đổi cũng đã giải thích được khác biệt trong cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành khác nhau khi mức sử dụng tài sản hữu hình khác nhau, mức sử dụng nợ khác nhau
2.2.3 Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory)
Nền tảng đầu tiên cho thuyết trật tự phân hạng là nghiên cứu của Donaldson (1961) và được phát triển bởi Myers (1984), nghiên cứu đã chỉ ra rằng có một trật tự
ưu tiên trong sử dụng các nguồn tài trợ nội bộ và nguồn tài trợ bên ngoài, giữa phát hành nợ mới và phát hành cổ phần bắt nguồn từ thông tin bất cân xứng
Chỉ có chính các nhà quản trị của công ty mới hiểu rõ hơn các nhà đầu tư bên ngoài về tình hình kinh doanh của công ty cũng như khả năng sinh lời của các dự
án, theo đó các dự án được đánh giá có triển vọng mang lại lợi nhuận cao thì cách tài trợ tốt nhất là từ nguồn sẵn có (lợi nhuận giữ lại) Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cho rằng vốn cổ phần và nợ đều có rủi ro, tuy nhiên mức độ rủi ro của vốn cổ phần cao hơn nên đòi hỏi một mức sinh lời cao hơn, điều này dẫn đến việc chia sẽ lợi nhuận cao hơn Chính vì vậy dẫn đến một trật tự phân hạng, đầu tư sẽ được tài trợ
Trang 22trước tiên bằng nguồn vốn nội bộ công ty (chủ yếu là phần lợi nhuận giữ lại), tiếp theo là đến nợ vay mới và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần mới
Ba ưu điểm của trật tự phân hạng ở đây giải thích cho việc lựa chọn cơ cấu vốn của doanh nghiệp:
(1) Thuyết giải thích tại sao các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao thường
sử dụng nợ ít hơn, không phải vì họ có tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu thấp mà vì tài chính họ không cần thêm nguồn tài trợ từ bên ngoài Trong khi đó, các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi ít hơn sẽ phát hành nợ vì cơ sở nguồn vốn nội bộ không đủ đáp ứng cho nhu cầu vốn đầu tư và phần vốn tài trợ từ nợ đứng ngay sau ưu tiên phần lợi nhuận giữ lại trong trật tự phân hạng
(2) Thuyết cũng lý giải cho hành động của các nhà quản trị, các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao với cơ hội đầu tư hạn chế sẽ cố gắng duy trì tỷ lệ nợ mục tiêu thấp trong khi các doanh nghiệp với các cơ hội đầu tư lớn hơn các nguồn nội bộ thì buộc sẽ phải tăng tỷ lệ nợ
(3) Dự báo cho tỷ lệ nợ của các doanh nghiệp ở giai đoạn bão hoà Tỷ lệ nợ của các doanh nghiệp tăng khi thâm hụt tài chính và giảm khi thặng dư tài chính Cho thấy mức sinh lợi của doanh nghiệp có ảnh hưởng tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp
2.2.4 Thuyết tín hiệu (Signaling theory)
Theo Thuyết tín hiệu thì thị trường sẽ phản ánh tích cực đối với các doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính, quy mô lớn, tỷ lệ tài sản hữu hình nhiều để làm đảm bảo cho khoản vay Khi đó các nhà tài trợ vốn như Ngân hàng sẽ ưa chuộng hơn và vấn đề tiếp cận vốn vay của doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn và mức vay sẽ cao hơn, lợi thế hơn so với các doanh nghiệp có tiềm lực yếu và quy mô nhỏ, không có nhiều tài sản hữu hình làm đảm bảo Theo đó, các nhân tố như về quy mô doanh nghiệp, tài sản hữu hình sẽ tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn và các nghiên cứu thực nghiệm
Vấn đề về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp đã và đang là đề tài được nhiều giới nghiên cứu quan tâm, có thể kể đến một số nghiên
Trang 23cứu như: Titman và Wessels (1988); Chen (2003); Pathak (2010); Huang và Song (2006); Frank và Goyal (2009); Chen (2003); Ozkan (2011); Graham và Harvey; Barclay and Smith (1995); Nguyễn Thị Cành và Nguyễn Thành Cường (2011) v.v… các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp như: tài sản hữu hình, cơ hội tăng trưởng, tính thanh khoản, quy
mô công ty, rủi ro doanh nghiệp
2.3.1 Tài sản hữu hình (TANG)
Tài sản hữu hình cho thấy khả năng sẵn sàng thế chấp của công ty trước những khoản vay Như trong nghiên cứu của Myers (1984) cũng đã khẳng định có mối liên hệ giữa tài sản hữu hình và đòn bẩy tài chính bởi thực tế rằng khi doanh nghiệp có nhiều tài sản thế chấp thì tỷ lệ về thông tin bất cân xứng sẽ ở mức thấp Khi doanh nghiệp có nhiều khoản vay thế chấp, rủi ro liên quan đến khoản vay đó cũng sẽ giảm đi Điều này cũng đã được củng cố qua Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off theory)
Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Thuyết tín hiệu (Signaling Theory) cũng chỉ ra các doanh nghiệp có nhiều tài sản hữu hình sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận vốn vay với mức vay cao hơn, lợi thế hơn các doanh nghiệp có ít tài sản hữu hình khi làm đảm bảo cho các khoản vay, vì lúc này mức độ rủi ro của khoản vay cũng giảm
đi và đối với các nhà tài trợ vốn như Ngân hàng thì ưa chuộng các doanh nghiệp có nhiều tài sản hữu hình hơn
Từ kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn cũng đã chỉ ra Tài sản hữu hình có ảnh hưởng cùng chiều với đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, được củng cố bởi Titman và Wessels (1988); Chen (2003); Pathak (2010), Huang
và Song (2006) Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Bevan và Danbolt (2002); Chittenden và cộng sự (1996) hay Huang và Song (2006) cho thấy sự ảnh hưởng của tài sản hữu hình đối với đòn bẩy tài chính sẽ còn phụ thuộc vào cách thức đo lường các khoản nợ và kết quả cho thấy có sự ảnh hưởng cùng chiều đối với đòn bẩy tài chính dài hạn
Trang 242.3.2 Tốc độ tăng trưởng (GROWTH)
Có nhiều quan điểm cho rằng khi tốc độ tăng trưởng ngày càng cao thì đòn bẩy tài chính có xu hướng giảm xuống Theo như Myers (1984) cho rằng các nhà quản lý thích sử dụng nguồn tài trợ từ bên trong hơn là sử dụng nợ, tốc độ tăng trưởng cao đồng nghĩa với chi phí phá sản cao hơn Do vậy, theo Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off Theory) khi các doanh nghiệp có tăng trưởng cao, chi phí phá sản cao, các doanh nghiệp lúc này cũng sẽ giảm mức sử dụng nợ Myers (1977) cũng cho rằng các công ty có tốc độ tăng trưởng cao thì có nhiều lựa chọn đầu tư trong tương lai hơn các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng thấp, khi đòn bẩy tài chính cao thì đối với các dự án đầu tư sẽ dẫn đến hiệu quả lợi ích được chuyển sang cho chủ nợ là phần lớn, chính vì vậy các doanh nghiệp sẽ không phát hành nợ ngay vì đòn bẩy tài chính ảnh hưởng ngược chiều đến các cơ hội tăng trưởng Quan điểm này cũng được củng cố bởi các kết quả nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995); Titaman và Wessles (1988); Huang và Song (2006) đều cho kết quả về mối tương quan ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng và đòn bẩy tài chính, mức sử dụng
nợ càng giảm khi tốc độ tăng trưởng tăng cao
Tuy nhiên, một số nghiên cứu chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng cao dẫn đến đòn bẩy tài chính tăng lên như kết quả nghiên cứu của Chen (2003); Pathak (2010); Trần Đình Khôi Nguyên và Ramachandran (2006) đều cho kết quả có mối tương quan cùng chiều giữa tốc độ tăng trưởng và đòn bẩy tài chính, khi các doanh nghiệp được đánh giá có sự tăng trưởng tăng cao được cho là các doanh nghiệp sức khoẻ tốt theo quan điểm của các nhà cho vay, các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận vốn vay, điển hình nghiên cứu của Chen (2003) trong phạm vi nghiên cứu các doanh nghiệp tại Trung Quốc, thị trường với các doanh nghiệp công nghiệp đang giai đoạn phát triển, tăng trưởng cao, khi đó giá trị doanh nghiệp được đánh giá tăng, thị trường vốn công nhận và các Ngân hàng đánh giá cao và gia tăng tài trợ vốn cho doanh nghiệp,
do đó kết quả cho thấy các doanh nghiệp có tăng trưởng cao càng sử dụng đòn bẩy tài chính cao
Trang 252.3.3 Biến động (VOLA)
Mức biến động có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, với một mức biến động gia tăng đáng kể, theo thuyết đánh đổi doanh nghiệp đối mặt với một chi phí rủi ro càng cao doanh nghiệp sẽ có xu hướng giảm nợ Các kết quả nghiên cứu của Titman & Wessels (1988), Kane et al (1985) và Sarkar (1999) cũng đều chỉ ra rằng có sự ảnh hưởng ngược chiều giữa biến động và đòn bẩy tài chính Nghiên cứu Panda, Mohapatra và Mohorana (2013) về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Thép ở Ấn Độ cũng cho kết quả ủng hộ cho quan điểm có sự tương quan ngược chiều giữa biến động và đòn bẩy tài chính, mức biến động của doanh nghiệp gia tăng, chi phí phá sản cũng gia tăng nên doanh nghiệp sẽ giảm nợ để đảm bảo duy trì một mức nợ hợp lý
Khác với kết quả trên, trong nghiên cứu của Chen (2003) lại cho thấy sự khác biệt của các doanh nghiệp Trung Quốc, khi thuyết đánh đổi dường như không phù hợp khi kết quả cho thấy ít có sự ảnh hưởng của biến động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp tại quốc gia này
2.3.4 Quy mô doanh nghiệp (SIZE)
Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa đòn bẩy tài chính
và quy mô doanh nghiệp Theo thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, các doanh nghiệp sẽ
có những mục tiêu khác nhau về tỷ số nợ, các doanh nghiệp có quy mô càng lớn với các lợi thế hơn các doanh nghiệp quy mô nhỏ, các chi phí trung gian và chi phí phá sản thấp hơn, khả năng tiếp cận với thị trường vốn vay sẽ cao hơn các doanh nghiệp
có doanh nghiệp nhỏ (Titman và Wessels, 1988)
Theo Marsh (1982) các doanh nghiệp có quy mô lớn thường chọn nợ dài hạn, các doanh nghiệp nhỏ thường chọn nợ ngắn hạn, các công ty lớn có tận dụng lợi thế nhờ quy mô trong việc tăng sử dụng nợ dài hạn, có thể thương lượng với các nhà cho vay tốt hơn các doanh nghiệp nhỏ, chi phí phát hành nợ lúc này thấp hơn Quan điểm cũng được củng cố bởi các kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Huang
và Song (2006); Pathak (2010); Trần Đình Khôi Nguyên và Ramachandran (2006)
Trang 26đều cho kết quả có sự tương quan cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính
2.3.5 Tính thanh khoản (LIQ)
Tính thanh khoản có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, theo lý thuyết trật tự phân hạng, khi mà các doanh nghiệp có tính thanh khoản cao tức các doanh nghiệp đang có những tài sản thanh khoản và sẽ sử dụng từ chính những tài sản này để tài trợ cho hoạt động của mình, do dó tỷ lệ nợ sẽ giảm
Trong nghiên cứu của Panda, Mohapatra và Moharana (2013) về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thép Ấn Độ, hay nghiên cứu của Pathak (2010), Antoniou, Guney và Paudyal (2008) cũng cho thấy tính thanh khoản có ảnh hưởng ngược chiều đến đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
2.3.6 Tăng trưởng kinh tế quốc gia (GDP)
Trong nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995); Jong, Kabir và Thuy Thu Nguyen (2007) đã chỉ ra các yếu tố quốc gia khác nhau cũng sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp khác nhau Booth et al (2001) cũng cho kết quả nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng của quốc gia như chỉ số GDP ảnh hưởng cùng chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Do đó, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng chỉ số GDP
là nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp giữa ba quốc gia là Việt Nam, Thái Lan, Malaysia
Trong nền kinh tế với tăng trưởng quốc gia cao, các doanh nghiệp có nhiều
cơ hội phát triển kinh doanh, mở rộng đầu tư và theo đó lựa chọn gia tăng thêm nợ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn hoạt động mở rộng, đầu tư
Từ các thuyết nghiên cứu cũng như kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, tác giả phân tích tổng hợp và lựa chọn các biến tác động đến cấu trúc vốn trong phạm vi đề tài nghiên cứu phù hợp với đặc thù doanh nghiệp, đề ra các giả thuyết nghiên cứu trong đề tài
Trang 27Bảng 2.1 : Tổng hợp các giả thuyết trong nghiên cứu
TANG Tài sản hữu hình có tác động cùng chiều với chỉ số nợ của doanh
về tương quan của các nhân tố đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép thuộc
đề tài nghiên cứu
Trang 28CHƯƠNG 3
MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu
Từ cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây, mô hình của nghiên cứu này của tác giả kế thừa và mở rộng mô hình nghiên cứu của Huang&Song (2006), Titman & Wessels (1988), tác giả có thay thế
và bổ sung trong xây dựng mô hình trong nghiên cứu với các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn bao gồm: Tài sản hữu hình, Tăng trưởng, Biến động thu nhập, Quy mô doanh nghiệp, Tính thanh khoản phù hợp với phạm vi nghiên cứu và đặc thù ngành các doanh nghiệp ngành Thép nghiên cứu, ngoài ra nghiên cứu mở rộng đề ra yếu tố mang đặc thù quốc gia như GDP có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Mô hình được xây dựng như sau:
LEV i,t = 0 + 1 TANG i,t + 2 GROWTH i,t + 3 VOLA i,t + 4 SIZE i,t + 5 LIQ i,t
+ 6 GDP t + u i,t
Trong đó: chỉ số i đại diện cho từng doanh nghiệp, t đại diện cho năm quan sát
Biến phụ thuộc: Đòn bẩy tài chính (ký hiệu LEV)
Trong phân tích cấu trúc vốn của doanh nghiệp các khoản nợ được sử dụng trong phân tích chủ yếu là nợ dài hạn, đây là khoản nợ có tính chất ổn định và thường được sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm Trong nghiên cứu của Rajan & Zingales (1995) phân tích cấu trúc vốn của doanh nghiệp được đo lường với chỉ số đòn bẩy tài chính được xác định Nợ dài hạn/Tổng vốn (nợ dài hạn + vốn chủ sở hữu)
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả dựa trên lý thuyết nghiên cứu về cấu trúc vốn và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây, sử dụng biến đòn bẩy tài chính được đo lường bởi Nợ dài hạn/Tổng vốn (nợ dài hạn + vốn chủ sở hữu), cho thấy rõ hơn một cấu trúc vốn với cơ cấu giữa nợ và vốn chủ sở hữu
Trang 29 Biến độc lập
Tài sản hữu hình (ký hiệu TANG)
Trong các nghiên cứu của Huang & Song giải thích mối liên hệ giữa tài sản hữu hình và cấu trúc vốn khi các tài sản này có thế chấp làm đảm bảo cho các khoản
nợ, đo lường bởi chỉ số Tài sản cố định/Tổng tài sản và chỉ số này ảnh hưởng chỉ số
nợ dài hạn hơn khi mà các khoản phải trả của doanh nghiệp có thể không yêu cầu một khoản đảm bảo bởi tài sản
Trong nghiên cứu của Titman & Wessels (1988) cũng đã đề cập tài sản hữu hình có thể sẽ giúp các doanh nghiệp tích luỹ thêm nợ khi tài sản được dùng để thế chấp, do đó thay vì phát hành cổ phần các doanh nghiệp với giá trị tài sản lớn sẽ có
xu hướng gia tăng thêm nợ Có sự khác biệt trong nghiên cứu của Titman & Wessels (1988) khi Tài sản hữu hình trong nghiên cứu bao gồm tỷ lệ của Tài sản cố định/Tổng tài sản (INT/TA) và một tỷ lệ của Hàng tồn kho cộng với các Tài sản cố định, thiết bị của toàn nhà máy/Tổng tài sản sản (IGP/TA), như vậy trong nghiên cứu này của hai tác giả, giá trị hàng tồn kho và tổng các tài sản cố định của cả công
ty đều có thể được thế chấp đảm bảo cho các khoản nợ và có ảnh hưởng trong mối liên hệ đến chỉ số nợ của doanh nghiệp
Hay trong nghiên cứu của Chen (2003) cũng đo lường tài sản hữu hình của doanh nghiệp bằng giá trị của Tổng tài sản cố định và giá trị hàng tồn kho/ Tổng tài sản, theo đó giá trị hữu hình của tài sản bao gồm tài sản cố định và hàng tồn kho đều được xem xét trong đảm bảo cho khoản nợ của doanh nghiệp, tính hữu hình của tài sản cũng là một tiêu chí quan trọng trong chính sách tín dụng của Ngân hàng và điều này đặc biệt đúng với các khoản nợ dài hạn
Theo đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về yếu tố tài sản hữu hình tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong ngành thép Xem xét mức độ đầu
tư vào tài sản cố định của các doanh nghiệp trong ngành Thép khá lớn, và mức tồn kho này luôn được duy trì ở một mức bình quân đảm bảo cho nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp, điều này dẫn đến công ty luôn có một giá trị tài sản tồn kho duy trì ổn định, đặc biệt là tính hữu hình của hành tồn kho nguyên liệu thép cũng như có
Trang 30giá trị lớn và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản, đảm bảo khả năng được xem xét trong đảm bảo cho khoản nợ của doanh nghiệp Do đó, tác giả thực hiện đo lường đối với biến tài sản hữu hình cụ thể như sau:
Tài sản hữu hình (TANG) = (Tài sản cố định + Hàng tồn kho) / Tổng tài sản
Tốc độ tăng trưởng (ký hiệu GROWTH)
Trong nghiên cứu của Titman & Wessels tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp được đo lường bởi chỉ số tăng trưởng của tổng tài sản (GTA), theo đó, trong nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng chỉ tiêu tăng trưởng của tổng tài sản để đo lường tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp, khi đối với các doanh nghiệp ngành thép mức đầu tư vào tài sản là khá lớn, do đó chỉ tiêu tăng trưởng của công ty sẽ được phản ảnh rõ hơn qua mức tăng trưởng của tổng tài sản
Tốc độ tăng trưởng (GROWTH)=( Tổng tài sản năm (t) – Tổng tài sản năm 1))/ Tổng tài sản năm (t-1)
(t- Biến động (Ký hiệu VOLA)
Trong nghiên cứu của Titman & Wessels (1988); Chen (2003) hay nghiên cứu của Antoniou; Guney và Paudyal (2008) đều đo lường mức biến động ở đây bởi thay đổi của thu nhập trước thuế và lãi vay
Tương tự, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng biến Biến động (VOLA) được đo lường bởi thay đổi của thu nhập trước thuế và lãi vay, cụ thể như sau:
VOLA = [EBIT (t) – EBIT (t-1)]/EBIT (t-1)
Quy mô doanh nghiệp (ký hiệu SIZE)
Trong nghiên cứu của Titman & Wessels (1988); Huang & Song (2005); Antoniou, Guney và Paudyal (2008) đã chỉ ra quy mô có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp với biến quy mô SIZE được đo lường bằng Ln (Doanh thu)
và Ln (Tổng tài sản) Hay trong nghiên cứu của Chen (2003) cũng đã cho thấy có một sự tương quan dương giữa quy mô doanh nghiệp đối với đòn bẩy tài chính và
sử dụng biến nghiên cứu SIZE được đo lường bởi Ln (tổng tài sản) để kiểm định mối tương quan này
Trang 31Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng quy mô doanh nghiệp (SIZE) ở đây được đo lường cụ thể như sau:
SIZE = Ln (Tổng tài sản)
Tính thanh khoản (Ký hiệu LIQ)
Trong nghiên cứu của B.D Panda, S.P Mohapatra, S Moharana về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thép Ấn Độ, hay nghiên cứu của Pathak (2010), Antoniou, Guney và Paudyal (2008) cũng cho thấy tính thanh khoản có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn, và tính thanh khoản được đo lường bởi chỉ số Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn Theo đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tại hiện tại, tác giả đo lường biến thanh khoản thông qua chỉ số cụ thể như sau:
LIQ = Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn
Tăng trưởng kinh tế quốc gia (Ký hiệu GDP)
Trong nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995); Jong, Kabir và Thuy Thu Nguyen (2007) đã chỉ ra các yếu tố quốc gia khác nhau cũng sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp khác nhau Booth et al (2001) cũng cho kết quả nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng của quốc gia như chỉ số GDP ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Do đó, trong nghiên cứu này sử dụng chỉ số GDP là nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp giữa ba quốc gia là Việt Nam, Thái Lan và Malaysia
Bảng 3.1 : Tổng hợp các biến đo lường được sử dụng trong nghiên cứu
Kỳ vọng tương quan với biến phụ thuộc
1.1 Đòn bẩy tài chính LEV
Nợ dài hạn/Tổng vốn (nợ dài hạn + vốn chủ
Trang 322.2 Tốc độ tăng trưởng GROWTH [Tổng TS (t) - Tổng TS
(t-1)]/Tổng TS (t-1) (+) 2.3 Biến động VOLA [EBIT (t) - EBIT (t-
2.4 Quy mô doanh nghiệp SIZE Ln(Tổng Tài sản) (+) 2.5 Tính thanh khoản LIQ Tài sản ngắn hạn/Nợ
2.6 Tăng trưởng kinh tế quốc
3.2 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ phần mềm quản lý dữ liệu uy tín Thomson Reuters Bộ dữ liệu được lấy là dữ liệu theo báo cáo tài chính của các Doanh nghiệp ngành Thép được niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam, Thái Lan và Malaysia, ngoài ra tác giả còn thu thập dữ liệu từ World Bank với dữ liệu mang yếu tố chỉ số liên đến ba quốc gia
Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu thu thập của 117 doanh nghiệp thuộc ngành Thép được niêm yết trên thị trường chứng khoán của ba nước Việt Nam, Thái Lan, Malaysia trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2017, tương ứng với 117 mã chứng khoán của các doanh nghiệp thép được niêm yết trên thị trường chứng khoán, trong đó có 61 doanh nghiệp Thái Lan, 30 Doanh nghiệp Malaysia và 26 doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, bộ dữ liệu sẽ có các trường hợp mẫu thông tin bị khuyết dữ liệu do một số các doanh nghiệp bị ngưng giao dịch, bị huỷ niêm yết, thông tin công bố chậm, do đó bộ dữ liệu nghiên cứu không có đầy đủ thông tin trong giai đoạn khảo sát, do đó tác giả đã xử lý lọc và loại trừ các trường hợp bị khuyết dữ liệu, theo đó dữ liệu doanh nghiệp nghiên cứu còn 108 doanh nghiệp (Trong đó gồm 57 doanh nghiệp Thái Lan, 28 doanh nghiệp Malaysia và 23 doanh nghiệp Việt Nam), cỡ mẫu quan sát là 1,076 mẫu
Với bộ dữ liệu được thu thập từ ba quốc gia, có sự khác biệt về đồng tiền hạch toán, do đó khi thu thập dữ liệu nghiên cứu tác giả đã xử lý đồng bộ dữ liệu về đơn vị tiền tệ là USD được quy đổi theo tỷ giá hạch toán cuối mỗi năm, đảm bảo bộ
dữ liệu đồng nhất về đơn vị đo lường
Trang 333.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu sử dụng các phần mềm Excel và Stata để phân tích Sử dụng phương pháp hồi quy và chạy mô hình hồi quy trên phần mềm Stata để phân tích dữ liệu, kiểm định sự phù hợp của mô hình và các biến nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng, lựa chọn phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (Pool OLS) sử dụng trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Thép tại Việt Nam, Thái Lan, Malaysia
3.3.1 Phương pháp ước lượng (Pool OLS)
Trong kinh tế lượng, phương pháp ước lượng được dùng phổ biến nhất là phương pháp bình phương tối thiểu OLS (Ordinary Least Square) Phương pháp OLS được đưa ra bởi nhà toán học Đức Carl Friedrich Gauss, đây là một phương pháp phổ biến được sử dụng khá nhiều Tư tưởng của phương pháp này là cực tiểu tổng bình phương các phần dư
Phương pháp bình phương nhỏ nhất là phương pháp rất đáng tin cậy trong việc ước lượng các tham số của mô hình Khi thoả mãn các giả thiết, ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) là ước lượng tuyến tính không chệch có hiệu quả nhất trong các ước lượng Mô hình này giả định các hệ số chặn và độ dốc sử dụng trong phương trình hồi quy là không thay đổi theo thời gian và cho các mẫu quan sát, các biến độc lập không có mối quan hệ tuyến tính
+ Mô hình hồi quy là tuyến tính theo các hệ số:
Điều này có nghĩa là quá trình thực hành hồi quy trên thực tế được miêu tả bởi mối quan hệ dưới dạng: y = β1 + β2x2 + β3x3 + βkxk + u
+ E(ui) = 0, kỳ vọng của các yếu tố ngẫu nhiên ui bằng 0
Trung bình tổng thể sai số là bằng 0 Điều này có nghĩa là có một giá trị sai
số mang dấu dương và một số sai số mang dấu âm Do β1 + β2Xi là đường trung bình, nên có thể giả định rằng các sai số ngẫu nhiên trên sẽ bị loại trừ nhau, ở mức trung bình, trong tổng thể
+ Cov (ui,uj) = 0, Không có sự tương quan giữa các ui
Trang 34Không có sự tương quan giữa các quan sát của yếu tố sai số (không có tương quan chuỗi) Nếu chúng ta xem xét các chuỗi số liệu thời gian (dữ liệu được thu thập từ một nguồn trong nhiều khoảng thời gian khác nhau) Yếu tố sai số ui trong khoảng thời gian này không có bất kỳ một tương quan nào với yếu tố sai số trong khoảng thời gian trước đó
+ Cov (ui,xi) = 0, U và X không tương quan với nhau
Điều này có nghĩa là khi bất kỳ biến giải thích nào mà lớn hơn hay nhỏ đi thì yếu tố sai số sẽ không thay đổi theo nó
+ Var (ui) = , Phương sai của sai số không đổi với mọi ui
Tất cả giá trị u được phân phối giống nhau với cùng phương sai , sao cho Var(ui) = E( )= Điều này được gọi là phương sai của sai số không đổi
+ ui: Phân phối chuẩn
Điều này rất quan trọng khi phát sinh khoảng tin cậy và thực hiện kiểm định giả thuyết trong những phạm vi mẫu là nhỏ Nhưng với phạm vi mẫu lớn hơn, điều này sẽ trở nên không mấy quan trọng
Đây là phương pháp ước lượng thường xuyên sử dụng bởi tính đơn giản nhưng sau này nhiều tác giả trên thế giới đã kiểm chứng và cho thấy các hệ số ước lượng thường không vững và thiên chệch Nhưng chính vì sự tiện lợi và tính tổng quát của OLS là hai lý do chính mà OLS đã trở nên phổ biến trong các nghiên cứu tài chính và được tác giả lựa chọn để ứng dụng trong đề tài nghiên cứu này Ở đây ước lượng Pooled OLS cũng chính là ướng lượng OLS với việc mô hình sử dụng bộ
dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng kết hợp mọi quan sát không phân biệt theo năm
3.3.2 Kiểm định phương sai sai số thay đổi
Theo Gausse-Markov để ước lượng OLS là tốt nhất thì phương sai sai số trong mô hình hồi quy phải bằng nhau tại mọi quan sát Tuy nhiên vì một số nguyên nhân có thể dẫn đến phương sai sai số thay đổi như bộ dữ liệu nghiên cứu có những khuyết tật, hay do mô hình thiếu những biến quan trọng hay do hàm sai, điều này nếu không được phát hiện và khắc phục sẽ dẫn đến kết quả nghiên cứu không còn phù hợp
Trang 35Trường hợp trong mô hình với sai số ngẫu nhiên u có phương sai thay đổi:
Var (ui) = 2
i
Nghĩa là toàn bộ các giá trị Xi khác nhau thì phương sai của sai số ngẫu nhiên nhận các giá trị khác nhau Điều này sẽ dẫn đến các vấn đề trong mô hình nghiên cứu như sau:
+ Phương sai của hệ số ước lượng là chệch
Việc tính toán phương sai của các hệ số ước lượng tính bởi phương pháp OLS sẽ bị chệch nếu phương sai sai số trong mô hình thay đổi, sai số chuẩn sẽ không còn đáng tin
+ Khoảng tin cậy và kiểm định giả thuyết về các hệ số không còn giá trị sử dụng
+ Các ước lượng hệ số không còn là ước lượng tốt nhất
Điều này có nghĩa là trong các ước lượng không chệch thì phương sai của các hệ số ước lượng OLS không còn là bé nhất nữa
Như vậy nếu có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình thì ta cần có phương pháp phát hiện và khắc phục các hậu quả này
Phát hiện phương sai sai số thay đổi
Với mô hình hồi quy bội nhiều khi sự thay đổi trong phương sai sai số là do đóng góp của nhiều biến số, hoặc dạng thức của phương sai sai số là phức tạp mà ta khó có thể phát hiện thông qua đồ thị, do đó đề xuất về việc sử dụng kiểm định Breusch- Pagan được phát triển bởi Breusch- Pagan (1979), cụ thể như sau:
Nếu u2 có tương quan với ít nhất một trong các biến Xi thì E( )= không thoả mãn, khi đó mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi Do đó để xem xét giả thuyết phương sai sai số không đổi, xét mô hình hồi quy sau:
Trang 36sai số thay đổi Do đó, để xem xét giả thuyết này chúng ta kiểm định cặp giả thuyết sau:
Khi H0 đúng và n lớn, thống kê F thông thường sẽ xấp xỉ quy luật Fisher bậc
tự do (k-1, n-k) và thống kê LM được tính bởi công thức bởi:
LM = nRe2
Sẽ tuân theo quy luật khi bình phương với k -1 bậc tự do Do đó, kiểm định Breusch – Pagan được thực hiện như sau:
Bước 1: ước lượng mô hình hồi quy gốc thu được các phần dư ei
Bước 2: ước lượng mô hình hồi quy phụ (2) thu được Re2
Bước 3: tính giá trị quan sát của các thống kê kiểm định:
Fqs =
LM = nRe2Nếu Fqs > fa (k-1, n-k) thì bác bỏ giả thuyết H0, tức mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi
Khắc phục vấn đề phương sai sai số thay đổi
Vì n lớn nên việc áp dụng kỹ thuật ước lượng sai số chuẩn vững (Robust standard error) là một phương pháp được sử dụng rộng rãi Khi mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi, phương sai của các hệ số ước lượng thu được từ phương pháp OLS là chệch, nhưng ước lượng cho các hệ số vẫn là ước lượng không
Trang 37chệch Do đó, White (1980) đã đề xuất phương pháp sai số chuẩn vững (Robust standard error) với quan điểm: vẫn sử dụng các hệ số ước lượng từ phương pháp OLS, tuy nhiên phương sai các hệ số ước lượng thì được tính toán lại mà không sử dụng đến giả thuyết phương sai sai số không đổi
3.3.3 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
Khi giữa các biến độc lập trong mô hình có mối quan hệ đa cộng tuyến hoàn hảo nhưng có mối liên hệ tuyến tính khá chặt, ta nói mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến (multicollinearity)
Để phát hiện đa cộng tuyến có nhiều phương pháp nhưng trong nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp là xem xét hệ số phóng đại phương sai (VIF – variance inflaction factor):
3.3.4 Kiểm định hiện tượng tự tương quan
Trong quá trình nghiên cứu, khi mô hình có hiện tượng tự tương quan sẽ dẫn đến hậu quả rằng phương sai các hệ số ước lượng thu được bằng phương pháp OLS
là chệch Các kết luận từ bài toán xây dựng khoảng tin cậy là không đáng tin cậy và thường bé hơn so với khoảng tin cậy đúng Kết luận từ bài toán kiểm định giả thuyết thống kê về các hệ số là khồn đáng tin cậy
Với nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng, do đó việc sử dụng kiểm định Wooldridge sẽ phù hợp trong kiểm định phát hiện hiện tượng tự tương quan trong
mô hình nghiên cứu và sử dụng phương pháp sai số chuẩn vững (Robust standard error) được đề xuất bởi White (1980) để khắc phục hiện tượng tự tương quan
Kết luận chương 3
Chương 3 mô tả phương pháp nghiên cứu của đề tài Ở chương này, dựa trên các lý thuyết và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã được đề cập ở Chương 2,
Trang 38các giả thuyết đề ra trong nghiên cứu, tác giả xác định mô hình nghiên cứu với các nhân tố tác động đến chỉ số nợ của doanh nghiệp, phương pháp đo lường của các biến trong mô hình nghiên cứu Từ cơ sở dữ liệu thu thập, tính toán, xử lý dữ liệu, phân tích thông qua phần mềm Excel và Stata để phân tích chỉ số nợ của các doanh nghiệp thép tại Việt Nam, Thái Lan và Malaysia, phân tích chiều hướng tác động của các nhân tố đến chỉ số nợ của doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu thu được sau thực hiện các phương pháp phân tích, thống
kê mô tả, phân tích tương quan, hồi quy sẽ được trình bày trong chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thống kê mô tả
Dữ liệu nghiên cứu từ 108 doanh nghiệp thép tại ba quốc gia Việt Nam, Thái Lan và Malaysia, với 1,076 quan sát, cho biết số liệu thống kê về trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất của các biến được sử dụng trong nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2006-2017
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu
Ký hiệu biến Giá trị
trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
Nguồn: tính toán của tác giả
+ Đòn bẩy tài chính (LEV)
Cấu trúc vốn doanh nghiệp thông qua chỉ số đòn bẩy tài chính LEV được thống kê cho thấy mức độ sử dụng nợ trung bình của các doanh nghiệp ngành thép
ở mức 9% trong giai đoạn từ 20062017, vùng biến động của chỉ số LEV ở mức từ 150% đến mức 133%, với mức chỉ số nợ âm ở đây thực sự có sự thâm hụt trong cơ cấu vốn với vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp ở mức âm
-Mức chỉ số nợ cao nhất với 133% là chỉ số nợ của Bangkok Steel trong năm
2006, tuy nhiên Bangkok Steel trong năm 2007 hiệu quả kinh doanh không khả quan do lỗ trong kinh doanh và ngưng giao dịch trong từ năm 2008
Trang 40Biểu đồ 4.1: Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Thép
Nguồn: Tổng hợp phân tích từ bộ dữ liệu thu thập (VN: Việt Nam, MA: Malaysia, TL: Thái Lan)
Qua phân tích có thể thấy từ năm 2006 cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thép tại ba quốc gia đều có mức sử dụng nợ cao, tuy nhiên có sự suy giảm dần trong giai đoạn 2007-2009 Cấu trúc vốn được đo lường bởi chỉ số nợ LEV và nếu như chỉ số LEV của các doanh nghiệp thép Thái Lan và Malaysia có xu hướng giảm dần qua các năm từ năm 2011 thì các doanh nghiệp thép Việt Nam gia tăng dần với chỉ
số nợ cao hơn các doanh nghiệp Thái Lan và Malaysia
Trong giai đoạn 2015-2017, chỉ số LEV bình quân của các doanh nghiệp Thái Lan giảm đáng kể so với hai quốc gia còn lại, thậm chí ở mức âm trong năm
2016 và 2017, điển hình là Sahaviriya Steel Industry PLC năm 2017 có chỉ số đòn bẩy ở mức âm -150%, với mức vốn chủ sở hữu giảm dần và âm vốn chủ sở hữu từ năm 2015-2017 ở mức khá lớn, trong khi đó nợ dài hạn của công ty gia tăng mạnh trong giai đoạn này nhằm bảo nguồn vốn cho hoạt động của doanh nghiệp
+ Tài sản hữu hình (TANG) và đòn bẩy tài chính (LEV)
Tỷ trọng tài sản hữu hình của các doanh nghiệp ngành thép ở mức trung bình
là 65% trong tổng tài sản, ở đây xem xét giá trị tài sản hữu hình bao gồm tài sản cố định và hàng tồn kho của các doanh nghiệp, vùng biến động với giá trị nhỏ nhất ở mức 9% và giá trị cao nhất ở mức 97% Cho thấy có những doanh nghiệp thép với
tỷ trọng mức đầu tư tài sản hữu hình thấp 9% trong năm 2013 như Công ty Cổ phần