Kế thừa quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên quy định mang tính chất nguyên tắc này và được quy định tại khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN VĂN TOÀN
NGHĨA VỤ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, thông tin
là hoàn toàn trung thực Các tài liệu tham khảo được trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tác giả Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, vi phạm quyền tác giả, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TÁC GIẢ
Nguyễn Văn Toàn
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
Phần mở đầu Trang
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu……… 8
3 Mục đích của việc nghiên cứu……… 8
4 Phương pháp nghiên cứu……… 9
5 Tình hình nghiên cứu đề tài……….10
6 Kết cấu của luận văn……… 11
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 12
1.1 Khái quát chung về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm……….12
1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm………14
1.1.2 Yêu cầu đối với nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm……… 15
1.1.3 Phân loại nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm……… 16
1.1.4 Vai trò của nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm……….20
1.2 Quan hệ pháp luật trong nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm……… 22
Trang 41.2.1 Chủ thể có nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại
Tòa án cấp sơ thẩm……… 22
1.2.2 Đối tượng chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm……….29
1.2.3 Nội dung của nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm……… 31
1.2.4 Quá trình hình thành và phát triển quy định của pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam……… 35
Kết luận chương 1:……… 38
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN……… 40
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm………40
2.1.1 Thực trạng việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của các đương sự 40
2.1.2 Quy định về những tình tiết, sự kiện phải chứng minh 46
2.1.3 Quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh 47
2.1.4 Các hình thức chứng minh 48
2.1.5 Quy định về chứng cứ trong hoạt động chứng minh 49
2.2 Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 57
2.2.1 Tình hình thực hiện quy định về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Gia Lai 57
2.2.2 Đánh giá chung về thực hiện quy định về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 64
Trang 52.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh
trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 66
2.3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 66
2.3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 68
Kết luận chương 2 75
Kết luận 77
Danh mục tài liệu tham khảo 79
Trang 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án không phải là vấn
đề mới của pháp luật tố tụng dân sự Trước Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được ban hành đã từng được quy định tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989
và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 Tuy nhiên, quy định tại các Pháp lệnh này về nghĩa vụ chứng minh mới chỉ mang tính nguyên tắc khi mới chỉ ra những quyền và nghĩa vụ của đương sự khi tham gia giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án, chưa cụ thể hóa thành những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể có nghĩa vụ chứng minh
Đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì nghĩa vụ chứng minh của các đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án đã được nâng lên thành một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Kế thừa quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên quy định mang tính chất nguyên tắc này và được quy định tại khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động, thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Khoản 3 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định: Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định
Quy định nói trên là một bước tiến tiến bộ thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng chế định pháp luật này thành một trong những nguyên tắc cơ bản thể hiện và bảo đảm thực hiện nguyên tắc tự định đoạt của các đương sự rõ nhất trong tố tụng dân sự, là nguyên tắc mang tính đặc thù, khác biệt lớn so với nguyên tắc chứng minh trong tố tụng hình sự Nó được hiểu rằng, đương sự có quyền khởi kiện, có quyền tự định đoạt cho những yêu cầu trong phạm vi khởi kiện của mình thì cũng đồng thời có nghĩa vụ chứng minh cho các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố của mình là có căn cứ, là hợp pháp
Trang 7Nghĩa vụ này chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động cung cấp chứng
cứ của đương sự Nhưng việc cung cấp chứng cứ không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền của các bên đương sự Do vậy, việc hiểu và thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình khi giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án không phải là vấn đề đơn giản mà vụ án nào, đương sự nào cũng làm được, đặc biệt trong điều kiện dân trí của nước ta nói chung còn thấp Điều này đã dẫn đến một thực tế, dù pháp luật tố tụng quy định rất cụ thể nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, nhưng khi giải quyết vụ án dân sự vẫn còn xảy ra tình trạng Tòa án “làm thay” cho đương sự, khi Tòa án tạo ra “cơ chế hợp pháp” là để đương sự yêu cầu và Tòa án thu thập chứng cứ thay cho đương sự
Thực tế trên đã tạo ra một tiền lệ xấu Đối với Tòa án thì thêm việc cho những người có trách nhiệm (Thẩm phán, Thư ký Tòa án) và trong nhiều trường hợp là vi phạm các nguyên tắc tố tụng khi giải quyết vụ án Đối với đương sự thì không tạo ra sự chủ động của họ khi tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án, làm cho đương sự có tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước (Tòa án), coi đó là trách nhiệm của Tòa án Thậm trí nhiều trường hợp còn chống đối, bất hợp tác, gây khó khăn cho cả Tòa án và đương sự đang có tranh chấp với mình nhưng lại không phải chịu hậu quả bất lợi trong nhiều trường hợp cụ thể Xảy
ra tình trạng nói trên trong thực tiễn là do Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn còn thiếu những quy định mang tính chất ràng buộc giữa việc bảo đảm thực quyền của đương sự với trách nhiệm của đương sự khi không thực hiện đúng các nghĩa vụ quy định trong việc thực hiện các quyền đó
Đối với Tòa án, là chủ thể có nghĩa vụ hỗ trợ trong việc thu thập chứng cứ cho đương sự trong các trường hợp luật quy định, nhưng thực tế việc thực hiện quy định này không phải đều được các Tòa án thực hiện tốt Tình trạng hoặc là lạm quyền, hoặc là thờ ơ, thiếu trách nhiệm trong thu thập chứng cứ của một số Tòa án do các Thẩm phán tiến hành vẫn xảy ra trên thực tế Hạn chế của tình trạng này cũng do quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năn 2015 còn thiếu chặt chẽ, thiếu các quy định mang tính chất kiểm soát các hành vi tố tụng của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự
Xuất phát từ thực trạng nói trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm” để làm luận văn tốt
Trang 8nghiệp, với mong muốn góp phần hoàn thiện các vấn đề về lý luận và thực tiễn
đối với chế định quan trọng mang tính nguyên tắc trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận
và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự liên quan đến nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Qua đó nói lên thực trạng áp dụng quy định pháp luật này trong thực tiễn giải quyết vụ án dân sự nói chung và tại một số Tòa án cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng
2.1 Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật,
tác giả không có tham vọng nghiên cứu tổng thể các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề chứng minh trong tố tụng dân sự, mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành liên quan đến nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Trong đó tập trung làm rõ vai trò trung tâm của các đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân
sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
3 Mục đích của việc nghiên cứu
Với đề tài luận văn này, nhiệm vụ nghiên cứu tác giả đặt ra hướng tới mục đích là: Nghiên cứu về cơ sở lý luận quy định của pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Trên cơ sở đó làm rõ bản chất của quy định này, phân tích đánh giá thực trạng áp dụng quy định này trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Chỉ rõ vai trò trung tâm trong thực hiện nghĩa vụ chứng minh khi giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án là của các đương sự Qua phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật sẽ làm sáng tỏ những điểm mới tiến bộ của pháp luật tố dân sự hiện hành, đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập của luật khi áp dụng Từ đó, tác giả mạnh dạn đề xuất hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến quy định này trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự ở Việt Nam
Trang 9Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả còn mong muốn làm phong phú thêm cơ sở lý luận khoa học của quy định này khi đã trở thành nguyên tắc của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Với tinh thần nghiên cứu công phu, toàn diện, hi vọng rằng đề tài sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho những chủ thể quan tâm đến lĩnh vực này, đồng thời góp ý cho các nhà làm luật tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp nghiên cứu mang tính chất biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, luận văn được nghiên cứu bằng các phương pháp chuyên ngành của khoa học pháp lý để giải quyết những vấn đề về lý luận và thực tiễn của quy định pháp luật này Trong đó, chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, so sánh và phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phân tích luật kết hợp với phương pháp tổng hợp để phân tích các khái niệm, đặc điểm về chứng minh, nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự; phân loại và đặc điểm của nghĩa vụ chứng minh, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh và các vấn đề có liên quan nhằm làm rõ nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân
sự là gì, chủ thể nào có nghĩa vụ chứng minh chính, chủ thể nào có nghĩa vụ chứng minh mang tính chất hỗ trợ Phân tích các quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự và thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm để thấy rõ những hạn chế trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương
sự, cũng như hạn chế của quy định pháp luật trong vấn đề này Từ đó, rút ra được khái niệm tổng quát, những nội dung chung nhất mang ý nghĩa bao hàm để người đọc
dễ hiểu và nắm vấn đề
- Phương pháp so sánh dùng để đối chiếu so sánh các quy định về nghĩa vụ chứng minh quy định trong pháp luật tố tụng dân sự qua các thời kỳ để thấy rõ sự phát triển và tiến bộ trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
Trang 10Thông qua các phương pháp được sử dụng, luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm nhằm làm rõ những điểm còn bất cập
để từ đó đề xuất những giải pháp hữu ích nhằm hoàn thiện pháp luật và góp phần nâng cao ý thức, chất lượng hoạt động chứng minh của đương sự trong giải quyết vụ
án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm
5 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự đã được nhiều nhà khoa học và cán bộ làm công tác thực tiễn, công tác giảng dạy tiến hành, công bố trong nhiều bài viết Có một số Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, một
số giáo trình giảng dạy, bài viết trên tạp chí và một số sách chuyên khảo đã nghiên cứu về vấn đề này Quá trình học tập và hoàn thiện luận văn, tác giả đã tiếp cận nghiên cứu một số bài viết, và công trình và nhận thấy rằng:
- “Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử” của Luật gia Tưởng Duy
Lượng – Nguyên Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật năm 2014 Đối với công trình này tác giả đã dành nhiều thời gian nghiên cứu chuyên sâu về một số chuyên đề phổ biến thường gặp trong tố tụng dân
sự, trong đó tập trung viết về thực tiễn áp dụng các quy định này trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự để đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các chuyên đề này, trong đó chuyên đề về chứng cứ và chứng minh
- “Chế định chứng minh trong Tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Thị Minh Hằng- Luận án tiến sĩ Luật học năm 2007 Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự liên quan đến quy định về chứng minh trong tố tụng dân sự Tuy nhiên, với phạm vi nghiên cứu tương đối rộng nên đề tài chưa bao hàm hết nghĩa vụ chứng minh mang tích chất đặc thù của đương
sự gắn với chính tư cách tố tụng của họ
- “Thu thập nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa
án nhân dân cấp sơ thẩm” của tác giả Nguyễn Kim Lượng – Luận văn thạc sĩ năm
2015 Đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân
Trang 11sự liên quan đến quá trình thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm Bên cạnh đó còn phân tích các hạn chế tại các quy định pháp luật này làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án của Tòa
án và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện
Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu thêm các công trình khác như “Nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, TPHCM” của tác giả Trịnh Thị Oanh - Luận văn thạc sĩ năm 2017; “Chứng cứ và chứng minh trong Tố tụng dân sự” của tác giả Hoàng Ngọc Thỉnh - Tạp chí Luật học năm 2004 và nhiều bài viết của các tác giả khác trên Tạp
chí Tòa án nhân dân nhiều năm gần đây…
Có thể khẳng định đây là những công trình khai thác các vấn đề về chứng cứ
và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, nhưng chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, tổng thể gắn với thực tiễn áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Tuy vậy, đây vẫn là những nguồn tài liệu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện việc nghiên cứu đề tài
Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật của mình
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 02 chương:
Chương 1: Lý luận về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm và kiến nghị hoàn thiện
Trang 12CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 1.1 Khái quát chung về nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân
sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa
án cấp sơ thẩm
Để nêu ra được khái niệm nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm là gì, trước hết cần phải hiểu rõ các khái niệm chứng minh, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự, vụ án dân sự, giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm và một số khái niệm có liên quan trực tiếp
Theo Từ điển Tiếng Việt, nghĩa vụ là những việc bắt buộc phải làm đối với xã hội đối với người khác mà pháp luật hay đạo đức quy định Nghĩa vụ trong tố tụng dân sự là những việc buộc phải tuân theo, buộc phải làm dựa trên căn cứ là các quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự.1
Có thể thấy, mỗi một vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự, nên thường rất phức tạp Để giải quyết được vụ việc dân sự thì mọi vấn đề của vụ việc, dù là bên nào trong quan hệ tranh chấp nêu ra cũng đều phải được làm rõ Việc làm rõ, làm sáng tỏ các quan điểm do các bên đưa ra được tiến hành theo một quy trình tố tụng dân sự chặt chẽ do luật quy định Quá trình làm sáng tỏ các quan điểm này được tiến hành trước khi Tòa
án đưa ra quyết định cuối cùng về việc giải quyết vụ việc dân sự đó Quá trình thực hiện các công việc này được gọi là việc chứng minh của các chủ thể do luật quy định,
nhằm đạt mục đích đề ra tùy theo yêu cầu và địa vị tố tụng của các chủ thể
1Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng việt, NXB Đà Nẵng, trang 192
Trang 13Vì vậy, chứng minh có thể được hiểu là hoạt động tố tụng của các chủ thể
tố tụng theo quy định của pháp luật trong việc làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự
Với khái niệm này thì nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự được hiểu là hoạt động của chủ thể tham gia tố tụng phải làm, phải tuân theo quy trình thủ tục do
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định để nhằm làm rõ sự thật của các yêu cầu, bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trong khoa học pháp lý, tố tụng dân sự là trình tự do pháp luật quy định cho việc giải quyết vụ việc dân sự Hoạt động của các chủ thể tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật được gọi là hoạt động tố tụng dân sự Trong hoạt động tố tụng dân sự thì quá trình chứng minh được diễn ra trong suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự Hoạt động chứng minh bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng Khi tham gia tố tụng dân sự với tư cách
tố tụng khác nhau thì các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ đặc trưng, riêng biệt, trong đó có nghĩa vụ chứng minh Có thể hiểu rằng, chứng minh trong tố tụng dân sự
là một quá trình thu thập, cung cấp, sử dụng chứng cứ nhằm làm sáng tỏ cơ sở pháp
lý cũng như cơ sở thực tế các yêu cầu của các bên trong vụ án dân sự
Như vậy, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự được hiểu là trách nhiệm của chủ thể tham gia tố tụng thu thập, cung cấp và sử dụng chứng cứ nhằm chứng tỏ yêu cầu hoặc phản bác một vấn đề trong vụ án dân sự 2
Trong thực tế, không phải ai cũng hiểu vụ án dân sự là gì và giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm là như thế nào Theo tinh thần quy định tại Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động được gọi chung là vụ án dân sự Vậy có thể
2Nguyễn Công Bình (2005), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB TP Hà Nội, trang 132
Trang 14hiểu một cách đơn giản vụ án dân sự là có tranh chấp xảy ra giữa các bên trong mối quan hệ dân sự, dẫn đến việc một trong các bên khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết nhằm đảm bảo quyền lợi, lợi ích hợp pháp của mình
Việc giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành được thực hiện theo nguyên tắc hai cấp xét xử Nguyên tắc xét xử hai cấp trong tố tụng dân
sự là tư tưởng chỉ đạo, có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc giải quyết các vụ án dân sự Nguyên tắc này được quy định
rõ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.3
(Nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm) Trong đó xác định một vụ án dân sự được xét xử lần đầu ở cấp sơ
thẩm (là cấp xét xử thứ nhất) và có thể được xét xử ở lần thứ hai ở cấp xét xử phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị theo quy định nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời
vụ việc dân sự, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Như vậy, việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm là hoạt động của Tòa án sử dụng các quy định của pháp luật thực hiện xét xử lần đầu đối với vụ
án dân sự Trên cơ sở xem xét chứng cứ chứng minh của các bên và tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, Tòa án đưa ra phán quyết bằng quyết định hoặc bản án nhằm quy định quyền và nghĩa vụ các bên, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng kịp thời, đúng luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên chủ thể tham gia tố tụng dân sự
Từ một số khái niệm liên quan đến việc chứng minh, hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự, có thể thấy rằng chứng minh trong tố tụng dân sự là nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự Nghĩa vụ này được tiến hành theo trình tự,
thủ tục luật định, được hiểu rằng: Nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân
sự tại Tòa án cấp sơ thẩm là các quy định về trách nhiệm, hoạt động của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự thực hiện việc thu thập, cung cấp, chứng cứ và chứng minh cho các yêu cầu của mình để Tòa án tiến hành xem xét giải quyết mọi vấn đề cần giải quyết của vụ án, đưa ra phán quyết bằng bản án, quyết định phù hợp, đúng luật
3Xem Điều 17 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Trang 151.1.2 Yêu cầu đối với nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
Yêu cầu đặt ra đối với việc chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa
án cấp sơ thẩm là sự đầy đủ và chính xác trong hoạt động thu thập, cung cấp chứng
cứ và chứng minh
Để đảm bảo nghĩa vụ chứng minh trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa
án cấp sơ thẩm được thực hiện đầy đủ và chính xác thì cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Với yêu cầu về chủ thể của nghĩa vụ chứng minh: Phải có đầy đủ năng lực chủ thể gồm năng lực pháp luật và năng lực điều khiển hành vi khi tham gia vào mối quan hệ dân sự, tham gia giải quyết khi phát sinh tranh chấp dân sự Phải đúng là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh theo quy định của pháp luật thì mới đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh là chính xác và đầy đủ
- Với yêu cầu về đối tượng chứng minh: Mỗi vụ việc dân sự đều có đối tượng chứng minh riêng mà xác định đúng đối tượng chứng minh có tính chất quyết định tới kết quả giải quyết vụ án Vì vậy cần phải xác định đúng đối tượng chứng minh, đó
là các đối tượng phải liên quan đến vụ án dân sự và là đối tượng cần được xác định trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Việc xác định đúng đối tượng chứng minh giúp cho chủ thể có nghĩa vụ chứng minh đi đúng hướng, giảm bớt chi phí và thời gian khi tiến thực hiện nghĩa vụ chứng minh mà vẫn đạt hiệu quả như mong muốn
- Với yêu cầu về phương tiện thực hiện nghĩa vụ chứng minh: Phương tiện để thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự là rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên không phải phương tiện nào cũng được áp dụng khi thực hiện nghĩa vụ chứng minh Phương tiện thực hiện nghĩa vụ chứng minh phải là những công cụ do pháp luật quy định các chủ thể chứng minh được sử dụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ án dân sự Các chủ thể thực hiện nghĩa vụ chứng minh chỉ được sử dụng các phương tiện chứng minh do pháp luật quy định mà không thể sử dụng bất kì phương
Trang 16tiện nào khác để chứng minh Đối với mỗi phương tiện cụ thể cũng chỉ được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ
chứng minh khi đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định Việc yêu cầu về phương tiện thực hiện nghĩa vụ chứng minh như vậy, nhằm đảm báo tính pháp lý cho các hoạt động của chủ thể khi thực hiện nghĩa vụ chứng minh, và đảm bảo cho kết quả của việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh là có giá trị hợp pháp, được
sử dụng để Tòa án xem xét, giải quyết vụ án dân sự Ví dụ: Chứng cứ là phương tiện
chứng minh quan trọng nhất phục vụ cho việc chứng minh Các chứng cứ có thể được thể hiện bằng nhiều dạng khác nhau, nhưng nó chỉ có giá trị là chứng cứ khi đáp ứng đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ và được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do luật quy định…
1.1.3 Phân loại nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa
án cấp sơ thẩm
Việc phân loại nghĩa vụ chứng minh có thể được dựa trên nhiều căn cứ khác nhau Nhưng thông thường nghĩa vụ chứng minh được phân loại dựa trên các căn cứ sau:
Một là, căn cứ vào đặc điểm và tính chất, thì nghĩa vụ chứng minh trong giải
quyết vụ án dân sự được phân loại thành nghĩa vụ chứng minh nội dung và nghĩa vụ chứng minh hình thức
- Nghĩa vụ chứng minh nội dung: hay còn gọi là nghĩa vụ thuyết phục, nghĩa
vụ khẳng định, nghĩa vụ khách quan…Đây là nghĩa vụ ấn định hẳn cho bên có yêu cầu hay cáo buộc và không thể chuyển cho bên kia Chủ thể có nghĩa vụ chứng minh lúc này buộc phải thực hiện các hoạt động chứng minh nếu không thực hiện thì sẽ bị thua kiện Đó là thực hiện các hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ cần thiết nộp cho Tòa án để chứng minh cho các yêu cầu của mình Đồng thời, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh phải sử dụng, viện dẫn các cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, cơ sở pháp lý
để trình bày, phân tích giá trị của các chứng cứ, nhằm thuyết phục Tòa án công nhận các chứng cứ mà mình cung cấp là hợp pháp, có giá trị trong việc xác định những yêu
Trang 17cầu, cáo buộc của mình là hợp lý, là đúng sự thật Nghĩa vụ nội dung là nhằm vào
sự thật vụ án và chỉ ràng buộc với bên đi kiện
- Nghĩa vụ chứng minh hình thức: là một phần của nghĩa vụ chứng minh nội dung, đó là nghĩa vụ xuất trình chứng cứ Đây là nghĩa vụ chung của cả các bên đương sự Khi tham gia tố tụng, các bên đều có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa
án để làm cơ sở cho việc khẳng định hay bác bỏ một vấn đề Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ là nhằm cung cấp công cụ pháp lý để phục vụ cho việc thực hiện nghĩa vụ nội dung và có thể chuyển dịch giữa các bên trong quá trình tố tụng Khi các bên xuất trình chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, thì các bên đã hoàn thành nghĩa vụ cung cấp chứng cứ Quá trình dịch chuyển nghĩa vụ cung cấp chứng cứ được thực hiện cho đến khi một bên không còn khả năng cung cấp được chứng cứ nữa Tòa án sẽ xem xét và quyết định chứng cứ của bên nào sẽ được công nhận và của bên nào là không được công nhận để sử dụng làm căn cứ cho việc ra phán quyết cuối cùng của Tòa án về việc giải quyết vụ án dân sự
Tuy nhiên, đây chỉ là cách phân loại để thấy rõ cấp độ quan trọng của nghĩa vụ chứng minh Trên thực tế, để việc chứng minh có hiệu quả thì không thể tách rời hai hình thức này trong quá trình chứng minh thành các biện pháp độc lập mà chủ thể chứng minh luôn phải sử dụng đồng thời hai hình thức này Do đó, xét về bản chất thì hai hình thức này không thể tách rời nhau
Hai là, căn cứ vào tính chất, thời điểm của các giai đoạn giải quyết vụ án dân
sự thì có thể phân loại nghĩa vụ chứng minh thành: Nghĩa vụ chứng minh trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án, nghĩa vụ chứng minh trong giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử, nghĩa vụ chứng minh tại phiên tòa sơ thẩm
- Nghĩa vụ chứng minh trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự: Trong giai đoạn này, nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể tham gia tố tụng được thể hiện qua việc cung cấp chứng cứ chứng minh cho các yêu cầu của mình trong đơn khởi kiện Các chủ thể căn cứ theo các quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình Tòa án sẽ xem xét nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu
Trang 18chứng cứ kèm theo Nêu thấy đủ điều kiện thì thụ lý, nếu chưa rõ thì yêu cầu đương sự bổ sung đơn khởi kiện theo luật định
- Nghĩa vụ chứng minh trong giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử: Trong giai đoạn này, các bên đương sự được tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tại thời điểm này, các bên vẫn có thể tiếp tục cung cấp chứng cứ, hoặc yêu cầu Tòa tiến hành thu thập chứng cứ trong trường hợp các đương sự không tự mình thu thập được Hoặc Tòa án tự thu thập chứng cứ theo luật định Trong quá trình hòa giải, dưới sự tổ chức và điều hành của Tòa án, các bên đương sự dựa vào những chứng cứ mà mình đã cung cấp để tự thoả thuận với nhau
về các nội dung cần giải quyết của vụ án Nếu các bên tự thỏa thuận được tất cả các nội dung, hòa giải thành thì Tòa án sẽ căn cứ theo đó để ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Khi đó các đương sự sẽ chấm dứt nghĩa vụ chứng minh, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
- Nghĩa vụ chứng minh tại phiên tòa sơ thẩm: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bên thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình bằng việc cung cấp thêm chứng cứ mới để chứng minh cho các yêu cầu của mình Và thông qua hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, các bên đương sự tham gia tố tụng sẽ sử dụng bản giải trình với lập luận, lý luận,
và các cơ sở pháp lý nhằm chứng minh các chứng cứ mà mình cung cấp là hợp pháp
và có giá trị chứng minh cho các yêu cầu của mình Quá trình tranh tụng là quá trình thể hiện rõ nhất việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể tham gia tố tụng Nghĩa vụ này sẽ chấm dứt khi không còn bên nào có thể đưa ra chứng cứ, lập luận,
cơ sở pháp lý để tiếp tục tranh tụng Lúc này Tòa án sẽ xem xét và đưa ra phán quyết dựa trên các căn cứ của luật định, chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, và diễn biến tại phiên tòa
Ba là, căn cứ vào đặc điểm của chủ thể có nghĩa vụ chứng minh, có thể phân
loại nghĩa vụ chứng minh thành:
- Nghĩa vụ chứng minh của đương sự: căn cứ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự, đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh bằng hoạt động thu thập, giao nộp, cung cấp chứng cứ cho Tòa án Đồng thời, sử dụng các cơ sở pháp lý và cơ sở thực
Trang 19tiễn để lập luận, chứng minh cho các chứng cứ mà mình đã cung cấp Việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự thể hiện trong suốt quá trình giải quyết
vụ án Đặc biệt nhất là ở giai đoạn tranh tụng tại phiên tòa, đương sự sẽ tiến hành tranh luận, trình bày, đối đáp với nhau để khẳng định chứng cứ của mình là đúng, là thật, là hợp pháp, phản bác những chứng cứ gây bất lợi cho những yêu cầu của mình
- Nghĩa vụ chứng minh của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự: người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, khi nhận trách nhiệm và nghĩa vụ cho đương sự thì họ tiến hành việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh song song với đương sự Việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của họ là do được đương sự nhờ, nhằm giúp cho đương sự khẳng định các tài liệu chứng cứ mà đương
sự cung cấp là thật, hợp pháp trước Tòa án Trong quá trình những người này thực hiện nghĩa vụ chứng minh thì đương sự có quyền bổ sung hoặc trình bày thêm những
ý kiến khác để phục vụ cho việc chứng minh
- Nghĩa vụ chứng minh của người đại diện: Người đại diện khi thực hiện nghĩa
vụ chứng minh thì thực hiện tất cả nghĩa vụ chứng minh của đương sự mà họ đại diện Việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh kết thúc tùy thuộc vào tính chất của mỗi loại đại diện
- Nghĩa vụ chứng minh của cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước: Những cơ quan, tổ chức, cá nhân này thực hiện nghĩa vụ chứng minh bằng việc thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh và kết quả của việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
- Nghĩa vụ chứng minh của Tòa án: Tòa án thực hiện nghĩa vụ chứng minh bằng hoạt động thu thập và yêu cầu thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ khi đương
sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết Việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của Tòa án chỉ mang tính hỗ trợ đương sự Mục đích chủ yếu của hoạt động này là làm rõ
vụ án, làm cơ sở cho việc đưa ra phán quyết của Tòa án
Trang 201.1.4 Vai trò của nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
Song song với sự phát triển của đất nước về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, khoa học kĩ thuật là sự phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp của các quan hệ xã hội Đặc biệt, trong lĩnh vực dân sự, các mối quan hệ được thiết lập trên cơ sở tự nguyện và sự thỏa thuận nên khi có phát sinh tranh chấp thì thường rất phức tạp Để
có thể giải quyết các tranh chấp này, buộc phải vận dụng rất nhiều các quy định trong nhiều lĩnh vực có liên quan Khi phát sinh tranh chấp, các bên có thể lựa chọn cách cách thức giải quyết bằng con đường thương lượng hòa giải, hoặc thông qua tổ chức trọng tài, hoặc thông qua việc khởi kiện đến Tòa án
Thực tế cho thấy, các đương sự khi có tranh chấp họ thường lựa chọn cho mình con đường giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án Việc giải quyết tranh chấp dân sự sẽ được tiến hành dựa trên cở sở pháp lý là Bộ luật Dân sự (luật nội dung) và
Bộ luật Tố tụng dân sự (luật hình thức) Ngoài ra, tùy theo tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực nào thì Tòa án sẽ áp dụng thêm một số luật có liên quan để làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp
Kết quả giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dân sự phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như các quy định của pháp luật, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, khả năng của các chủ thể tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng Có một thực tế đang diễn ra hiện nay trong giải quyết án dân sự là tình trạng Tòa án còn đang làm thay đương sự quá nhiều việc Vẫn còn không ít đương sự tham gia vào việc giải quyết vụ án còn cho rằng, mọi việc là phải do Tòa án thực hiện, mình chỉ thực hiện quyền khởi kiện và cung cấp một số chứng cứ, tài liệu liên quan là được Nhưng thực chất, để giải quyết vụ án có chất lượng, hiệu quả, nhanh chóng, kịp thời thì việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đóng vai trò hết sức quan trọng, có thể đánh giá là vai trò chủ yếu Giá trị của việc giải quyết các tranh chấp không phải nằm ở nhiều thủ tục tố tụng, mà ở chỗ phát huy được vai trò chủ động, tích cực của đương sự trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc đương sự tự thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp mình là phù hợp với nguyên tắc tự thỏa thuận, tự giao kết
Trang 21trong dân sự Mặt khác, việc đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình
là góp phần nâng cao vai trò, tính chủ động của đương sự trong việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ Khi đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh một cách chính xác đầy
đủ thì Tòa án sẽ có cơ sở vững chắc hơn để đưa ra phán quyết Mặt khác, khi các đương sự không cung cấp đầy đủ các chứng cứ mà mình có, chỉ đến khi vụ án được giải quyết lại ở cấp phúc thẩm hay xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm thì mới cung cấp, vô tình đương sự đã hạn chế quyền và nghĩa vụ chứng minh của chính mình Điều này khiến cho việc giải quyết án dân sự ở cấp sơ thẩm gặp khó khăn, vụ
án bị giải quyết kéo dài gây ra nhiều hệ lụy phức tạp, tốn kém cho cả Nhà nước và chính các đương sự
Từ đó có thể thấy, chứng minh và việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm là hết sức quan trọng, giữ vai trò chủ yếu quyết định đến việc đưa ra phán quyết đúng đắn của Tòa án
Chứng minh là hoạt động tố tụng dân sự cơ bản của các chủ thể tố tụng Kết quả giải quyết các vụ việc dân sự phụ thuộc một phần rất lớn vào kết quả của hoạt động chứng minh Chứng minh trước hết có ý nghĩa xác định, làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, bảo đảm việc giải quyết đúng đắn các vụ việc dân sự Xét
cả dưới gốc độ lý luận và thực tiễn thì chứng minh vẫn là biện pháp duy nhất để xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Đối với các đương sự, chứng minh là vấn đề rất quan trọng để các đương sự làm rõ được cơ sở quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trên cơ sở đó thuyết phục Tòa án rằng các yêu cầu của mình là có thật là hợp
lý và các chứng cứ mình đưa ra để chứng minh cho các yêu cầu này là chính xác, hợp pháp Trước Tòa án, nếu đương sự không chứng minh được sự tồn tại quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ có thể sẽ không được Tòa án bảo vệ.4
Vì vậy, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự là rất quan trọng, nó là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện hoạt động chứng minh Thông qua quy định về nghĩa vụ chứng minh, sẽ xác định được chủ thể tham gia tố tụng nào phải thực hiện việc chứng minh, quy trình thực hiện việc chứng minh là như thế nào, trường hợp nào là nguyên đơn phải chứng
4Nguyễn Công Bình (2005), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB TP Hà Nội, trang 135
Trang 22minh, trường hợp nào là bị đơn phải chứng minh và chủ thể nào đóng vai trò trung tâm trong hoạt động chứng minh, Tòa án, Viện kiểm sát có vai trò gì trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh để giải quyết vụ án Việc thực hiện tốt nghĩa vụ chứng minh góp phần nêu cao quyền con người, quyền công dân, giúp cho các chủ thể tham gia tố tụng dân sự hoạt động tích cực trong việc giải quyết vụ án Thực hiện nghĩa vụ chứng minh hiệu quả là yếu tố quyết định trong việc giải quyết vụ án dân
sự
1.2 Quan hệ pháp luật phát sinh từ nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết
vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
1.2.1 Chủ thể có nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là một yếu tố cấu thành cơ bản của quan hệ pháp luật dân sự Các quan hệ pháp luật dân sự luôn luôn rất đa dạng và phong phú dẫn đến tính đa dạng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự
Để đảm bảo việc giải quyết nhanh chóng, đúng đắn các vụ án dân sự, quyền và lợi ích của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc dân sự thì việc xác định đúng các chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự có ý nghĩa rất quan trọng
Chủ thể của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là các cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự bao gồm: Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và người liên quan
Tùy theo mục đích, vai trò tham gia tố tụng dân sự của các chủ thể này mà pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định Trong hoạt động chứng minh của tố tụng dân sự cũng vậy, các chủ thể sẽ được pháp luật quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể để thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình
Trang 23Chứng minh làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự là vấn đề rất cần thiết cho việc giải quyết một vụ án dân sự Trong việc giải quyết bất kỳ vụ án dân
sự nào cũng cần phải tiến hành hoạt động chứng minh Hoạt động chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án dân sự được tiến hành chủ yếu bằng việc chỉ ra các căn cứ pháp lý, xuất trình, nghiên cứu, và đánh giá các chứng cứ trong phiên tòa dân sự sơ thẩm Vấn đề quan trọng đặt ra là phải xác định được ai có quyền, nghĩa vụ trong việc chỉ ra các căn cứ pháp lý, xuất trình các chứng cứ, nghiên cứu, và đánh giá chúng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Hay nói cách khác, là phải xác định được ai là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự
Chủ thể có nghĩa vụ chứng minh là những người được quy định trong bộ luật
tố tụng dân sự, thực hiện việc thu thập, giao nộp, xuất trình các chứng cứ, đồng thời
sử dụng các cơ sở pháp lý, lý luận thực tiễn nhằm phân tích, đánh giá các chứng cứ
để thuyết phục Tòa án rằng các yêu cầu mà mình đưa ra là có thật, hợp lý, hợp pháp,
là quyền và lợi ích mà mình đáng được hưởng theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, trong tố tụng dân sự, không phải chủ thể nào cũng có nghĩa vụ chứng minh,
mà chỉ một số chủ thể nhất định được quy định trong luật tố tụng dân sự mới có nghĩa vụ chứng minh
Các chủ thể này bao gồm: Các đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, Viện kiểm sát và Tòa án
Trong tố tụng dân sự, thì nghĩa vụ chứng minh trước hết thuộc về đương sự Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (khoản 1 Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) Thông thường, trong mối quan hệ tương quan giữa các đương sự thì kể từ khi nộp đơn khởi kiện và được Tòa án thụ lý, nguyên đơn phải chứng minh trước trừ một
số trường hợp đảo nghĩa vụ chứng minh theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự
Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm (khoản 2 Điều
68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)
Trang 24Khi bị đơn phản đối lại yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn phải có nghĩa
vụ chứng minh Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện, hoặc bị
cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm (khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trường hợp khi giải quyết một vụ án dân sự, nếu người nào đó có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan (khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bao gồm hai loại: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia
tố tụng độc lập, nghĩa là trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của họ độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn và bị đơn nên yêu cầu của họ có thể chống lại cả yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị đơn, lợi ích pháp lý của họ gắn liên với lợi ích pháp lý của
nguyên đơn, bị đơn 5
Pháp luật quy định đương sự có nghĩa vụ chứng minh vì họ là người trong cuộc, thường liên quan trực tiếp đến các yêu cầu cần chứng minh nên họ thường biết
rõ về vụ án dân sự đó, họ sẽ có điều kiện cung cấp các tin tức về vụ việc dân sự và nguồn gốc của các chứng cứ, từ đó Tòa án có thể xác định được những tình tiết, sự kiện của vụ án dân sự Mặt khác đương sự có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án dân
sự đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của đương sự khác nên họ sẽ quan tâm và tìm mọi biện pháp để khẳng định yêu cầu hay sự phản đối yêu cầu của mình Đây là sự
5 Nguyễn Công Bình (2005), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB TP Hà Nội, trang 106
Trang 25khác biện lớn nhất về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự với các chủ thể khác trong tố tụng dân sự
Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây:
- Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ người tiêu dùng
- Đương sự là người lao động trong vụ án lao động không cung cấp, giao nộp được cho tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu chứng cứ đó cho Tòa án
- Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động
Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh như:
- Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Trang 26- Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc
Ngoài đương sự thì đại diện của đương sự, người bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự, các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và Tòa án cũng có nghĩa vụ chứng minh (quy định tại các Điều 68, 75, 76, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)
Đối với chủ thể là người đại diện của đương sự: Trong tố tụng dân sự, để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các đương sự thường tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người khác cũng
có thể tham gia tố tụng thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, gọi là người đại diện của đương sự Việc tham gia tố tụng của người đại diện cho đương sự có tác dụng rất lớn trong việc bảo
vệ quyền và lợi ích, thực hiện nghĩa vụ của đương sự khi đương sự là người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự, mặt khác sự tham gia tố tung của người đại diện cho đương sự còn có những tác dụng nhất định trong việc làm rõ sự thật của vụ
án dân sự Là người thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương
sự thì nghĩa vụ chứng minh của họ được hình thành trên cơ sở nghĩa vụ chứng minh của đương sự
Quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho đương sự trong tố tụng dân sự và trong hoạt động chứng minh được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
“1 Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa
vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện
Trang 272 Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền”
Người đại diện của đương sự bao gồm: Người đại diện theo pháp luật, người đại diện do Tòa án chỉ định và người đại diện theo ủy quyền
Trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh thì người đại diện theo pháp luật, người đại diện do Tòa án chỉ định có nghĩa vụ thực hiện tất cả nghĩa vụ chứng minh của đương sự mà họ đại diện Còn người đại diện theo ủy quyền của đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong phạm vi ủy quyền
Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên cũng phải có nghĩa vụ chứng minh Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể là luật sư hoặc người khác là công dân Việt Nam Quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự và trong hoạt động chứng minh được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
“…2 Thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ
vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này
…5 Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; …”
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng song song cùng với đương sự, có vị trí pháp lý độc lập với đương sự, không bị ràng buộc bởi việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự Trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải đưa ra các chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho các yêu cầu, sự phản đối yêu cầu của đương sự là có cơ sở Nghĩa vụ này xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ tham gia tố tụng của họ chứ không phải là từ nghĩa vụ chứng minh của đương sự
Trang 28Đối với chủ thể có nghĩa vụ chứng minh là các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, tuy không có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự như đương sự nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức này cũng đưa ra yêu cầu và biết rõ sự việc Do đó các cá nhân,
cơ quan, tổ chức này cũng phải có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Ngoài các chủ thể có nghĩa vụ chứng minh được quy định rõ ở trên, thì có hai chủ thể đặc biệt, cũng có thể được xem là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự đó là Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố tụng dân sự (Điều 21, 46 Bộ luật tố tụng dân sự 2015) Viện kiểm sát tham gia quá trình chứng minh thông qua việc thực hiện hoạt động tham gia phiên tòa và thực hiện quyền kháng nghị
Các trường hợp mà Viện kiểm sát tham gia phiên tòa được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Trong quá trình hoạt động tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát không chỉ phát biểu về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử mà còn thực hiện quyền phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát có ý nghĩa hết sức quan trọng, là một trong những căn cứ để Tòa án đưa ra quyết định giải quyết vụ việc Để đảm bảo
là ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát đúng luật, khách quan, hợp lý thì pháp luật tố tụng dân sự quy định thêm một số quyền hỗ trợ cho Viện kiểm sát trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ Đặc biệt là quyền “Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ” trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này và quyền Viện kiểm sát tự mình thu thập tài liệu chứng cứ để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này Thông qua những quyền này, Viện kiểm sát thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho những quan điểm của mình về việc giải quyết
vụ án được nêu trong bài phát biểu, hoặc là để chứng minh cho những nội dung trong bản kháng nghị đối với các bản án, quyết định của Tòa án khi phát hiện có sai phạm nghiêm trọng
Trang 29Đối với Tòa án: để xác định được Tòa án là chủ thể thực hiện nghĩa vụ chứng minh gì, chứng minh như thế nào thì trước hết phải hiểu được vai trò của Tòa
án khi tham gia tố tụng Tòa án với trong tố tụng dân sự luôn đóng vai trò vị trí trung lập, đề ra đối tượng chứng minh, tổ chức, điều hành việc chứng minh của các đương
sự Hoạt động chứng minh của Tòa án chủ yếu dựa trên sự chứng minh của đương
sự Nhiệm vụ của Tòa án chính là trong phạm vi pháp luật cho phép, Tòa án tiến hành các hoạt động nhằm chứng minh tính khách quan trong vụ án, đưa ra phán quyết công bằng với cả hai bên Hay nói cách khác, Tòa án thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho các phán quyết của mình
1.2.2 Đối tượng chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp
sơ thẩm
Trong Tiếng việt, đối tượng nghĩa là “người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ và hành động”6 Khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm phải xác định được tất cả các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ án Do đó, các tình tiết, sự kiện này được gọi là đối tượng chứng minh Cũng có thể hiểu theo một cách khác với nghĩa hẹp hơn thì đối tượng chứng minh là những giả thuyết mà đương
sự tự đặt ra trong đơn khởi kiện hoặc trong yêu cầu phản tố của mình
Như vậy, đối tượng chứng minh là tổng hợp những tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ án dân sự cần được xác định trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
Các quan hệ cần phải giải quyết trong vụ án dân sự là đa dạng, phong phú nên các tình tiết, sự kiện cần phải xác định trong vụ án dân sự cụ thể cũng rất đa dạng Trong mỗi vụ án dân sự cụ thể cần phải xác định được đối tượng chứng minh là gồm những sự kiện, tình tiết nào Để xác định được đối tượng chứng minh của mỗi vụ án dân sự cần phải dựa vào yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự vì khi đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu, đương sự phải chỉ ra những sự kiện, tình tiết mà yêu cầu hay phản đối yêu cầu của họ dựa vào Tuy nhiên, trong thực tế, các đương sự có thể sai lầm trong việc chỉ ra tình tiết, sự kiện mà yêu cầu hay phản đối yêu cầu của họ
6Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng việt, NXB Đà Nẵng, trang 328.
Trang 30dựa vào, có thể chỉ thiếu, hoặc chỉ thừa Vì vậy, để xác định đúng đối tượng chứng minh thì còn cần phải căn cứ vào các quy phạm pháp luật nội dung áp dụng giải quyết vụ án để xác định bởi trong phần giả định của các quy phạm pháp luật này đều có nêu những sự kiện, tình tiết mà quyền và nghĩa vụ của đương sự phụ thuộc vào nó Đó chính là những tình tiết, sự kiện thuộc về đối tượng chứng minh trong vụ
án dân sự
Các tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh của vụ án dân sự rất đa dạng và phong phú ví dụ như sự kiện sinh tử, hành vi giao kết hợp đồng, hành vi gây thiệt hại…Đối tượng chứng minh gồm các tình tiết, sự kiện có tính chất khẳng định
và tình tiết, sự kiện có tính chất phủ định Những tình tiết, sự kiện này cũng phải chứng minh vì nhiều quan hệ pháp luật giữa các đương sự không chỉ gắn liền với hậu quả của các tình tiết, sự kiện xảy ra mà còn với cả sự mất đi hay không tồn tại của nó Thông thường việc chứng minh các tình tiết, sự kiện phủ định được thực hiện bằng cách chứng minh sự kiện có tính chất khẳng định, sự kiện có khả năng loại trừ sự kiện phủ định
Xác định đúng đối tượng chứng minh trong vụ án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, có tính chất quyết định tới kết quả giải quyết vụ án dân sự Việc xác định đối tượng chứng minh cũng là xác định phạm vi những sự kiện, tình tiết của vụ án dân sự cần làm rõ, thông qua đó chứng minh làm rõ nó, để Tòa án quyết định giải quyết vụ
án dân sự được đúng đắn Trên cơ sở xác định đúng đối tượng chứng minh mới xác định được đúng các chứng cứ, tài liệu cần có để giải quyết vụ án dân sự, từ đó yêu cầu các đương sự và những người đang lưu giữ cung cấp cho Tòa án theo quy định của pháp luật
Để chứng minh cho nội dung các yêu cầu của mình trong đơn khởi kiện hay yêu cầu phản tố thì đương sự thường phải chứng minh các nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, Chủ thể đưa ra yêu cầu là chủ thể có quyền theo quy định của pháp
luật
Thứ hai, Chủ thể đi kiện là chủ thể bị thiệt hại hoặc đang có sự kiện phát sinh
tranh chấp về quyền và lợi ích do người khác gây ra
Trang 31Thứ ba, chủ thể bị kiện đã thực hiện hành trái pháp luật, xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể đưa ra yêu cầu trong đơn khởi kiện hoặc phản
tố
Thứ tư, có tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của chủ thể
bị kiện với thiệt hại của chủ thể đưa ra yêu cầu Hay nói cách khác, thiệt hại của đương sự cáo buộc là do hành vi trái pháp luật của bên bị cáo buộc
Từ việc chứng minh các nội dung cụ thể trên, đương sự có cáo buộc thuyết phục Tòa, khẳng định trước Tòa những gì mình cung cấp, những gì mình yêu cầu là xác đáng, đề nghị Tòa án xem xét, xác định sự thật của vụ án, đưa ra phán quyết chính xác để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của đương sự
Bên cạnh những tình tiết sự kiện thuộc đối tượng chứng minh, thì Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định rõ những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh Các tình tiết, sự kiện này tuy không thuộc đối tượng chứng minh nhưng thông qua việc nghiên cứu nắm rõ các tình tiết sự kiện này, việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh sẽ chính xác và triệt để hơn Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của một số tình tiết
sự kiện, Tòa án sử dụng chúng để giải quyết vụ án dân sự mà không cần phải chứng
minh Theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm: Những tình tiết sự kiện mọi người đều biết; những tình tiết sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; những tình tiết sự kiện đã được ghi trong văn bản được công chứng, chứng thực hợp pháp 7
1.2.3 Nội dung của nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
Trong việc giải quyết vụ án dân sự, bộ luật tố tụng dân sự quy định nghĩa vụ chứng minh trước hết là của đương sự Đương sự phải giao nộp, cung cấp chứng cứ
và chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình Giao nộp tài liệu, chứng cứ là quyền nhưng cũng là nghĩa vụ của đương sự Việc giao nộp chứng cứ là một trong những
7Nguyễn Công Bình (2005), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB TP Hà Nội, trang 144
Trang 32nội dung quan trọng của tranh tụng Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự thì đương sự phải giao nộp tài liệu chứng cứ liên quan, nếu tài liệu, chứng cứ
đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Tòa án thực hiện việc yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ
Trường hợp, đương sự không thể thu thập được chứng cứ thì yêu cầu Tòa án thực hiện việc thu thập chứng cứ hoặc khi Tòa án xét thấy cần thiết phải thu thập tài liệu chứng cứ nhằm làm rõ nội dung vụ án, làm cơ sở cho phán quyết của mình Khi đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và những chứng cứ tài liệu mà Tòa án đã thu thập được để giải quyết vụ việc dân sự
Nội dung nghĩa vụ chứng minh của đương sự thể hiện ở hai mặt sau8:
Thứ nhất, là những việc mà đương sự phải làm, đó là phải thực hiện hoạt động
chứng minh Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình gồm hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ làm cơ sở cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình và phán quyết của tòa án trên cơ sở quy định của pháp luật
Đây là nghĩa vụ thuộc về phía đương sự đưa ra yêu cầu Và trong vụ án dân
sự, thường thì nguyên đơn phải là người thực hiện nghĩa vụ chứng minh trước để khẳng định các yêu cầu của mình là có cơ sở, có thật và hợp pháp
Bị đơn chỉ có nghĩa vụ chứng minh khi họ có yêu cầu phản tố, độc lập với yêu cầu của nguyên đơn Nguyên đơn chỉ chứng minh có tranh chấp gì, mình bị xâm hại như thế nào bằng bản trình bày, phân tích, lập luận các chứng cứ, còn thực tế thì việc quyết định đúng sai và xác định trách nhiệm dân sự tương ứng phụ thuộc vào việc xác minh sự thật vụ án của Tòa án
8Phương Dung: Quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự- Một nguyên tắc cơ bản của luật tố
tụng dân sự
http://hvta.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909& item_id=17281783&article_details=1 Truy cập ngày 20/5/2017
Trang 33Để thực hiện nghĩa vụ chứng minh, các bên đương sự phải xuất trình chứng cứ Chứng cứ trong vụ án dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ
án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp
Bên nguyên đơn đương nhiên phải có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ, đồng thời phải lập luận, viện dẫn các cơ sở thực tiễn, logic và pháp lý để chứng minh cho các yêu cầu của mình, hay nói cách khác là nghĩa vụ thuyết phục Tòa án Bên bị đơn cũng phải xuất trình các chứng cứ Khi bên nguyên đơn đã xuất trình đầy đủ các chứng cứ cần thiết để chứng minh cho cáo buộc, cho yêu cầu của mình thì bên bị đơn phải có ý kiến phản biện nhằm chống lại sự cáo buộc của nguyên đơn Để bác bỏ được cáo buộc của bên nguyên đơn, thì bên bị đơn phải xuất trình được chứng cứ bác
bỏ cáo buộc, chứng cứ bảo vệ Nếu bên bị đơn không đưa ra được các chứng cứ cần thiết thì chứng cứ do nguyên đơn đưa ra sẽ được xác thực, và khi đó các yêu cầu của nguyên đơn sẽ được chấp nhận Nếu bị đơn phản bác và xuất trình được các chứng cứ chứng minh cho sự phản bác của mình thì bên nguyên buộc phải tiếp tục xuất trình các chứng cứ khác để phản bác lại và chứng minh cho yêu cầu của mình Quá trình này cứ diễn tiếp như vậy cho đến khi không bên nào còn có thể bác bỏ hay đề xuất gì thêm Lúc này Tòa án sẽ xem xét, tổng kết và ra phán quyết của mình
Thứ hai, khi đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh một cách chính xác và
đầy đủ, thì Tòa án sẽ công nhận quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Nếu đương
sự không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chứng minh của mình các yêu cầu của đương sự
sẽ không được Tòa án công nhận Và khi đó quyền lợi của bên này sẽ là nghĩa vụ tương ứng của bên kia theo phán quyết của Tòa án, đồng thời các bên sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của các bên tham gia tố tụng dân sự diễn
ra trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, từ thụ lý đơn khởi kiện, đến phiên hòa giải và chuẩn bị xét xử, cho đến cuối cùng là tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
Trang 34Mỗi một giai đoạn, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh tùy theo vị trí tố tụng mà mình tham gia thực hiện nghĩa vụ chứng minh khác nhau
Từ những phân tích ở trên có thể thấy, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự vẫn là chủ yếu Bởi đương sự
là người thực hiện hầu hết công việc thu thập và cung cấp chứng cứ Chứng cứ nhiều hay ít sẽ giới hạn việc tranh luận giữa các bên, chứng cứ càng cụ thể, càng xác đáng thì việc tranh luận và trách nhiệm của Tòa án càng đơn giản Đồng thời, đương sự cũng là người tham gia tích cực trong hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ khi thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình Hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng
cứ là những hoạt động diễn ra đan xen nhau trong suốt quá trình giải quyết vụ án Để hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ có chất lượng và hiệu quả thì đỏi hỏi hệ thống chứng cứ phải đầy đủ và người thực hiện việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ phải có khả năng nhìn nhận một cách toàn diện, đặt hệ thống chứng cứ trong mối quan hệ tác động lẫn nhau để có thể rút ra được những điểm cần từ chứng cứ nhằm làm căn cứ giải quyết vụ án Thực tế, trong nhiều vụ án dân sự, các đương sự hoạt động rất tích cực trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình Điều này khiến cho việc giải quyết vụ án đạt hiểu quả cao
Mặt khác, ngoài đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh, thì Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ban hành các quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân,
cơ quan, tổ chức hữu quan có liên quan Đặc biệt là yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu chứng cứ, cung cấ cho đương sự và Tòa án để thực hiện nghĩa vụ chứng minh Cụ thể được quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
“1…Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người có yêu cầu
2 Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu,
Trang 35chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án…”
Với quy định này có thể thấy, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ các tài , chứng cứ liên quan và cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì phải có nghĩa vụ cung cấp cho đương sự trong một thời hạn nhất định khi nhận được yêu cầu của đương sự, nếu không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự biết Trong trường hợp Tòa án có quyết định yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức này cung cấp tài liệu chứng cứ, thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đang quản lý, lưu giữ các tài liệu phải cung cấp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định yêu cầu Hết thời hạn mà không cung cấp đầy đủ thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do chính đáng Nếu lý do không chính đáng thì cơ quan, tổ chức, đang quản lý vẫn phải cung cấp tài liệu, chứng cứ, đồng thời vừa phải chịu trách nhiệm pháp lý tùy theo tính chất và mức độ vi phạm Có thể thấy, việc quy định
rõ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cũng như biện pháp xử lý khi có vi phạm đã buộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức này phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, phối hợp giúp đỡ các đương sự nhằm giúp cho việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự được thực hiện hoàn thiện và chính xác, góp phần giúp cho Tòa án đưa ra phán quyết chính xác trong việc giải quyết vụ án dân sự, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia trong tố tụng dân sự
1.2.4 Quá trình hình thành và phát triển quy định của pháp luật về nghĩa
vụ chứng minh trong tố tụng dân sự của Việt Nam
Trang 36Sự hoàn thiện và phát triển quy định của pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự có thể điểm qua một số giai đoạn chính như sau:
Năm 1945, giải phóng miền Bắc, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á, đánh dấu sự thay đổi lớn trên mọi mặt trong toàn xã hội, đặc biệt là trong việc xây dựng hệ thống pháp luật Thời kì này, Nhà nước ban hành nhiều quy định khác nhau liên quan đến hoạt động
tố tụng dân sự ở nhiều văn bản luật khác nhau như Tại các văn bản luật này, nghĩa
vụ chứng minh được quan tâm và chú trọng thể hiện qua nhiều quy định Như tại Thông tư số 2386 ngày 19/12/1961 của Tòa án nhân dân tối cao Tiếp đến là Thông
tư số 06 ngày 25/2/1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn điều tra trong tố tụng dân sự…
Đến các năm đầu của thời kỳ đổi mới, lần lượt các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động được ban hành Sự ra đời của ba pháp lệnh này quy định về các thủ tục giải quyết các tranh chấp trong dân sự, kinh tế và lao động Nhưng các quy định về nghĩa vụ chứng minh thì chưa nhiều và chưa cụ thể
Năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được ban hành đã đánh dấu bước phát triển của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, khắc phục được tình trạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm khuyết của các quy định trong tố tụng dân sự trước đây đồng thời thể chế hóa được quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng Theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy trình tố tụng dân sự tại các Tòa án có sự thay đổi căn bản theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch Trong đó, đương sự có vai trò quyết định và chủ động trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp của mình trước Tòa án
Tuy nhiên, sau 10 năm thi hành, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 cũng đã bắt đầu bộc lộ các khiếm khuyết đòi hỏi cần phải được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện Mặt khác, nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công
Trang 37dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.9 Và đảm bảo tính đồng bộ thống nhất trong hệ thống pháp luật Đồng thời, yêu cầu phải thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng
về cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW, Kết luận số 92-KL/TW của Bộ Chính trị và văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của minh;10 bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, thực hiện mô hình tố tụng “xét hỏi kết hợp với tranh tụng”, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, thực hiện tốt việc tranh tụng, xem đó là khâu đột phá của hoạt động xét
xử, tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hoàn thiện thủ tục tái thẩm, giám đốc thẩm, xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định, khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải,
trọng tài, Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó Thêm nữa,
nhằm đảm bảo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự có tính khả thi, dân chủ, công khai, công bằng, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, đề cao trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng dân
sự Bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất Bảo đảm các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự không làm cản trở việc thực hiện Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Thì đòi hỏi bộ luật tố tụng dân sự của Việt Nam hiện hành cần phải được xây dựng và ban hành mới, kế thừa những quy định cũ còn phù hợp và xây dựng thêm các quy định mới trên tinh thần của các yêu cầu cụ thể nêu trên
9Xem Điều 102 Hiến pháp năm 2013
10Xem Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị (khóa X) về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Trang 38Vì vậy, năm 2015, Quốc hội chính thức thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự
2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 và một số điều luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 Với Bộ luật Tố dụng dân sự 2015, thì quy định về nghĩa
vụ chứng minh được thể hiện rõ và có sự biến chuyển lớn Các quy định về nghĩa vụ chứng minh đối với các đương sự cụ thể hơn Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền, nghĩa vụ thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ
kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận
về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này Đương sự phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nếu không thực hiện các nghĩa vụ đó thì phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của luật này Chỉ trong các trường hợp xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của đương sự hoặc theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án tiến hành
thu thập tài liệu, chứng cứ Và để bảo đảm mọi chứng cứ đều được công khai Tòa án phải tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cùng
với việc hòa giải Với nội dung các quy định như vậy, các chủ thể tham gia tố tụng có nghĩa vụ chứng minh, đặc biệt là đương sự đã phát huy được hết tính độc lập, trách nhiệm và hiệu quả trong việc tự thu thập, cung cấp chứng cứ, và chứng minh nhằm bảo vệ các yêu cầu của mình trong vụ án dân sự
Kết luận chương 1
Chứng minh vụ án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự cơ bản của các chủ thể trong tố tụng Chứng minh là hoạt động chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nên nó có nội hàm rất rộng Bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể không chỉ thể hiện ở chỗ xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà còn thể hiện ở chỗ phải làm cho mọi người thấy rõ nó là có thật, là đúng với thực tế Nhưng để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của chứng minh các chủ thể chứng
Trang 39minh bao giờ cũng phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp lý và thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự
Chứng minh chính là quyền và đồng thời cũng là nghĩa vụ của một số chủ thể tham gia tố tụng như đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương
sự, Tòa án, Viện kiểm sát Mỗi chủ thể tham gia tố tụng dân sự đều xuất phát từ những nhiệm vụ, mục đích khác nhau nên nghĩa vụ chứng minh có thể khác nhau Tuy nhiên, trong giải quyết vụ án dân sự, nghĩa vụ chứng minh của đương sự đóng vai trò hết sức quan trọng Đối với các đương sự, chứng minh là để giúp các đương
sự làm rõ được cơ sở quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên cơ sở đó thuyết phục Tòa án bảo vệ cho các yêu cầu của mình Tùy từng vụ án dân sự khác nhau, tùy phạm
vi yêu cầu của các đương sự mà xác định đối tượng chứng minh nào thuộc về bản chất của vụ án
Về nguyên tắc thì Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh mà nghĩa vụ chứng minh trước hết thuộc về đương sự vì đương sự là người trong cuộc nên thường biết rõ
vụ việc, có điều kiện cung cấp các tin tức về vụ việc và nguồn gốc của nó Đương sự
có quyền, lợi ích liên quan đến vụ việc dân sự nên họ sẽ quan tâm và tìm mọi biện pháp để khẳng định yêu cầu hay phản đối yêu cầu của mình là có cơ sở Tuy nhiên để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự thì Tòa án vẫn cần xác định xem cần phải chứng minh, làm rõ những tình tiết, sự kiện nào? Các chứng cứ, tài liệu đã được cung cấp vào hồ sơ vụ án đã đủ chưa?
Tóm lại, mọi hoạt động tố tụng đều tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án bằng việc thu thập và đánh giá chứng cứ Có thể nói rằng chế định chứng minh của Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định và cụ thể hoá nguyên tắc cơ bản trách nhiệm cung cấp chứng cứ và chứng minh là thuộc về các đương sự
Trang 402.1.1 Thực trạng việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của các đương sự
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ra đời và có hiệu lực ngày 01/7/2016, đã khắc phục được nhiều hạn chế về chủ thể có nghĩa vụ chứng minh của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004 Tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quy định : “1 Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ
và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây: a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người
sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động; c) Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh