1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 11

Nhân giống Lan Đai châu đỏ bằng công nghệ nuôi cấy in vitro

30 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 6,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết hợp với công ty lữ hành các tỉnh thành phố giới thiệu hình ảnh đảo Quan Lạn trên internet, truyền hình… và tổ chức định kỳ phát phiếu thăm dò để lấy ý kiến của du khách trong một số [r]

Trang 1

Nhân giống lan Đai châu đỏ (Rhynchostylisgigantea L )

bằng công nghệ nuôi cấy in vitro

Phan Thị Thu Hiền*, Nguyễn Văn Đính

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc

Nhận ngày 10 28 tháng 10 11 năm 20142016 Chỉnh sửa ngày 30 12 tháng 10 12 năm 20142016; Chấp nhận đăng ngày 20 213 tháng 11 03 năm 2017

Tóm tắt: Đai châu đỏ (Rhynchostylisgigantea L.) là loài lan quý, có nguy cơ bị tuyệt chủng do bị mất

môi trường sống thích hợp và sự khai thác quá mức của con người Việc nhân giống in vitro là phương pháp hữu

hiệu để tăng cường số lượng, giúp bảo tổn nguồn gen Hạt lan 09 tháng tuổi là mẫu cấy tối ưu được sử dụng là

vật liệu khởi đầu cho nuôi cấy in vitro Hạt nảy mầm trên môi trường MS cho tỷ lệ nảy mầm tạo protocorm đạt

84,62% SM5 (MS bổ sung 2.0 mg l/1 BAP và 1.0 mgl IBA) tăng tỷ lệ tạo phôi soma và số lượng phôisoma/cụm protocorm Chồi được phát triển sau 08 tuần trên môi trường MS có bổ sung 0.5 mg/l BAP và 0,5

mg/l Kinetin Môi trường này khi bổ sung thêm nước dừa 20%, tỷ lệ tái sinh đạt 41,41%, chiều dài chổi đạt 4,33

cm sau 08 tuần nuôi cấy Chồi đạt chiều dài khoảng 4 cm được chuyển sang môi trường ra rễ MS có bổ sung 1,5mg/L NAA, cho tỷ lệ ra rễ đạt 50,67% Cây có bộ rễ hoàn chỉnh được chuyển sang bầu với giá thể nuôi là dớn và

xơ dừa tỷ lệ 1:1 trong điều kiện nhà lưới nhiệt độ 25 ± 2o C, tỷ lệ cây con sống sót là 98,41% Quy trình này hiệu

quả với việc nhân nhanh một lượng cây con lớn nhằm bảo tồn nguồn giống in vitro và ex vitro ở giống lan đai châu đỏ (Rhynchostylisgigantea L.).

Từ khóa: Rhynchostylisgigantea L., nhân nhanh, in vitro, phôi soma, protocorm, giá thể.

1 Đặt vấn đề

Phong Lan (Orchidaceae) được coi là

họ lớn nhất trong giới thực vật có hoa bao gồm

880 chi và hơn 25.000 loài [1] Một trong

những phương thức chủ yếu của công nghệ

sinh học để bảo tồn sự đa dạng và có được

nguồn giống dồi dào các giống hoa lan quý là

nhân nhanh in vitro Hạt giống hoa lan được

nảy mầm nhờ nấm cộng sinh đặc hiệu, giúp

tăng cường khả năng nảy mầm Nghiên cứu

của Moore (1849), Bernard (1899) [2, 3],

Knudson (1922) đã phát triển các cây con từ

Tác giả liên hệ ĐT: 84-914838607

Email: hienphandt87@gmail.com

hạt trên môi trường dinh dưỡng in vitro [4].

Sau đó, Rotor (1949) và Morel (1960) đi tiên

phong trong nuôi cấy in vitro từ phát sinh cơ

quan [5, 6] Từ đó, việc phát triển số lượng lớn

cây giống dựa vào nuôi cấy in vitro bắt đầu

phát triển và được thương mại hóa ở nhiềunước [7] Bên cạnh việc sử dụng hạt làm

nguyên liệu in vitro, các chồi đỉnh, chồi nách,

đoạn thân, protocorm, protoplast…đều có thểtái sinh, phát triển thành cây hoàn chỉnh vànhân nhanh [8-11] Những công trình này đãcung cấp cho thị trường một số lượng lớn câygiống và góp phần bảo tồn các cây phong lannhiệt đới quý hiếm Tuy vậy, một nhược điểm

48

Trang 2

3033 , Số 6S 1 ( 20142017 ) 148 - 1057

dễ thấy khi nuôi cấy in vitro là xuất hiện các

biến dị soma trong quá trình nuôi cấy nguyên

liệu thực vật qua nhiều thế hệ [12, 13] Nhiều

môi trường được sử dụng: MS có bổ sung chất

kích thích sinh trưởng khác nhau như BA,

thidiazuron (TDZ), BAP, NAA, 3-indoleacetic

acid (IAA) and gibberellic acid (GA3) [14-16]

Vật liệu ban đầu để tạo protocorm có thể là

hạt, hoặc lát cắt lớp mỏng tế bào sinh dưỡng

[17-18] Hiện nay, có rất nhiều công trình

nghiên cứu in vitro thành công ở cây phong lan

với nhiều loài, vật liệu và môi trường nuôi cấy,

có hiệu quả khác nhau [19-23] Ở Việt Nam,

có rất nhiều công trình đã nghiên cứu nhân

giống in vitro các giống như lan hồ điệp hoa

trắng nhị vàng Phalaenopsis Sogo Yukidian

[24], Dendrobium, Catleya và Phalaenopsis

[25] Lan Đai Châu (Rhynchostylis gigantea)

thuộc chi lan Ngọc điểm (Rhynchostylis

Blume) là một loài lan thường được trồng phổ

biến nhất, ra hoa vào dịp Tết cổ truyền [26,

27] Do đó, để bảo tồn và phát triển loài lan

quý hiếm này không còn phương pháp nào

khác là phải tiến hành nhân giống và nuôi

trồng chúng ở quy mô lớn Bui Van Le và

đồng tác giả (1999) đã nghiên cứu tìm ra quy

trình nhân lan đai châu hiệu quả từ mảnh cắt

lát mỏng tế bào [28] Đặc điểm quả Lan đai

châu đỏ nói riêng và các loài lan khác là hạt

không có nội nhũ, vì vậy trong điều kiện tự

nhiên, hạt rất khó nảy mầm và phát triển thành

cây con Phương pháp truyền thống để nhân

giống lan Đai châu là phương pháp tách chồi,tuy nhiên hệ số nhân rất thấp và cây có thể bịnhiễm bệnh trong quá trình tiếp xúc với cácyếu tố bất lợi ngoài môi trường và thực tế cho

hệ số nhân rất thấp [29] Nhân nhanh in vitro

được coi là phương pháp hữu hiệu nhất để bảotồn nguồn gen và cung cấp số lượng cây giốnglớn trong thời gian ngắn

2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1 Vật liệu nghiên cứu Loài Lan đai châu đỏ (Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley) thuộc họ phong lan (Orchidaceace) được thu thập ở Vườn quốc

gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc Sử dụng hạt sau khithụ phấn được 09 tháng để làm vật liệu nuôicấy khởi đầu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Lựa chọn đối tượng và cách khử trùng

khi vào mẫu in vitro phù hợp

Sử dụng vật liệu vào mẫu chính là hạtlấy từ quả 9 tháng tuổi của giống lan đai châu

đỏ Các vật liệu thực vật này được khử trùngbằng ba công thức khác nhau CT1: Javen10%, CT2: Javen 10% + cồn 70% và CT3:Javen 10% + HgCl2 0,1% + cồn 70%

Ảnh hưởng của tổ hợp BAP và IBA lênkhả năng tạo phôi soma từ protocorm

Sử dụng tổ hợp chất kích thích sinhtrưởng BAP và IBA với nồng độ khác nhau đểkhảo sát khả năng tạo phôi soma từ protocorm

Trang 3

Theo dõi hai chỉ tiêu tỷ lệ tạo phôi soma/cụm

protocorm và số phôi soma/1 protocorm hình

thành sau 08 tuần

Ảnh hưởng của tổ hợp BAP và Kinetin

lên khả năng tái sinh chồi

Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp BAP

và kinetin lên khả năng hình thành chồi với 5

công thức môi trường khác nhau ĐC: MS;

SC1: MS +0,5 mg/l BAP + 0,1 mg/l kinetin;

SC2: MS + 0,5 mg/l BAP + 0,3 mg/l kinetin;

SC3: ĐC + 0,5 mg/l BAP + 0,5 mg/l kinetin;

SC4: 0,5 mg/l BAP + 0,7 mg/l kinetin

Ảnh hưởng của nồng độ NAA lên khả

năng phát sinh rễ của Lan Đai châu đỏ

Chồi sau khi được nhân với số lượng lớn

được đặt trên môi trường MS có bổ sung NAA

với nồng độ khác nhau (0; 0,5,1,0; 1,5; 2,0

mg/L) để theo dõi các chỉ tiêu: tỷ lệ ra rễ, số

rễ/chồi, chiều dài và hình thái rễ

Ảnh hưởng của thành phần giá thể lên

khả năng sống sót và sinh trưởng của cây

Để đánh giá khả năng sống sót của cây

nuôi cấy mô ra môi trường, chúng tôi tiến hành

khảo sát trên các loại giá thể khác nhau: 100%

xơ dừa, 100% giớn, 50% xơ dừa, 50% giớn

trên dựa vào chỉ tiêu tỷ lệ sống sót của cây con

sau 01 tháng trồng trên các giá thể khác nhau

Môi trường sử dụng trong nghiên cứu

này ở pH = 5,60 -5,80 có bổ sung 30 g glucose

và 7 g/L agar Môi trường được khử trùng ở

117o C Nuôi cấy cây ở nhiệt độ 25o C ± 2o C,chế độ sáng/tối mỗi ngày 16h/18h

Bố trí thí nghiệm và xử lý số liệuCác thí nghiệm được bố trí 3 lần lặplại.Số liệu được xử lý bằng phần mềmMicrosoft exel 2007 [30]

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Khử trùng mẫu, tạo vật liệu khởi đầu in vitro

Khi sử dụng vật liệu để tạo vật liệu khởiđầu là hạt lấy từ quả 9 tháng tuổi của giống lanđai châu đỏ, vật liệu thực vật này được khửtrùng bằng ba công thức khác nhau CT1:Javen 10%, CT2: Javen 10% + cồn 70% vàCT3: Javen 10% + HgCl2 0,1% + ethanol70% Đây là bước quyết định sự thành côngcủa quy trình nhân giống đai châu đỏ, vì vậtliệu phải có điều kiện sạch, khả năng tái sinhtốt thì mới có thể nhân nhanh được trong điều

kiện in vitro.

Chúng tôi sử dụng quả lan đai châu đỏ 9tháng tuổi, đây là dạng hạt bánh tẻ, có sứcsống tốt nhất để vào mẫu, vì nếu sử dụng hạtquá non (2-4 tháng tuổi) hoặc hạt quá già (12-

24 tháng tuổi đều cho kết quả tái sinh kém (kếtquả không trình bày ở đây) Khi sử dụng quảlan đai châu đỏ để tiến hành khử trùng ở bacông thức khác nhau, chúng tôi thu được kếtquả như bảng 1.1

Bảng 1.1 Kết quả vào mẫu quả để sử dụng hạt lan đai châu đỏ nuôi cấy in vitro

Trang 4

3033 , Số 6S 1 ( 20142017 ) 148 - 1057

Công thức

khử trùng

Lô thí nghiệm

Số hạt ban đầu

Số mẫu sốngsót/sạch

Tỷ lệ sống sót (%) Trung bình ± SDCT1

Dựa vào kết quả ở bảng 1.1 cho thấy,

công thức khử trùng tốt nhất đối với nguyên

liệu là hạt lan là CT3, ở công thức khử trùng

này cho tỷ lệ mẫu sống sót và sạch cao nhất,

đạt 84,62% Môi trường sử dụng Javen 10% có

tỷ lệ mẫu sống sót/sạch thấp nhất: tỷ lệ mẫu

sạch và sống sót chỉ đạt 22,8%, còn lại là

nhiễm và chết

3.2 Ảnh hưởng của tổ hợp các BAP và

IBA lên khả năng tạo phôi soma từ protocorm

Hạt sau khi tiến hành vào mẫu từ hạt

trên môi trường MS, sau nuôi cấy 60 ngày các

hạt đều phát triển ở dạng protocorm Để tạo

chồi từ protocorm xuất phát từ hạt có hai giai

đoạn: 1 Tạo phôi soma từ dạng protocorm; 2

Tái sinh chồi từ phôi soma

Ảnh hưởng của BAP và IBA lên khả năng tạo phôi soma từ protocorm phát sinh từ hạt

Phôi soma được coi như một phương pháp

ưu việt nhất trong hệ thống nhân giống in vitro

và công nghệ chuyển gen (Phan Thị Thu Hiền

et al, 2015)[31] Phôi soma được hình thành từprotocorm được công bố đầu tiên ở

Cymbidium [32], Phalaenopsis amabilis var formosa [33] và Rhynchostylis gigantea [34]

Gần đây, Naing et al., 2011 đã tạo phôi soma ở

Coelogyne cristata [35] Trong nghiên cứu

này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu khả năngtạo phôi soma từ protocorm 60 ngày tuổi xuấtphát từ hạt của giống lan đai châu đỏ, chúngtôi tiến hành khảo sát ảnh hưởng của BAP vàIBA lên khả năng hình thành phôi soma ởgiống lan này Kết quả thu được như bảng 1.2,hình 1.1

Bảng 1.2 Ảnh hưởng của BAP và IBA lên số lượng phôi soma hình thành từ protocorm

Kí hiệu Nồng độ KTST (mg/L) Số protocorm

ban đầu

Số protocormtạo phôi soma Tỷ lệ TB (%) TB ± SD

Trang 5

Kết quả cho thấy, môi trường MS cơ bản

(Đối chứng) cho tỷ lệ tạo phôi soma thấp nhất,

đạt 9,38% Tổ hợp chất kích thích sinh trưởng

BAP và IBA có tác động rõ rệt lên sự hình

thành phôi soma ở giống lan Đai châu đỏ, trên

môi trường SM2 có bổ sung 0,5 mg/L BAP và

1 mg/L IBA, cho tỷ lệ tạo phôi soma cao xấp

xỉ gấp 2 lần so với môi trường đối chứng Môi

trường có bổ sung 2 mg/L BAP và 1 mg/L IBA

cho tỷ lệ tạo phôi ở các khối protocorm cao

nhất, đạt xấp xỉ 63,55% Kết quả này phù hợpvới kết quả nghiên cứu của Mahendran vàNarmatha Bai (2012) khi nghiên cứu quá trình

tạo phôi soma của loài lan Cymbidium bicolor

Lindl [36] Trên môi trường MS cơ bản có bổsung 2 mg/l BAP và 1 mg/L NAA cho tỷ lệ tạophôi soma cao nhất, số phôi tạothành/protocorm xấp xỉ 26 Công trình này còn

sử dụng môi trường này để kéo dài chồi và tạo

rễ cho chồi sau tái sinh

Hình 1.1 Hạt nảy mầm thành protocorm

Để nghiên cứu hiệu quả tạo phôi soma,

chúng tôi tiếp tục khảo sát tác động của môi

trường có bổ sung BAP và IBA nồng độ khác

nhau lên số lượng phôi soma tạo

thành/protocorm (Biểu đồ 1.1)

Trang 6

3033 , Số 6S 1 ( 20142017 ) 148 - 1057

Biểu đồ 1.1 Ảnh hưởng của BAP và IBA đến số

lượng phôi soma hình thành từ protocorm

Dựa vào kết quả thể hiện ở biểu đồ 1.1

cho thấy, tổ hợp BAP và IBA tác động rõ rệt

lên số lượng phôi tạo thành từ protocorm của

giống lan đai châu đỏ Cụ thể, trên môi trường

SM1, không bổ sung hai chất này, chỉ cho 3,33

phôi soma/protocorm Khi bổ sung tổ hợp hai

chất kích thích sinh trưởng BAP và IBA đã

cho thấy sự thay đổi rõ rệt Môi trường SM2

cho thấy sự tạo thành phôi/protocorm đạt 7,67,gấp đôi môi trường SM1 Môi trường SM5 chothấy sự hình thành số lượng phôi nhiều nhất,lượng phôi đạt 19,67 phôi/protocorm

3.3 Ảnh hưởng của BAP và Kinetin lên khả năng hình thành chồi từ phôi soma

Từ dạng phôi soma của giống lan đai châu

đỏ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởngcủa tổ hợp BAP và kinetin lên khả năng hìnhthành chồi với 5 công thức môi trường khácnhau

Bảng 1.3 Ảnh hưởng của BAP và Kinetin lên khả năng tái sinh chồi từ phôi soma của giống Lan Đai châu đỏ

Kí hiệu Chất KTST (mg/L) Số cụm phôi

ban đầu

Số cụm phôi tái sinh

Tỷ lệ tái sinh (%)

Trung bình (%) ± SD

Dựa vào kết quả thu được ở bảng 1.3

cho thấy, trên môi trường MS, tỷ lệ tái sinh đạt

thấp, xấp xỉ 6,25% BAP và Kinetin là hai

nhóm chất kích thích sinh trưởng thuộc nhóm

xytokinin, có tác dụng tăng cường sự phân

bào, giúp các tế bào thực vật tăng sinh nhanh

hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho tái sinh (Hình1.2)

Khi bổ sung vào môi trường nuôi cấy BAP

và kinetin với nồng độ khác nhau, hiệu quả táisinh đã có sự thay đổi rõ rệt, ở môi trườngSC1, sự tái sinh đã tăng lên 20,39%

Trang 7

A BHình 1.2 Quá trình tái sinh của giống lan đai châu đỏ từ phôi soma

A: Qúa trình diệp lục hóa của phôi soma, B: Chồi bắt đầu hình thành

Tỷ lệ tái sinh đạt cao nhất ở môi trường

SC3 có bổ sung 0,5 mg/L BAP và 0,5 mg/L

Kinetin, tỷ lệ tái sinh đạt xấp xỉ 41,41% Kết

quả này phù hợp với nghiên cứu của Ngô Xuân

Bình (2010) [37], ông cũng đã chứng minh

được khi bổ sung BAP và Kinetin sẽ kích thích

được quá trình tái sinh của các protocorm phát

triển từ hạt của các giống lan đai châu in vitro,

tỷ lệ tái sinh đạt 40%, tương đương với kết quảcủa chúng tôi trong thí nghiệm này (hình 1.2)

3.4 Ảnh hưởng của nồng độ NAA lên khả năng phát sinh rễ của Lan Đai châu đỏ

Đối với nuôi cấy mô và tế bào thựcvật, auxin được sử dụng để kích thích phânchia tế bào và phân hóa rễ Những auxinthường dùng rộng rãi trong nuôi cấy mô và tếbào thực vật là αNAA, IAA… [38]

Bảng 1.4 Ảnh hưởng của nồng độ NAA lên khả năng phát sinh rễ của Lan Đai châu đỏ

Dựa vào kết quả bảng 1.4 cho thấy, chất

kích thích sinh trường NAA có ảnh hưởng rõ

rệt lên khả năng tạo rễ của giống lan đai châu

đỏ Trên môi trường đối chứng không bổ sung

NAA, cây lan đai châu đỏ có phản ứng ra rễ

nhưng tỷ lệ rất thấp, chỉ đạt xấp xỉ 11%, số

rễ/chồi đạt 1,33, chiều dài xấp xỉ 1 cm

Trên môi trường RP1, có bổ sung 0,5 mg/LNAA cho thấy khả năng tạo rễ của giống lanđạt 21,17% Khi tăng nồng độ NAA lên 1,5mg/L, cho thấy khả năng tạo rễ của giống lan

đai châu đỏ in vitro đạt cao nhất, khoảng

50,67%, số rễ/chồi đạt 3,67 rễ, chiều dài trungbình đạt 3,3 cm, rễ mập, xanh, có nhiều lông

tơ Khi nồng độ NAA tăng lên 2 mg/L, tỷ lệtạo rễ giảm chỉ còn 42,33%, chiều dài và sốlượng rễ cũng giảm (Hình 1.3) Có hiện tượng

Trang 8

3033 , Số 6S 1 ( 20142017 ) 148 - 1057

này do nồng độ auxin tăng, làm ức chế quá

trình ra rễ Một số tác giả khác lại sử dụng chất

IBA nồng độ 2 mg/L để tạo rễ cho loài lan

Coelogyne cristata Lindl., cho số rễ đạt khá

cao -15 rễ/cụm chồi [39]

E D C B A

Hình 1.3 Qúa trình tạo rễ của giống lan đai châu đỏ in vitro trên môi trường khác nhau A: Đối chứng, B: ra rễtrên môi trường RP1, C: ra rễ trên môi trường RP2, D: ra rễ trên môi trường RP3, E: ra rễ trên môi trường RP4

3.5 Ảnh hưởng của thành phần giá thể

lên khả năng sống sót và sinh trưởng của cây

Để tăng được khả năng thích ứng của

cây con với điều kiện bên ngoài, chúng tôi tiến

hành huấn luyện cây con bằng cách đưa cây

con trong ống nghiệm ra điều kiện vườn ươm

trong 2 tuần trước khi tiến hành ra cây

Phương pháp này cũng phù hợp với Chen và

Zeng khi cho ra cây 1 số giống lan [40, 41]

Cây sau nuôi cấy in vitro, cây concó bộ

rễ hoàn chỉnh được chuyển ra vườn ươm.Tùyvào đặc tính của mỗi giá thể, cho tỷ lệ sống sótkhác nhau Giá thể xơ dừa có tác dụng giữ ẩmrất tốt, cho tỷ lệ sống sót ở giống lan này đạt47,92%, tuy vậy, hàm lượng chất dinh dưỡng ởgiá thể này thấp

Giá thể giớn cho kết quả sống sót cao hơn,

tỷ lệ sống của các cây con đạt 53,99% Giá thểnày có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn so với

xơ dừa tuy nhiên độ tơi xốp của giá thể nàythấp (Bảng 1.5)

Bảng 1.5 Ảnh hưởng của thành phần giá thể lên khả năng sống sót và sinh trưởng của cây Lan Đai châuđỏ

Loại giá thể Số mẫu

ra cây

Số mẫusống sót

Tỷ lệsống sót

98,41±1,38

Trang 9

Khi kết hợp 2 thành phần 50% giớn:

50% xơ dừa, cho tỷ lệ sống sót cao nhất đạt

98,41% Hiệu quả cao do sự kết hợp cả giớn và

xơ dừa, giúp môi trường ra cây vừa có hàm

lượng dinh dưỡng và độ ẩm, độ xốp phù hợp

(Hình 1.4)

Phạm Thị Kim Hạnh và đồng tác giả đã

thực hiện ra cây giống lan đai châu sau khi

nuôi cấy bằng kĩ thuật bioreactor, thành phần

giá thể có sử dụng than củi, bọt núi lửa, dớn và

xơ dừa, cho tỷ lệ sống sót cao nhất, đạt xấp xỉ

100%, tuy vậy có hiện tượng bị thối mềm lá,

vàng lá [42] Đinh Thị Dinh và đồng tác giả

đã tiến hành nghiên cứu một số biện pháp kĩ

thuật để tăng khả năng sinh trưởng của hoa lan

đai châu có sử dụng giá thể than hoa, vỏ cây,

rong biển, tỷ lệ 1:1:1, tưới nước ngày 1 lần,

giúp cây có sức sống và chống chịu tốt, tỷ lệ

Môi trường thích hợp để tạo phôi soma

từ protocorm là môi trường MS cơ bản có bổsung 2 mg/L BAP và 1 mg/L IBA Trên môitrường này, tỷ lệ tạo phôi soma từ protocormđạt xấp xỉ 63,55%, số phôi soma hìnhthành/protocorm đạt 19,67 phôi

Môi trường thích hợp cho sự hình thành,phát triển chồi từ phôi soma là MS cơ bản có

bổ sung 0,5 mg/L BAP và 0,5 mg/L kinetin,trên môi trường này, tỷ lệ tái sinh chồi đạt41,41%

Nồng độ NAA 1,5 mg/L tốt nhất để ra rễ

in vitro cây lan đai châu đỏ, tỷ lệ ra rễ đạt

50,67%, số rễ trung bình 3,67, chiều dài rễ đạt3,3 cm, rễ mập, xanh, có nhiều lông tơ

Giá thể thích hợp nhất được bố trí trongthí nghiệm này là 50% giớn: 50% xơ dừa, cho

tỷ lệ sống sót của cây con đạt 83,62% Câyphát triển khỏe, không có sâu bệnh

Lời cảm ơn

Nghiên cứu này được tài trợ từ nguồnkinh phí khoa học công nghệ của Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2 cho đề tài mã số:C.2016-18-02

Trang 10

3033 , Số 6S 1 ( 20142017 ) 148 - 1057

Tài liệu tham khảo

[1] Givnish TJ, Spalink D, Ames M,

Lyon SP, Hunter SJ, Zuluaga A, Iles WJD,

Clements MA, Arroyo MTK, Leebens-Mack J,

Endara L, Kriebel R, Neubig KM, Whitten

WM, Williams NH, Cameron KM, Orchid

phylogenomics and multiple drivers of their

extraordinary diversification, Proceedings of

the Royal Society B 282(1814)(2015)1553.

[2] Moore D, On growing orchids from

seeds, Gard.Chron 35 (1849) 549.

[3] Bernard N, Sur la germination de

Neottia nidus-avis C R Hebd Seances Acad.

Sci Paris 128 (1899) 1253

[4] Knudson L, Nonsymbiotic

germination of orchid seeds, Bot Gaz 73

(1922) 1.

[5] Rotor JG Amethod for

vegetative propagation of Phalaenopsis species

and hybrids, Am Orchid Soc Bull 18 (1949)

738.

[6] Morel G, Producing virus-free

cymbidiums.Am, Orchid Soc Bull 29 (1960.)

Micropropagation of Orchids

Wiley-Interscience, New York (1993).

[9] Arditti J, Krikorian AD,

Orchid micropropagation: the path from

laboratory to commercialization and an account

of several unappreciated investigators, Bot.J.

Linn Soc 122 (1996) 183.

[10] Arditti J, Micropropagation of

Orchids.second ed Blackwell, Cambridge

(1996).

[11] Teixeira da Silva JA, Chin

DP., Van PT, Mii M, Transgenic orchids.Sci.

Hortic.130 (2011) 673.

[12] Khoddamzadeh AA, Sinniah

UR, Kadir MA, Kadzimin SB, Mahmood

M.,Subramaniam S, Detection of somaclonal

variation by random amplified polymorphic

DNA analysis during micropropagation of

Phalaenopsis bellina (Rchb.f.) Christenson,

Afr J Biotechnol 9 (2010.) 6632.

[13] Teixeira da Silva JA, Zeng S Galdiano Jr, RF, Dobránszki J, Cardoso JC,

Vendrame WA, In vitro conservation of

Dendrobim germplasm, Plant Cell Rep 33 (2014): 1413.

[14] Roy J, Banerjee N, Induction

of callus and plant regeneration from shoot tip

explants of Dendrobium fimbriatum Lindl var.

Oculatum Hk.f, Sci Hortic 97 (2003) 333.

[15] Subramanium G, Taha RM,

Morphogenesis of Cymbidium atropurpureum

in vitro, Malays J Sci 22 (2003) 1.

[16] Roy AR, Patel RS, Sajeev S, Deka C, Asymbiotic seed germination, mass propagation and seedling development of Vanda coerulea Griff ex Lindle (Blue Vanda):

An in vitro protocol for an endangered orchid,

Sci Hortic 128 (2011) 325.

[17] Nhut DT, Van Le B, Van Tran Thanh K, Thorpe T, Thin cell layer culture system: regeneration and transformation applications, Kluwer Academic Publishers, Dordrecht (2003): 23.

[18] Teixeira da Silva JA, Giang DTT, Chan MT, Sanjaya, Norikane A, Chai

ML, Chico-Ruı ´z J, Penna S, Granstro ¨m T, Tanaka M The influence of different carbon sources, photohetero photoauto- and photomixotrophic conditions on protocorm-like body organogenesis and callus formation in thin

cell layer culture of hybrid Cymbidium

(Orchidaceae), Orchid Sci Bio-technol 1(2007):15.

[19] Lakshmanan P, Loh CS, Goh

CJ An in vitro method for rapid regeneration of

a monopodial orchid hybrid Aranda Deborah using thin section culture, Plant Cell Rep 14 (1995): 510.

[20] Naing AH, Chung JD, Park

IS, Lim KB, Efficient plant regeneration of the endangered medicinal orchid, Coelogyne cristata using protocorm-like bodies, Acta Physiol Plant 33 (2011) 659.

[21] Liao YJ, Tsai YC, Sun YW,

Lin RS, Wu FS, In vitro shoot induction and

plant regeneration from flower buds in Paphio

pedilum orchids, In Vitro Cell Dev Biol Plant

47 (2011) 702.

[22] Mulgund GS, Nataraja K, Malabadi RB, Kumar SV, TDZ induced in vitro

propagation of an epiphytic orchid

Xenikophy-ton smeeanum (Reichb f.) Res Plant Biol 1

(2011)7.

Trang 11

[23] Wu K-L, Zeng S-J, Teixeira

da Silva JA, Chen Z-L, Zhang J-X, Yang Y-S,

Duan J, Efficient regeneration of Renanthera

Tom Thumb ‘Qilin’ from leaf explants, Sci

Hortic 135 (2012) 194.

[24] Nguyễn Thị Sơn, Từ Bích

Thủy, Đặng Thị Nhàn, Nguyễn Thị Lý Anh,

Hoàng Thị Nga, Nguyễn Quang Thạch, Nhân

giống in vitro Lan Dendrobium officinale

Kimura et Migo (Thạch hộc Thiết bì, Tạp chí

Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 8

(2014) 1274.

[25] Vũ Ngọc Phượng, Thái Xuân

Du, Trịnh Mạnh Dũng, Nhân giống vô tính

phong lan in vitro ở điều kiện ánh sáng tự

nhiên Kỷ yếu Hội nghị khoa học - Công nghệ

sinh học thực vật trong công tác nhân giống và

tạo giống hoa Viện Khoa học và Công nghệ

Việt Nam & UBND Tỉnh Lâm Đồng, NXB

Nông nghiệp (2015) 37.

[26] Trần Hợp, Phong lan Việt

Nam NXB Nông nghiệp (1998).

[27] Đinh Thị Dinh, Đặng Văn Đông,

Trần Duy Qúy, Nghiên cứu một số biện pháp

kỹ thuật tác động tăng khả năng sinh trưởng,

chất lượng hoa lan đai châu (Rhynchostylis

gigantea (Lindley) Ridley), Tạp chí nông

nghiệp và phát triển nông thôn kỳ 2 (2014) 10.

[28] Bui van Le, N.T Hang Phuong,

L.T Anh Hong, K Tran Thanh Van, High

frequency shoot regeneration from

Rhynchostylis gigantean Plant Growth

Regulation 28 (1999) 179.

[29] Ngô Xuân Bình, Nghiên cứu ảnh

hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả

năng nẩy mầm và tạo chồi của hạt phong lan

Đai Châu trong nhân giống in vitro, Tạp chí

Hoạt động Khoa học (611) (2010): 32.

[30] Chu Văn Mẫn Tin học trong công

nghệ sinh học, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam

(2009).

[31] Phan Thị Thu Hiền, Phạm Bích

Ngọc, Chu Hoàng Hà, Quy trình chuyển gen

hiệu quả vào phôi soma của giống mía ROC22

(Saccharum officinarum L.) thông qua vi khuẩn

Agrobacterium tumefaciens, Tạp chí Khoa học

ĐHQGHN: Khoa học Tự nhiên và Công nghệ,

Tập 31, Số 4S (2015) 108.

[32] Begum AA, Tamaki M, Kako S,

Formation of protocorm-like bodies (PLBs)

and shoot development through in vitro

culture of outer tissue of Cymbidium PLB,

J Jpn Soc.Hort.Sci 63 (1994) 663.

[33] Chen JT, Chang C, Chang WC, Induction of repetitive embryogenesis from seed-derived protocorms of Phalaenopsis

amabilis var formosa shimadzu, In Vitro

Cell Dev Biol.: Plant 40 (2004) 290.

[34] Li ZY, Xu L, In vitro

propagation of white-flower mutant of

Rhynchostylis gigantea (Lindl.) Ridl.Through

immature seed-derived protocorm like bodies, J.Hort Forest 1(2009) 93

[35] Naing AH, Chung JD, Lim KB, Plant regeneration through indirect somatic

embryogenesis in Coelogyne cristata orchid,

Am J Plant Sci 2 (2011), 262.

[36] Mahendran G., Narmatha Bai V, Direct somatic embryogenesis and plant regeneration from seed derived protocorms of

Cymbidium bicolor Lindl., Scientia Horticulturae 135 (2012) 40.

[37] Ngô Xuân Bình, Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm và tạo chồi của hạt phong lan

Đai Châu trong nhân giống in vitro, Tạp chí

Hoạt động Khoa học (611) (2010): 32.

[38] Vũ Ngọc Lan, Nguyễn Thị Lý

Anh, Nhân giống in vitro loài lan bản địa

Dendrobium nobile Lindl, Tạp chí Khoa học và

Phát triển 2013, tập 11, số 7 (2013): 917.

[39] Naing AH, Chung JD, Lim KB, Plant regeneration through indirect somatic

embryogenesis in Coelogyne cristata orchid,

Am J Plant Sci 2 (2011): 262–267.

[40] Chen ZL, Ye XL, Liang CY, Duan

J, Seed germination in vitro of Paphiopedilum

armeniacum and P micranthum, Acta Hortic

Sin,31 (2004) 540.

[41] Zeng SJ, Wu KL, Teixeira da Silva

JA, Asymbiotic seed germination, seedling development and reintroduction of

Paphiopedilum wardii Sumerh., an endangered

terrestrial orchid, Sci Hortic 138 (2012) 198.

[42] Phạm Thị Kim Hạnh, Đoàn Duy Thanh, Hà Thị Thúy, Đỗ Năng Vịnh, Kết quả

nghiên cứu nhân nhanh in vitro giống lan Ngọc điểm Đai châu (Rhynchostylis gigantea) trong

Trang 12

3033 , Số 6S 1 ( 20142017 ) 148 - 1057

bioreactor, Tạp chí nông nghiệp và phát triển

nông thôn 3 (2009) 46

[43] Đinh Thị Dinh, Đặng Văn Đông, Trần Duy

Qúy, Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tác

động tăng khả năng sinh trưởng, chất lượng hoa

lan đai châu (Rhynchostylis gigantea (Lindley)

Ridley), Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn kỳ 2 (2014) 10.

In vitro propagation of (Rhynchostylisgigantea L ) orchid

Phan Thi Thu Hien, Nguyen Van Dinh

Faculty of Biology, Ha Noi Pedagogical University 2, Xuan Hoa, Phuc Yen, Vinh Phuc

Abstract: Rhynchostylisgigantea L Orchid is an endangered tropical epiphytic orchid that is

threatened with extinction due to over-collection and the loss of suitable habitats In vitro propagation

is a useful way to mass produce plants for re-establishment in the wild and for commercial

propagation Seeds collected 9 months after pollination were the optimum stage for in vitro culture.

Seed germination reached 84,62 MS medium Protocorms cultured on MS medium supplemented

with auxin and cytokinin induced direct somatic embryogenesis The best response was observed

in protocorms cultured SM5- MS medium supplemented with BAP at 2.0 mg/L and IBA at

1.0mg/L Complete plantlets were formed after 08 weeks culture on MS medium supplemented with

0.5 mg/l BAP and 0,5 mg/l Kinetin MS medium supplemented with 0.5 mg/l BAP and 0,5 mg/l

Kinetin and 20% CW was suitable for the regeneration in which the shoots proliferation ratio was

41,41%, the height of shoot was 4,33 cm after 08 weeks cultured The shoot have 4 cm in height is

subcultured on MS medium containing 1.5 mg/l NAA that was suitable for rooting 50,67% Plantlets

with well-developed leaves and roots were transplanted to pots filled with Sphagnum sp dry and coir

cartridge shell (1:1), also perlite individually and transferred to the greenhouse Upon ex vitro transfer,

98,41% of plants survived in culture room condition (25 ± 2o C) This protocol is an efficient means for

the large-scale propagation and in vitro and in vivo germplasm conservation of Rhynchostylisgigantea

L orchid

Keywords: Rhynchostylisgigantea L., propagation, in vitro, embryos soma, protocorm, potting

mediumXây dựng quy trình sản xuất rượu Brandy sử dụng quả bần chua (Sonneratia caseolaris)

Đoàn Văn Thược*, Vũ Thị Hằng Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 136 Xuân Thủy, Hà Nội, Việt Nam

Nhận ngày 07 tháng 12 năm 2015Chỉnh sửa ngày 17 tháng 4 năm 2015; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 3 năm 2017

Tóm tắt Trong nghiên cứu này chúng tôi đã xây dựng quy trình sản xuất rượu brandy bần chua ở

quy mô lên men 350 l/mẻ, kết quả cho thấy sau 14 ngày lên men chúng tôi đã thu được dịch lên

men có hàm lượng rượu đạt 16,5% (v/v) Dịch lên men đã được chưng cất để thu rượu mạnh,

rượu thu được có mùi hăng sốc và khó uống do có chứa tạp chất với hàm lượng cao như acid (864

g/l), aldehyde (124,7 g/l), ester (211,2 g/l) và methanol (134,8 g/l) Bằng cách xử lý với NaOH và

KMnO4 sau đó chưng cất lại, phần lớn các tạp chất này đã bị loại bớt, acid, aldehyde, ester và

methanol trong rượu sau khi xử lý lần lượt còn là 130 g/l, 43 mg/l, 92,4 mg/l và 23,5 mg/l

Hình 18 Kết quả mô phỏng với tốc độ học 0.0003 bằng ngôn ngữ C

Trang 13

Brandy bần chua cũng đã được ngâm với gỗ sồi theo các tỷ lệ khác nhau, kết quả cho thấy ngâm

1 l rượu (60%, v/v) với 3 – 3,25 g gỗ sồi sẽ cho màu sắc và mùi vị tốt nhất Các số liệu phân tích

và cảm quan chứng tỏ rằng rượu brandy bần chua hoàn toàn đáp ứng Quy chuẩn kỹ thuật Quốcgia về rượu mạnh Đây là nghiên cứu đầu tiên sản xuất brandy từ dịch quả bần chua lên men

Từ khóa: quả bần chua, brandy, lên men, chưng cất, Sonneratia caseolaris

1 Mở đầu

Rừng ngập mặn là hệ sinh thái đặc biệt nằm ở giữa đất liền và biển ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệtđới Rừng ngập mặn chiếm diện tích khoảng 152361 km2 và phân bố tại 123 quốc gia và vùng lãnh thổ [1].Việt Nam chúng ta có khoảng gần 200 ha rừng ngập mặn trải dài khắp ba miền Bắc – Trung – Nam Rừngngập mặn của Việt Nam khá đa dạng với các loài cây phổ biến như Trang, Đước, Mắm, Bần chua, Sú, Vẹt Bần chua có tên khoa học là Sonneratia caseolaris là một loài cây phổ biến ở vùng ngập mặn ven biển Ở ViệtNam, cây Bần chua được trồng và mọc hoang ở các rừng ngập mặn ven biển từ Bắc vào Nam Đây là mộtloài cây gỗ trung bình (có thể cao tới 15-20m) có giá trị chủ yếu là phòng hộ, lấy gỗ Cây bần chua thường cóhoa nở vào tháng 4-5, kết trái vào tháng 10-11, mỗi cây cho khoảng 350 quả, trung bình mỗi kg sẽ có khoảng10-15 quả [2]

Ở một số quốc gia trên thế giới người ta đã tận dụng quả bần chua để làm nước quả, nước xi-rô Điểnhình là ở Sri Lanka, người dân ở vùng phía Nam và Tây Nam đã sử dụng quả cây Bần chua để làm nước quảtươi Ở Maldive người dân trồng cây Bần chua ở trong vườn để dùng quả cây làm nguồn thực phẩm và làmnước quả Trong khi đó người dân Indonesia đã dùng quả cây Bần chua để sản xuất nước xi-rô [3] Ở ViệtNam (đặc biệt ở miền Bắc) việc sử dụng quả bần chua làm thực phẩm và đồ uống còn nhiều hạn chế Ngườidân chưa biết giá trị kinh tế của quả bần và cũng chưa biết cách chế biến thực phẩm, đồ uống từ quả bần Trong nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã phân lập được chủng nấm men Candida tropicalis NM2 từquả bần chua có khả năng lên men rượu khá tốt Khi sử dụng quả bần chua làm nguyên liệu lên men và tiếnhành lên men trong 14 ngày ở nhiệt độ 30 o C và pH 3,5, chủng Candida tropicalis NM2 có thể tạo ra lượngrượu là 14,9% (v/v) [4] Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng chủng nấm men Candida tropicalis NM2

để lên men dịch quả bần chua ở qui mô 350 L/mẻ, dịch lên men sau đó được chưng cất nhằm tạo ra rượuBrandy bần chua

2 Nguyên liệu và phương pháp

2.1 Nguyên liệu

Đối tượng

Chủng nấm men Candida tropicalis NM2 được phân lập từ dịch quả bần chua lên men [4]

Quả bần chua được thu hái từ rừng ngập mặn xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng Các loại môi trường sử dụng

Môi trường dùng để giữ giống nấm men (môi trường Hansen) có thành phần (g/l): glucose: 50; KH2PO4:3; MgSO4.7H2O: 2; pepton: 10; thạch (agar): 20; pH = 5

Môi trường nhân giống cấp 1: môi trường Hansen lỏng (không có agar)

Môi trường nhân giống cấp 2: môi trường Hansen lỏng và dịch quả bần chua phối trộn với nhau tỉ lệ 1:1;hàm lượng đường 110 g/l; pH = 3,6; SO2: 30mg/l

Môi trường nhân giống cấp 3: môi trường Hansen lỏng và dịch quả bần chua phối trộn với nhau tỉ lệ 1:1;hàm lượng đường 220 g/l; pH = 3,6; SO2: 50mg/l

Trang 14

3033 , Số 6S 1 ( 20142017 ) 148 - 1057

Quả bần chua sau khi thu hái được đóng bao chuyển về phòng thí nghiệm CNSH-Vi sinh Chúng tôi đãtiến hành chọn lọc và loại bỏ quả sâu, quả dập hỏng Đối với các quả xanh chúng tôi đã giấm trong các thùngxốp có bổ sung đất đèn chờ chín (Hình 1A) Các quả chín sẽ được rửa sạch và ngâm với đường theo tỉ lệ 2quả: 1 đường (Hình 1B) Sau khi ngâm 20 ngày, tiến hành lọc loại bỏ vỏ và hạt, pha loãng dịch quả để đạthàm lượng đường khoảng 220 g/l

Hình 1 Xử lý quả để chuẩn bị dịch lên men: (A) ủ chín quả bần chua và (B) ngâm bần chua với đường Hoạt hoá và nhân giống nấm men

Cấy chủng Candida tropicalis NM2 trên môi trường Hansen đặc, nuôi ở nhiệt độ 30 ºC trong 36 h, cấychuyển sang môi trường nhân giống cấp 1, nuôi trong máy lắc với tốc độ 180 vòng/phút ở nhiệt độ 30 ºCtrong 24 h Bổ sung giống cấp 1 vào môi trường nhân giống cấp 2 (tỷ lệ giống bổ sung là 10%, v/v), nuôi ởnhiệt độ 30 ºC trong 24 h Bổ sung 10% (v/v) giống cấp 2 vào môi trường nhân giống cấp 3 và nuôi tiếp trong

24 h ở 30 o C, lúc này chủng nấm men đã nhân giống xong và sẵng sàng sử dụng cho các thí nghiệm tiếp theo.Lên men sản xuất và chưng cất rượu

Bổ sung 35 l giống cấp 3 vào thùng lên men 500 l có chứa 315 l dịch quả bần chua để đạt thể tích cuốicùng là 350 l Lên men ở 30 o C trong 14 ngày Lấy mẫu ở các thời điểm khác nhau để kiểm tra pH và hàmlượng rượu tạo thành Tiến hành chưng cất thu hồi rượu mạnh khi kết thúc lên men

Phương pháp làm giảm một số tạp chất trong rượu

Dung dịch rượu sau khi chưng cất được pha loãng đưa về 60% (v/v), tiến hành xử lý bằng KMnO4 vàNaOH với các nồng độ khác nhau [5] Sau đó, rượu sẽ được pha loãng 2 lần rồi tiến hành chưng cất, thu hồi

để cảm quan hương vị Từ kết quả cảm quan tìm ra được hàm lượng KMnO4 và NaOH phù hợp có khả nănglàm giảm nồng độ các tạp chất như acid, este, aldehyde, methanol, furfurol

Phương pháp tạo màu cho rượu brandy bần chua

Rượu sau khi xử lý và chưng cất lần 2 được đưa về nồng độ 60% (v/v) và được ngâm với bột gỗ sồi cóhàm lượng khác nhau : 2.5; 2.75; 3; 3.25, 3.5 (g/l) ở nhiệt độ 30 C Sau 12 tháng, tiến hành lọc loại bỏ bột gỗ0sồi thu rượu brandy Sử dụng nước cất pha loãng rượu về nồng độ 40% (v/v) rồi tiến hành đánh giá cảm quan,lựa chọn được hàm lượng gỗ sồi bổ sung thích hợp

Các phương pháp phân tích

Xác định độ rượu: Chưng cất một lượng dịch lên men nhất định (V1 ml) thu được V2 ml rượu Dùng rượu

kế đo độ rượu tạo ra trong V2 thu được giá trị a Từ đó tính được độ rượu b theo tỉ lệ % (v/v) theo công thức: b

= (a x V2):V1

Xác định acid và este có trong rượu theo phương pháp của Lê Thanh Mai và cộng sự [5]

Xác định hàm lượng furfurol có trong rượu theo phương pháp HPLC sử dụng cột Hypersil DPSC18, 1%acetonitril được sử dụng làm dung môi chạy HPLC, furfurol tinh khiết (Sigma, Mỹ) được sử dụng để xâydựng đề thị chuẩn

Trang 15

Hàm lượng aldehyde và methanol trong mẫu rượu được xác định tại Trung tâm Kĩ thuật tiêu chuẩn đolường chất lượng 1

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Lên men và động thái của quá trình lên men

Dịch lên men được chúng tôi sử dụng chính là dịch quả bần chua có chứa hàm lượng đường 220 g/l và

SO2 với hàm lượng 50mg/l Bổ sung lượng giống theo tỷ lệ 10% (v/v) và tiến hành lên men ở 28- 30 0 C trong

2 tuần Để xác định động thái của quá trình lên men chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu 2 ngày/lần để khảo sát 2yếu tố: hàm lượng rượu tạo thành và sự thay đổi của pH Kết quả được trình bày trong Hình 2

Hình 2 Động thái quá trình lên men rượu từ dịch quả bần chua

Ở thời điểm bắt đầu lên men, trong dịch quả lên men đã có chứa 2,6% rượu Như vậy trong 20 ngày ngâm

ủ chiết dịch, một số nấm men dại trong quả bần chua đã lên men tạo rượu Trong quá trình lên men, hàmlượng rượu tăng mạnh trong 4 ngày đầu tiên (từ 2,6% thời điểm bắt đầu lên 10,9% ở ngày thứ 4), sau đó vẫntăng đều từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 12 và đạt 16,1% Hàm lượng rượu đạt cực đại (16,5%) sau 14 ngày lênmen và không thay đổi khi kéo dài quá trình lên men lên 16 hoặc 18 ngày Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằngthời gian 14 ngày là thời điểm phù hợp để dừng lên men, ở thời điểm này hiệu suất chuyển hóa đường thànhrượu là 91,6% Hàm lượng rượu thu được trong nghiên cứu này (16,5%) cao hơn so với nghiên cứu trước đây(14,9%) [4] là do đã có sẵn 2,6% rượu khi bắt đầu quá trình lên men Nếu trừ đi lượng rượu có sẵn này thìlượng rượu thực tế tạo ra cũng là 14,9% - ngang bằng với hàm lượng rượu trong nghiên cứu trước đây Trái ngược với sự thay đổi mạnh mẽ của hàm lượng rượu trong quá trình lên men, giá trị pH thay đổikhông đáng kể, pH có xu hướng giảm nhẹ trong quá trình lên men do sự hình thành của một số acid ví dụ nhưaxit axetic

3.2 Chưng cất thu hồi sản phẩm và đánh giá sơ bộ chất lượng sản phẩm

Lượng rượu tạo thành trong quá trình lên men dịch bần chua đã được chúng tôi chưng cất thu hồi Rượubrandy từ quả bần chua sau khi chưng cất thu hồi có màu trong suốt nhưng vẫn hơi nồng, hăng và sốc Chúngtôi tiến hành kiểm tra một số yếu tố có trong rượu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng rượu như acid, este,aldehyde, methanol và furfurol Kết quả phân tích được trình bày trong Bảng 1

Thành phần quan trọng ảnh hưởng đến hương vị brandy là các acid, đặc biệt là acid dễ bay hơi Kết quảphân tích cho thấy hàm lượng acid trong rượu brandy bần chua là 864 mg/l, cao hơn so với rượu brandy nho(khoảng 100 – 500 mg/l) [6] và rượu brandy anh đào (khoảng 140 - 280 mg/l) [7] Sự khác biệt này là dothành phần nguyên liệu và điều kiện lên men của các loại rượu khác nhau, trong đó bần chua là loại quả cónhiều acid nhất nên hàm lượng acid có trong rượu cũng sẽ cao

Ngoài acid thì ester cũng là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên hương vị cho rượu brandy Trên 160loại ester khác nhau đã được tìm thấy trong các loại rượu vang cũng như rượu brandy khác nhau Phổ biếnnhất trong rượu đó là ethyl ester, thành phần này được hình thành do phản ứng ester hóa giữa các acid hữu cơ

và ethanol [6] Kết quả phân tích trong Bảng 1 cho thấy hàm lượng este trong rượu brandy bần chua làkhoảng 212,2 mg/l, thấp hơn nhiều so với rượu brandy anh đào (dao động trong khoảng 580 - 1400 mg/l) [7]

Bảng 1 Thành phần một số chất trong rượu bần chua 40% (v/v)

Ngày đăng: 21/01/2021, 18:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. P.P. Wong (1991), Coastal Toursim in Southeart Asia, United States Coastal Resources Management Project, 40 pages Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coastal Toursim in Southeart Asia
Tác giả: P.P. Wong
Nhà XB: United States Coastal Resources Management Project
Năm: 1991
[2]. Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 45 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[3]. Lê Đức An (1999), “Nghiên cứu hệ thống đảo ven bờ phục vụ quản lý tổng hợp vùng biển Việt Nam”, Tuyển tập báo cáo khoa học tập 2, Hội nghị khoa học công nghệ toàn quốc lần thứ IV, Hà Nội, tr. 725-729 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống đảo ven bờ phục vụ quản lý tổng hợp vùng biển Việt Nam
Tác giả: Lê Đức An
Nhà XB: Tuyển tập báo cáo khoa học
Năm: 1999
[4]. UBND tỉnh Quảng Ninh (2009), Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ninh, 252 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế Vân Đồn
Tác giả: UBND tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Quảng Ninh
Năm: 2009
[5]. Vũ Văn Thành (2006), “Tiềm năng phong phú của du lịch Vân Đồn”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Nâng cao nhận thức và nănh lực phát triển du lịch bền vững trong thời đại toàn cầu hóa”, Hạ Long, tr.125-137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng phong phú của du lịch Vân Đồn”, Kỷ yếu hội thảo khoahọc quốc tế “Nâng cao nhận thức và nănh lực phát triển du lịch bền vững trong thời đại toàn cầu hóa
Tác giả: Vũ Văn Thành
Năm: 2006
[6]. UBND xã Minh Châu (2013), Báo cáo kinh tế xã hội xã Minh Châu, Quảng Ninh, 17 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh tế xã hội xã Minh Châu
Tác giả: UBND xã Minh Châu
Nhà XB: Quảng Ninh
Năm: 2013
[7]. UBND xã Quan Lạn (2013), Báo cáo kinh tế xã hội xã Quan Lạn, Quảng Ninh, 14 tr Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w