Tãm l¹i, trong ®iÒu kiÖn stress nghiªm träng, gia cÇm kh«ng thÓ tæng hîp ®ñ vitamin C ®Ó lµm gi¶m t¸c h¹i cña stress. Vitamin C nªn ®îc bæ sung tríc khi x¶y ra stress.[r]
Trang 3- Thay đổi bầy đàn…
Dưới sự tác động của những tác nhân trên, cơ thể gia cầm có nhiều phản ứng tích cực của hệ thần kinh và thể dịch, nhằm duy trì sự cần bừng của cơ thể,
đó chính là phản ứng stress
Như vậy, có thể thấy trong suốt quá trình chuăn nuôi gà, người ta gặp rất nhiều tác nhân gây stress, hậu quả là con vật luôn phải căng mình ra để chống chọi với các tác nhân đó, hậu quả là cơ thể tốn rất nhiều năng lượng, làm con vật gầy yếu
đi và có thể chết Đặc biệt, ở những cá thể mà khả năng chống stress kém, sản phẩm thịt và trứng có chất lượng giảm đi rõ rệt
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, khi bổ sung vitamon C cho gia cầm, cơ thể sẽ trở nên “trơ” với các tác nhân gây stress… do đó, giảm tác hại của các tác nhân này Sau đây là cơ chế của quá trình đó
Sơ đồ hình thành và điều hoà hormon trong phản ứng stress
Trang 4Các tác nhân gây stress kích thích tạo nên phản ứng báo động, thông qua
vỏ não tác động đến vùng dưới đồi thị – Hypothlamus, tại đây các yếu tố giải phóng được tiết ra, chẳng hạn CRF (Corticotropin Releasing Factor) kích thích tuyến yên sản xuất ACTH, rồi ACTH kích thích vỏ thận thượng tăng cường hoạt
động
Bản thân adrenalin cũng kích thích làm tăng sản xuất ACTH
Việc tăng cường sản xuất các hormon vỏ thượng thận giữ vai trò quan trọng trong cơ thể tự vệ của cơ thể Selye đã chỉ ra rằng, các kích thích gây nên phản ứng báo động không chỉ thúc đẩy hoạt động của vỏ thượng thận mà còn
ảnh hưởng đến việc sản sinh nhanh chóng adrenalin để rồi adrenalin lại tiếp tục
ảnh hưởng đến hoạt động của vỏ thượng thận Sự chỉ đạo bởi ACTH xảy ra tương
đối chậm, nhưng lại kéo dài Hormon vỏ thượng thận được sản xuất nhiều hơn trong thời điểm tác nhân stress tác động, đã giúp tạo khuynh hướng thích ứng cao của cơ thể (xem sơ đồ sau)
Khi có tác động mạnh từ bên ngoài vào cơ thể, cơ thể sẽ phản ứng lại bằng nhiều phương thức, gồm có 2 nhóm phương thức: đặc hiệu và không đặc hiệu
Phản ứng đặc hiệu: thể hiện sự đáp ứng có giới hạn với những kích thích
đặc biệt, thí dụ sự hình thành kháng thể đặc hiệu chống lại kháng nguyên tương ứng của vi khuẩn
Phản ứng không đặc hiệu: có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn Nó thể hiện qua những dấu hiệu thông thường Phản ứng cũng có thể xảy ra đồng thời với phản ứng đặc hiệu trong cơ thể Các dấu hiệu cơ bản của phản ứng không đặc hiệu luôn luôn giống nhau và độc lập với chất lượng của tác động
Selye đã gọi là sự đáp ứng không đặc hiệu thể hiện trong hậu quả bệnh lý
có quy luật này là stress và các tác nhân gây nên trạng thái bệnh lý trên là tác nhân stress
Trang 5(Stressor), gọi các phản ứng cơ bản đã thể hiện ra (giúp cơ thể thích ứng được với các tác động) là “hội chứng thích ứng chung” (G.A.S – General Adaptation Syndrone)
Cơ chế điều hoà giải phóng các hormon trong phản ứng stress
* Ba giai đoạn của phản ứng st
Selye đã phân chia phản ứng stress làm giai đoạn Mỗi giai đoạn có những
đặc trưng về sự biến đổi của cơ thể Đó là giai đoạn phản ứng báo động, giai
đoạn đề kháng và giai đoạn suy kiệt
Phản ứng báo động được chialàm 2 pha: Shock và kháng Shock Sự kích thích đã bắt đầu ngay trong giai đoạn này Bạch cầu lâm ba giảm (Leucopenia), bạch cầu ái toán giảm (eosinopenia), thân nhiệt và huyết áp giảm là điển hình
đặc trưng cho pha Shock bắt đầu Những thay đổi này xảy ra rất nhanh Sau tác
động của tác nhân stress 3 giờ, hàm lượng vitamin C trong vỏ thượng thận cũng giảm đáng kể 17 Cetosteroid trong nước tiểu tăng cao, chứng tỏ sự tăng cường
sử dụng các hormon Steroid
Trang 6ở pha kháng Shock, huyết áp, đường huyết tăng cao, nhiệt độ cơ thể bình thường trở lại
Giai đoạn kháng thể các lực lượng tự vệ của cơ thể hoạt động ở mức độ cao Vỏ thượng thận sản xuất Glucocorticoid với số lượng lớn kéo theo dài và duy trì, ưu năng vỏ thượng thận Các tế bào Basophil sản xuất ACTH ở tuyến yên hoạt động mạnh
Giai đoạn suy kiệt nếu cơ thể không còn khả năng đề kháng, sự thích ứng
sẽ giảm sút và có thể chết
Trong giai đoạn suy kiệt, những thay đổi có dấu hiệu thoái hoá của tuyến yên và vỏ thượng thận xuất hiện Sự phân giải protein tăng cao, sút cân, năng lực sản xuất kém (tiết sữa, đẻ trứng giảm sút) Cơ thể sử dụng nguồn năng lượng
dự trữ Cơ chế điều hoà thể hiện mạnh hơn và cuối cùng thì suy giảm thấp hơn cả mức bình thường, tiến tới hoàn toàn bị phá hoại Một số các triệu chứng ở giai
đoạn này giống như ở giai đoạn phản ứng báo động
Selye Jannos gọi toàn bộ quá trình diễn biến của cơ thể trong 3 giai đoạn nói trên là “Hội chứng thích ứng chung” (General Adaptation Syndrom) và viết tắt là G.A.S Nếu phân tích, xem xét kỹ G.A.S sẽ thấy nổi lên một số ván đề quan trọng về sức đề kháng của cơ thể Căn cứ vào sự biến đổi này của các tế bào
vỏ thượng thận trong quá trình stress (được theo dõi liên tục), Selye đã xây dựng mô hình 3 giai đoạn của stress:
* Stress (được theo dõi liên tục), Selye đã xây dựng mô hình 3 giai đoạn của Stres
* Sức đề kháng của cơ thể trong mô hình 3 giai đoạn của stress
Về tác dụng của các tác nhân gây stress đến cơ thể, cần xem xét cả 2 loại yếu tố: yếu tố trong cơ thể và ngoài cơ thể
Trang 7Yếu tố cơ thể như đặc điểm di truyền, khả năng có được, thu nhận được trong quá trình sống Gà ri có khả năng chống nóng ẩm, ít chịu tác động của stress nóng là di truyền mà có
Các yếu tố ngoài cơ thể như yếu tố thức ăn, khí hậu các yếu tố này là yếu tố không đặc hiêu, tác động lên cơ thể và cơ thể phải đối phó với chúng
Cần đánh giá đúng vai trò của các yếu tố cơ thể và ngoài cơ thể, không nên xem nhẹ yếu tố nào Có như vậy chúng ta mới hiểu được đầy đủ quá trình stress và có những giải pháp kỹ thuật toàn diện để chống tác hại của stress ở người và động vật nuôi
* Vai trò của tuyến thượng thận trong phản ứng stress
Trong phản ứng cơ thể, tuyến thượng thận có vai trò đặc biệt quan trọng,
nó được cấu tạo bởi hai phần: phần tuỷ thượng và phần vỏ thượng thận
+ Tuỷ thượng thận
Tuỷ thượng thận tiết ra 2 hormon đặc biệt là Adrenalin và Noradrenalin (epinephrin và norepinephrin) Về mặt hoá học, adrenalin có nhiều hơn noradrenalin một nhóm CH3
Ngoài vùng tuỷ thượng thận, ở các hạch thần kinh giao cảm cũng sản xuất
2 hormon này Tác dụng sinh lý của chúng hoàn toàn giống nhau (gọi chung là catecholamin)
Khi cắt bỏ tuỷ thượng thận, các dấu hiệu thiểu năng adrenalin và noradrenalin không thấy xuất hiện vì các hạch thần kinh giao cảm đã sản xuất
bù Sự sản xuất các hormon này được điều tiết bởi thần kinh ở đoạn tiền hạch sản xuất ra axetylcolin, chất này kích thích các tế bào tuỷ thượng thận sản xuất adrenalin và noradrenalin
Hoạt động của hypothalamus cũng có tác dụng thông qua tuỷ sống để chi phối tuyến này
Vai trò sinh lý của 2 hormon này có những điểm khác nhau: khi cơ thể chịu những tác động đột ngột (gà bị bắt giữ chẳng hạn) sự sản xuất adrenalin sẽ trội hơn Nó đổ vào máu với số lượng lớn và tạo nên sự chênh lệch giữa nồng độ của 2 hormon này Trong điều kiện nồng độ bình thường, chúng đều làm co
Trang 8mạch máu (trừ hôn mê, coronaria), làm tăng huyết áp Nhưng với liều lượng nhỏ, adrenalin lại làm dãn mạch máu trong cơ thể
Các hormon tuỷ thượng thận làm tăng số lượng hồng cầu, tăng Haematocrit và hàm lượng hemoglobin Khi sản xuất quá thừa 2 hormon này sẽ gây tăng bạch cầu trung tính và giảm bạch cầu ái toan
Adrenalin cũng có tá dụng đến hệ thần kinh trung ương, làm tăng huyết áp tâm thu, tăng nhịp tim, do đó làm tăng lượng máu tuần hoàn
Noradrenalin ảnh hưởng ít đến lưu lượng máu Song nó tác động kéo dài thời gian co bóp tim và nâng cao huyết áp, không chỉ là huyết áp tâm thu mà cả huyết áp tâm trương (huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu)
+ Vỏ thượng thận
Sản xuất nhiều loại hormon tác động đến sự cân bằng các chất điện giải,
độ dự trữ nước của cơ thể, sự trao đổi các chất hữu cơ và các hoạt động sinh dục
+ Các hormon có tác dụng chủ yếu điều tiết trao đổi các chất khoáng gọi
là Mineralocorticoid Chất quan trọng được biết kỹ nhất là Aldosterol
- Các hormon có tác dụng điều tiết trao đổi chuyển hoá chất các chất hữu cơ, trước hết là phân huỷ các hydratcabon gọi là glucocorticoid Thí dụ cortison; hydrocortison; conrticosteron
- Androgen, oestrogen ảnh hưởng đến các chức năng sinh dục Thí dụ aldosteron, testosteron, ostradiol
Các hormon của vỏ thượng thận gọi là các corticoid Về cấu tạo hoá học,
có một nhân chung là Cycopentano phenanthren, cũng giống như các hormon sinh dục Steroid có hoạt tính sinh học cao nhất là chất mà giữ carbon số 4 và số
5 của nhân Phenanthren có 1 nối đôi ở carbon số 3 có 1 oxy (nhóm xêto) Aldrogen và eostogen ở C17 có một nhó oxy (còn gọi 17 xetosteroid) Glucocorticoid và Mineralocorticoid ở vị trí C17 gắn một chuỗi dài hoặc có một gốc hydroxyl (-OH)
Các Glucocorticoid được sản xuất do kích thích của ACTH tuyến yên và
sự điều hoà của cơ chế ngược (Feed – back) ACTH ít ảnh hưởng đến việc sản xuất Mineralocorticoid Tác dụng điều hoà sự sản xuất của Mineralocorticoid là
Trang 9do trạng thái hypovolaemia và sự giảm thấp nồng độ các chất khoáng trong huyết tương Trạng thái hypovolaemia có các biểu hiện sau: khối lượng mái không cân đối với khối lượng cơ thể và thấp hơn bình thường Tỷ lệ giữa thẻ tích huyết tương và Hematocrit (thể tích hồng cầu) cũng thay đổi Khi gia súc mất máu nhiều, cấp tính, hiện tượng hypovolaemia sẽ dẫn đến truỵ tim mạch, shock
ở các con gia súc béo quá, mà lượng máu không thay đổi, cũng tạo nên sự mất cân đối này
* Hoạt động của các hormon glyucocorticoid và mineralocorticoid
Hoạt động của các hormon vỏ thượng thận đã được nghiên cứu kỹ Tất cả các Steroid của vỏ chúng đều tác động đến trao đổi, chuyển hoá của các chất hữu cơ và vô cơ
+ Trao đổi chất hữu cơ
Các glucocorticoid về cơ bản có thể coi là chất đối kháng với insulin và chúng là các hormon nâng cao đường huyết Nhưng đồng thời chúng kích thích sản xuất insulin Khi ưu năng corticoid ta thấy hàm lượng insulin trong máu cũng tăng cao (Campbell và Rastogi) Tiêm các corticoid, đường huyết sẽ cao hơn bình thường và tăng cao đáng kể quá trình phân hủy glycogen
Hàm lượng các hormon này tăng trong máu sẽ dẫn tới sự hấp thụ chất béo
ở ruột, sự phân huỷ các dầu, mỡ để thành chất béo tự do tăng lên, vì vậy nó làm tăng nồng độ lipoil trong máu, dẫn tới sự lắng đọng, tích luỹ mỡ trong gan sẽ tăng lên Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự tổng hợp các chất béo, sự tích luỹ các chất béo tăng Nhưng đồng thời cũng còn do hàm lượng glucocorticoid cao đã kìm hãm, ức chế quá trình tổng hợp lypoptotein
Do tác dụng của các corticoid nhóm này, hàm lượng các chất thể xeto tăng lên trong cơ thể Tác dụng của các corticosteroid cũng ảnh hưởng đến trao đổi chất của các protein,ức chế tổng hợp protein, tăng cường phân giải protein, đặc biệt là các protein ở các khu vực cơ và xương
Nếu duy trì hàm lượng các hormon vỏ thượng thận cao, kéo dài ở trong cơ thể sẽ gây nên chứng nhược cơ (cơ bị yếu), sút cân và chứng osteoporosis (chứng mất cân đối tỷ lệ giữa các chất hữu cơ và các chất vô cơ để tạo xương)
Trang 10Các axit amin được sử dụng ở mức độ cao trong gan, trước hết để tạo glucogen Hàm lượng ARN tăng cao đáng kể đã chứng tỏ sự tăng cường hoạt
động của gan Hoạt độ của các enzym phosphataza kiềm và các transaminaza tăng là biểu hiện những rối loạn cơ năng của các tế bào gan do dan bị tích mỡ
Hàm lượng albumin huyết thanh giảm: còn hàm lượng các globulin do tác dụng của các glucocorticoid, lúc đầu tăng sau đó giảm mạnh
+ Trao đổi chất vô cơ
Khi có những rối loạn hoạt động của các hormon vỏ thượng thận, hậuquả
rõ nhất và quan trọng nhất là rối loạn chuyển hoá canxi
Các thí nghiệm cắt bỏ vỏ thượng thận ở động vật cho thấy hàm lượng canxi tăng trong máu (hypercalcaemia) Ngược lại khi hoạtđộng của tuyến tăng lên thì sự hấp thụ canxigiảm rất rõ Cũng do tác dụng hormon vỏ thượng thận, sự hấp thụ và sử dụng vitamin D giảm Có lẽ do tuyến phó giáp trạng bị ảnh hưởng
mà đưa tới quá trình này Cortison còn phá hoại quá trình tái hấp thụ photpho ở thận, vì thế P được thải nhiều ở nước tiểu Do vậy mà sự thải canxi ở thận cũng tăng đáng kể
Từ các tư liệu trên cho thấy nếu duy trì hàm lượng các hormon vỏ thượng thận cao kéo dài sẽ làm cạn kiệt các kho dự trữ canxi của cơ thể và hình thành chứng osteoposis như đã nói ở trên
Trong đó các steroid, aldosteron có tác dụng ảnh hưởng đến vận chuyển
Na và hàm lượng các chất điện giải nói chung rõ nhất, làm tăng tái hấp thụ Na ở ống thận, làm tăng thải trừ K+, H+ và NH+4, kết quả là Na+ trong máu cao; K+trong máu giảm
Khi thiểu năng vỏ thượng thận, tình trạng trên sẽ ngược lại Tỷ lệ Na/K bình thường bị giảm rõ rệt Do K+ cao nên có hại cho hoạt động của tim, còn khi thiểu năng vỏ thượng thận, do Na giảm nên mất cân bằng dịch thể trong các tổ chức Tiếp theo là chứng mất nước, cân bằng nước lệch trái, nghĩa là tỷ lệ giữa nước và các chất keo trong huyết tương thay đổi theo hướng máu bị cô đặc, tỷ trọng nước tiểu sẽ tăng cao
Trang 11Tiêm liều cao glucocorticoid làm lượng tiểu thải ra, nhưng tỷ trọng nước tiểu lại nhỏ hơn Có lẽ do các glucocorticoid đã cản trở hoạt động của ADH
* ảnh hưởng đến các tế bào máu, công thức máu
Sau khi tiêm glucocorticoid, ngày lập tức số lượng bạch cầu tăng cao trong máu, chủ yếu là bạch cầu trung tính Mức độ cortison cao làm phân huỷ bạch cầu lympho và do đó số lượng bạch cầu này giảm trong máu Như vậy, khi ưu năng vỏ thượng thận sẽ gây nên chứng lymphopeina Số lượng bạch cầu eosinophil (ái toan) giảm và thông qua sự giảm này có thể đánh giá hoạt động của vỏ thượng thân Sau khi tiêm ACTH 4 -7 giờ, số lượng bạch cầu ái toan sẽ mất giảm mất 70% (nghiệm pháp Thorn)
Theo nhiều kết nghiệm cứu của Jasper và Schalm trong trạng thái ưu năng corticoid, sẽ xảy ra hiện tượng monocytosis và basophilia
Do tác dụng của glucocorticoid, số lượng hồng cầu cũng tăng, quá trình trao đổi chât tăng và do đó tăng tiêu thụ oxygen Quan trọng hơn là khi số lượng hồng cầu tăng, máu sẽ đặc lại, hoạt động của thận giảm, nồng độ carbamid trong máu tăng
* Các cơ thể khác
Các glucocorticoid có tác dụng chống viêm và chống dị ứng Nó làm tính thấm của các thành mao quản do đó không xuất hiện các dịch rỉ viêm
Ngăn chăn rối loạn hoạt động tim do nó cản trở sự sản sinh ra histamin và
do đó làm tăng tác dụng của noradenalin
Đẩy lùi sự xuất hiện histamin và các chất loại histamin là yếu tố quan trọng có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm chứng viêm và giảm phản ứng dị ứng
Với hàm lượng nhỏ glucocorticoid đã nâng hoạt tính của RSH – hệ thống
tế bào liên võng (Reticulo – histiocyta system) Với liều cao hơn, nó lại ngăn cản thực bảo Cũng như vậy, sự giảm khả năng di hành của các tế bào hạch cầu (diapedesis) sẽ đồng thời làm giảm hoặc làm mất đi các phản ứng tự vệ của cơ thể
Các hormon vỏ thượng thận cản trở sự hình thành ranh giới viêm Các quá trình hồi phục bị chậm lại
Trang 12Các hormon của cả hai phần vỏ và tuỷ tuyến thượng thận đều tham gia vào quá trình đáp ứng cơ thể đối với những tác động có hại của môi trường sống Mỗi loại hormon thể hiện theo quy luật riêng, chức năng riêng của chúng, giúp cho cơ thể động vật duy trì ổn định và hoạt động sống bình thường
Trong thực tiễn chăn nuôi gia cầm, luôn luôn xuất hiện các tác nhân stress tác động lên cơ thể ở các mức đọ khác nhau, khi đơn độc, khi đồng thời … và việc cơ thể phải luôn “gồng” mình lên để đối phó với stress đã dẫn đến những hậu quả tai hại, làm giảm năng suất, chậm lớn, giảm sản lượng và chất lượng trứng, giảm chất lượng thân thịt
Từ những vấn đề nếu trên, chúng ta có thể thấy rằng việc loại bỏ các tác nhân gây stress khỏi đời sống chăn nuôi là điều bất khả kháng Tuy nhiên, nếu như bằng cách nào đấy kiềm chế được sự phản ứng của cơ thể trước các tác nhân này, chẳng hạn kiềm chế việc tiết ACTH của tuyến yên, từ đó kiềm chế hoạt
động của các tác nhân gây stress, từ đó làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm,
đó chínhlà nguyên lý của nhiều thí nghiệm mà các nhà khoa học và chăn nuôi đã tiến hành trong thời gian gần đây và họ đã thu được các kết quả rất có ý nghĩa
b) Những nghiên cứu sử dụng vitamin C chống stress
Một trong những phương pháp kìm hãm sự hoạt động của tuyến thượng thận như đã nói ở trên là bổ sung vitamin C, công việc này đã được tiến hành rất
có hiệu quả và được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một số công trình đáng chú ý
1- Công trình nghiên cứu của S.L Parduem, Bộ môn chăn nuôi gia
cầm, Trạm thực nghiệm Taxas - Đại học Texas
Kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã cho thấy hàm lượng vitamin C ở thượng thận cao hơn rất nhiều so với bất cứ mô bào nào khác ở người, lượng vitamin C trong thượng thận có khoảng từ 400 – 500 mg/100g mô bào (White và CTV, 1978) Hàm lượng chát này cao ở thượng thận đã thúc đẩy người ta tìm hiểu chức năng của nó đối với tuyến này Giroud và CTV (1940) cho rằng việc tổng hợp các hormon vỏ thượng thận phụ thuộc vào lượng vitamin
C của thượng thận Giả thiết này đã được chứng minh bằng thực nghiệm, trong
Trang 13đó việc tiêm ACTH hoặc sự gây thương tích sẽ làm giảm cholesterol và vitamin
C ở chuột cống và chuột lang (Sayers và CTV, 1944, 1945; 1946) Long (1947)
đã xác nhận những phát hiện trên và cho thấy việc giảm vitamin C luôn đi kèm theo với việc tăng tiết các hormon vỏ thượng thận
ở gà, các mô bào sản sinh các chất steroid nói chung và đặc biệt là thượng thận luôn ó hàm lượng vitamin C cao nhất Mức vitamin C trong thượng thận gà
đã được công bố trong khoảng 61 – 350 mg/100g mô bào, con số trung bình
178 mg/100g mô bào (Pardue và Thaxton, 1986); tuy nhiên, con số này chỉ bằng
40 – 50% so với hàm lượng vitamin C ở thượng thận người hay chuột; còn nếu
so với cơ gà, lượng này phải gấp tới 40 lần Hơn nữa, so với động vật có vú thì mức độ suy giảm vitamin C ở tuyến thượng thận gà thấp hơn và mức độ tái tổng hợp lại tăng nhanh hơn (Freeman, 1967, 1968) Mặc dù mức độ suy kiệt và tốc
độ tổng hợp có vẻ là khác ở gia cầm, song về cơ bản thì sự thay đổi làm được vitamin C ở thượng thận do các tác nhân stress khác nhau lại tương tự như những gì đã được quan sát ở các loài có vú Sự suy giảm vitamin C ở thượng thận được coi là biểu hiện cổ điện cho đáp ứng stress ở gà (Siegel, 1971)
* Axit Ascorbic và sự tổng hợp các chất steroid
Sự cạn kiệt vitamin C tại các mô bào sản sinh chất steroid sau sự giải phóng nội sinh hoặc tiếp nhận từ bên ngoài các hormon tuyến yên xảy ra ở một
số loài Sự cạn kiệt vitamin C của buồng trứng xảy ra sau khi cung cấp LH hay kích tố nhau thai người (HCG) (Cleasson và CTV, 1949; Hokfelt, 1950; Noach
và Van Rees, 1958; Parlow, 1958) Hơn nữa, Carballeira et al (1974) đã chứng minh rằng lượng vitamin C ở tinh hoàn suy giảm sau khi cung cấp HCG
ở mức cơ bản của các hormon tuyến yên (ACTH, LH), các mô bào sản sinh steroid duy trì nồng độ giảm vitamin C cao và việc giải phóng các hormon này bắt đầu làm giảm vitamin C cũng có thể thấy rõ rằng sự suy giảm vitamin C xảy ra trước khi sự tổng hợp các chất Steroid của thận được tăng cường Trong các thông bó trước đây, Sayers và CTV (1944, 1945, 1946) đã lưu ý rằng sự giảm kiệt vitamin C xảy ra trước sự giảm cholesterol ở những cá thể được tiêm ACTH Việc đặt ống thông tĩnh mạch thượng thận ở chuột bị cắt bỏ tuyến yên và được
Trang 14tiêm ACTH cho thấy vitamin C tĩnh mạch tăng trước khi tăng tiết adrenocortocoid (Lipscomb và Nelson, 1960) Mức vitamin C tăng cũng được quan sát thấy ở tĩnh mạch dịch hoàn của nó sau khi cung cấp HCG (Koba và CTV, 1971) Lips comb và Nelson (1960) đã lưu ý rằng một lượng vitamin C
đáng kẻ đã không được giải phóng từ thượng thận khi thiếu sự tiết hormon miền
vỏ ở chuột lang bị bệnh hoại huyết do thiếu vitamin C, nồng độ vitamin C ở thượng thận có thể giảm tới mức chỉ còn 2,5% so với đối chứng và mức corticosteroid tăng gấp 10lần (Done và CTV, 1953) Cung cấp vitamin C sau đó liên tục đã làm giảm lượng corticosteroid ở huyết tương tới mức tương đối với nhóm đối chứng trong vòng 5 ngày Kết quả tương tự cũng được Jones và CTV (1958) thông báo Những kết quả nghiên cứu trên và của những khảo sát tiếp
theo cho phép các nhà khoa học giả định rằng nồng độ vitamin C cao ở thượng
thận có chức năng ức chế sự sản sinh các chất steroid và sự giảm kiệt vitamin
C làm cho sự tổng hợp steroid trở nên dễ dàng hơn
Sự giải phóng ACTH từ tuyến yên trong quá trình đáp ứng stress làm khởi
đầu sự tổng hợp adrenocorticoid nhờ việc nó gắn vào rexeptơ (receptor) màng và gây hoạt hoá Adenylatcyclaza được hoạt hoá đã làm tăng lượng chật AMP vòng nội bào Chất này đóng vai trò là thông tin viên thứ hai (the second messenger), làm tăng cường sinh tổng hợp chất steroid (Grhame – Smith và CTV,1967)
Trang 15Hình 1 – Mối tương quan giữa hoạt tính của hormon tuyết thượng thận adenylactcyclase và nồng độ cortisol huyết tương (Doulas, 1987)
Việc ức chế quá trình hoạt hoá adenylat – cyclaza do ACTH hoặc do fluoride nhờ vitamin C đã được quan sát thấy ở tế bào thượng thận phân lập nuôi cấy (hình 2)
(Nathans và Kitachi, 1974, Doulas và CTV,1987)
Hình 2 – Mối tương quan giữa Ascorbic axit huyết tương và hoạt tính của men
adenylatcyclase
Trang 16Hơn nữa, các tế bào thượng thận bò được phân lập đã thể hiện mối tương quan nghịch giữa sự tổng hợp các chất steroid và nồng động vitamin C sau khi kích thích bằng ACTH
Hình 3 – Mối tương quan nghịch giữa sự tổng hợp steroid và vitamin C sau khi kích thích bằng ACTH ở tế bào thượng thận (Finn vaf Johns, 1980)
Kết quả tương tự cũng được quan sát thấy ở nuôi cấy tế bào thượng thận chuột lang
Hình 4 – Tương quan nghịch giữa cortisol huyeets wowng vaf vitamin C huyeets
twowng (Doulas, 1987)
Doulas và CTV (1987) suy đoán rằng vitamin C ở thượng thận có thể ức chế sự tổng hợp các chất steroid gây ra do tác động ACTH bởi nó làm thay đổi cấu trúc
Trang 17hoặc thành phần lipit màng tế bào và như vậy ảnh hưởng tới việc gắn ACTH vào rexeptơ màng Người ta cũng chỉ ra rằng vitamin C làm ức chế các enzym tham gia quá trình tổng hợp các chất steroid ở thượng thận Sự ức chế C – 21 và 11 -
hydroxylaza ở mô nghiền thượng thận liên quan tới vitamin C (Haynao và CTV, 1956, Cooper và Rosenthal, 1962, Kitabchi, 1967, a, b) Người ta cũng thông báo rằng vitamin C ức chế hệ thống enzym cắt mạch nhánh làm biến đổi cholesterol thành pregnenolon (Sulimorici và Boyd, 1967, 1968, Shimizu, 1970, Carballeira và CTV, 1974) Các cơ chế kìm hãm liên quan tới vitamin C này
đóng vai trò như chiếc phanh sinh học đối với sự tổng hợp các chất steroid ở thượng thận (Kitabchi, 1967) Pardue và CTV, (1985) đã chứng minh rằng bổ sung vitamin C vào khẩu phần gà broiler đã làm thay đổi đáng kể hàm lượng corticosteroid huyết tương của gà trống bị stress nhiệt cấp (hình 5)
Trong trường hợp nhiệt độ trong môi trường cao, ở gà không được bổ sung vitamin C hàm lượng corticosteroid cao hơn so với gà được bổ sung là 105% (18,1 so với 8,8mg/ml) Cholesterol ở thượng thận (là cơ chất khởi đầu cho sự tổng hợp các chất steroid) cũng cao một cách có ý nghĩa ở gà được bổ sung vitamin (hình 6)
Trang 18Hình 6 – Cholesterol thượng thận gà được bổ sung vitamin C cao hơn các lô
Trang 19Hình 7 – Tỷ lệ chết của gà broiler giảm mạnh khi được bổ sung Vit.C trong
trường hợp bị stress nhiệt (Pardue et al, 1985)
Tỷ lệ chết ở gà bị stress nhiệt độ cao không được bổ sung vitamin C là 22%, trong khi đó tỷ lệ này ở gà được bổ sung vitamin C chỉ là 7,3% Đi kèm với
sự giảm tỷ lệ chết và hàm lượng corticosteroid là sự giảm kali huyết tương Mức kali giảm 6% ở gà bị stress nhiệt độ bổ sung vitamin C, trong khi ở gà không
được bổ sung là 23% Kali trước hết là cation nội bào, được biết là bị mất sau khi xửlý steroid (Randall, 1980) Tính chất chống oxy hoá của vitamin C có thể hạn chế sự phá huỷ tế bào khi bị stress nhiệt.Hơn nữa, vitamin C có thể làm biến đổi
sự mất mát kali liên quan tới sự hạn ché ỉa chảy do stress nhiệt gây ra Krautmann và cộng sự (1988) thông báo rằng sau khi bổ sung vitamin C đã cải thiện tỷ lệ thân thịt ở broiler Sự cải thiện này có thể liên quan tới khả năng bảo
vệ của vitamin C đối với sự toàn về màng tế bò (Pardue và CTV, 1985) Việc bổ sung vitamin C cho gà còn làm giảm hiện tượng ức chế miễn dịch do tác động của steroid (Pardue và Thaxton, 1984) và làm giảm sự chậm lớn do tác động của nhiệt (Pardue và CTV, 1985)
2- Công trình nghiên cứu của Tiến sĩ B.A Krautmann, Hãng Hoffman
– La Roche
Trong những năm gần đây, người ta quan tâm hơn tới việc sử dụng vitamin
C nhằm khắc phục một số hậu quả có hại của các phản ứng stress cấp tính Các
số liệu đã thu thập được cho thấy đáp ứng của động vật rất giống nhau bất kể stress có nguồn gốc gì Nguồn stress phải chịu có thể là nhiệt độ lạnh, mổ cắn nhau, nhốt hãm, đói kéo dài, bệnh tật, độc tố hay stress bầy đàn
Trong điều kiện stress ác tính, gia cầm không thể tổng hợp đủ vitamin C để làm giảm hậu quả có hại liên quan tới stress Do đó bổ sung vitamin C phải được coi là một biện pháp nhằm ngăn ngừa trước khi dự kiến stress có thể xảy ra Việc bổ sung vitamin C ó thể phòng chống các loại stress gặp trong các trường hợp: Nhốt giữ và vận chuyển tới nơi tiêu thụ; di chuyển đàn (theo chế độ nuôi dưỡng); tiêm phòng vacxin; thay lông cưỡng bức; cắt mỏ; nóng; lạnh; bệnh tật; stress bầy đàn
Trang 20Sau đây là các ví dụ về sử dụng vitamin C phòng chống stress trong chăn nuôi gia cầm
Cheng và CTV (1988) bổ sung vitamin C mức 100 hoặc 200 ppm vào thức
ăn đã làm giảm tỷ lệ chết được trên 1% trong chu kỳ theo dõi 3 tháng ở gà đẻ bị stress nhiệt (bảng 1)
Bảng 1 - ảnh hưởng của vitamin C đến năng suất gà đẻ
Cả hai mức vitamin C đều cải thiện chất lượng bên trong của trứng (đơng
vị Haugh) và chất lượng vỏ trứng (khối lượng vỏ trứng/đơn vị diện tích bề mặt) Khi theo dõi gà đẻ bị thay lông cưỡng bức, Andrews và CTV (1987) đã công bố rằng vitamin C bổ sung vào khẩu phần đã giảm 5% tỷ lệ chết (bảng 2)
Bảng 2 - ảnh hưởng của Vit.C khẩu phần tới tỷ lệ đẻ và tỷ lệ chết của gà đẻ
Bảng 3 - ảnh hưởng của Vit.C trong khẩu phần tới tỷ lệ mắc bệnh viêm bao sụn
và chết (Gross, 1988)
Trang 21Vit.C (ppm) Tỷ lệ viêm bao sụn và chết (tổng số)
Bổ sung vitamin C vào khẩu phần gà trống (gà và gà tây) cũng cho những kết quả khả quan Dobrescu (1987) thông báo rằng thể tích tinh dịch, nồng độ tinh trùng ở gà tây đều tăng khi bổ sung 150 ppm vitamin C vào khẩu phần (bảng 4)
Trang 22Bảng 4 - ảnh hưởng của Vit.C trong khẩu phần tới tinh dịch gà tây trống
có phôi và số lượng gà con/mái đều tăng khi bổ sung vitamin C lượng 50 ppm và
100 ppm cho gà giống bị stress nhẹ trong vụ hè (bảng 5)
Bảng 5 ảnh hưởng của Vit.C trong khẩu phần tới khả năng sinh sản của gà bị
stress trong vụ hè
Pardue và CTV (1985) đã làm giảm tỷ lệ chết của gà broile bị stress nhiệt
từ 22% xuống 7,3% nhờ bổ sung vitamin C trước khi gây stress (bảng 6)
Trang 23Bảng 6 - ảnh hưởng của Vit.C trong khẩu phần tới tỷ lệ gà chết khi bị
Bảng 7 - ảnh hưởng của Vit.C trong khẩu phần tới hàn lượng corticosteroid,
protein, K, Na huyết tương gà broiler khi bị stress
Trang 24thượng thận tăng, ảnh hưởng tới cân bằng các chát điện giải cho thấy sự mất nước của mô bào Bổ sung vitamin C vào khẩu phần trước thời gian bị stress nhiệt đã ảnh hưởng tốt tới việc cân bằng chất điện giải
Khi bổ sung vitamin C vào nước uống cho broiler, theo Pardue và CTV (1994) mức vitamin C huyết tương đã tăng trong khoảng 100 và 250 ppm (bảng 8)
Bảng 8 - ảnh hưởng của Vit.C trong nước uống đến hàm lượng Vit.C huyết tương
Trang 25Bảng 9 - ảnh hưởng của Vit.C bổ sung vào nước uống đến hàm lượng Vit.C huyết
Hình 8 – Sự giảm Vit.C huyết tương khi bổ sung 1000 ppm vitamin C vào
nước uống sau 24 giờ (Pardue, 1984)
Gần 12 giờ sau khi được cung cấp, nồng độ vitamin C huyết tương đã đạt mức sàn Mức sàn cao này kéo dài 16 giờ sau khi rút vitamin C bổ sung, đây chính là khoảng thời gian cần thiết cho các công đoạn bắt, nhốt, vận chuyển, giết
mổ ở xí nghiệm chế biến gia cầm (hình 9)
Trang 26Hình 9 - Hàm lượng vitamin C huyết tương sau khi bổ sung vitamin C và nước
uống (Waysek, 1988)
Farr và CTV (1988) đã tiến hành 3 thí nghiệm để xác định xem việc bổ sung vitamin C ở mức cao vào nước uống 32 giờ trước hết mổ có ảnh hưởng tới các chỉ tiêu giết mổ hay không Các thí nghiệm đã bổ sung mức 0,600 và 1200 ppm và lặp lại 3 lần trong mỗi thí nghiệm Cứ 4 giờ một lần, dung dịch vitamin C lại được chuẩn bị 12 gà trống 12 gà mái mỗi lô được chọn ngẫu nhiên, được cân từng con và đánh dấu để giết mổ, không cân gà trước thí nghiệm bổ sung để tránh hoặc để giảm bớt sự thích nghi với stress nhốt hãm Những gà đã được chọn được nhốt và vận chuyển 8 giờ trước khi giết mổ (nhằm bắt chước giống như vận chuyển tới nơi giết mổ) Các mẫu máu được lấy vào thời điểm giết mổ
và được phân tích để xác định lượng vitamin C, tất cả là 648 gà (216 gà/mỗi thí nghiệm)
ảnh hưởng của bổ sung vitamin C lên nồng độ huyết tương được dẫn ra ở bảng 9 Khi vitamin C bổ sung tăng, nồng độ ở huyết tương cũng tăng Khối lượng cơ thể gà thí nghiệm chọn ngẫu nhiên được dẫn ra ở bảng 10
Trang 27Bảng 10 - ảnh hưởng của Vit.C bổ sung vào nước uống đến khối lượng sống của
Bảng 11 - ảnh hưởng của Vit C bổ sung vào nước uống đến khối lượng thân thịt
Trang 28Bảng 12 - ảnh hưởng của Vit C bổ sung vào nước uống đến khối lượng thân thịt
Kết quả này cũng có xu hướng tương tụ như khối lượng thân thịt sau giết
mổ với độ giữ nước không sai khác nhiều Không có sự sai khác giữa các lô về
độ mềm của thịt lườn ảnh hưởng của vitamin C trong các thí nghiệm dường như chỉ thể hiện ở chỗ làm tăng khối lượng sống thông qua quá trình giết mổ
3- Những nghiên cứu sử dụng vitamin C làm giảm đáp ứng stress ở gà trước giết mổ của D.G Satterlee, I Aguilera – Quintana và B.J.Munn, Trạm
thực nghiệm – Bộ môn chăn nuôi gia cầm, Đại học Nông nghiệp Louisiana
Người ta đánh giá được hiệu quả của vitamin C trong việc cai thiện stress
ở gà liên quan với những điều kiện trước giết mổ Mức corticosteron huyết tương
và tỷ lệ heterophil/lymphocyt (H/L) được sử dụng để đánh giá trạng thái stress Khi gà đáp ứng stress mạnh, corticosteron và tỷ lệ H/L sẽ cao ở thí nghiệm 1 (“điều kiện nghỉ ngơi”), mẫu máu gia cầm được lấy vào 32 và 8 giờ trước khi giết mổ Vitamin C không được bổ sung hay được bổ sung (1200 ppm) vào nước uống giữa các lần lấy mẫu ở gà không được bổ sung vitamin C, tỷ lệ H/L cao hơn ở các mẫu máu được lấy 8 giờ trước khi giết mổ so với các mẫu máu được lấy 8 giờ trước khi giết mổ so với các mẫu lấy 32 giờ trước giết mở Tuy nhiên,
tỷ lệ H/L ở mẫu máu lấy 8 giờ trước giết mổ ở gà được bổ sung vitamin C giảm tới mức ngang như ở các mẫu lấy 32 giờ trước khi giết mổ Khi so sánh mẫu máu theo giới tính thì thấy rằng hiệu quả của vitamin C là làm tỷ lệ H/L ở thời điểm
8 giờ chỉ rõ rệt ở gà trống Vitamin C không ảnh hưởng tới mức croticosteron huyết tương trong thí nghiệm 1
Trang 29ở thí nghiệm 2 (điều kiện stress), 24 giờ sau khi được hay không được cung cấp vitamin C, gà được lấy máu 8 giờ trước giết mổ và ngay trước khi giết
mổ (0 giờ) Gà bị bỏ đói và nhốt trong chuồng giữa các lần lấy máu Mức corticosteron huyết tương và tỷ lệ heterophil đã tăng rõ rệt ở 0 giờ
Thí nghiệm với vitamin C đã làm giảm một cách có ý nghĩa đáp ứng corticosteron huyết tương đối với stress do bị đói và bị nhốt Tỷ lệ H/L bị giảm ở những gà được thí nghiệm với vitamin C ở mọi thời điểm lấy máu Những phát hiện trên cho thấy rằng bổ sung vitamin C đã làm giảm đáng kể đáp ứng stress ở
gà chuẩn bị vào giết thịt
Con người có thể do chính xác cảm nhận của gà đối với stress trong môi trường hay không, đó còn là vấn đề đang tranh luận giữa các nhà nghiên cứu Phương pháp đánh giá stress bao gồm: theo dõi sự biến đổi về hệ tim mạch, nhịp thở, phân tích các hormon (ACTH, các catecholamin, glucocorticoid, glucagon ) phát hiện một số thay đổi về trao đổi chất, theo dõi sức sản xuất Mỗi phương pháp có những lợi thế riêng Song phương pháp nào cũng có hạn chế (xem các bài tổng quan của Freman, 1971, 1976; Siegel, 1971, 1980; Stott, 1981) Tuy nhiên, phần lớn họ đều thống nhất với sự ra đời của kỹ thuật ligand phóng xạ đặc hiệu và tinh nhạy (gắn cạnh tranh protein và miễn dịch phóng xạ) thì việc đo hàm lượng corticosteron trong máu đã nhanh tróng được ứng dụng rộng rãi hơn
và có lẽ là chỉ thị có độ tin cậy hợp lý nhất về trạng thái stress ở gia cầm Bằng chứng là một loạt các báo cáo gần đây khẳng định rất nhiều tác nhân gây stress không đặc hiệu đều có khả năng kích thích sự giải phóng corticosteron vào máu Một số tác nhân gây stress đã được khảo sát được khảo sát bao gồm: các thái quá
về nhiệt độ (Brow và Nestor, 1973; El – Halawani et al, 1973, Buckland et al; 1974; Edens và Siegel, 1975; Nir et al; 1975; Edens, 1977, 1978; Benving và Vonder, 1978) bị cắt nguồn thức ăn hay nước uống (Buckland và CTV, 1974; Nir
và CTV; 1975; Beuving và Vonder, 1978; Freeman và CTV, 1980; Scott và CTV, 1983), nhốt hay không cho vận động (Zachriasen và Newcomer, 1975; Beuving
và Vonder, 1978 và các tác nhân stress bầy đần (Gross và Siegel; 1973; Satterlee
và CTV, 1983; Satterlee và Johnson, 1988)
Trang 30Gần đây, Gross và Siegel (1983) cho rằng việc xác định đơn giản tỷ lệ H/L thậm chí còn chứng tỏ là chỉ thị đáng tin cậy hơn về stress so với mức corticosteron huyết tương Ngoài ra, một mối tương quan giữa vitamin C và tỷ lệ H/L ở gà Leghorn đã được miêu tả Gross (1988) đã nhận thấy rằng gà đẻ được cấp vitamin C sống sót sau khi bị stress nhiệt có tỷ lệ H/L thấp hơn so với gà lô
đối chứng còn sống sót Vitamin C cũng làm giảm một phần sự gia tăng tỷ lệ H/L khi bị stress lạnh (Gross, 1988 b) và làm giảm sự gia tăng ty lệ H/L ở những
gà bị stress bầy đàn (Gross, 1988 c) xuống mức ngang với đối chứng
Phòng thí nghiệm của Scolt; 1983 đã chứng minh rằng những công việc liên quan tới sự chuẩn bị gà để giết mổ (như nhốt, không cho ăn uống) đã làm nông độ corticosteron ngoại vi năng lên Nhiều nghiên cứu khác gần đây ở LSU (Farr et al., 1988) cho thấykhối lượng cơ thể sống, khối lượng thân thịt đạt cao hơn một cách có ý nghĩa ở những gà được bổ sung vitamin C trước khi giết mổ
so với đối chứng Ngoài ra Pardue (1987) đã giả định sự ngăn cản của vitamin C
đối với quá trình tổng hợp các chất steroid ở vỏ thượng thận có thể là nguyên nhân chủ yếu cắt nghĩa tại sao vitamin C có thể cải thiện được ảnh hưởng xấu của stress Vì thế họ cho rằng các thao tác trước giết mổ như ngừng cho thức ăn, nước uống gây stress điển hình như làm tăng lượng corticosteron trong máu là lý
do giải thích các chất thoát sản xuất mà cho đến nay vẫn được coi là điều bí ẩn Tất cả những điều đó góp phần giải thích tại sao vitamin C làm tăng tỷ lệ các sản phẩm ăn được khi cung cấp vitamin C cho gà vào thời gian thích hợp trước giết
mổ Do đó, mục đích chính của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của vitamin
C khẩu phần tới việc cải thiện stress do những điều kiện trước giết mổ gây ra Để
đạt mục đích này, các tác giả chọn việc đo mức corticostero trong máu và tỷ lệ H/L làm chỉ thị cho trang thái stress
Vật liệu và phương pháp
Gà và cách xử lý
Đối tượng nghiên cứu là 400 gà thịt broiler chung trống, mái, con lai Peterson x Arbor Acres, nuôi trên nền có lớp độn dày, tới 42 ngày tuổi, tại trại nghiên cứu của LSU – gà 1 ngày tuổi được chia đều vào 8 ô (nhốt 50 con/ổ) Gà
Trang 31được sưởi bằng khí, nhịt độ ban đầu 320C, giảm dần 30C/1 tuần cho tới khi đạt
210C Khẩu phần khởi động 0 – 14 ngày được xây dựng trên nền ngô và đậu tương, chứa 23% protein thô, ME 3190 Kcal/kg Khẩu phần sinh trưởng 15 – 42 ngày chứa 18% protein, ME - 3190 Kcal/kg Nước uống được cung cấp tự do (adlibitum) Trong quá trình nuôi, ánh sáng được chiếu 24h/ngày Mật độ nuôi
đảm bảo 0,08m2/gà
Vào thời điểm 32 giờ trước giết mổ, 4 ô được chọn ngẫu nhiên và được xử
lý bổ sung với 1200 ppm vitamin C hoặc không bổ sung vào nước uống Thí nghiệm với vitamin C kéo dài 24 giờ, gà bị nhốt và nhịn ăn, nhịn uống 8 giờ trước khi giết mổ Gà được nhốt trong chuồng có quạt gió làm mát suốt thời gian, đến tận thời điểm giết mổ thì được chuyển thẳng đến lò mổ xa cách LSU 5 dặm Những điều kiện trong thời gian trước khi giết mổ được chọn lựa giống như các thao tác diễn ra trong thực tế đối với gà thương phẩm đem đi xử lý Việc nhốt hãm và cho nhịn ăn trong thí nghiệm này chứng tỏ là có hiệu quả gây stress mạnh cho gà ( đáp ứng cường năng tuyến nhượng thận (Scott và CTV, 1983)
Lấy máu
Các mẫu máu (5ml/gà) được lấy bằng cách hút qua chọc tim vào các thời
điểm 32 giờ và 8 giờ trước giết mổ và ngày trước khi giết mổ (0 giờ) Mỗi tính biệt lấy 21 con ở thời điểm 32 giờ trước khi giết mổ, lấy mẫu 21 trống và 21 mái Còn ở thời điểm 8 giờ và 0 giờ sẽ khân thành 2 loại: có bổ sung và không bổ sung vitamin C, do đó số gà trống và mái (21 mẫu co mỗi tính biệt) lấy máu
được chọn để có thể so sánh thành 2 thí nghiệm độc lập ở thí nghiệm 1, sự khác nhau được đánh giá ở mức corticosteroid huyết tương và tỷ lệ H/L ở gà broiler trong “điều kiện nghỉ ngơi” trước giết mổ Đặc biệt, các kết quả từ các mẫu máu
“lúc nghỉ ngơi” mở đầu (32 giờ) được so sánh với các kết quả lấy 8 giờ trước giết
mổ được coi như vẫn ở “điều kiện nghỉ ngơi” (mẫu máu lấy ở thời điểm 8 giờ cả
2 loại, không bổ sung vitamin C hoặc có bổ sung trước mổ 24 giờ)
ở thí nghiệm 2, corticosteron huyết tương và tỷ lệ H/L được so sánh giữa các mẫu máu lần 2 của thí nghiệm (1 - lấy ở “điều kiện nghỉ ngơi” lấy trước 8 giờ) và các mẫu lấy từ các gà broiler “ bị stress” (các mẫu lấy ngay trước khi giết
Trang 32mổ, 0 giờ, nghĩa là sau 8 giờ gà đã bị nhót và nhịn ăn uống) Trong các thí nghiệm, gà chỉ được lấy máu 1 lần
Xác định tỷ lệ H/L
Số lượng các loại bạch cầu khác nhau được xác định bằng phết kính máu Các tấm kính được nhuộm theo phương pháp Ưright – Giemsa Đếm và phân loại theo phần trăm các loại bạch cầu gồm lâm ba cầu (limphocyt), bạch cầu dị sắc (heterophil), bạch cầu đơn nhân, ái kiềm, ái toan, mỗi phiến kính đếm 200 bạch cầu Tỷ lệ heterophil/lymphocyte (H/L) xác định bằng cách chia số lượng heterophil cho số lymphocyte
Phân tích miễn dịch phóng xạ hàm lượng corticosteron huyết tương tiến hành theo Satterlee và CTV, 1980
Thiết kế thống kê: ở thí nghiệm 1, 126 gà được sử dụng bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD – comphetely randomized design), kiểu 3 x 2 (3 lần gặp x 2 yếu tố TN) Yếu tố thí nghiệm xác định là 3 thời gian lấy mẫu máu 32 giờ trước giết mổ, 8 giờ trước giết mổ không bổ sung vitamin C, 8 giờ trước giết mổ có bổ sung vitamin C và tính biệt là những yếu tố chính
ở thí nghiệm 2,168 gà được sử dụng trong thí nghiệm dạng 2 x 2 x 2 Các yếu tố thí nghiệm (bổ sung, không bổ sung vitamin C, đối chứng), thời gian lấy máu (8h, 0h trước giết mổ), tính biệt là các yếu tố thí nghiệm chính Khi thích hợp thì sự sai khác giữa các giá trị trung bình của corticosteron huyết tương, của
tỷ lệ H/L được xác định theo phân bố Duncan (1955)
Kết quả
Trong điều kiện không có stress, việc bổ sung vitamin C không làm thay
đổi nông độ corticosteron, cũng như tỷ lệ H/L, nhưng khi gặp stress, việc bổ sung vitamin C đã làm giảm đáng kể sự tăng mức corticosteron cũng như tỷ lệ H/L
Tóm lại, bổ sung vịt C với thời gian thích hợp cho gà broiler bị stress (trước giết mổ) là có lợi nhờ làm giảm đáp ứng stress sau đó
Trang 33II- Lược sử phát hiện ra vitamin C
Vitamin C còn có tên khác là axit ascorbic
Bệnh scorbut và chất gây ra bệnh này đã được biết từ những thế kỷ XI – XII, bệnh thường xuất hiện trên các thuỷ thủ đi biển dài ngày với triệu chứng
điển hình là xuất huyết nặng ở dưới da, nội tạng và nhiều nhất là ở chân răng, bệnh sẽ dần khỏi khi họ trở lại đất liền và được ăn thức ăn nhiều rau xanh, quả tươi…
Khi đó, nguyên nhân và công thức hoá học của chất gây ra bệnh này luôn
là điều bí ẩn Mãi tới sau này, Holst và Frolich mới nghiên cứu và tìm ra lời giải
đáp: nguyên nhân gây bệnh là do trong khẩu phần ăn của bệnh nhân thiếu vitamin có bản chất là một axit hữu cơ, đồng thời các nhà khoa học cũng bước
đầu đã tìm ra cơ chế tác dụng của vitamin này Tiếp theo, Zilva tách được axit này từ chanh, cam thì sự hiểu biết và sử dụng nó mới có cơ sở chắc chắn Năm
1920, Drummond đặt tên chất này là vitamin C Vài năm sau, Her-bert, Hirst và Kerrer tách được vitamin C từ thượng thận Năm 1933, Funk rồi Reichstein, Haworth tổng hợp được vitamin C
Khi thiếu vitamin C, cũng như ở khỉ và chuột lang, triệu chứng điển hình ở người là sự suy yếu vách mạch quản và các mô liên kết Dễ nhận thấy nhất là ở vùng lợi răng dễ bị chảy máu, lỏng chân răng, xuất huyết thành đám dưới da, sụn
và vách ruột Từ đó cơ thể suy yếu, da và niêm mạc nhợt nhạt, sức đề kháng suy giảm, các vết thương chậm lành Bệnh dễ chứa nhanh chóng bằng cách bổ sung vitamin C
Hiện nay người ta điều chế vitamin C bằng cách tổng hợp, rẻ hơn nhiều so với phương pháp tách chiết từ thực vật
Vitamin C có nhiều trong cây xanh, rau quả, đặc biệt trong chanh, cam, bưởi, quýt, bắp cải và trong thịt, đặc biệt ở cây hồng gai và một số giống ớt đỏ (có thể đạt tới 1 – 2% vật chất khô) và mô động vật
Nồng độ vitamin C trong cơ thể cao nhất thường gặp ở phần tuỷ của tuyến thượng thận (đây là một điều hết sức lý thú, sẽ được giải thích kỹ trong phần sau) Trong huyết tương có thể chứa 0,3 – 1,0 mg% Đánh chú ý là do đánh giá
Trang 34mức độ dinh dưỡng vitamin C trong chẩn đoán ở người thường định lượng qua bạch cầu, vì hàm lượng rất ổn định, dao động trong khoảng 10 – 25 mg/100 g
ở người, hàm lượng vitamin C huyết tương chỉ gần mất hẳn sau khi không được
ăn vitamin này liền trong 3 – 6 tuần lễ Nhưng các triệu chứng của bệnh hoại huyết quản scorbut (scurvy) chỉ bắt đầu thể hiện sau 4 tháng vào lúc các bạch cầu hoàn toàn cạn kiệt axit ascorbic
Nhiều sinh vật có thể tự động được vitamin C cho cơ thể Tuy nhiên ở nhiều loài, vitamin C được lấy chủ yếu từ thức ăn bên ngoài vào Sau khi vào máu, vitamin C được dự trữ ở thượng thận, thuỷ tinh thể, bạch cầu Các cơ quan khác dự trữ ít hơn: hồng cầu, não, tuỵ Nồng độ vitamin C trong máu vào khoảng 0,62 mg/100 ml, còn trong huyết thanh là 0,1 – 0,7 mg/100 ml
Vitamin C bị đào thải nhiều nhất và sớm nhất qua đường nước tiểu, phần còn lại qua đường phân và mồ hôi Một số thuốc khác lại làm tăng bài tiết vitamin C như: bacbituric, salicylat, axit axetylsalicylic, atropin, adrenalin, oestradiol
Hàm lượng vitamin C giảm ở người già, trẻ em suy dinh dưỡng Hàm ngày chỉ cần 10 mg là đủ phòng bệnh scorbut, nhưng tối đa phải 70 – 75 mg Các bệnh nhiễm trùng, thấp khớp, lao làm giảm vitamin C trong huyết thanh Trong cơ thể, vitamin C ở trạng thái tự do, ít ở dạng kết hợp Dạng kết hợp hoạt tính kém hơn, nhưng lại bền vững hơn
Nhu cầu hàng này cơ thể cần nhiều vitamin C hơn các loại vitamin khác:
50 – 100 mg/ngày hoặc 1 mg/kg thể trọng Phụ nữ có thai hoặc trẻ em mỗi ngày cần 100 – 200 mg
Thiếu vitamin C, cơ thể bị bệnh scorbut Sheffield đã làm thí nghiệm này trên những người tình nguyện bằng cách không cho dùng vitamin C và nhận thấy
17 tuần đầu nang lông ở da dầy lên, chảy máu từng đốm, 26 tuần sau chảy máu lợi, đau lương và chi, da bầm máu và có nước máu ở khớp gối Một số bệnh nhân tái phát lao cũ hoặc có biến chứng tim, không thấy rối loạn trong hồng cầu và bạch cầu Thiếu vitamin C giảm khả năng liền sẹo của vết thương
Trang 35Tiêm 10 mg vitamin C/ngày cho người tình nguyện đó, các tổn thương trên mất dần, tổn thương da mất sau 2 tháng, chảy máu lợi sau 3 tháng Song người bệnh vẫn mệt, không đủ đáp ứng khi cần gắng sức Muốn bình phục nhanh phải tiêm ít nhất 30 mg/ngày
Ngày nay người ta biết vitamin C có trong tự nhiên dưới 2 dạng: dạng khử (axit L ascorbic) và dạng oxy hoá (axit dehydroascorbic), dạng sau này ít hơn Cả hai dạng đều tan trong nước, dễ bị phân huỷ khi tiếp xúc với các chấy oxy hoá hoặc bazơ So với các vitamin khác, vitamin C là chất duy nhất không có ở dạng phức hợp với các mucleotit hoặc coenzym Đặc tính cơ bản của axit ascorbic là tác dụng khử Người ta dùng đặc tính này để định lượng vitamin C khi cho nó tác dụng với một chất có màu, rồi xác định bằng phương pháp so màu
Trong cơ thể người hoàn toàn không tự tổng hợp được vitamin C mà phải lấy từ các nguồn thức ăn bên ngoài vào Vitamin C dễ tìm, có nhiều ở rau quả Trong cơ thể vitamin C có nồng độ khác nhau ở mô và thể dịch, nơi nào chuyển hoá mạnh nhất thì nồng độ vitamin C ở đó cao nhất Nhu cầu vitamin C thay đổi theo tuổi, khí hậu và cương độ lao động Người lao động nặng có thể cần 120 mg/ngày, phụ nữ có mang cần 150 mg/ngày, người ở miền núi lạnh cần 140 mg/ ngày
Nửa đời sống của axit ascorbic khoảng 16 ngày Sau đó nó biến thành axalat và bài xuất ra nước tiểu Khi nồng độ trong máu quá cao (1-1,2 mg/1000ml), vitamin C bị đào thải, do đó không nên tiêm tĩnh mạch nhiều vitamim C
Vitamin C dễ bị oxy hoá, nhất là khi thái, rửa, đun sôi thực phẩm Nếu có lẫn đồng (Cu), sắt (Fe) hoặc một số kim loại khác trong nước sẽ làm tăng nhanh
sự phá huỷ vitamin C
Do tính chất oxy hoá - khử mạnh, nên vitamin C tham gia nhiều trong các quá trình chuyển hoá của cơ thể, có giá trị như một nhóm ngoại của coenzym Thực ra, vitamin C không phải là thành phần của coenzym Một số tài liệu cho
Trang 36rằng vitamin C phối hợp với glutathion cytocrom C, pyrimidin, nucleotit hoặc flavin nucleotit để thực hiện chức năng oxy hoá - khử
Ngày nay, người ta chế được nhiều dạng vitamin C với giá rẻ, rất tiện dụng dùng cho mọi lứa tuổi để điều trị và phòng các bệnh thiếu vitamin C cho người
mà vật nuôi
III Cấu trúc hoá học của axit Ascorbic
Vitamin C có trúc hoá học giống như cấu trúc của một monosacarit Axit ascorbic dễ dàng được oxy hoá thành dạng khử hydro Cả hai dạng khử và dạng oxy hoá đều có hoạt tính sinh học và đều tồn tại trong các dịch cơ thể
Hoạt tính của vitamin C chủ yếu là do nhóm endiol
(-C C-)
OH OH của axit ascorbic, vì nhóm này làm nhiệm vụ tham gia vận chuyển hydro
Vitamin C là một trong những axit hữu cơ chuyển hoá từ các hexoza quan trọng nhất Về mặt hoá học, axit ascorbic là γ-lacton (lacton là dạng este nội phân tử: liên kết este xuất hiện giữa nhóm CO và OH của mọt trong những
cacbon, tuỳ vị trí mà đánh dấu α,β, γ … tính từ nhóm carboxyl Dạng γ lacton (ở
C4 thường bền hơn cả) của axit hexonic với một liên kết kép gắn hai gốc rượi –
OH ở vị trí cacbon 2 và 3 Nó dễ dàng cho và nhận hydro từ hai gốc rượu cho nên có khả năng tham gia tích cực vào các phản ứng oxi hoá khử Chỉ có đồng phân dãy L, tức là axit L – ascorbic mới có hoạt tính vitamin C
Trang 37Quá trình sinh tổng hợp axit ascorbic diễn ra trong thực vật và các mô gan, thận, một số tuyến ở hầu hết các loài động vật, ngoại trừ mấy giống: người khỉ, chuột lang, dơi ăn quả và ít loài cá Đây là nguyên cớ khiến người và những giống động vật vừa nêu phải luôn nhận vitamin từ nguồn bên ngoài để tránh các bệnh thiếu vitamin C Các vitamin C sinh vật không chứa vitamin C và hình như không có nhu cầu đối với chất này
Axit ascorbic được tinh chế từ nước quả chanh thành dạng tinh thể lần đầu bởi C.King và W.Waugh vào năm 1932 Do cấu trúc khá đơn giản nên ngày nay vitamin C được sản xuất nhiều với giá thành thấp, cho phép con người thoả mãn các nhu cầu dinh dưỡng cũng như dùng trong các ngành chế biến thực phẩm và chăn nuôi
Chuỗi phản ứng sinh hoá từ phân tử đường glucoza dẫn đến axit L – ascorbic trong mô bào diễn ra như sau: Bắt đầu từ chất uridin diphophat – glucoza (UDP – glucoza, dạng có hoạt tính chuyển hoá của đường):
Sau đó, axit – D – glucuronic được tách khỏi UDP và chuyển hoá tiếp như sau: