1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Chế tài trong hợp đồng thương mại và thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình

12 85 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 362,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm là, để tránh tình trạng quy định một cách chồng chéo và không bao hàm hết các mối quan hệ giữa các chế tài trong hợp đồng thương mại, thì cần thiết phải thực hiện hai bước: Đầu tiê[r]

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TÓM TẮT LUẬN VĂN 2 LỜI NÓI ĐẦU Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI Error! Bookmark not defined 1.1 Khái niệm, đặc điểm của chế tài trong hợp đồng thương mạiError! Bookmark

not defined

defined

defined

1.2 Vai trò của chế tài trong hợp đồng thương mạiError! Bookmark not defined 1.3 Lịch sử chế tài trong hợp đồng thương mại Error! Bookmark not defined

1.3.1 Chế tài theo quy định tại Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 và Luật

Thương mại năm 1997 Error! Bookmark not defined.

defined

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH Error! Bookmark not defined 2.1 Thực trạng pháp luật về chế tài thương mại Error! Bookmark not defined

Trang 2

2.1.1 Quy định pháp luật về hình thức chế tài Error! Bookmark not defined 2.1.2 Quy định pháp luật về nội dung chế tài Error! Bookmark not defined.

defined

2.1.4 Quy định về thủ tục áp dụng chế tài Error! Bookmark not defined.

2.2 Thực trạng áp dụng chế tài trong hợp đồng thương mại tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình Error! Bookmark not defined

Error! Bookmark not defined.

Error! Bookmark not defined.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI Error! Bookmark not defined 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về chế tài trong hợp đồng thương mạiError!

Bookmark not defined

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế tài trong hợp đồng thương mạiError!

Bookmark not defined

3.2.1 Các quy định của pháp luật về chế tài trong hợp đồng thương mại cần hoàn

thiện Error! Bookmark not defined 3.2.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại Error!

Bookmark not defined

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài do vi phạm tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 3

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bước sang nền kinh tế thị trường, do được thiết lập trên nền tảng pháp lý của quyền tự do kinh doanh, quan hệ thương mại và đầu tư có phương thức hình thành chủ yếu là thông qua quan hệ hợp đồng Sự thỏa thuận, thống nhất ý chí một cách tự nguyện, bình đẳng giúp cho các bên cùng có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện các mục tiêu của mình Pháp luật hợp đồng với sứ mệnh là nền tảng pháp lý của mọi sự thỏa thuận tự nguyện luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ hợp đồng bình đẳng, an toàn, cùng có lợi cho

tổ chức, cá nhân Từ năm 2005, khi Luật Thương mại (2005) và Bộ luật Dân sự (2005)

được ban hành, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 bị hủy bỏ, sự điều chỉnh đối với các quan hệ hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng đã có

sự thay đổi căn bản Pháp luật đã quy định rõ nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng Nếu một bên có hành vi vi phạm gây thiệt hại cho bên kia thì phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi Việc quy định các hình thức chế tài trong thương mại có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo ổn định các quan hệ hợp đồng, trật tự pháp luật, khôi phục lợi ích của bên vi phạm, giáo dục ý thức pháp luật

về hợp đồng Tuy nhiên trên thực tế, sau khi ký kết các hợp đồng, vì nhiều lý do khác nhau các bên đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo cam kết như không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, nghĩa vụ chuyển giao hàng, giao hàng không đúng chủng loại như đã thỏa thuận trong hợp đồng, hoặc hàng kém chất lượng… Điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp nói riêng và sự vận hành ổn định của nền kinh tế nói chung Bên cạnh đó các quy định của pháp luật đối với chế tài trong hợp đồng thương mại vẫn còn một số bất cập, hạn chế trong quá trình áp

dụng trên thực tiễn; chính vì vậy Tôi chọn đề tài “Chế tài trong hợp đồng thương mại và thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình” làm luận văn thạc

sỹ với mong muốn để góp phần đánh giá, đề xuất những giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế tài trong hợp đồng thương mại và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài do vi phạm tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Trang 4

Chế tài trong thương mại theo quy định tại Điều 292 Luật Thương mại 2005 bao gồm các loại sau:

“1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng

2 Phạt vi phạm

3 Buộc bồi thường thiệt hại

4 Tạm ngừng thực hiện hợp đồng

5 Đình chỉ thực hiện hợp đồng

6 Huỷ bỏ hợp đồng

7 Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.”

- Buộc thực hiện đúng hợp đồng

“Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh”

- Phạt vi phạm

“Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt

do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật Thương mại 2005”

- Buộc bồi thường thiệt hại

“Buộc bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành

vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”

- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng

“Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa

vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Xảy ra hành vi vi phạm

mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (2) Một bên vi

Trang 5

phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều

294 của Luật Thương mại 2005”

- Đình chỉ thực hiện hợp đồng

“Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng; (2) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật Thương mại 2005”

- Hủy bỏ hợp đồng: “là hình thức chế tài, theo đó một bên chấm dứt thực hiện hợp

đồng và làm cho hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết

Hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây: (a) Xảy ra hành vi

vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng; (b) Một bên vi phạm

cơ bản nghĩa vụ hợp đồng

Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần hợp đồng

Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa

vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng

Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực”

- “Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên và tập quán thương mại quốc tế”

Xét về tính chất, chế tài trong hợp đồng thương mại gồm hai nhóm: chế tài áp dụng đối với vi phạm cơ bản và chế tài áp dụng đối với vi phạm không cơ bản

Trong đó, vi phạm cơ bản là: “sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”

Điều 3, khoản 13 Luật thương mại 2005

Trang 6

Các vi phạm khác không gây ra những thiệt hại đến mức làm cho bên bị vi phạm không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng đựơc gọi là vi phạm không cơ bản

Chế tài áp dụng đối với vi phạm cơ bản gồm: tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc huỷ bỏ hợp đồng

Chế tài áp dụng đối với vi phạm không cơ bản gồm: Buộc thực hiện đúng hợp đồng; phạt vi phạm; buộc bồi thường thiệt hại

Từ thực tiễn thực hiện hợp đồng thương mại, việc áp dụng các quy định về chế tài thương mại đã nảy sinh những vướng mắc chủ yếu sau:

Một là, theo quy định tại Điều 297 LTM: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh” Như vậy,

một bộ phận trong định nghĩa về hình thức buộc thực hiện đúng hợp đồng thể hiện tính

không khả thi, cụ thể là cụm từ “thực hiện đúng hợp đồng” là khó có thể thực hiện, đặc biệt

trong trường hợp vi phạm hợp đồng về mặt thời hạn Để phù hợp với thực tiễn và bảo đảm hơn tính khả thi đối với quy định về buộc thực hiện đúng hợp đồng, khái niệm buộc thực hiện đúng hợp đồng, được sửa đổi, bổ sung

Ngoài ra, khoản 2 Điều 299 LTM quy định: “Trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên

bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình” Quy

định như vậy làm cho chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trở thành vô giá trị, vì ngay cả trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì cũng không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào mà chỉ có thể phải chịu các chế tài như phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại hoặc tạm ngừng, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng Nội dung của pháp luật cần được khắc phục, vì có thể bị bên vi phạm lợi dụng nhằm trì hoãn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Như vậy, thiết nghĩ rất cần quy định bổ sung hình thức chế tài để

áp dụng khi bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Hai là, chế tài phạt vi phạm: theo Điều 300 LTM quy định:“Phạt vi phạm là việc

bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu

Trang 7

trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này” Như vậy, phạt vi phạm chỉ có thể xảy ra trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng Về bản chất, thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng được coi

là một biện pháp ngăn ngừa hành vi vi phạm, nhằm răn đe và hướng các bên cùng tự giác tuân thủ đúng, đủ các nghĩa vụ đã cam kết Tuy nhiên, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng chỉ xảy ra khi có sự thỏa thuận trong hợp đồng là chưa thật hợp lý, bởi vì hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên, nếu như các bên chưa quy định về phạt vi phạm hợp đồng trong hợp đồng thì các bên vẫn có quyền quy định một điều khoản ngoài hợp đồng, độc lập với hợp đồng và có thể giao kết sau khi hợp đồng được ký kết thì vẫn có hiệu lực thi hành bình thường như trường hợp đã được quy định vấn đề phạt vi phạm hợp đồng trong bản hợp đồng

Theo Điều 301 Luật Thương mại năm 2005: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa

vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm” Theo điều

này có thể hiểu, các thương nhân được quyền tự do thỏa thuận trong hợp đồng về chế tài phạt vi phạm và mức phạt đối với các hành vi vi phạm, tuy nhiên, thỏa thuận về mức phạt vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm sẽ không hợp pháp Một vấn đề đặt ra, nếu trong hợp đồng hai bên thỏa thuận mức phạt vượt quá 8% giá trị hợp đồng thì sẽ xử lý như thế nào: hoặc thỏa thuận này là vô hiệu, vì vậy khi giải quyết tranh chấp về yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng, không chấp nhận yêu cầu này bởi vì xem như hai bên không có thỏa thuận hoặc việc thỏa thuận vượt quá 8% chỉ vô hiệu một phần đối với mức phạt vượt quá 8% còn điều khoản phạt vi phạm hợp đồng hoàn toàn

có hiệu lực, trong trường hợp này có thể áp dụng mức tối đa 8% yêu cầu của bên bị vi phạm, phần vượt quá không được chấp nhận

Ba là, theo quy định tại Điều 308 LTM, có hai căn cứ để áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng: “i) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng; ii) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”

Trang 8

Khi chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng được áp dụng, hậu quả pháp lý đối với hợp đồng này là hợp đồng vẫn còn hiệu lực và bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu hành vi vi phạm đó gây thiệt hại cho bên bị vi phạm Có thể hiểu về bản chất, việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng đó sẽ tiếp tục được thực hiện trong tương lai khi điều kiện áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng không còn tồn tại Vấn đề đặt ra là sau khi áp dụng biện pháp này, thời điểm nào sẽ được coi là chấm dứt việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng? Căn cứ nào để một bên yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng đã bị tạm ngừng thực hiện? Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện do bên tạm ngừng tự động thực hiện hay theo yêu cầu của bên có hành vi vi phạm hợp đồng?

Tất cả những câu hỏi này hiện nay vẫn chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn, từ đó, gây khó khăn cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng

Để giải quyết sự bất cập này, cần bổ sung quy định cụ thể về căn cứ, thời điểm chấm dứt

áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ của các bên khi căn cứ tạm ngừng thực hiện hợp đồng chấm dứt Như vậy mới đảm bảo quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, tránh trường hợp lợi dụng việc áp dụng chế tài này để trì hoãn việc thực hiện các hợp đồng trên thực tế

Bốn là, hậu quả pháp lý của hình thức hủy bỏ hợp đồng: theo quy định tại Điều

312 Luật Thương mại, hủy bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần hợp đồng (các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực) Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng là “hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp” (khoản 1 Điều

314 Luật Thương mại) Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng giống như trong trường hợp hợp đồng bị vô hiệu, các bên phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận từ việc thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, cách quy định này có một số bất cập tại khoản 2 và khoản 3 Điều 314 Luật Thương mại Theo đó Luật Thương mại quy định, “các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều

Trang 9

có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền” và “Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này”

Quy định này mâu thuẫn với khoản 1 Điều 314 khi quy định hợp đồng bị hủy thì không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, cụ thể: Việc cho phép các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã đi ngược lại với bản chất của hủy hợp đồng, bởi lẽ khi hợp đồng bị hủy “không có hiệu lực từ thời điểm giao kết” thì tất cả những phần hợp đồng đã thực hiện sẽ phải hoàn trả lại cho bên kia Với quy định như vậy, pháp luật đã thừa nhận hiệu lực của hợp đồng bị hủy hơn là hủy những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng

Năm là, Mối quan hệ giữa các loại chế tài trong thương mại

- Về quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài buộc bồi thường thiệt hại: Theo quy định tại Điều 307 LTM: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác; trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”

Nghiên cứu nội dung quy định này thì việc chế tài phạt vi phạm có thể áp dụng đồng thời với chế tài buộc bồi thường thiệt hại Nội dung này đã được ghi nhận trong

Điều 316 LTM: “Một bên không bị mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tổn thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác” Vậy quy định nội

dung này tại 02 điều luật trùng nhau

- Về “mối quan hệ giữa chế tài hủy hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng với các loại chế tài khác”: trong những quy định về mối quan

hệ giữa chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng nằm rải rác tại các Điều 309, Điều 311 và Điều 314 chỉ đề cập đến việc áp dụng ba loại chế tài trên không làm mất quyền áp dụng chế tài buộc bồi thường

Trang 10

thiệt hại Quy định như vậy là không hợp lý vì những nội dung này đã được ghi nhận trong Điều 316

Luận văn đề xuất những định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về chế tài trong hợp đồng thương mại như sau:

Thứ nhất, bảo đảm nguyên tắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; chủ

trương, đường lối của Đảng luôn giữ vai trò chỉ đạo đối với nội dung, phương hướng xây dựng pháp luật

Thứ hai, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất trong hệ thống pháp luật Thứ ba, thống nhất giữa luật chung và luật chuyên ngành Các quy định có tính

chất chung chỉ nên quy định trong luật chung là Bộ luật Dân sự, các quy định chuyên biệt nên để cho các văn bản pháp luật chuyên ngành quy định Nếu có quy định trong BLDS

và trong luật chuyên ngành thì các quy định nên có sự thống nhất

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về các hình thức chế tài trong hợp đồng thương mại

theo hướng loại bỏ sự chồng chéo, bao hàm hết các mối quan hệ giữa các chế tài, không quy định rải rác trong các điều luật khác nhau Nội dung các chế tài quy định cụ thể, thống nhất, rõ ràng, dễ áp dụng Thủ tục áp dụng chế tài cụ thể, thống nhất; tương thích với pháp luật thương mại quốc tế

Luận văn đề xuất các quy định của pháp luật về chế tài trong hợp đồng thương mại cần hoàn thiện như sau:

Một là, Khái niệm chế tài “Buộc thực hiện đúng hợp đồng”

Hai là, Chế tài phạt vi phạm hợp đồng

Ba là, Chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng

Bốn là, Hậu quả pháp lý của hình thức huỷ bỏ hợp đồng

Năm là, Mối quan hệ giữa các loại chế tài trong thương mại

Luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế tài trong hợp đồng thương mại cụ thể:

Ngày đăng: 21/01/2021, 18:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w