Tác giả đã chỉ ra quyền, nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, các hành vi bị cấm, giải quyết tranh chấp với người
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH LOAN
PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG
LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN THỊ THANH LOAN
PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG
LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60.38.0.107
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.PHẠM TRÍ HÙNG
Thành phố Hồ Chí Minh, 2018
Trang 3Xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn TS Phạm Trí Hùng Các nội dung và kết quả nêu trong Luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin tham khảo đều được dẫn nguồn cụ thể và cũng được thể hiện trong danh mục tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có sự gian lận, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm và mọi kỷ luật của khoa và trường đã đề ra
Người cam đoan
Nguyễn Thị Thanh Loan
Trang 4ATTP : An toàn thực phẩm
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
BVQLNTD : Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
NTDTP : Người tiêu dùng thực phẩm
CI : Customer International - Tổ chức Quốc tế người tiêu dùng
Trang 5Trang
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ NGƯỜI
TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM
09
1.1 Khái niệm bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 09
1.2 Cơ sở lý luận của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN
2.2 Những bất cập và một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm
của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm
46
2.2.1 Những bất cập trong quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản
xuất, kinh doanh thực phẩm
52
2.2.2 Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm
57
2.3 Những quy định, bất cập và một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về
trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm
59
2.3.1 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ
người tiêu dùng thực phẩm
59
2.3.2 Những bất cập của pháp luật về trách nhiệm của Nhà nước trong
bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm
65
Trang 6bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước và toàn
xã hội đặc biệt quan tâm vì nó giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh Mặc dù cho đến nay đã có khá nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo vệ và an toàn thực phẩm, cũng như biện pháp về quản lý giáo dục như ban hành luật, các văn bản hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhưng các bệnh do thực phẩm kém chất lượng vẫn chiếm tỷ lệ khá cao Hậu quả của việc thực phẩm không an toàn dẫn đến ngộ độc thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, ảnh hưởng đến phát triển nền kinh tế và an sinh xã hội
Hiện nay, không ngày nào trên báo chí không có các bản tin về việc thực phẩm mất an toàn, gây ảnh hưởng quyền lợi người tiêu dùng Việc người sản xuất, kinh doanh sử dụng những loại cám tăng trọng trong chăn nuôi, thuốc kích thích tăng trưởng các loại rau xanh; những hóa chất cấm dùng trong chế biến nông thủy sản, sử dụng nhiều loại chất tẩy rửa thịt, cá ôi thối…; do quy trình chế biến hay do nhiễm độc từ môi trường, từ dùng nước thải sinh hoạt, nước thải chăn nuôi để tưới rau làm cho hàm lượng kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh trong rau, quả cao hơn nhiều so với qui định, hoặc thực phẩm không rõ nguồn gốc, gây ảnh hưởng xấu đến tiêu dùng Các thông tin về ngộ độc thực phẩm, tình hình vi phạm tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, dịch bệnh gia súc, gia cầm xảy ra ở một số nơi, càng làm cho người tiêu dùng thêm hoang mang, lo lắng
Theo Báo cáo của Chính phủ trình Đoàn giám sát Quốc hội ngày từ năm 10/2016, toàn quốc đã ghi nhận 1.007 vụ ngộ độc thực phẩm với 30.395 người mắc, 25.917 người đi viện và 160 người chết Trung bình mỗi năm có 167,8 vụ/năm, 5.065,8
Trang 82011-người mắc/năm và 27,3 2011-người chết do ngộ độc thực phẩm/năm Bệnh ung thư mỗi năm
có khoảng 70.000 người chết và hơn 200.000 ca mắc mới, trong đó có nguyên nhân thực phẩm không an toàn Có thể nói, chưa bao giờ sự lo ngại trước vấn đề ATTP lại nóng bỏng và được rất nhiều người quan tâm như hiện nay1
Việt Nam đã có Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Nghị định 38/2012/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm, Nghị định 178/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm Năm 2016 và năm 2017, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chọn là “Năm cao điểm hành động về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp” Triển khai các giải pháp, các nhiệm vụ cụ thể nhằm đảm bảo thực phẩm an toàn trong lĩnh vực nông nghiệp cho người tiêu dùng Tuy nhiên việc bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm vẫn còn nhiều vấn
đề bỏ ngỏ Người tiêu dùng thực phẩm hoang mang, lo lắng khi không phân biệt được thực phẩm an toàn với thực phẩm mất an toàn Thực trạng cho thấy cần phải hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm để pháp luật là một công cụ hữu hiệu nhất trong công tác quản lý nhà nước và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dùng
Để góp phần đánh giá đúng những tồn tại, bất cập của cơ chế pháp lý về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm ở Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm quốc tế góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, thông qua đó nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng
trong lĩnh vực an toàn thực phẩm” là rất cần thiết
1 Theo Báo cáo số 37/BC-CP ngày 03/02/2017 của Chính phủ về tình hình thực thi chính sách, pháp luật quản lý
an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2016
Trang 92 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là lĩnh vực ngày càng được quan tâm ở các nước công nghiệp phát triển nhưng đối với Việt Nam thì còn mới chưa có nhiều công trình nghiên cứu, chủ yếu tập trung các vấn đề lý luận
về người tiêu dùng và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng nói chung
Khi tìm kiếm công cụ Google trên Internet, nếu dùng từ khóa “bảo vệ người tiêu dùng” để tìm kiếm tài liệu bằng tiếng Việt, chúng ta có thể tìm thấy hơn 3 triệu website hoặc bài báo, tạp chí, tài liệu có liên quan Dùng từ khóa “An toàn thực phẩm”
để tìm kiếm tài liệu bằng tiếng Việt, chúng ta có thể tìm thấy khoảng 800.000 website hoặc bài báo, tạp chí, tài liệu có liên quan Hoặc kết hợp cả cụm từ “bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm” để tìm kiếm tài liệu bằng tiếng Việt, chúng ta
có thể tìm thấy khoảng 1,4 triệu website hoặc bài báo, tạp chí, tài liệu có liên quan
Nếu vào các nhà sách, chúng ta rất dễ tìm thấy các loại sách hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và về an toàn thực phẩm,
nhưng các loại sách nghiên cứu chuyên sâu về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực
an toàn thực phẩm hầu như vắng bóng Các bài nghiên cứu chuyên sâu về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm cũng khó tìm thấy, nhưng không phải là không có Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật Việt Nam bảo vệ người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập” của tác giả Lò Thùy Linh năm 2010 tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu chi tiết về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực
cụ thể là trong hợp đồng gia nhập Đề tài đã làm rõ tính pháp lý trong việc bảo vệ người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập cũng như những đề xuất hoàn thiện về quy định hợp đồng gia nhập trong Bộ Luật dân sự và trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Luận văn Thạc sĩ Luật học “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
an toàn vệ sinh thực phẩm theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Diệu Vũ, năm
Trang 102016 tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Tác giả đã chỉ ra quyền, nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, các hành vi bị cấm, giải quyết tranh chấp với người tiêu dùng, chế tài xử phạt hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
an toàn vệ sinh thực phẩm, thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn
vệ sinh thực phẩm Mặc dù công trình có nghiên cứu sâu những vấn đề pháp lý về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, tuy nhiên chưa nghiên cứu sâu về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm
Luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu hành vi mua thực phẩm an toàn của người tiêu dùng và vận dụng vào hoạt động marketting tại các doanh nghiệp thương mại bán lẻ hàng thực phẩm trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương thực hiện năm 2017 tại Trường Đại học Thương Mại đã nghiên cứu sâu về hành vi mua thực phẩm an toàn của người tiêu dùng và hoạt động marketting của doanh nghiệp thương mại bán lẻ hàng thực phẩm; các nghiên cứu định tính về hành vi mua thực phẩm an toàn; các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cửa hàng bán lẻ thực phẩm an toàn; quyết định mua thực phẩm an toàn; dự báo nhu cầu thị trường về thực phẩm và
xu hướng hành vi tiêu dùng thực phẩm an toàn của người tiêu dùng Hà Nội và một số kiến nghị đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, cơ quan chức năng dựa trên kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý đối với quyết định mua thực phẩm an toàn giai đoạn 2017-2020
Báo cáo phúc trình đề tài Khoa học cấp bộ “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” năm 2008, Ban chủ nhiệm đề tài gồm: chủ nhiệm: Ths Đinh Thị Mai Hương, Phó Chủ nhiệm: Ths Nguyễn Văn Cương, Thư ký: CN Chu Thị Hoa do Viện Khoa học pháp lý – Bộ
Trang 11Tư pháp Báo cáo Phúc trình này đã nghiên cứu sâu về cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trước thời điểm Luật Bảo vệ Người tiêu dùng (năm 2010) chưa ban hành
Luật văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm” của Trần Thị Quỳnh Như thực hiện năm 2018 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn này đã nêu ra những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh
an toàn thực phẩm; thực trạng pháp luật, thực tiễn thực thi và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó luận văn đã nghiên cứu sâu về chế tài xử lý vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm; công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm và phân cấp quản lý đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm Tuy nhiên, Luận văn chưa sáng tỏ việc rà soát, đánh giá pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm theo các tiêu chí tính minh bạch, tính thống nhất, tính hợp lý và tính khả thi của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm, cũng như chỉ ra những bất cập và thực trạng áp dụng pháp luật luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm
Do đó, để làm rõ những quy định của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm hiện nay; thực trạng áp dụng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm; những bất cập của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm; đó đưa ra những khuyến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm cũng như hoàn thiện cơ chế thi hành pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Luận văn này sẽ không chỉ góp phần giúp cho công tác xây dựng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật An toàn thực phẩm và những đạo luật có liên quan mà còn góp
Trang 12phần quan trọng trong việc cung cấp thông tin cần thiết về lý luận pháp luật liên quan tới lĩnh vực an toàn thực phẩm trong giai đoạn hiện nay
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của việc nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu: Đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp
luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đã nêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được xác định cụ thể như sau:
Làm rõ cơ sở lý luận của cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là những quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm từ khi có Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Luật An toàn thực phẩm năm
2010 cho đến nay của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này cũng chỉ đề cập đến bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm đối với các mặt hàng tươi sống, đã qua chế
biến Do tác giả không có nhiều thời gian và kiến thức hạn hẹp nên luận văn không đề cập thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, thực phẩm biến đổi gen, thực phẩm đã
Trang 13qua chiếu xạ, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm và dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, trong quá trình nghiên cứu, trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam ta về vấn đề cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đề tài sử dụng một số phương pháp sau:
Chương 1, chủ yếu áp dụng phương pháp phân tích, so sánh Phương pháp phân tích được sử dụng trong việc phân tích khái niệm, đặc trưng pháp lý bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Phương pháp so sánh được kết hợp với phương pháp phân tích trong việc nghiên cứu hoạt động bảo vệ người tiêu dùng trong
lĩnh vực an toàn thực phẩm trong pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm của một số quốc gia
Trong Chương 2, ngoài các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, tác giả còn sử dụng thêm phương pháp thống kê và phương pháp tổng hợp Bằng phương pháp phân tích, tác giả phân tích những qui định của pháp luật hiện hành về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trong thời gian qua Sau đó, dùng các phương pháp thống
kê, so sánh kết hợp với phương pháp phân tích để làm rõ việc bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trong từ khi Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có hiệu lực Trên cơ sở thực tiễn, đi vào phân tích những bất cập, tồn tại của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật An toàn thực phẩm Trên cơ sở kết quả phân tích những bất cập, vướng mắc, đề ra một số khuyến nghị nhằm khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Trang 14Phương pháp tổng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân tích để tổng hợp và khái quát những kết quả nghiên cứu Phương pháp phân tích và tổng hợp được thực hiện xuyên suốt quá trình nghiên cứu trong luận văn
6 Bố cục của Luận văn
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM
Khái quát những vấn đề chung bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm phải bắt đầu từ việc làm rõ khái niệm “bảo vệ người tiêu dùng” và “an toàn thực phẩm”
1.1 Khái niệm bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Để hiểu rõ bảo vệ người tiêu dùng là bảo vệ ai, trước tiên ta phải tìm hiểu khái niệm người tiêu dùng, Theo đó người tiêu dùng được hiểu là người mua hàng hoá hoặc dịch vụ để sử dụng trực tiếp phục vụ cho vấn đề tiêu dùng.Tác giả đã tìm hiểu khái niệm người tiêu dùng với tư cách là một khái niệm pháp lý được sử dụng phổ biến trong các đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng trên thế giới là “Người mua hàng hóa hoặc dịch vụ để tiêu dùng cá nhân, tiêu dùng cho gia đình mà không có mục đích bán lại; một thể nhân sử dụng sản phẩm với mục đích cá nhân chứ không phải là mục đích kinh doanh”2 Tại Điều 1, Luật Bảo vệ người tiêu dùng và các hành vi kinh doanh của
Bang British Columbia quy định “người tiêu dùng là tự nhiên nhân (thể nhân)”
không có quan hệ mua hàng theo hợp đồng vớitổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
mà chỉ là người sử dụng và thụ hưởng hàng hóa dịch vụ.Luật bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan ban hành ngày 11/01/1994, bổ sung năm 2005 ghi nhận Người tiêu dùng là
“người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng”, không phân biệt thể nhân hay pháp nhân Luật bảo vệ người tiêu dùng Malaysia năm 1999 ghi nhận các đối tượng là người tiêu dùng khi tiếp nhận hàng hóa dịch vụ vì mục đích sử dụng cá nhân, hộ gia đình, không vì mục đích thương mại, sản xuất
2 Từ điển luật ở Hoa kỳ là Black’s law Dictionary, xuất bản lần thứ 4 (năm 1951), trang 389, thuật ngữ “người tiêu dùng” đó là người sử dụng hàng hóa kinh tế và do sự sử dụng đó mà hàng hóa mất dần giá trị; từ ngược nghĩa là nhà sản xuất; trong lần xuất bản lần thứ 8 (năm 2004), trang 335, người tiêu dùng được giải thích là “A person who buys goods of services for personal, family, of household use, with no intention of resale: anatural person who uses products for personal rather than business purposes”)
Trang 16Theo hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành năm
1985, sửa đổi năm 1999 dù không đưa ra một khái niệm rõ ràng về bảo vệ người tiêu dùng, nhưng nội dung cơ bản của Bản hướng gồm: (i) Mục tiêu của Bản hướng dẫn là: giúp các nước thực hiện và duy trì đầy đủ việc bảo vệ người dân của mình với tư cách
là người tiêu dùng; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức sản xuất và phân phối đáp ứng được những nhu cầu và nguyện vọng của người tiêu dùng; khuyến khích việc nâng cao phẩm chất đạo đức cho những người sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng; giúp các nước hạn chế những thủ đoạn lạm dụng của các doanh nghiệp tầm cỡ quốc gia và quốc tế gây thiệt hại cho người tiêu dùng; tạo thuận lợi cho
sự phát triển các hội người tiêu dùng độc lập; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng; khuyến khích sự phát triển của cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn với giá cả thấp hơn và khuyến khích tiêu dùng bền vững (ii) Các nguyên tắc chung gồm: bảo vệ người tiêu dùng tránh những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn; ủng hộ và bảo vệ các quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng; thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân; giáo dục người tiêu dùng, bao gồm giáo dục về các tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của người tiêu dùng; thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho người tiêu dùng; cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức người tiêu dùng thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức
đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến
họ và thúc đẩy tiêu dùng bền vững
Theo quan niệm này, người tiêu dùng được hiểu là người tiêu dùng cuối cùng của hàng hóa, dịch vụ để sử dụng làm lần đầu cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sẽ không được coi là người tiêu dùng theo cách hiểu của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Ví dụ: một chủ hộ bán phở, khi mua bánh phở từ một chủ hộ chuyên sản xuất bánh phở sẽ không được gọi là người tiêu dùng mà chỉ những người mua phở hoặc vào ăn phở từ quán ăn của chủ bán phở mới gọi là người tiêu dùng Vì
Trang 17thế, pháp luật Việt Nam cũng lựa chọn phương thức này để điều chỉnh khái niệm người
tiêu dùng Tại Điều 3.1 Luật BVQLNTD năm 2010 quy định: Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức.Theo đó, người tiêu dùng được hiểu là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục tiêu dùng, không phải là mục đích thương mại Người mua hàng hóa, dịch vụ với tư cách là sản phẩm trung gian nhằm phục vụ quá trình sản xuất hoặc cung ứng lại cho người khác sẽ không được coi là người tiêu dùng thực phẩm Phát biểu của Tổng thống Mỹ John Kennedy tại cuộc họp Thượng nghị viện Mỹ ngày 15/2/1962:
“Người tiêu dùng là tất cả chúng ta, là nhóm người đông đảo nhất…là nhóm người quan trọng duy nhất mà quan điểm thường không được lắng nghe…”
Nếu coi mỗi người dân là một người tiêu dùng thì nước ta có hơn 90 triệu người tiêu dùng thực phẩm Như vậy bảo vệ người tiêu dùng là bảo vệ số đông của xã hội Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế, xã hội càng phát triển thì hàng hóa, dịch vụ phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng về số lượng, phong phú về chủng loại Tuy nhiên trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân sản xuất, người cung cấp hàng hóa, dịch vụ (thường được gọi chung là “thương nhân”3) hiện nay thì người tiêu dùng nói chung luôn ở vị thế yếu hơn, bất lợi hơn Tính yếu thế đó thể hiện ở 3 khía cạnh như sau:
Yếu thế trong việc tiếp cận, xử lý và hiểu các thông tin về hàng hóa, dịch vụ trong mua bán, trao đổi Trong quan hệ giao dịch trên thị trường, mối quan hệ trong cung cấp hàng hóa, cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng thực phẩm thường không cân xứng về thông tin, hiểu biết về chất lượng và các lợi ích của thực phẩm Người mua hàng hóa, dịch vụ do không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoa, dịch vụ cũng như do hạn chế hiểu biết về chuyên môn, kỹ thuật, không hiểu biết đầy đủ về
3 Khái niệm “thương nhân” trong các đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng của các quốc gia trên thế giới (như Pháp, Canada, Nhật Bản) thường được hiểu rộng hơn khái niệm “thương nhân” trong pháp luật thương mại Khái niệm
“thương nhân” trong các đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng còn được hiểu bao gồm cả các tổ chức cung ứng dịch
vụ có tính nghề nghiệp như cơ sở đào tạo, bệnh viện
Trang 18công dụng, chất lượng, các rủi ro trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ khác
Yếu thế trong việc đàm phán, thiết lập hợp đồng, giao dịch Do phía người bán trong quan hệ mua bán với người tiêu dùng là các thương nhân hoạt động thường xuyên, liên tục trong quá trình cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên thị trường nên các thương nhân này nói chung có tính chuyên nghiệp cao hơn trong quá trình đàm phán, thiết lập hợp đồng, giao dịch Ngoài ra với tiềm lực tài chính thường lớn hon so với người tiêu dùng, các thương nhân này có thể tự trang bị cho mình các phương tiện, sử dụng nguồn nhân lực (chẳng hạn sử dụng các luật sự, chuyên gia tư vấn) có chất lượng cao để giành ưu thế trong việc đàm phán, thiết lập hợp đồng, quan hệ với người tiêu dùng Trong thực tiễn giao dịch hiện nay giữa thương nhân và người tiêu dùng, hầu hết các thương nhân thường sử dụng các loại hợp đồng mẫu trong đó nhiều điều khoản trong hợp đồng được coi là quy định mặc nhiên, người tiêu dùng không có cơ hội thảo luận, thay đổi các điều khoản này (ngoài các điều khoản về số lượng và giá cả)
Yếu thế về chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm Do tiềm lực tài chính có hạn, khi xảy ra các rủi ro (tai nạn) phát sinh trong quá trình sử dụng hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng sẽ rất khó khăn khi phải tự mình trang trải các chi phí khắc phục Trong khi đó, gánh nặng chi phí ngăn ngừa, gánh chịu rủi ro trong quá trình tiêu thụ sản phẩm (mà người tiêu dùng không có lỗi) được chuyển sang cho nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ thì khả năng trang trải các chi phí này sẽ cao hơn
Ngoài ra, trong quan hệ mua bán, giao dịch với thương nhân, người tiêu dùng
có thể gặp các bất lợi khác như không nắm bắt được các thông tin về giá cả của các loại hàng hóa, dịch vụ tương tự, chất lượng dịch vụ hậu mãi, hiểu biết pháp luật thấp, không nắm bắt được các thông tin về uy tín của chính thương nhân trên thị trường Với giả thiết cho rằng thương nhân có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cao hơn so với người tiêu dùng thông thường nên mức độ bảo hộ của pháp luật
Trang 19dành cho người tiêu dùng duy trì ở mức độ cao hơn so với mức bảo hộ mà thương nhân trong trường hợp họ là phía mua hàng hóa, dịch vụ có thể được hưởng
Trên cơ sở nghiên cứu và phát hiện đó, tác giả cho rằng người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng thực phẩm ở nước ta cần được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp bởi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong vấn đề an toàn thực phẩm và cũng là đối tượng của đề tài nghiên cứu này Như vậy người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng thực phẩm là những đối tượng chịu những yếu thế trong quan hệ với thương nhân Họ cũng là đối tượng đặc thù cần được trao những quyền năng pháp lý, công cụ bảo vệ đặc biệt của pháp luật Do đó, để bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm nhà nước ta đã đưa ra các thể chế, chính sách cũng như các quy định của pháp luật nhằm tôn trọng các quyền của người tiêu dùng thực phẩm và các biện pháp nhằm chống lại sự lạm dụng của tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra nhận định, người tiêu dùng thực phẩm
là người mua, sử dụng thực phẩm cho các mục đích ăn, uống của cá nhân, gia đình và
tổ chức không phải là mục đích thương mại Xuất phát từ những yếu thế của người tiêu dùng trong mối quan hệ giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, cung ứng dịch vụ thì người tiêu dùng trong một số trường hợp không thể đưa ra các quyết định, lựa chọn đúng đắn và phù hợp với lợi ích của mình Hơn nữa, người tiêu dùng thực phẩm cũng là số đông trong xã hội và cũng là đối tượng chịu yếu thế trong xã hội Với lại, lĩnh vực an toàn thực phẩm là lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi các yêu cầu cao về các điều kiện, tiêu chuẩn và chất lượng của thực phẩm Bởi vậy, ngoài mặt bằng pháp lý chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm còn đòi hỏi những quy tắc riêng, đặc thù và quy tắc này được quy định trong pháp luật an toàn thực phẩm Như vậy, người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng thực phẩm ở nước ta cần được bảo đảm quyền và lợi ích
Trang 20hợp pháp bởi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong vấn đề an toàn thực phẩm và cũng
là đối tượng của đề tài nghiên cứu này
Do đó, để bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người tiêu dùng thực phẩm nhà nước ta đã đưa ra các thể chế, chính sách cũng như các quy định của pháp luật nhằm tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng thực phẩm và các biện pháp nhằm chống lại sự lạm dụng của tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm
1.2 Cơ sở lý luận của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa người tiêu dùng thực phẩm với các cá nhân, tổ chức sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng thực phẩm, người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và lợi ích xã hội Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, đó cũng là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Bởi lẻ gần đây các vụ vi phạm ngày càng gia tăng ở mức độ báo động như: sữa có chứa melamine; rượu có chứa độc
tố, thực phẩm chứa chất bảo quản vv chẳng những nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng, tuổi thọ, chất lượng nòi giống của con người, mà còn kìm hãm sự phát triển chung của toàn xã hội Nếu như con người sử dụng thực phẩm có chứa chất gây hại trên, ngoài việc phải chi một khoản tiền lớn để khắc phục hậu quả thì phải cần
có quỹ thời gian để khôi phục lại hiện trạng ban đầu vì vậy sẽ làm cho các giai đoạn phát triển bị đình trệ Không chỉ tại Việt Nam, hầu hết các nước trên thế giới đều rất coi trọng công tác này bởi lẽ, bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm chính là bảo vệ sự phát triển bền vững của xã hội
Tại Việt Nam, Nghị quyết 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
Trang 21hệ thống pháp luật Việt Nam nhìn nhận “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân” là một trong những định hướng
cơ bản trong mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật Trong đó, Đảng và Nhà nước
nhấn mạnh hai nhiệm vụ trọng tâm gồm: Một là củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm
của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội
Hai là hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là toà án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; khắc phục việc xử lý oan, sai; khẩn trương ban hành Luật về bồi thường nhà nước.Đồng thời, Nghị quyết còn chỉ rõ hoạt động lập pháp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là một nội dung của thể chế hoá các chính sách về công bằng xã hội, cần được quan tâm và triển khai có hiệu quả
Điều 14, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng
đã ghi nhận sự bảo hộ của Hiến pháp và hệ thống pháp luật đối với quyền con người nói
chung, quyền của người tiêu dùng nói riêng: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng"
Cùng với đó, Chính phủ cũng phê duyệt Chiến lược quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030 theo Quyết định số 20/QĐ-TTg ngày 04/01/2012
của Thủ tướng Chính phủ, trong đó ghi nhận “Bảo đảm an toàn thực phẩm chính là bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng và sức khỏe nhân dân, là một nhiệm vụ thường xuyên cần
Trang 22tập trung chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, là trách nhiệm và quyền lợi của các
tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và của mỗi người dân” là một trong những quan điểm chỉ đạo Cùng với đó là “Tổ chức thực hiện đồng bộ các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp tiên tiến trong quản lý an toàn thực phẩm” và “Tăng cường công tác thông tin, truyền thông nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của người sản xuất, người tiêu dùng và toàn xã hội về giữ gìn vệ sinh, bảo đảm an toàn thực phẩm”
Để bảo vệ người tiêu dùng nói chung trong đó người tiêu dùng thực phẩm, bảo
vệ số đông trong xã hội, góp phần trong việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm được xây dựng theo định hướng như sau:
Bảo đảm sự cân bằng trong giao dịch dân sự giữa người tiêu dùng thực phẩm và cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh: Giao dịch mua bán hàng hóa giữa
người tiêu dùng thực phẩm với thương nhân là một sự tự do thỏa thuận Tuy nhiên, nếu
để các bên tự do vô hạn thì các giao dịch này sẽ trở thành phương tiện để bên mạnh hơn lấn át bên yếu thế hơn và gây thiệt hại to lớn tới lợi ích chung của xã hội Người tiêu dùng thực phẩm luôn là bên thiếu thông tin, đặc biệt là các thông tin và kiến thức liên quan đến đặc tính kỹ thuật của sản phẩm Bên cạnh đó, người tiêu dùng thông thường ít có cơ hội đàm phán, thương lượng trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh Do đó, pháp luật cần có các quy định đặc thù để đảm bảo sự cân bằng trong các quan hệ này, qua đó góp phần ổn định trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích chung của xã hội
Bảo đảm việc thực thi kết quả giải quyết tranh chấp tiêu dùng: Kết quả giải
quyết tranh chấp tiêu dùng thông qua bất kỳ phương thức giải quyết nào cũng cần được công nhận và đảm bảo thực thi trong thực tiễn bởi hệ thống cơ quan tư pháp và thi hành án Hiện tại, cơ chế này mới được áp dụng đối với trọng tài, hòa giải trong tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài, trong khi thương lượng và hòa giải dân sự thông thường
Trang 23chưa hình thành cơ chế này
Xã hội hóa công tác bảo vệ người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng thực phẩm: Theo định hướng này, nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong
xã hội tham gia cùng Nhà nước trong công tác bảo vệ người tiêu dùng thông qua các Hiệp hội, đồng thời nâng cao năng lực Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tăng cường tư cách đại diện cho người tiêu dùng đặc biệt trong trường hợp có phát sinh tranh chấp Bên cạnh đó, pháp luật hướng tới sử dụng chính sức mạnh của thị trường
để loại bỏ các doanh nghiệp có hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng từ đó ngoài việc bảo vệ được lợi ích của người tiêu dùng còn hướng tới bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn chân chính Các quốc gia có nền kinh tế thị trường lâu đời như Pháp, Mỹ đều hình thành nên các hội, đoàn do người tiêu dùng đứng ra tập hợp có vai trò xã hội mạnh mẽ Như ở Hoa Kỳ, ở cấp địa phương, cấp bang và liên bang đều có hàng ngàn
tổ chức xã hội hoạt động vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng như: Liên minh người tiêu dùng (Consumers Union) thành lập năm 1936, Liên đoàn người tiêu dùng Hoa Kỳ thành lập năm 1967 Ở Canada là Hiệp hội người tiêu dùng Canada thành lập năm
1947, tại Anh là Hiệp hội NTD toàn quốc thành lập năm 1957 Ở cấp độ quốc tế, sự xuất hiện sớm từ năm 1960 và lớn mạnh bởi hơn 220 tổ chức từ 115 quốc gia thành viên của Quốc tế người tiêu dùng (Consumers International – CI) – tổ chức quốc tế duy nhất của các nhóm, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng thuộc tất cả các châu lục phản ánh
xu hướng xã hội hóa hoạt động bảo vệ người tiêu dùng là xu hướng tất yếu và mạnh
mẽ
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng nói chung đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm: Các quy định phải hướng tới việc nâng cao trách nhiệm của
doanh nghiệp đối với người tiêu dùng thực phẩm nhưng vẫn đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể này Luật không thể hiện xu hướng quá thiên về bảo vệ
Trang 24người tiêu dùng mà hạn chế đi quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp, tránh tạo ra những kẽ hở để một số cá nhân lợi dụng quyền lợi của người tiêu dùng gây thiệt hại cho doanh nghiệp
Xây dựng cơ chế hợp tác quốc tế trong quá trình bảo vệ người tiêu dùng nhằm đảm bảo căn cứ pháp lý giải quyết tranh chấp tiêu dùng có yếu tố nước ngoài: Pháp
luật về giải quyết tranh chấp tiêu dùng cần xây dựng những cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Cũng như hoạt động công nhận các phán quyết trọng tài nước ngoài hay các phán quyết tòa án, hoạt động hỗ trợ tư pháp…thì đối với công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Việt Nam và các quốc gia khác cần xây dựng những thỏa thuận khung về công nhận và bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng của quốc gia khác tiêu dùng hàng hóa trên lãnh thổ của nhau, hợp tác
và phối hợp trong hoạt động điều tra, xác minh vụ việc, hỗ trợ tư pháp (khi cần thiết), tăng cường phối hợp và liên kết giữa các tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động đại diện quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện Các vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng như tranh chấp tiêu dùng qua biên giới, tranh chấp tiêu dùng qua internet… cần trở thành nội dung đưa vào thảo luận tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, đồng thời đẩy mạnh việc tham gia, xây dựng các văn kiện
quốc tế và khu vực để giải quyết các tranh chấp tiêu dùng tương tự tại Việt Nam
Để công tác phòng ngừa và đấu tranh chống hàng giả có hiệu quả, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các cơ sở sản xuất và người tiêu dùng; thiết lập trật tự kỷ cương; bảo đảm cho các hoạt động kinh doanh trên thị trường đúng theo quy định của nhà nước và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký và đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng ngừa và đấu tranh chống hàng giả theo tinh thần Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả và Chỉ thị số 28/2008/CT-TTg về một số biện pháp cấp bách phòng chống hàng giả, hàng kém chất lượng cần phát huy sức mạnh tổng thể của toàn xã hội trên cơ sở sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính
Trang 25trị, xã hội… các đơn vị sản xuất, kinh doanh chân chính và đặc biệt là sự tham gia của chính những người tiêu dùng
Xuyên suốt quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong hoạt động lập pháp
về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là thống nhất, rõ ràng, được
cụ thể hóa bằng nhiều văn bản quy phạm pháp luật Trong số đó, phải kể đến văn bản quy phạm pháp luật sau đây: Hiến pháp năm 2013, Luật Bảo vệ Quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm
2006, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật
Sở hữu trí tuệ năm 2005 và sửa đổi bổ sung năm 2009 và văn bản hướng dẫn thi hành (trong đó có các Nghị định của Chính phủ, các chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị, Quyết định, Thông tư của các Bộ) theo nguyên tắc là “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng là trách nhiệm chung của toàn xã hội”
Bên cạnh đó, để huy động toàn xã hội tham gia quyết liệt và công tác bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm để chống thực phẩm bẩn, tăng cường thực phẩm an toàn, kéo giảm ngộ độc thực phẩm, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã chọn năm 2016, 2017 là năm an toàn thực phẩm trong nông nghiệp với chủ đề
“Tăng cường trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm” nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm; giảm thiểu ô nhiễm sinh học và tồn dư hóa chất, kháng sinh trong sản xuất kinh doanh nông sản thực phẩm, đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu
Để điều chỉnh các quan hệ pháp luật giữa người tiêu dùng thực phẩm và các tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thì pháp luật nước ta đã có nhiều quy định đảm bảo sự tham gia của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần
Trang 26chúng, các cơ quan báo chí vào công tác bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, đó còn được gọi là thiết chế thực thi pháp luật Phải có các thiết chế tổ chức, thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm thì pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm mới thực thi được trên thực tế
Thiết chế tổ chức, thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an
toàn thực phẩm có 3 nhóm cơ quan chính sau đây: Một là Các cơ quan hành chính
trong bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Trong số đó phải kể đến các cơ quan quan trọng sau đây: Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cùng Chi cục
An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh, thành (có tỉnh thành gọi là Ban Quản lý An toàn thực phẩm thay Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm); Cục Quản lý Cạnh tranh và Cục Quản
lý thị trường (Bộ Công Thương) cùng với Sở Công Thương tỉnh thành và Chi cục Quản lý thị trường, Cục Chăn nuôi và Thú Y (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn); Tổng cục Tiêu chuẩn, Đo lường và Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ); Ngoài ra còn có cơ quan thanh tra chuyên ngành thương mại, y tế, thực phẩm các cấp
cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm Hai là
Tòa án nhân dân các cấp: Trong đó phải kể đến TAND cấp huyện, Toà dân sự TAND
cấp tỉnh, Tòa dân sự TAND tối cao và Ba là Hội Bảo vệ người tiêu dùng ở các tỉnh
thành4
Để bảo đảm cho pháp luật và thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm vận hành hiệu quả thì phải có các nguồn lực, điều kiện bao gồm điều kiện về nguồn nhân lực, nguồn tài chính và các điều kiện về kỹ năng, nhận thức của cán bộ, công chức các cơ quan tổ chức hữa quan mà còn của chính người tiêu dùng thực phẩm và tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến kinh doanh thực
4 ThS Hoàng Minh Chiến, ThS Nguyễn Ngọc Quyên &ThS Phạm Phương Thảo (2014), Thực trạng pháp luật
Việt Nam về các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi ngưới tiêu dùng”, Hội thảo Tăng cường năng lực
các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu ở Việt Nam và kinh nghiệm của Đức, Đại học Luật Hà
Nội, Hà Nội
Trang 27phẩm trong xã hội
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm được thực thi tốt không thể không tách rời với các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa chung của xã hội Chẳng hạn, người tiêu dùng thực phẩm sẽ bảo hộ tốt hơn nếu các tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm có trách nhiệm xã hội rõ hơn, văn hóa kinh doanh lành mạnh hơn, áp lực cạnh tranh lớn hơn Người tiêu dùng thực phẩm sẽ được bảo vệ tốt hơn nếu như bộ máy công quyền (trong đó có bộ máy hành chính và bộ máy
tư pháp) ít chịu ảnh hưởng hơn từ khu vực kinh doanh lên hoạt động của bộ máy công quyền (cả ảnh hưởng chính thức lẫn phi chính thức) Người tiêu dùng thực phẩm sẽ được bảo vệ tốt hơn nếu như các phương tiện truyền thông đại chúng thực hiện tốt hơn vai trò phản ánh, lên ánh các phương tiện tiêu cực đối với người tiêu dùng thực phẩm
và vai trò giám sát của mình
Ý thức bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm đang từng bước được nâng lên Việc gần đây một số người tiêu dùng thực phẩm bày tỏ bất bình trên các phương tiện báo chí, thậm chí đã có người có đơn kiện tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm yêu cầu họ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với người tiêu dùng thực phẩm Đây là những tiền đề tốt để tăng cường pháp luật bảo
vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trong thời gian tới
Từ những nội dung nêu trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các đối tượng tham gia bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm bao gồm, các quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và chính bản thân người tiêu dùng thực phẩm
1.3 Sự cần thiết của pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Mọi người chúng ta đều nhận thấy tầm quan trọng của việc sử dụng thực phẩm, đó là nhu cầu hàng ngày, cấp bách và phải đáp ứng Vì ăn uống sẽ mang lại chất
Trang 28dinh dưỡng nuôi cơ thể lớn và cung cấp năng lượng cho chúng ta hoạt động, vì vậy nhu cầu sử dụng thực phẩm là rất cần thiết Ngoài việc cung cấp đầy đủ thức ăn cho nhu cầu sử dụng hàng ngày thì việc giữ an toàn thực phẩm cũng là một việc quan trọng không kém Nhưng nếu chúng ta sử dụng thức ăn không đảm bảo vệ sinh thì nguồn nguy hại đó sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ chúng ta và bệnh có thể vào từ “miệng” Thức
ăn sẽ không còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể nếu như không đảm bảo vệ sinh an toàn Khi ăn phải thực phẩm nhiễm vi khuẩn hoặc các chất độc hại với lượng quá cao, sẽ gây ngộ độc thực phẩm cấp tính và nếu nặng sẽ dẫn đến tử vong Thực phẩm kém vệ sinh không chỉ gây ngộ độc cấp tính một cách ồ ạt dễ nhận thấy mà còn phải kể đến các bệnh mãn tính gây suy kiệt sức khoẻ do nhiễm và tích luỹ các chất độc hại như chì, thuỷ ngân, thuốc bảo vệ động thực vật, phẩm màu độc với số lượng nhỏ nhưng kéo dài thời gian sử dụng, đặc biệt là các độc tố như nấm trong ngô, đậu, lạc mốc… có thể gây ung thư ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi
Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm kém chất lượng gây ra không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ Hơn nữa thực phẩm không an toàn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh
xã hội
Theo thống kê của Viện nghiên cứu phòng chống ung thư, mỗi năm Việt Nam
có hơn 126.000 ca mắc mới và khoảng 94.000 người tử vong vì ung thư5, theo đó, một trong những nguyên nhân con người mắc chứng bệnh ung thư là do ăn phải thực phẩm bẩn có vi khuẩn, vi sinh vật gây bệnh, độc tố nấm, độc tố vi khuẩn; Hóa chất bảo vệ
5 Thông tin được đưa ra tại Hội nghị quốc tế “Kiểm soát ung thư thực trạng và giải pháp” do Bộ Y tế tổ chức ngày 3-11-2017,tại Hà Nội ( http://benhvienk.vn/ung-thu-la-ganh-nang-lon-cho-nhieu-quoc-gia-nd32777.html ), truy cập ngày 08/6/2018
Trang 29thực vật: Tồn dư kháng sinh, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc chống mốc, chống mối, mọt; Thuốc tăng trọng, thuốc kích thích tăng trưởng và thuốc nhuộm màu, chất bảo quản chống thối6 Đó đều là những tác nhân gây ra bệnh ung thư Hàng ngày nếu như không quan tâm, không quyết liệt thì chúng ta đều phải sử dụng những thực phẩm bẩn
đó
Trong thời gian qua, các cách thức bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm luôn được chú trọng, tiêu biểu hệ thống văn bản pháp luật về người tiêu dùng, về an toàn thực phẩm được ban hành tương đối đầy đủ, toàn diện Công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp đã được tăng cường; hệ thống tổ chức quản lý, điều kiện làm việc của các cơ quan quản lý về an toàn thực phẩm từng bước được kiện toàn và tăng cường từ trung ương đến địa phương; quản lý sản xuất, kinh doanh thực phẩm có chuyển biến tích cực so với giai đoạn trước… Công tác thông tin, truyền thông, giáo dục phổ biến pháp luật về an toàn thực phẩm được đẩy mạnh Việc kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm được triển khai tương đối đồng bộ, quyết liệt và nghiêm minh hơn cụ thể như:
Quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến thực phẩm: Luật An toàn thực phẩm quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất thực
phẩm7như sau: (1) Tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, bảo
đảm an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất và chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm do mình sản xuất; (2) Tuân thủ quy định của Chính phủ về tăng cường vi chất dinh dưỡng mà thiếu hụt sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng; (3) Thông tin đầy đủ, chính xác về sản phẩm trên nhãn, bao bì, trong tài liệu kèm theo thực phẩm theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa; (4) Thiết lập quy trình tự kiểm tra trong quá trình sản xuất thực phẩm; (5) Thông tin trung thực về an toàn thực phẩm; cảnh báo kịp thời,
6BS Hoàng Đình Chân- Nguyên Trưởng khoa Phẫu thuật Lồng ngực- Bệnh viện K (2016), “Sử dụng thực phẩm
bẩn gây ung thư như thế nào” 586243.bld, truy cập ngày 08/6/2018
http://www3.laodong.com.vn/suc-khoe/thuc-pham-ban-gay-ung-thu-nhu-the-nao-7Luật An toàn thực phẩm (năm 2010), Khoản 2, Điều 7
Trang 30đầy đủ, chính xác về nguy cơ gây mất an toàn của thực phẩm, cách phòng ngừa cho người bán hàng và người tiêu dùng; thông báo yêu cầu về vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng thực phẩm; (6) Kịp thời ngừng sản xuất, thông báo cho các bên liên quan và có biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện thực phẩm không an toàn hoặc không phù hợp tiêu chuẩn đã công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; (7) Lưu giữ hồ sơ, mẫu thực phẩm, các thông tin cần thiết theo quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm; thực hiện quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm không bảo đảm an toàn theo quy định; (8) Thu hồi, xử lý thực phẩm quá thời hạn sử dụng, không bảo đảm
an toàn Trong trường hợp xử lý bằng hình thức tiêu hủy thì việc tiêu hủy thực phẩm phải tuân theo quy định của pháp luậtvề bảo vệ môi trường, quy định khác của pháp luật có liên quan và phải chịu toàn bộ chi phí cho việc tiêu hủy đó; (9) Tuân thủ quy định pháp luật, quyết định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (10) Chi hoàn trả chi phí lấy mẫu và kiểm nghiệm khikhẳng định vi phạm quy định về
an toàn thực phẩm trong tranh chấp, khiếu nại cho người khởi kiện, khiếu nại; (11) Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
Điều kiện chung về bảo đảm an toàn đối với thực phẩm8
gồm: (1) Đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, tuân thủ quy định về giới hạn vi sinh vật gây bệnh, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng thuốc thú y, kim loại nặng, tác nhân gây ô nhiễm và các chất khác trong thực phẩm có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người (2) Tùy từng loại thực phẩm, ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này, thực phẩm còn phải đáp ứng một hoặc một số quy định sau đây: (a) Quy định về sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; (b) Quy định về bao gói và ghi nhãn thực phẩm; (c) Quy định về bảo quản thực phẩm.Đối với thực phẩm tươi sống9 thì: (1) Truy xuất được nguồn gốc thực phẩm; (2) Có chứng nhận vệ sinh
8Luật An toàn thực phẩn (2010), Điều 10
9Luật An toàn thực phẩn (2010), Điều 11
Trang 31thú y của cơ quan thú y có thẩm quyền đối với thực phẩm tươi sống có nguồn gốc từ động vật theo quy định của pháp luật về thú y
Quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm:
Theo Luật An toàn thực phẩm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm10
bao gồm: (1) Tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm trong quá
trình kinh doanh và chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm do mình kinh doanh; (1) Kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ thực phẩm, nhãn thực phẩm và các tài liệu liên quan đến
an toàn thực phẩm; lưu giữ hồ sơ về thực phẩm; thực hiện quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm không bảo đảm an toàn theo quy định; (3) Thông tin trung thực về an toàn thực phẩm; thông báo cho người tiêu dùng điều kiện bảo đảm an toàn khi vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm; (4) Kịp thời cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn của thực phẩm và cách phòng ngừa cho người tiêu dùng khi nhận được thông tin cảnh báo của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu; (5) Kịp thời ngừng kinh doanh, thông tin cho tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu và người tiêu dùng khi phát hiện thực phẩm không bảo đảm an toàn; (6) Báo cáo ngay với cơ quan
có thẩm quyền và khắc phục ngay hậu quả khi phát hiện ngộ độc thực phẩm hoặc bệnh truyền qua thực phẩm do mình kinh doanh gây ra; (7) Hợp tác với tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra ngộ độc thực phẩm để khắc phục hậu quả, thu hồi hoặc xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn; (8) Tuân thủ quy định của pháp luật, quyết định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (9) Chi hoàn trả chi phí lấy mẫu và kiểm nghiệm khi khẳng định
vi phạm quy định về an toàn thực phẩm trong tranh chấp, khiếu nại cho người khởi kiện, khiếu nại; (10) Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi thực phẩm mất an toàn do mình kinh doanh gây ra
10Luật An toàn thực phẩm (2010), Khoản 2, Điều 8
Trang 32Đối với thực phẩm đã qua chế biến11 thì điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm gồm: (1) Tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn chung;(2) Nguyên liệu ban đầu tạo nên thực phẩm phải bảo đảm an toàn và giữ nguyên các thuộc tính vốn có của nó; các nguyên liệu tạo thành thực phẩm không được tương tác với nhau để tạo ra các sản phẩm gây hại đến sức khoẻ, tính mạng con người; (3) Thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn phải đăng ký bản công bố hợp quy với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi lưu thông trên thị trường
Quy định về quyền của người tiêu dùng thực phẩm: Hướng dẫn của Liên
Hợp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành năm 1985, sửa đổi năm 1999, trên cơ sở diễn giải của CI (Consumers International) nêu 8 quyền năng cơ bản người tiêu dùng bao gồm: (i) Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; (ii) Quyền được an toàn; (iii) Quyền được thông tin; (iv) Quyền được lựa chọn; (v) Quyền được lắng nghe; (vi) Quyền được khiếu nại và bồi thường; (vii) Quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng;
và (viii) Quyền được có môi trường sống lành mạnh bền vững12
Ở Việt Nam, quyền năng của người tiêu dùng nói chung13 cũng bao gồm 8 quyền: (i) Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp (ii) Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng (iii) Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh
11Luật An toàn thực phẩn (2010), Điều 12
12Cục Quản lý cạnh tranh (2006), Sổ tay công tác bảo vệ người tiêu dùng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 33.
13
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), Điều 8
Trang 33doanh hàng hóa, dịch vụ (iv) Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (v) Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (vi) Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết (vii) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan và (viii) Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
Tuy nhiên, đối với người tiêu dùng thực phẩm, các quyền năng cơ bản của người tiêu dùng thực phẩm14
chỉ có 5 quyền như sau:(i) được cung cấp thông tin trung thực về an toàn thực phẩm hướng dẫn sử dụng, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, lựa chọn, sử dụng thực phẩm phù hợp; được cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn, cách phòng ngừa khi nhận được thông tin cảnh báo đối với thực phẩm; (ii) Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật; (iii) Yêu cầu tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; (iv) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật; (v) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra
Mặc dù vậy, trên cơ sở áp dụng quy định của thế giới, đối với pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm ở Việt Nam có thể phân chia thành
4 nhóm quyền cơ bản như sau:
14
Luật An toàn thực phẩm (2010) Khoản 1, Điều 9
Trang 34Thứ nhất, quyền được an toàn: quyền an toàn rất quan trọng trong việc đảm
bảo cho một cuộc sống an toàn và chắc chắn Quyền được an toàn cũng là một trong những quyền cơ bản của mọi công dân trong xã hội văn minh Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “mọi người có quyền được bảo vệ chăm sóc sức khỏe, quyền được sống trong môi trường trong lành; nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng”15. Quyền được an toàn có nghĩa là quyền được bảo vệ khỏi các sản phẩm, các quy trình sản xuất và dịch
vụ có thể gây nguy hại cho sức khỏe và cuộc sống Quyền an toàn của người tiêu dùng thực phẩm nó được thể hiện rõ nhất khi được cung cấp các sản phẩm thực phẩm đảm bảo vệ sinh, an toàn sức khỏe Tuy nhiên, NTD hàng ngày thường đối mặt với rất nhiều rủi ro do hậu quả của các sản phẩm, dịch vụ thiếu an toàn Quyền an toàn của NTD thực phẩm sẽ được đảm bảo nếu như các quy định về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng,
vệ sinh được tuân thủ một cách nghiêm ngặt bởi các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm; và nếu như NTD được thông báo chính xác về thành phần, cách thức sử dụng, bảo quản, các nguy cơ tiềm tàng, v.v Thế nhưng, thực tế điều tưởng chừng như đơn giản này lại không dễ đạt được Nếu không có các biện pháp, quy định, tiêu chuẩn, chất lượng thực phẩm an toàn, NTD thực phẩm sẽ bị thiệt hại nhiều nhất về mặt an toàn
Thực tế hiện nay, thực phẩm không an toàn tràn lan, người tiêu dùng khó phân biệt biệt bằng cảm quan để nhận biết thực phẩm nào an toàn, thực phẩn nào mất an toàn Để đảm bảo quyền được an toàn nhất là an toàn đối với thực phẩm của người tiêu dùng ngoài việc nhà nước quy định các điều kiện, tiêu chuẩn để tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn; Trách nhiệm nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm thực hiện đúng các quy định của nhà nước thì người tiêu dùng cũng phải tự bảo vệ mình bằng cách nhận biết, đánh giá, lựa chọn mua thực phẩm
an toàn, thực phẩm có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Tuy nhiên, đa phần phực phẩm an
15
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) Điều 38, Điều 43
Trang 35toàn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng chỉ được kinh doanh các siêu thị, cửa hàng kinh doanh thực phẩm an toàn có chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm; còn ở chợ truyền thống, chợ cóc kinh doanh số lượng lớn sản phẩm thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất
xứ nhất là rau, củ, quả; hơn nữa sự chênh lệch giá quá lớn chợ truyền thống16 với siêu thị và cửa hàng thực phẩm có chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm Thói quen của người dân Việt Nam nói chung là muốn bữa cơm của mình phải được chế biến từ những thực phẩm tươi Nhiều NTD thực phẩm đa phần thích mua hàng ở chợ truyền thống, họ muốn mua thủy sản, gia cầm khi còn sống, như vậy họ mới cảm thấy ngon miệng và yên tâm; thêm nữa là thói quen đi chợ hàng ngày của NTD, vẫn chủ yếu mua thực phẩm tại các chợ truyền thống, chợ cóc, chợ tạm gần nơi sinh sống do thuận tiện, giá rẻ và họ không quen dự trữ thức ăn trong tủ lạnh, trong khi đó thực phẩm được bán tại siêu thị, các cửa hàng thực phẩm an toàn thường là những phẩm đã sơ chế và đông lạnh Một bộ phận NTD thực phẩm có đời sống kinh tế còn thấp (nhất là ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa) nên họ không có điều kiện kinh tế để mua và sử dụng thực phẩm chất lượng cao mà vẫn phải chấp nhận sử dụng thực phẩm trôi nổi, giá rẻ mặc dù biết nguy cơ ngộ độc thực phẩm có thể xảy ra;một số ít NTD thực phẩm có tập quán sử dụng thực phẩm không bảo đảm như: Ăn tiết canh, ăn gỏi cá, thói quen chế biến, sử dụng thực phẩm tại hộ gia đình không đảm bảo an toàn17; Bên cạnh đó, đa số NTD thực phẩm còn chưa thực sự tin tưởng vào chất lượng thực phẩm an toàn trên thị trường Người tiêu dùng thực phẩm hiện chưa được trợ giúp nhiều để phân biệt được thực phẩm an toàn với thực phẩm không an toàn
Quyền an toàn của người tiêu dùng thực phẩm không những bị xâm hại liên quan đến những hàng hóa được sản xuất trong nước mà còn liên quan đến hàng nhập
16Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2012), Khoản 3, Điều 3,Thông tư số 33/2012/TT-BNNPTNT, Quy
định điều kiện vệ sinh, đảm bảo an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh thịt và phụ phẩm ăn được của động vật ở dạng tươi sống dùng làm thực phẩm, ngày 20/7/2012
17 Báo cáo tình hình thực thi chính sách, pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2016 (số
211/BC-CP ngày 18/7/2017) của Chính Phù
Trang 36khẩu Gần đây, một loạt thông tin từ các nước trên thế giới về hàng tiêu dùng, hàng thực phẩm của Trung Quốc không an toàn cho người sử dụng, trong khi đó, các mặt hàng này đang chiếm lĩnh thị trường nước ta, vậy mà các cơ quan chức năng vẫn chưa đưa ra bất kỳ một lời cảnh báo nào đến người tiêu dùng Thông qua việc kiểm tra, kiểm nghiệm các mặt hàng đang có vấn đề, ngành y tế mới chỉ phát hiện trong son môi của Trung Quốc có chứa chất sudan, còn các mặt hàng khác như: thực phẩm, hoa quả đều chưa xác định được có chất gây độc Trong khi đó, lượng hàng Trung Quốc đang tràn vào thị trường nước ta ngày càng nhiều và tại một số cửa khẩu, chưa qua kiểm dịch, kiểm soát chất lượng Người tiêu dùng trong nước vẫn mua các loại hàng này về sử dụng, mà không biết những hàng hoá này ngày ngày ảnh hưởng đến sức khoẻ của mình18
Để đảm bảo quyền an toàn của người tiêu dùng thực phẩm, trước tiên người tiêu dùng phải thực phẩm được trang bị đầy đủ các kiến thức có liên quan để có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước phải được trang
bị đầy đủ các công cụ cần thiết để đảm bảo lợi ích chính đáng của người tiêu dùng thực phẩm; Đẩy mạnh công tác thông tin giáo dục truyền thông, đặc biệt là truyền thông thay đổi hành vi Bên cạnh việc phê phán những tồn tại, yếu kém cần biểu dương các điển hình tiên tiến, nếu chỉ tập trung phê phán những tồn tại, yếu kém mà không phản ánh những thành tựu đã đạt được thì không phản ánh đúng bức tranh về ATTP ở Việt Nam, gây hoang mang dư luận xã hội, ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế, đặc biệt
là xuất khẩu; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt tăng cường xử phạt vi phạm ở tuyến cơ sở, công khai tên, địa chỉ, sản phẩm, cơ sở vi phạm để tăng tính răn
đe
18Dương Anh Sơn (2008), Thực trạng và hiệu quả áp dụng các chế tài hành chính nhằm bảo vệ người
tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay, đăng trên VIBonline, website xây dựng pháp luật của VCCI,
ve-nguoi-tieu-dung-o-viet-nam-hien-nay-ts-duong-anh-son-khoa-kinh-te-dh-quoc-gia-tp-hcm, truy cập
http://vibonline.com.vn/bao_cao/thuc-trang-va-hieu-qua-ap-dung-cac-che-tai-hanh-chinh-nham-bao-30/6/2018
Trang 37Thứ hai, quyền được thông tin: đây là một trong những quyền mang tính tự
nhiên, thiết yếu của người tiêu dùng thực phẩm trong nền kinh tế thị trường19
Người bán phải cung cấp thông tin hoàn chỉnh và đầy đủ về các sản phẩm và dịch vụ cho người mua Thông tin đó sẽ tùy theo sản phẩm hoặc dịch vụ nhưng giá luôn luôn phải được ghi rõ Sản phẩm phải được dán nhãn bằng ngôn ngữ được quy định (ví dụ, tiếng Việt ở Việt Nam) Nhãn hàng hóa thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết, đầy đủ, chính xác về sản phẩm để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng Thông tin về an toàn và an ninh luôn luôn phải được đề cập Chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ nên được bổ sung đối với các sản phẩm thực phẩm Nhãn sinh thái, nếu
có cũng cần dán vào sản phẩm; Đóng gói sản phẩm cũng phải phù hợp với quy chuẩn hợp pháp và nếu không có quy chuẩn hợp pháp nào, thì phải đóng gói nhằm bảo vệ chất lượng và an toàn của sản phẩm Đối với sản phẩm nhập khẩu, tên tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi trên nhãn sản phẩm phải thể hiện như tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất, tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân tự công bố hoặc đăng ký bản công bố sản phẩm20 Đây là quyền tự nhiên và thiết yếu của người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường21
Tòa án Công lý của EU nhấn mạnh rằng tự do tiếp cận đầy đủ thông tin và không mất phí là điều kiện thiết yếu để bảo vệ người tiêu dùng Những thông tin này nên bao gồm giá cả và tất cả các chỉ dẫn cần thiết về an toàn và sức khỏe của người tiêu dùng Thông tin đó bao gồm thông tin về sinh thái và môi trường Yêu cầu về ngôn ngữ rất quan trọng để người tiêu dùng hiểu Tuy nhiên, trong trường hợp đơn giản, thông tin có thể được thay thế bằng phác họa, biểu tượng hoặc chữ tượng hình22
19 Trần Quốc Việt (2017), “Quyền được thông tin của người tiêu dùng và việc đảm bảo thực thi hiện nay”, Tạp
chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, 2, 26
20 Chính phù (2018), Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều cảu Luật An toàn thực phẩm, số
15/2018/NĐ-CP, ngày 02.02.2018, Khoản 2, Điều 24
21 Nguyễn Văn Cương, (2013), “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông tin của người tiêu dùng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (8), (304) – Viện Nhà nước và Pháp luật
22 Nguyễn Thị Hoàng Thúy (2011), Các thông lệ tốt về bảo vệ người tiêu dùng từ quan điểm Châu Âu, Bộ Công
Thương
Trang 38Để đảm bảo công tác bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, nhất là đảm bảo quyền được thông tin, Luật An toàn thực phẩm dành riêng chương IX
“Thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm” xác định mục đích của thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm nhằm nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm, nhất là các quyền cơ bản của ngưởi tiêu dùng thực phẩm để thay đổi hành
vi, phong tục, tập quán sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, ăn uống lạc hậu, gây mất an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng con người; đạo đức kinh doanh,
ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng thực phẩm23
Việc nâng cao kiến thức và thực hành về ATTP cho các đối tượng được các
Bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh với nhiều hình thức đa dang, phong phú Các hoạt động tuyên truyền giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng được đã được triển khai đồng bộ, bài bản, đặc biệt tập trung vào dịp lễ, tết nhằm nâng cao vai trò trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống, trách nhiệm của cộng đồng trong công tác bảo đảm ATTP Duy trì việc tổ chức “Tháng hành động
về ATTP” hàng năm đã báo động và thức tỉnh cho toàn xã hội về những nguy cơ ATTP
và nhờ đó đã huy động toàn xã hội tham gia vào các chiến dịch tuyên truyền ATTP
Trong thời gian vừa qua, thông tin về thực phẩm an toàn, cảnh báo thực phẩm bẩn đa phần được các cơ quan báo, đài từ trung ương đến địa phương và các trang thông tin điện tử đăng tải 249.851 tin bài có nội dung về quản lý ATTP, phát hiện xử lý các vi phạm về ATTP, phổ biến kiến thức, tin nước ngoài có liên quan đến thực phẩm, trong đó đã đưa ra nhiều thông tin cảnh báo về ATTP đã giúp cho cơ quan chức năng kịp thời kiểm tra, điều chỉnh các hành vi sản xuất, kinh doanh, sử dụng, thương mại, ngoại giao liên quan đến thực phẩm Bên cạnh đó, trên trang điện tử Bộ Y tế (Cục An toàn thực phẩm) đã đăng tải 3.605 tin, bài có nội dung phản ánh thông tin, bài tuyên
23
Luật An toàn thực phẩm (2010), Điều 56
Trang 39truyền phổ biến kiến thức đến người dân trong vấn đề đảm bảo ATTP; đăng tải kịp thời các thông tin chỉ đạo địa phương trong quản lý ATTP, phòng ngừa NĐTP Ngoài ra Fanpage và Facebook của Cục cũng đăng tải thường xuyên các tin tức, sự kiện liên quan đến hoạt động quản lý ATTP Đã có trên 110 triệu lượt truy cập trên trang điện tử của Cục, trung bình mỗi tháng có gần 2.000.000 lượt truy cập24
Sau khi gia nhập WTO, nhất là từ năm 2002, Thái Lan đã tích cực nâng cao chất lượng và tiêu chuẩn đối với các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và tăng cường vai trò của các cơ quan quản lý thực phẩm; triển khai các chương trình tuyên truyền, quảng bá về độ an toàn của thực phẩm Thái Lan; xây dựng hệ thống cơ quan kiểm soát an toàn thực phẩm hiệu quả để kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm25
Hàng năm, Thái Lan sản xuất một lượng lớn nông sản và thực phẩm và đặc biệt quan tâm tới việc tuyên truyền
về về sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, Chính phủ Thái Lan phát động “năm an toàn thực phẩm” để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân và các cơ sở sản xuất
và chế biến thực phẩm quan tâm tới sức khỏe con người Đặc biệt, Thái Lan thường xuyên tổ chức chương trình “Bếp ăn của thế giới” để tuyên truyền, quảng bá về thực phẩm Thái Lan trên toàn thế giới Nhờ đó, người tiêu dùng kể cả Thái Lan và quốc tế đều thể hiện sự tin tưởng đối với chất lượng thực phẩm của nước này
Qua kinh nghiệm của Thái Lan, Chính phủ giao Bộ Y tế phát động “Tháng hành động vì an toàn thực phẩm” được tổ chức và duy trì hàng năm kể từ năm 1999 cho đến nay Cứ mỗi năm “Tháng hành động vì an toàn thực phẩm” mang mỗi chủ đề khác nhau như năm 2018 với chủ đề “Tăng cường trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm”; Năm 2017 “Sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm tươi
24Chính Phủ (2017), Báo cáo số 37/BC-CP về tình hình thực thi chính sách, pháp luật quản lý an toàn thực phẩm
giai đoạn 2011-2016, ban hành ngày 03 tháng 02 năm 2017
25 Bộ Công Thương (2015), Theo kinh nghiệm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại Thái Lan của (http://www.moit.gov.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/kinh-nghiem-%C4%91am-bao-ve-sinh-an-toan-thuc-pham-cua- thai-lan-106141-401.html)
Trang 40sống an toàn” Mục đích của việc chọn chủ đề khác nhau hàng năm nhằm giải quyết căn bản bức xúc nổi cộm như hạn chế sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; giảm thiểu rõ nét mức tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong rau, quả; tồn dư hóa chất, kháng sinh trong thịt lợn, thịt gà, thủy sản nuôi, tạo niềm tin cho người tiêu dùng thực phẩm nông sản, thủy sản; đồng thời, nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân trong việc sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng rau, thịt an toàn Giảm thiểu ngộ độc thực phẩm Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra bảo đảm an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, sơ chế, chế biến, nhập khẩu, lưu thông, buôn bán thực phẩm, đặc biệt là các chợ đầu mối, cung ứng rau, thịt, nông sản Đặc biệt, Chính phủ còn giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phát động và tổ chức “Năm cao điểm hành động về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp” trong năm 2016, 2017 Bước đầu kiểm soát thực phẩm theo toàn bộ chuỗi sản xuất từ trang trại đến bàn ăn còn gọi là chuỗi thực phẩm
an toàn Liên kết các tổ chức, cá nhân sản xuất, tiêu thụ thực phẩm liên tỉnh thành Củng cố được niềm tin của người tiêu dùng thực phẩm đối với thực phẩm an toàn
Thứ ba, quyền được khiếu nại, tố cáo: Khi phát hiện quyền và lợi ích hợp pháp
của mình bị xâm hại, NTDTP hoặc đại diện hợp pháp của mình đến khiếu nại đến tổ chức, cá nhân chế biến, sản xuất, kinh doanh thực phẩm đã bán hàng hóa hoặc đã cung ứng dịch vụ chịu trách nhiệm về hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật Tổ chức, cá nhân chế biến, sản xuất, kinh doanh thực phẩm khi nhận được khiếu nại của NTDTP phải cấp phiếu tiếp nhận khiếu nại, và tiến hành giải quyết khiếu nại theo quy định Phiếu tiếp nhận khiếu nại có thể được thực hiện dưới hình thức văn bản hoặc thư điện tử và phải thể hiện rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu giải quyết khiếu nại và thời gian giải quyết khiếu nại cụ thể Tổ chức, cá nhân chế biến, sản xuất, kinh doanh thực phẩm
có nghĩa vụ giải quyết khiếu nại của NTDTP trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại Trường hợp đối tượng bị khiếu nại là hàng hóa, dịch vụ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của NTDTP hoặc trường hợp cấp thiết khác thì thời hạn giải quyết khiếu nại của NTDTP là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu