1. Trang chủ
  2. » Rèn nghị lực – học làm người

Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

17 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 342,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ máy kế toán trong doanh nghiệp cần được hiểu như một tập hợp cán bộ, nhân viên kế toán cùng các phương tiện kỹ thuật ghi chép, tính toán, thông tin được trang bị để thực hiện toàn [r]

Trang 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC HẠCH TOÁN

KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm chung về hạch toán kế toán

Hạch toán là một hệ thống điều tra quan sát, tính toán, đo lường và ghi chép các quá trình kinh tế, nhằm quản lý các quá trình đó ngày càng chặt chẽ hơn

Mục đích của hạch toán là cung cấp thông tin phục vụ cho quản lý hoạt động sản xuất, cho quản lý nền kinh tế Các thông tin này có thể thu được từ nhiều nguồn khác nhau như hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê, tuy nhiên hạch toán

kế toán là một nguồn quan trọng, không thể thiếu được

1.1.2 Khái niệm về tổ chức hạch toán kế toán

Trên thực tế, các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều định nghĩa về tổ chức hạch toán kế toán dưới nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, có thể khái quát nội dung

cơ bản của tổ chức HTKT bao gồm:

- Xác lập mô hình tổ chức HTKT

- Tổ chức các khối lượng công tác kế toán

- Tổ chức bộ máy kế toán

- Tổ chức kiểm tra kế toán

1.1.3 Ý nghĩa của tổ chức hạch toán kế toán

Từ những nghiên cứu trên đây, có thể thấy HTKT là một công cụ quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống quản lý kinh tế nhằm quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế tài chính ở mỗi đơn vị cũng như trong phạm vi toàn

bộ nền kinh tế quốc dân

1.1.4 Nguyên tắc và nhiệm vụ của tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp

1.1.4.1 Các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận

Trang 2

Các nguyên tắc kế toán là những tuyên bố chung như là sự hướng dẫn để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính đạt được các mục tiêu: dễ hiểu, dáng tin cậy

và dễ so sánh

Các nguyên tắc chung được thừa nhận bao gồm: Nguyên tắc thực thể kinh

doanh, Nguyên tắc hoạt động liên tục, Nguyên tắc thước đo tiền tệ, Nguyên tắc kỳ

kế toán, Nguyên tắc khách quan, Nguyên tắc giá phí, Nguyên tắc doanh thu thực hiện

1.1.4.2 Nguyên tắc tổ chức hạch toán kế toán

Để tổ chức HTKT một cách khoa học, hợp lý nhằm phát huy vai trò là một công cụ quản lý kinh tế trong doanh nghiệp, việc tổ chức HTKT trong doanh nghiệp phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định Một số nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ bao gồm: nguyên tắc thống nhất; nguyên tắc bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ, luật kế toán hiện hành; nguyên tắc phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp; nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả

1.2 Nội dung của tổ chức hạch toán kế toán

1.2.1 Xác lập mô hình tổ chức bộ máy kế toán

Tổ chức bộ máy kế toán là nội dung rất quan trọng của tổ chức HTKT Bộ máy kế toán trong doanh nghiệp cần được hiểu như một tập hợp cán bộ, nhân viên

kế toán cùng các phương tiện kỹ thuật ghi chép, tính toán, thông tin được trang bị

để thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ khâu thu nhận, kiểm tra, xử lý đến khâu tổng hợp, phân tích và cung cấp những thông tin kinh tế về các hoạt động của doanh nghiệp, phục vụ công tác quản lý Việc tổ chức bộ máy kế toán trong các doanh nghiệp có thể thực hiện theo những mô hình khác nhau, phù hợp với điều kiện của từng doanh nghiệp

Từ lý luận cũng như thực tiễn tổ chức bộ máy kế toán có thể khái quát thành

ba mô hình tổ chức bộ máy kế toán, đó là: Tập trung, phân tán và vừa tập trung vừa phân tán

1.2.2 Tổ chức công tác kế toán

1.2.2.1 Tổ chức công tác kế toán theo trình tự kế toán

Trang 3

Tổ chức công tác kế toán theo các giai đoạn của quá trình HTKT bao gồm:

tổ chức chứng từ, tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, tổ chức vận dụng

hệ thống sổ kế toán và tổ chức vận dụng hệ thống báo cáo kế toán

* Tô chức chứng từ kế toán:

Tổ chức chứng từ là thiết lập các công việc, thủ tục cần thiết phải làm để hình thành bộ chứng từ đầy đủ cho từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tạo nên

hệ thống thông tin ban đầu hợp pháp, hợp lệ phục vụ cho hoạt động quản lý, xử lý thông tin, ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán

Để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong việc điều hành và quản lý nền kinh tế quốc dân, Bộ tài chính đã ban hành chế độ về chứng từ kế toán, trong đó bao gồm hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc và chứng từ kế toán hướng dẫn Các doanh nghiệp căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình để tổ chức thực hiện và vận dụng theo đúng quy định của Nhà nước về Chế độ chứng từ

Tổ chức chứng từ kế toán tại doanh nghiệp bao gồm: Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán và tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán

Tổ chức hệ thống chứng từ là việc lựa chọn số lượng, chủng loại chứng từ căn cứ vào hệ thống biểu mẫu chứng từ thống nhất do Nhà nước ban hành, đồng thời phù hợp với cơ cấu tài sản, nguồn vốn, đặc điểm sản xuất kinh doanh và trình

độ quản lý của doanh nghiệp

Chương trình luôn chuyển chứng từ là sự vận động của chứng từ từ giai đoạn lập cho đến giai đoạn lưu trữ, bảo quản chứng từ, thực hiện chức năng truyền thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính phản ánh trong chứng từ kế toán

* Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán:

Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán là việc xác định loại tài khoản,

số lượng tài khoản tổng hợp, tài khoản chi tiết phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống tài khoản thống nhất do Bộ tài chính ban hành; qua đó hình thành hệ thống tài khoản riêng của từng doanh nghiệp

* Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán

Tổ chức hệ thống sổ kế toán là thiết lập cho doanh nghiệp một bộ sổ kế toán tổng hợp và chi tiết có chủng loại, số lượng, hình thức kết cấu theo một hình thức

kế toán nhất định và phù hợp với những đặc thù của doanh nghiệp

Trang 4

* Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán

Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán là nội dung cuối cùng của tổ chức công tác

kế toán theo chu trình kế toán, nhằm tổng hợp và cung cấp cho người sử dụng các thông tin cần thiết về tình hình kinh tế tài chính của các doanh nghiệp

Báo cáo kế toán là phương pháp kế toán tổng hợp nhằm phản ánh số liệu kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế, tài chính để cung cấp thông tin một cách toàn diện,

có hệ thống tình hình sử dụng tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau một kỳ hạch toán Từ các giai đoạn chứng từ, tài khoản kế toán và xử lý số liệu ghi sổ kế toán, các số liệu kế toán được tổng hợp lập ra các báo cáo kế toán, cung cấp thông tin tổng hợp cho các đối tượng

sử dụng Hiện nay, báo cáo kế toán trong các doanh nghiệp bao gồm 2 loại: Báo cáo KTTC và báo cáo KTQT

1.2.2.2 Tổ chức công tác kế toán theo các phần hành kế toán

1.2.3 Tổ chức bộ máy kế toán

Tổ chức bộ máy kế toán là nội dung rất quan trọng của tổ chức HTKT trong doanh nghiệp Bộ máy kế toán cần được hiểu như một tập hợp cán bộ, nhân viên

kế toán cùng các phương tiện kỹ thuật ghi chép, tính toán, thông tin được trang bị

để thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ khâu thu nhận, kiểm tra, xử lý đến khâu tổng hợp, phân tích và cung cấp những thông tin kinh tế về các hoạt động của đơn

vị, phục vụ công tác quản lý

Tổ chức bộ máy kế toán bao gồm các nội dung: Xác định số lượng nhân viên

kế toán cần thiết; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng bộ phận và nhân viên kế toán và xây dựng mối quan hệ, cách thức làm việc giữa các bộ phận,

cá nhân viên kế toán cũng như giữa bộ phận kế toán với các bộ phận khác trong và ngoài đơn vị Các nhân viên kế toán trong bộ máy kế toán có mối liên hệ chặt chẽ qua loại xuất phát từ sự phân công lao động phần hành trong bộ máy Quan hệ giữa các loại lao động trong bộ máy kế toán có thể được thể hiện theo một trong ba cách thức tổ chức sau:

- Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu trực tuyến

- Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu trực tuyến tham mưu

Trang 5

-Bộ máy tổ chức theo kiểu chức năng

1.2.4 Tổ chức kiểm tra kế toán

Kiểm tra kế toán là sự kiểm tra trong nội bộ hoặc của các cơ quan chức năng của nhà nước và các cơ quan chủ quản cấp trên đối với việc chấp hành các chế độ, thể lệ nhà nước ban hành về kế toán ở các đơn vị Bao gồm kiểm tra việc tính toán, ghi chép, phản ánh trên các chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán; kiểm tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ kế toán, tài chính, việc tổ chức công tác kế toán và bộ máy kế toán, việc chỉ đạo công tác kế toán và việc thực hiện nhiệm vụ

và quyền hạn của kế toán trưởng

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TRONG CÁC

DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về tình hình phát triển các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

2.1.1 Vai trò của các doanh nghiệp dệt may trong cơ cấu nền kinh tế

Doanh nghiệp dệt may có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nước ta Dệt may là một trong những ngành công nghiẻp sản xuất, xuất khẩu quan trọng của nền kinh tế quốc dân Việt Nam: với khả năng thu hút lao động, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và phục vụ xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cho đất nước Sự phát triển của các doanh nghiệp dệt may góp phần quan trọng trong việc giải quyết những mục tiêu kinh tế của đất nước:

Thứ nhất, các doanh nghiệp dệt may chiếm ưu thế về số lượng so với các

doanh nghiệp trong các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác Năm 2005, cả nước

có 113.352 doanh nghiệp, trong đó có gần 2.000 doanh nghiệp dệt may

Thứ hai, ngành dệt may đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng nền

kinh tế

Thứ ba, tạo việc làm cho người lao động:

Trang 6

Các nước đang phát triển như nước ta thường có nguồn lao động dồi dào đến mức dư thừa Ngành dệt may với đặc điểm sử dụng nhiều lao động, đã góp phần giải quyết các vấn đề trên Năm 2005, cả nước có khoảng 6.243.500 lao động hoạt động trong các doanh nghiệp, trong đó ngành Dệt may đã sử dụng gần 2 triệu lao động, với khoảng 2000 doanh nghiệp

Thứ tư, tăng thu nhập cho dân cư

Thứ năm, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công

nghiệp hoá, hiện đại hoá

2.1.2 Thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam

Hình thức sở hữu: Các doanh nghiệp dệt may tồn tại ở hầu hết các hình thức:

doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong số 2.000 doanh nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước chiếm 0,5%, FDI chiếm 25% và phần lớn là doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần

Tiêu thụ nội địa thấp: Hàng dệt may chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch

xuất khẩu, tuy nhiên tiêu thụ nội địa lại ở mức thấp Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, với 85 triệu dân hiện nay và sẽ tăng lên 100 triệu dân trong năm 2015, thị trường tiêu thụ nội địa rất lớn, các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may không thể

bỏ qua cơ hội để chiếm lĩnh thị trường nội địa Năm 2006, tổng tiêu thụ nội địa ước đạt 1,8 tỷ USD, trong khi đó, xuất khẩu dệt may đạt gần 6 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trong tiêu thụ hàng nội địa đạt khoảng 15%/năm, nhưng thực tế chỉ chiếm 1/4 năng lực sản xuất Phần lớn doanh nghiệp dệt may trong nước chỉ chú trọng đầu tư để xuất khẩu là chính, chưa quan tâm nhiều cho phát triển xây dựng thương hiệu tại thị trường nội địa

Chất lượng đào tạo, năng suất lao động chưa cao:

Lao động ngành dệt may hiện nay chủ yếu tự học, đào tạo theo phương thức kèm cặp trong các nhà máy, xí nghiệp là chính Toàn bộ ngành chỉ có 4 trường đào tạo mỗi năm đào tạo khoảng 2.000 công nhân, không thể đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, thậm chí khi về doanh nghiệp phải chấp nhận tự đào tạo lại Chính vì thế, các nhà máy, công ty may vẫn lựa chọn phương thức tự đào tạo tại đơn vị

Trang 7

2.2 Thực trạng tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

2.2.1 Tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp dệt may thuộc sở hữu nhà nước

Chế độ kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp này khá thống nhất Các doanh nghiệp dệt may nhà nước, không phân biệt quy mô (lớn, vừa hay nhỏ) đều

áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính.gồm 4 phần:

Phần thứ nhất - Chế độ chứng từ kế toán;

Phần thứ hai - Hệ thống tài khoản kế toán;

Phần thứ ba - Chế độ sổ kế toán;

Phần thứ tư - Hệ thống báo cáo tài chính

Sau đây là kết quả khảo sát về chế độ kế toán và hình thức sổ kế toán áp dụng tại một số doanh nghiệp dệt may Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước:

Bảng 2.3 Chế độ kế toán và hình thức sổ kế toán ở một số doanh nghiệp dệt may Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước

STT Tên doanh nghiệp dệt may Chế độ kế toán áp dụng Hình thức ghi sổ kế toán

1 Công ty Dệt may Hà Nội Quyết định

15/2006/QĐ-BTC

Nhật ký - Chứng từ

2 Công ty sản xuất- xuất nhập

khẩu dệt may Hải Phòng

Quyết định 15/2006/QĐ-BTC

Nhật ký - Chứng từ

3 Công ty Kinh doanh hàng thời

trang Việt Nam

Quyết định 15/2006/QĐ-BTC

Nhật ký - Chứng từ

4 Công ty may Việt Tiến Quyết định

15/2006/QĐ-BTC

Nhật ký chứng từ

5 Công ty dệt Phong Phú Quyết định Nhật ký chứng từ

Trang 8

15/2006/QĐ-BTC

6 Công ty Cổ phần Dệt Hà Đông Quyết định

15/2006/QĐ-BTC

Nhật ký -chứng từ

7 Công ty Cổ phần May Đông Mỹ Quyết định

15/2006/QĐ-BTC

Nhật ký- chứng từ

8 Công ty Cổ phần may thời trang

Hà Nội

Quyết định 15/2006/QĐ-BTC

Nhật ký - Chứng từ

9 Công ty cổ phần Dệt may Hoàng

Thị Loan

Quyết định 15/2006/QĐ-BTC

Nhật ký- chứng từ

10 Xí nghiệp May 6 - Công ty 20 Quyết định

15/2006/QĐ-BTC

Chứng từ ghi sổ

Hệ thống chứng từ kế toán quy định trong Chế độ kế toán ban hành theo

quyết định 15/2006/QĐ-BTC bao gồm: 37 biểu mẫu và được chia thành 5 chỉ tiêu: Chỉ tiêu lao động tiền lương; Chỉ tiêu hàng tồn kho; Chỉ tiêu bán hàng; Chỉ tiêu tiền tệ; Chỉ tiêu TSCĐ

Nhìn chung, các doanh nghiệp dệt may đều căn cứ vào chế độ chứng từ đã được ban hành, tiến hành nghiên cứu đặc điểm hoạt động, đặc điểm về đối tượng

kế toán cũng như nhu cầu thu nhận, xử lý thông tin để xây dựng và vận dụng chứng từ cho phù hợp yêu cầu quản lý và đảm bảo tính pháp lý theo quy định của Nhà nước

Tuy nhiên, hiện nay, tổ chức chứng từ kế toán tại một số doanh nghiệp dệt may thuộc sở hữu Nhà n ước vẫn tồn tại một số bất cập:

Thứ nhất, sử dụng chứng từ sai mục đích

Thứ hai, thiếu các chứng từ cần thiết làm căn cứ ghi sổ kế toán Trong một

số doanh nghiệp dệt may vẫn tồn tại trình trạng ghi sổ kế toán khi chưa có đầy đủ chứng từ hợp lệ

Thứ ba, không ghi đầy đủ các chỉ tiêu trên hoá đơn như: chữ ký của những

người liên quan; hình thức thanh toán, mã sỗ NVL

Trang 9

Thứ tư, không lập hoá đơn khi bán hàng Một số doanh nghiệp dệt may bán

hàng qua các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, khi bán hàng cho khách lẻ thường không lập Hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn bán hàng theo quy định

Hệ thống tài khoản kế toán:

Thực tế khảo sát cho thấy, tổ chức tài khoản kế toán trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thuộc sở hữu Nhà nước về cơ bản đã theo đúng quy định của Nhà nước và phù hợp với điều kiện của đơn vị Tuy nhiên, tại một số doanh nghiệp dệt may vẫn tồn tại những điểm chưa đúng với chế độ quy định:

Thứ nhất là không sử dụng các tài khoản cần thiết theo quy định

Thứ hai, sử dụng không đúng TK để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Thứ ba, một số TK kế toán cần chi tiết hơn nữa để đáp ứng yêu cầu quản lý Hình thức sổ kế toán: theo chế độ quy định có 4 hình thức sổ cơ bản: Nhật

ký chứng từ, Nhật ký chung, Nhật ký - Sổ cái, Chứng từ ghi sổ và Hình thức kế toán trên máy vi tính

Trên thực tế, các doanh nghiệp dệt may thuộc sở hữu Nhà nước đã dựa vào đặc điểm, điều kiện của doanh nghiệp để lựa chọn hình thức ghi sổ kế toán phù hợp Qua kết qua khảo sát cho thấy phần lớn các doanh nghiệp dệt may thuộc sở hữu Nhà nước ghi sổ theo hình thức Nhật ký chứng từ, Chứng từ ghi sổ; một số doanh nghiệp áp dụng hình thức Nhật ký chung, hầu hết không có doanh nghiệp nào áp dụng hình thức Nhật ký - Sổ cái

Trên cơ sở hình thức ghi sổ đã chọn, các doanh nghiệp dệt may mở các sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết phù hợp với quy định chung và đặc điểm của doanh nghiệp đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý của doanh nghiệp

Nhìn chung, việc sử dụng các loại sổ, xây dựng kết cấu các loại sổ, quan hệ đối chiếu kiểm tra, trình tự, phương pháp ghi chép các loại sổ kế toán tại các doanh nghiệp dệt may thuộc sở hữu Nhà nước đã tuân thủ chế độ và quy định của Nhà nước Tuy nhiên, thực tế tổ chức sổ kế toán tại các doanh nghiệp này vẫn có một số vấn đề còn tồn tại:

- Ngay sau khi nhận được quyết định xử lý, xử phạt của cơ quan thuế, một

sô doanh nghiệp dệt may không thực hiện hạch toán ngay vào sổ sách kế toán hiện

Trang 10

hành, làm số dư các tài khoản thanh toán với ngân sách khác biệt với số liệu của cơ quan thuế

- Sổ sách kế toán áp dụng máy vi tính: Định kỳ hàng tháng không in ra toàn

bộ sổ sách phát sinh; sổ đã in ra không có số trang, không có giám đốc và kế toán trưởng ký; không tự đóng dấu giáp lai

Hệ thống báo cáo tài chính gồm báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính

giữa niên độ

Thực tế cho thấy, về cơ bản các doanh nghiệp dệt may thuộc sở hữu nhà nước thực hiện khá đầy đủ các quy định về tổ chức BCTC trong Chế độ kế toán theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, bên cạnh các BCTC bắt buộc, theo mẫu quy định của Nhà nước, các doanh nghiệp dệt may còn lập một

số báo cáo khác

Bộ máy kế toán: Thực tế khảo sát cho thấy bộ máy kế toán trong các doanh

nghiệp dệt may thuộc sở hữu nhà nước hầu hết được tổ chức theo mô hình kế toán tập trung Nhìn chung, các nhân viên kế toán hầu hết được đào tạo đúng chuyên ngành, trình độ phù hợp với công việc, các kế toán trưởng là những người có kinh nghiệm, trình độ cao, có năng lực tổ chức Trang thiết bị, phương tiện làm việc tương đối đầy đủ và hiện đại Tuy nhiên, tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp dệt may thuộc sở hữu nhà nước cũng còn những mặt hạn chế nhất định Đầu tiên đó là bộ máy kế toán trong một số doanh nghiệp còn khá cồng kềnh, hoạt động chưa hiệu quả Mặt khác, bên cạnh những kế toán viên có trình độ, năng lực vẫn còn những kế toán viên chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt là một số kế toán được đào tạo từ thời kỳ trước, chuyển sang cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế chưa theo kịp tiến độ trung nên dẫn tới sự bảo thủ, trì trệ

2.2.2 Tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp dệt may ngoài quốc doanh

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty hợp danh, HTX Trong số các doanh nghiệp dệt may ngoài quốc doanh có cả doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp có quy

Ngày đăng: 21/01/2021, 15:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sau đây là kết quả khảo sát về chế độ kế toán và hình thức sổ kế toán áp dụng tại một số doanh nghiệp dệt may Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước: - Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
au đây là kết quả khảo sát về chế độ kế toán và hình thức sổ kế toán áp dụng tại một số doanh nghiệp dệt may Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước: (Trang 7)
Sau đây là kết quả khảo sát về chế độ kế toán và hình thức sổ kế toán áp dụng tại một số doanh nghiệp dệt may Việt Nam ngoài quốc doanh:  - Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
au đây là kết quả khảo sát về chế độ kế toán và hình thức sổ kế toán áp dụng tại một số doanh nghiệp dệt may Việt Nam ngoài quốc doanh: (Trang 11)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w