Tổng quan tình hình nghiên cứu Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không là lĩnh vực ngày càng được quan tâm ở từng quốc gia
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÀNH QUỐC TUẤN
TP HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ này, tôi đã nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bành Quốc Tuấn và có tham khảo một số tài liệu liên quan Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví
dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
TÁC GIẢ
Lê Thị Khánh Hòa
Trang 3Unification of Certain Rules for International Carriage by
Convention 1999)
Công ước thống nhất một số quy tắc liên quan đến vận chuyển quốc tế bằng đường hàng không (Công ước Montreal năm 1999)
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm của vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không 7
1.1.1 Khái niệm vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không 7
1.1.2 Đặc điểm vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không 11
1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 15
1.2.1 Khái niệm hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 15
1.2.2 Đặc điểm hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 17
1.2.3 Nội dung hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 19
1.3 Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 24
1.3.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 24
1.3.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 25
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 30
2.1 Nội dung điều chỉnh của văn bản pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không 30 2.1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không theo các văn bản luật hàng không dân dụng quốc tế 30 2.1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không trong các văn bản luật hàng không dân dụng Việt Nam 37
Trang 52.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 58
2.3 Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 66
2.3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 66
2.3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 67 2.3.3 Giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
69
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là
xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương sáng suốt và đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Trong quá trình toàn cầu hóa, mỗi quốc gia đều tự tìm kiếm những chính sách thích hợp nhất, hiệu quả nhất nhằm mở rộng kinh tế đối ngoại, phát triển thế mạnh kinh tế trong nước và tranh thủ mọi thành tựu của văn minh nhân loại để không ngừng tăng trưởng về kinh tế; ổn định về an ninh chính trị; phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập kinh tế quốc tế cũng như tham gia vào các tổ chức và diễn đàn kinh tế khu vực, thế giới
Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, cùng những khối liên kết kinh tế như AFTA, APEC,… Bên cạnh những
cơ hội mang lại cho quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, thì chúng ta cũng phải đương đầu với rất nhiều khó khăn và thách thức trước xu thế của thời đại Trong quá trình đó ngành kinh tế nói chung và hàng không nói riêng đều giữ vai trò quan trọng trong hoạt động giao lưu kinh doanh và vận chuyển quốc tế Ngành hàng không đã
có nhiều đóng góp trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển, tăng thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán; đồng thời mở rộng trao đổi hàng hóa, giao lưu văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam với thế giới Với vai trò đặc biệt quan trọng như vậy, thì những quy định về pháp lý nhằm điều tiết hoạt động này cũng cần được hoàn thiện
để đảm bảo hoạt động của ngành phát triển an toàn và bền vững
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không là một trong những chế định quan trọng, then chốt của luật hàng không dân dụng Việt Nam, của các công ước quốc tế cũng như các hiệp định song phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên Chế định này được quy định tại Mục 3 Chương 6 Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) về vận chuyển hàng không, cụ thể
là vận chuyển hàng hóa; Công ước về hàng không dân dụng quốc tế Chicago năm 1944; Công ước về việc thống nhất một số quy tắc liên quan tới vận chuyển hàng
Trang 7không quốc tế ký tại Vacsava năm 1929; Nghị định thư Montreal số 4 bổ sung Công ước Vacsava năm 1929 ký tại Montreal năm 1975; Công ước thống nhất một số quy tắc về vận chuyển hàng không quốc tế ký tại Montreal ngày 28 tháng 5 năm 1999;
Bộ luật Dân sự và các luật, nghị định, công ước khác có liên quan
Chế tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra với một trong các bên do vi phạm hợp đồng Đây là công cụ pháp lý hết sức cần thiết để đảm bảo quyền lợi của người gửi hàng khi chọn phương thức vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động hàng không dân dụng
Việc ký kết, thực hiện hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng; trách nhiệm bồi thường vật chất do vi phạm hợp đồng đã được nhiều tác giả đề cập đến trong nhiều bài viết
và đưa vào các giáo trình giảng dạy ở một số trường đại học luật; hoặc thông qua các nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ luật học Tuy nhiên, ở nước ta có rất ít các công trình nghiên cứu về loại hình hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
để đưa ra những đề xuất, giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý, điều hòa cũng như giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không” mang ý nghĩa
thiết thực đối với việc vận hành và khai thác vận chuyển thương mại của ngành hàng không Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không là lĩnh vực ngày càng được quan tâm ở từng quốc gia cũng như để đảm bảo quyền lợi của người gửi hàng ở các nước phát triển mạnh về công nghiệp hàng không, nhưng đối với Việt Nam thì còn ít công trình nghiên cứu, chủ yếu tập trung các vấn đề lý luận về ngành hàng không dân dụng cũng như các yếu tố tăng trưởng và mở rộng thị trường hàng không
Trang 8Khi tìm kiếm công cụ google trên internet, nếu dùng từ khóa “trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không” để tìm kiếm tài liệu bằng tiếng Việt, thể hiện 1.280.000 kết quả, tác giả tìm thấy một vài bài viết tổng hợp , chủ yếu viết về trách nhiệm trong bồi thường thiệt hại xảy ra đối với hàng hóa khi vận chuyển bằng đường hàng không nói chung Dùng từ khóa “trách nhiệm của hãng hàng không đối với hàng hóa” để tìm kiếm tài liệu bằng tiếng Việt, tác giả tìm thấy các tài liệu chủ yếu viết về “Điều lệ vận chuyển hàng hóa” của các hãng hàng không Các nội dung này xoay quanh việc hỏi đáp cũng như các bài báo viết về các trường hợp người gửi hàng đòi yêu cầu bồi thường thiệt hại Từ đó cho thấy, các vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà chuyên chở đối với người gửi hàng và các dịch vụ trung gian như chuỗi cung ứng rất được quan tâm
Nếu tìm các đầu sách viết về vấn đề này thì tác giả tìm đọc được cuốn “Trách
nhiệm của người chuyên chở đường biển và đường hàng không quốc tế” (Sách tham
khảo) của tác giả Vũ Sỹ Tuấn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội tại thư viện Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Thực tế, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không chưa phải là chủ đề được giới nghiên cứu quan tâm nhiều, chủ yếu là dựa vào các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, luật quốc gia và phụ thuộc rất nhiều vào “Điều lệ vận chuyển” của một hãng hàng không Nghĩa là, khi bên gửi hàng chấp nhận hãng chuyên chở, người gửi hàng phải tuân thủ các điều lệ vận chuyển của hãng cũng như chấp nhận các chế tài hay chế định bồi thường mà hãng đã quy định tại điều lệ phù hợp với pháp luật quốc gia và các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Vì thế, trên cơ sở nghiên cứu các điều khoản được quy định trong các công ước quốc tế về hàng không dân dụng nói chung, các hiệp định hàng không mà Việt Nam
là thành viên cũng như Luật hàng không dân dụng Việt Nam, luận văn sẽ làm rõ hơn các vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa
bằng đường hàng không
Trang 93 Mục tiêu và nhiệm vụ của việc nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không; chỉ ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh
từ hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, trên cơ sở có liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
Cụ thể, luận văn làm sáng tỏ các trường hợp các bên cần phải chịu trách nhiệm bồi thường, các căn cứ miễn trách nhiệm, mức bồi thường theo quy định của pháp luật khi xảy ra thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Từ đó góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cần thiết cho việc đề xuất các kiến nghị, các giải pháp nhằm hoàn thiện chế định hợp đồng vận chuyển hàng không của Luật hàng không dân dụng Việt Nam nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không và trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng
vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Thứ hai, tìm hiểu thực tiễn công tác vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không ở Việt Nam và thực trạng giải quyết bồi thường thiệt hại của các hãng Hàng không ở Việt Nam trong những năm qua
Thứ ba, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện chế định hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động và uy tín của các hãng hàng không Việt Nam trên trường quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề pháp lý cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong những biện pháp hữu hiệu để
Trang 10đảm bảo thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng không và qua đó thực hiện công tác
quản lý nhà nước về hàng không dân dụng ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu một số vấn đề pháp
lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không Như vậy, trong Luận văn những vấn đề thuộc về khái niệm, thuộc khía cạnh kỹ thuật nghiệp vụ đàm phán, ký kết và thực hiện loại hình hợp đồng này sẽ không được nghiên cứu một cách cụ thể
Tóm lại, đề tài chỉ tập trung vào các khía cạnh pháp lý mà không đi sâu vào các
vấn đề kinh tế, nghiệp vụ
5 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Cơ sở lý thuyết để triển khai nghiên cứu đề tài là (i) Lý thuyết về hợp đồng vận chuyển hàng hóa; (ii) Lý thuyết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại; (iii) Lý thuyết
về doanh nghiệp vận chuyển hàng không; (iv) Lý thuyết về điều lệ vận chuyển hàng không
Khung phân tích của đề tài dựa trên giả thuyết rằng quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không còn có những bất cập, chưa rõ ràng và có chế định pháp luật hoàn chỉnh Đề tài sẽ phân tích thực trạng quy định pháp luật dựa trên các tiêu chí: tính minh bạch, tính thống nhất, tính hợp lý, tính khả thi; từ thực tiễn áp dụng pháp luật và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để chỉ ra những bất cập của quy định pháp luật Trên cơ sở các lý thuyết nghiên cứu, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
đưa ra định hướng hoàn thiện và các đề xuất hoàn thiện pháp luật cụ thể
6 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả kết hợp những phương pháp cụ thể là:
Phương pháp lịch sử: được áp dụng nhằm hệ thống các quy định pháp luật liên quan qua các thời kỳ, đồng thời làm rõ những điểm mới tiến bộ hoặc bất cập của quy định sau so với quy định trước
Trang 11Phương pháp so sánh: được áp dụng nhằm so sánh tìm ra điểm giống và khác nhau giữa các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
Phương pháp phân tích: được áp dụng nhằm làm sáng tỏ các vấn đề khái niệm, đặc điểm, bản chất, vai trò và ý nghĩa của đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, phương pháp này cũng được áp dụng khi phân tích thực trạng cũng như khi đề xuất giải pháp Phương pháp tổng hợp: được áp dụng nhằm đúc kết lại nội dung nghiên cứu, đưa ra quan điểm khái quát, toàn diện và đề xuất giải pháp
Thông qua việc phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, luận văn mong rằng đảm bảo được tính kế thừa, tính toàn diện và tính ứng dụng cao
7 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, kết thúc và hai chương:
Chương 1: Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật
Trang 12Chương 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA
BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm của vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
1.1.1 Khái niệm vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Trong xu hướng phát triển của kinh tế thị trường, vận chuyển nói chung và vận chuyển bằng đường hàng không nói riêng luôn đóng vai trò quan trọng trong di chuyển, trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ Theo đó, vận chuyển hàng không là sự tập hợp các yếu tố kinh tế, kỹ thuật nhằm khai thác việc chuyên chở bằng tàu bay một
cách có hiệu quả Nếu nói theo nghĩa hẹp thì “vận chuyển hàng không là việc vận
chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá, bưu gửi bằng đường hàng không” 1
Vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không được hiểu là việc chuyên chở hàng hóa đi từ một cảng hàng không này đến một hoặc các cảng hàng không khác (một hoặc các địa điểm khác) trong cùng một quốc gia hoặc giữa các quốc gia bằng đường hàng không Thông thường vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không gắn liền với các dịch vụ vận chuyển hàng hóa và có sự ký kết hợp đồng vận chuyển giữa người gửi hàng và người nhận hàng
Thuật ngữ thể hiện việc vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là “air cargo” Phương thức vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là hàng hoá được chuyển bằng máy bay chở hàng chuyên dụng (tiếng anh là “cargo aircraft”, hay
“freighter”), hoặc chở trong phần bụng của máy bay hành khách (passenger plane).2Nghiên cứu kỹ khái niệm vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, có hai khía cạnh:
Thứ nhất, dưới góc độ vận chuyển hàng hoá nội địa thì vận chuyển hàng hoá
bằng đường hàng không là việc chuyên chở hàng hoá đi từ một cảng hàng không này đến một hoặc các cảng hàng không khác (một hoặc các địa điểm khác) trong cùng một quốc gia
1 Khoản 1 Điều 109 Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)
2 Xem thêm: http://air-cargo-how-it-works.blogspot.com/
Trang 13Để vận chuyển hàng hoá nội địa bằng đường hàng không, người vận chuyển và người gửi hàng có thể lựa chọn địa điểm thuận lợi nhất để lập vận đơn hàng không
và giao nhận hàng hoá Người gửi hàng, được sự chấp thuận của người vận chuyển hoặc các đại lý của họ, có thể lập vận đơn hàng không và tiến hành giao nhận hàng hoá vận chuyển bằng đường hàng không tại các kho hàng ở cảng hàng không, tại các kho chi nhánh hoặc các đại lý của người vận chuyển Trong điều kiện hiện nay, khi mạng lưới dịch vụ phát triển đến từng cơ sở sản xuất, nhà xưởng, từng hộ gia đình, người gửi hàng hoàn toàn có thể lập vận đơn hàng không và gửi hàng hoá ngay tại các kho, xưởng, cơ sở sản xuất của mình Người vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, các kho hàng hoá chi nhánh hoặc các đại lý của họ sẽ trực tiếp nhận hàng hóa và chuyên chở theo yêu cầu của người gửi hàng Việc tiếp nhận và thu gom hàng hoá về kho bãi trước khi chất xếp vào container chất lên tàu bay thường được kết hợp thực hiện bằng các phương tiện vận chuyển khác nhau như đường bộ, đường sắt, đường thuỷ,…Cước phí và trách nhiệm của người vận chuyển cũng được tính từ khi người vận chuyển hoặc các đại lý của họ ký vận đơn và tiếp nhận hàng hoá từ tay người gửi hàng
Như vậy, ngay trong vận chuyển nội địa về hàng hoá, ngoài phương thức vận chuyển bằng tàu bay, các phương thức vận chuyển hỗn hợp khác cũng được thực hiện, do đó chúng được điều chỉnh bằng những luật chuyên ngành khác nhau
Thứ hai, vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không xét dưới góc độ quốc tế
là việc chuyên chở hàng hoá đi từ một cảng hàng không (một hoặc các địa điểm) của một quốc gia đến một hoặc các cảng hàng không (một hoặc các địa điểm) của một hay nhiều quốc gia khác
Về nguyên tắc, hàng hoá vận chuyển quốc tế bằng đường hàng không có thể được làm thủ tục giao nhận sau khi lập vận đơn và chấp thuận vận chuyển tại cảng hàng không, tại một địa điểm, tại kho hàng hoá ngoại quan, tại một kho, một xưởng hoặc một cơ sở sản xuất được chỉ định bởi người gửi hàng của một quốc gia trước khi số hàng hoá đó được xếp lên tàu bay để vận chuyển đến các vùng lãnh thổ, các quốc gia khác Hàng hoá được vận chuyển bằng đường hàng không mang tính chất
Trang 14quốc tế trong khi mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia lại có những phong tục tập quán khác nhau, có những quy định và luật lệ khác nhau do chế độ bảo hộ mậu dịch, do tôn giáo, tín ngưỡng, do chế độ chính trị xã hội khác nhau.Vì vậy, hàng hoá phải qua những thủ tục kiểm tra, giám sát, soi chiếu chặt chẽ về xuất nhập khẩu, thuế quan, kiểm dịch
Để phục vụ cho việc xuất nhập khẩu hàng hoá, mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều xây dựng cho mình các kho ngoại quan Những kho ngoại quan và tất cả hàng hoá, phương tiện vận tải ra vào hoặc lưu giữ, bảo quản trong kho ngoại quan đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát và quản lý về mặt nhà nước Hàng hoá được đưa vào kho ngoại quan theo hợp đồng giữa chủ kho và chủ hàng để tạm thời lưu giữ, bảo quản dưới sự kiểm tra, giám sát của hải quan là các mặt hàng tạm nhập tái xuất, hàng hoá làm xong thủ tục chờ xuất khẩu, hàng tái xuất hay xuất khẩu tại chỗ, hàng xuất sang nước thứ ba và hàng chờ nhập khẩu Trong hành trình vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường hàng không, người vận chuyển, người gửi hàng phải rất am hiểu các quy định về thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá tại các quốc gia, các vùng lãnh thổ nơi hàng hoá vận chuyển đi - đến hoặc trung chuyển qua
Trong vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường hàng không, việc vận chuyển nối chuyến giữa các hãng hàng không cũng được thực hiện một cách thường xuyên Theo phương thức này, hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không được người gửi hàng ký với một hãng vận chuyển, nhưng trong quá trình hàng hoá được vận chuyển tới địa điểm đến theo yêu cầu của người gửi hàng, chúng có thể được vận chuyển nối chuyến, nối chặng bởi các hãng hàng không khác nhau của một hay nhiều quốc gia
Nhằm điều chỉnh các mối quan hệ pháp lý phát sinh trong quá trình vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường hàng không, ngoài phong tục, tập quán và luật pháp của các quốc gia, thì các thông lệ quốc tế (thể hiện qua các công ước quốc tế) đóng một vai trò quan trọng Như đã phân tích ở trên, vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường hàng không không đơn thuần chỉ là việc vận chuyển bằng tàu bay từ cảng hàng không của quốc gia này đến một hoặc các cảng hàng không của quốc gia khác mà
Trang 15còn là sự kết hợp nhiều hình thức vận tải khác nhau gọi là vận tải đa phương thức Các tập quán thương mại quốc tế áp dụng cho mọi phương thức vận tải khác nhau được tập hợp trong Incoterms 2010 đã góp phần tích cực điều chỉnh Các tập quán này bao gồm: "Ex Works" - Giao tại xưởng, viết tắt là EXW, "Free Carrier" - Giao cho người chuyên chở, viết tắt là FCA, "Carriage Paid To” - Cước phải trả tới, viết tắt là CPT, "Carriage And Insurance Paid To” - Cước phí và bảo hiểm trả tới, viết tắt
là CIP, “Delivered At Terminal” - Giao tại bến, viết tắt là DAT, “Delivered At Place”
- Giao tại nơi đến, viết tắt là DAP, "Delivered Duty Paid" - Giao hàng đã nộp thuế, viết tắt là DDP,… Ứng với mỗi tập quán thương mại quốc tế áp dụng trong vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là các quyền và nghĩa vụ khác nhau của các bên tham gia hợp đồng mua bán hàng hoá, gửi và vận chuyển hàng hoá Có những nghĩa vụ, chi phí và rủi ro chấm dứt kể từ khi người bán hàng, người gửi hàng giao hàng cho người vận chuyển như tập quán "Giao tại xưởng" (Ex Works); có những nghĩa vụ chi phí và rủi ro của người bán hàng, người gửi hàng, người vận chuyển lại chấm dứt kể từ khi hàng được giao cho người mua hàng, người nhận hàng tại nơi quy định, bao gồm nghĩa vụ của người bán trả các loại thuế đánh vào hàng nhập như thuế giá trị gia tăng trong tập quán "Giao hàng đã nộp thuế" (Delivered Duty Paid)
Đi đôi với việc tuân thủ pháp luật các quốc gia, các tập quán thương mại quốc
tế, khi vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường hàng không, người vận chuyển phải tuân thủ những quy tắc chung, luật chơi chung của cộng đồng hàng không khu vực
và quốc tế Đó là các thoả thuận hoặc các công ước quốc tế về hàng không dân dụng giữa các quốc gia, các điều ước quốc tế về hàng không dân dụng của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (International Civil Aviation Organization ) viết tắt là ICAO, trong đó quan trọng nhất là hệ thống Công ước Vacsava và Montreal thống nhất một
số quy tắc về vận chuyển hàng không quốc tế, các bản quy tắc về vận chuyển động vật sống (Live Animal Regulations), quy tắc chấp nhận vận chuyển (Tact Rules), của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (International Air Transport Association) viết tắt là IATA và của Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận (International Federation
Of Freight Forwarders Association) viết tắt là FIATA
Trang 16Theo báo cáo của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế, hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không chiếm tỉ trọng nhỏ tổng trọng lượng hàng vận chuyển quốc
tế (chưa đến 1%), trong khi đó lại chiếm tới khoảng 35% về mặt giá trị3 Theo hãng chế tạo máy bay Boeing, trong năm 2018, máy bay chở hàng chuyên dụng đã vận chuyển khoảng hơn 60% các lô hàng “air”4 trên toàn cầu, trong khi máy bay hành khách đảm nhiệm 40% còn lại
Vì thế, vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không có vị trí quan trọng trong việc giao lưu kinh tế văn hóa giữa các nước, các quốc gia trên thế giới Vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không đã tạo nên một mắt xích quan trọng để liên kết các phương thức vận tải khác nhau, góp phần phát triển hệ thống vận tải đa phương thức
1.1.2 Đặc điểm vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Mỗi phương thức vận tải đều có những đặc điểm riêng biệt Với phương thức vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, đối tượng vận chuyển và phương thức vận chuyển có những điểm khác biệt rõ ràng so với vận tải bằng đường biển, đường
bộ hoặc phương thức khác Việc vận chuyển hàng hoá bằng tàu bay là nhanh nhất, an toàn nhất, nhưng chi phí cao nhất Vì thế vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, hàng hóa được vận chuyển với tốc độ cao
Máy bay có tốc độ cao nhất trong các phương thức vận tải hiện nay (gấp 27 lần đường biển, 10 lần ô tô và 8 lần so với tàu hỏa) Trung bình máy bay chở hàng hoặc chở khách có tốc độ bình quân vào khoảng 800-1000km/h (chưa kể những tàu bay phản lực siêu âm hiện đại có tốc độ trên 2000km/h), rất cao so với các phương thức phổ biến khác như tàu biển (12-25 hải lý/giờ), tàu hỏa (ở Việt Nam chỉ khoảng 60-80km/h), hoặc ô tô tải (60-80km/h) Với tốc độ vận chuyển cực nhanh này, việc thông thương hàng hóa giữa các châu lục, giữa các vùng, các quốc gia khác nhau và các điểm trên cùng một quốc gia chỉ tính bằng đơn vị giờ, thay vì tính bằng tuần, tháng như các loại hình vận chuyển truyền thống
3 IATA – The Value of Air Cargo (Air Cargo Makes It Happen) Nguồn: https://www.iata.org/whatwedo/ cargo/sustainability/Documents/air-cargo-brochure.pdf
4 Hàng hóa được vận chuyển bằng đường hàng không
Trang 17Lợi thế về tốc độ đã mang đến cho vận chuyển hàng không một thuộc tính ưu việt nổi bật mà các ngành vận tải khác không thế có được là sự tiết kiệm về thời gian Theo số liệu do IATA cung cấp, giả sử tổng số thời gian cần thiết để xử lý hàng hoá của chuyến bay, thời gian xử lý hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu là 100% Khi xem xét tỷ lệ thời gian xử lý hàng hoá của chuyến bay với thời gian xử lý hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu ta mới thấy rõ lợi thế đó5:
- Thời gian xử lý hàng hoá nhập khẩu chiếm 58%
- Thời gian xử lý hàng hoá xuất khẩu chiếm 34%
- Thời gian xử lý hàng hoá chuyến bay chiếm 8%
Lợi thế về tiết kiệm thời gian cũng giúp giảm chi phí lưu kho bãi, bảo quản hàng hoá vốn chiếm một tỷ lệ khá lớn trong chi phí giá thành sản phẩm của các nhà sản xuất và kinh doanh dịch vụ Thời gian là điều kiện, là cơ hội hết sức quan trọng của mỗi doanh nghiệp Sự tiết kiệm về thời gian trong vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không đã đáp ứng được một phần nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hiện đại, của
xu thế kinh tế toàn cầu hiện nay Đồng nghĩa với tốc độ nhanh, tiết kiệm thời gian nhiều là hiệu quả kinh tế
Thứ hai, vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không có tính an toàn cao
Tỉ lệ an toàn trên thực tế khi vận chuyển bằng đường hàng không cao hơn nhiều
so với đường bộ, đường sắt, và đường biển
Các công ước về hàng không dân dụng quốc tế, các khuyến cáo, các quy định của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế, của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế, của Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận và luật hàng không dân dụng của mỗi quốc gia đều có quy định bắt buộc người vận chuyển phải tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với tàu bay, với hành khách, hành lý, hàng hoá, bưu kiện, với tài sản và với người thứ ba Do đó, sự đảm bảo về độ an toàn của vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không khá lớn; khả năng rủi ro, bất lợi đối với khách hàng luôn ở mức thấp nhất
5 https://www.iata.org/publications/Pages/annual-review.aspx
Trang 18Thứ ba, vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không yêu cầu những dịch vụ
ở mức tiêu chuẩn và cước phí vận chuyển cao
Vận tải hàng không luôn cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn hơn các phương thức vận tải khác Dịch vụ phải nhanh chóng, đúng giờ, đảm bảo an toàn cho hàng hóa,
giảm thiểu tổn thất phát sinh
Cước phí của vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là cước phí rất cao, gấp 5-6 lần so với vận tải biển, 3-4 lần so với vận tải ô tô và đường sắt Nguyên nhân dẫn đến giá cước đắt: do giá máy bay cao, chi phí khấu hao lớn, lượng tiêu hao nhiên liệu lớn, trọng tải nhỏ Do có cước phí cao như vậy, nên vận chuyển đường hàng
không thường không thích hợp cho hàng hóa có giá trị thấp
Thứ tư, vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là một ngành dịch vụ kinh
tế - kỹ thuật hiện đại
Đội ngũ làm công tác dịch vụ khai thác thương mại hàng không từ nhân viên phi hành đoàn, người điều hành đến mỗi một nhân viên phục vụ đều phải thông thạo nghiệp vụ và có thái độ phục vụ tận tình, chu đáo, văn minh, lịch sự đối với khách hàng Luật hàng không dân dụng quốc tế, luật hàng không của mỗi quốc gia, đặc biệt
là những quy tắc vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, quy tắc chấp nhận (Tact Rules) của IATA quy định rất cụ thể các trình tự, các bước phải tiến hành của người vận chuyển, người gửi hàng hoặc các đại lý của họ về điều kiện chấp nhận chuyên chở hàng hoá bằng đường hàng không ứng với mỗi loại hàng hoá cụ thể Đó
là các điều kiện về tài liệu, hành trình, các quy định kiểm soát hàng xuất - nhập khẩu
và trung chuyển (transit), đặt chỗ hàng hoá, lô hàng sẵn sàng chuyên chở, đóng gói, nhãn hiệu hàng hoá, kích thước bao bì, tổng trọng lượng, chấp nhận hàng hoá đặc biệt
và tỉ trọng hàng hoá chia theo nhóm Việc quy định một cách cụ thể, tỉ mỉ này càng làm tăng thêm chất lượng phục vụ của ngành vận chuyển hàng không
Thứ năm, việc vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không giúp kết nối việc
trao đổi hàng hóa với hầu hết các quốc gia trên thế giới vì đây là phương thức vận tải không bị cản trở bởi bề mặt địa hình như đường bộ hay đường thủy
Trang 19Tuy nhiên, vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không không phù hợp để chuyên chở hàng cồng kềnh, hoặc hàng có khối lượng lớn Trên thực tế, hai đại lượng dung tích và khối lượng hàng sẽ bị giới hạn bởi kích thước khoang hàng, kích thước cửa, và trọng tải thực chở của máy bay Nếu không thể đưa kiện hàng vào/ra một cách
an toàn thuận tiện, hoặc hàng vượt quá tải trọng cho phép của máy bay, thì phương thức này không áp dụng được Với những lô hàng như vậy, tàu biển thường là giải pháp khả thi
Vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết, kể cả trong những điều kiện thời tiết xấu như sương mù, mưa giông, cũng
dễ gây trì hoãn hoặc hủy chuyến bay, làm ngưng trệ dịch vụ vận chuyển hàng không Vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không cũng có những rủi ro nhất định như những hư hỏng nhỏ, tai nạn va quệt, cướp máy bay Tiêu chuẩn hàng không ngặt nghèo hơn, nên chỉ cần một vài thông số bị trục trặc, là đã ảnh hưởng đến lịch trình bay, thậm chí phải hủy chuyến bay Ví dụ chỉ cần tàu bay gặp trục trặc kỹ thuật, lập tức chiếc tàu đó bay phải quay trở lại nhà chờ, hành khách phải đổi sang đi bằng tàu bay khác Hàng hóa nếu đi chuyến đó cũng phải đổi máy bay theo Rõ ràng, phương thức vận chuyển bằng tàu bay là phương thức hiện đại nhưng cũng thực sự “nhạy cảm” hơn ô tô, tàu thủy ở điểm này6 Ngoài ra, yêu cầu trong vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không cũng ngặt nghèo hơn liên quan đến quy định và luật pháp, nhằm đảm bảo an ninh và an toàn bay Nhiều loại hàng hóa có rủi ro cao (dễ cháy, nổ…) sẽ không được hãng hàng không chấp nhận vận chuyển Quy trình kiểm tra hành khách, hàng hóa bằng máy soi (scanning) rất nghiêm ngặt và tuân thủ các quy định về an ninh và an toàn
Với tất cả những đặc điểm trên, vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không đóng vai trò quan trọng trong vận tải đa phương thức, là hình thức vận tải hiện đại nhất Vì thế, hàng không dân dụng là ngành kinh tế mũi nhọn của mỗi quốc gia, là
6 Xem thêm tại:
https://www.container-transportation.com/van-chuyen-hang-hoa-bang-duong-hang-khong.html
Trang 20hiện thân của những thành tựu khoa học - kỹ thuật - công nghệ mới nhất của nhân loại
1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
1.2.1 Khái niệm hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không là hợp đồng giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển Khoản 1 Điều 128 Luật HKDD Việt Nam năm
2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: “Hợp đồng vận chuyển hàng hóa là sự
thỏa thuận giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển hàng hóa đến địa điểm đến và trả hàng hóa cho người
có quyền nhận; người thuê vận chuyển có nghĩa vụ thanh toán giá dịch vụ vận chuyển Người vận chuyển là tổ chức cung cấp dịch vụ vận chuyển thương mại bằng đường hàng không.”
Trên thực tế, người thuê vận chuyển thường thông qua các đại lý được uỷ quyền hoặc các công ty vận chuyển hàng hóa (agency/forwarder) để thực hiện việc gửi hàng hóa của mình
Khoản 2 Điều 128 Luật HKDD Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm
2014) quy định: “Vận đơn hàng không, các thỏa thuận khác bằng văn bản giữa hai
bên, Điều lệ vận chuyển, bảng giá dịch vụ vận chuyển là tài liệu của hợp đồng vận chuyển hàng hóa.”
Hình thức của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không khá phong phú và đa dạng Chúng có thể được thể hiện dưới dạng vận đơn hàng không (air waybill); biên lai hàng hóa hoặc chứng từ, tài liệu, các giấy tờ khác được người gửi hàng, người vận chuyển và các đại lý của họ chấp nhận; có thể là hợp đồng được soạn thảo bằng văn bản riêng giữa các bên
Sự phong phú, đa dạng về hình thức của loại hợp đồng này đáp ứng các yêu cầu đặc thù của vận chuyển hàng không nói chung, vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không nói riêng Với mỗi hãng hàng không, hiệu quả kinh tế luôn luôn được gắn chặt với việc bảo đảm an toàn trong các khâu, các công đoạn vì vận tải hàng
Trang 21không không chỉ đặc trưng bởi sự nhanh chóng, tiện lợi mà còn cả yếu tố an toàn Vận đơn hàng không, biên lai hàng hoá có thể được người gửi hàng và đại lý của họ xác lập, có thể do người vận chuyển hoặc đại lý của người vận chuyển xác lập theo yêu cầu của người gửi hàng
Theo khoản 1 Điều 11 Công ước Vacsava 1929 quy định: “Vận đơn hàng không
là bằng chứng đầu tiên của việc ký kết hợp đồng, của việc tiếp nhận hàng hoá và của
các điều kiện vận chuyển.”
Điều 11 Công ước Montreal 1999 cũng quy định “Vận đơn hàng không hay
giấy chứng nhận hàng không là bằng chứng hiển nhiên của việc ký kết hợp đồng, việc chấp nhận hàng hoá để chở và những điều kiện chuyên chở liên quan”
Khoản 2 Điều 129 Luật HKDD Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm
2014) quy định: “Vận đơn hàng không là chứng từ vận chuyển hàng hóa bằng đường
hàng không và là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng, việc đã tiếp nhận hàng hóa
và các điều kiện của hợp đồng.”
Ngoài ra, nhằm cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tiện lợi nhất, hoàn hảo nhất, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không được chấp nhận dưới các hình thức hợp đồng khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất, giá trị của từng loại hàng hóa cần vận chuyển Trong trường hợp cần phải vận chuyển một khối lượng lớn hàng hóa theo mùa vụ với thời gian ngắn, người gửi hàng thường thiết lập hợp đồng bằng văn bản riêng với người vận chuyển hoặc các đại lý của họ để giữ chỗ, giữ trọng tải hàng hoá vận chuyển thương mại ổn định theo từng chuyến bay hoặc theo ngày Hiện nay, Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế đang triển khai thực hiện vận đơn hàng không điện tử (Electronic Air Waybills), viết tắt là e-AWB Với vận đơn điện tử hoặc e-AWB, mọi thứ sẽ được kỹ thuật số hóa Nhờ vậy các bên sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí và tránh sai sót, mọi thủ tục sẽ trở nên đơn giản hơn bao giờ hết cho các bên liên quan Và vận đơn hàng không điện tử cũng là một bằng chứng của việc giao kết hợp đồng giữa các bên, khi mà tất cả thông tin đều được công nhận trên cùng một hệ thống của IATA Trong bảng điều lệ vận chuyển của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) có quy định về vận đơn hàng không
Trang 22như sau: “Vận đơn hàng không là chứng từ vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng
không dưới dạng giấy hoặc điện tử và là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng vận chuyển, việc đã tiếp nhận hàng hóa và các điều kiện của hợp đồng vận chuyển Vận đơn hàng không điện tử có giá trị pháp lý tương đương với vận đơn hàng không giấy.” 7
1.2.2 Đặc điểm hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Thứ nhất, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không thường ngắn
gọn, súc tích, đầy đủ thông tin và chính xác Như đã phân tích ở trên, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không chủ yếu thể hiện thông qua không vận đơn Các điều kiện và nội dung trong vận đơn hàng không thể hiện chức năng và là đặc điểm chung của các vận đơn và biên lai hàng hóa dùng cho vận tải hàng hóa bằng đường hàng không
Vận đơn hàng không là bằng chứng hiển nhiên về việc kí kết hợp đồng giữa các bên, chứng từ thể hiện quyền sở hữu đối với hàng hóa, biên lai chứng nhận giao hàng cho người chuyên chở, là bằng chứng cho việc chấp nhận những điều kiện chuyên chở giữa các bên Do vậy, thông thường người gửi hàng dùng vận đơn để khiếu nại người chuyên chở trong trường hợp người chuyên chở không tuân thủ những điều kiện chuyên chở mà hai bên đã thoả thuận Vận đơn hàng không còn là chứng từ kê khai hải quan của hàng hóa Các thông tin trên vận đơn hàng không chính là hướng dẫn cho nhân viên hàng không trong quá trình phục vụ chuyên chở hàng hoá
Bên cạnh đó, trên vận đơn có các ô mục về số kiện để tính cước, trọng lượng để tính cước, mức cước, thuế trả trước, trả sau,…Nếu trên vận đơn ghi tổng số tiền đã trả trước, thì điều này có nghĩa là cước và chi phí đã được thanh toán và vận đơn có giá trị như là một hoá đơn hay biên lai thanh toán cước và chi phí của người chuyên chở cấp cho người gửi hàng
Ngoài ra, vận đơn được dùng để làm giấy chứng nhận bảo hiểm Trên vận đơn
có mục “Số tiền bảo hiểm” Nếu vào thời điểm lập vận đơn có ghi số tiền bảo hiểm thì vận đơn này có giá trị như là một chứng nhận bảo hiểm, người nhận hàng có thể
7 Mục 4.12 Điều lệ vận chuyển hàng hóa của Vietnam Airlines
Trang 23dùng vận đơn này để khiếu nại công ty bảo hiểm để đòi bồi thường tổn thất hàng hoá trong quá trình vận chuyển
Thứ hai, trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, tuyến
đường, đơn giá, cước phí, lịch bay và mức trách nhiệm bồi thường đã được người vận chuyển ấn định và công bố công khai Người gửi hàng và các đại lý của họ được quyền chủ động trong việc gom hàng, lập vận đơn hàng không và gửi hàng
Mỗi hãng hàng không trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại đều xây dựng cho mình một lịch bay (Time Table) ổn định, trong đó các thông tin về lịch bay, hành trình bay, thời gian cất - hạ cánh, loại tàu bay và tải trọng, các văn phòng chi nhánh, các trụ sở đại diện, được các hãng xác định cụ thể và đầy đủ Đơn giá, cước phí và mức trách nhiệm bồi thường phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không cũng được các hãng, các quốc gia xây dựng và điều chỉnh phù hợp với từng thời kỳ Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế, Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế, Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận, các tổ chức hàng không dân dụng khu vực như hội nghị hàng không dân dụng Châu Âu (ECAC), uỷ ban hàng không dân dụng Châu Phi, tổ chức hàng không dân dụng Mỹ La-tinh (LACAC) đã không ngừng hệ thống hoá các văn bản đã được ban hành về đơn giá, cước vận chuyển hàng không của các quốc gia, các khu vực và tiểu khu vực làm cẩm nang cho dịch vụ vận chuyển hàng không nói chung, vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không nói riêng của tất cả các hãng đến các sân bay trên thế giới
Đặc thù của vận chuyển hàng không đòi hỏi người gửi hàng và các đại lý của
họ được trao quyền chủ động trong việc thu gom hàng hoá, lập vận đơn hàng không, biên lai hàng hoá hoặc hợp đồng bằng văn bản và tiến hành gửi hàng hoá Sự chủ động này nhằm bảo đảm tối đa quyền tự do ý chí, tự do lựa chọn thời điểm giao kết hợp đồng thích hợp nhất cho mình và các quyền lợi hợp pháp của khách hàng Lập vận đơn hàng không, biên lai hàng hoá vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của người gửi hàng theo quy định của pháp luật Khoản 1 Điều 6 Công ước Vacsava năm 1929 thống nhất một số quy tắc về vận chuyển hàng không quốc tế (Công ước Vacsava
năm 1929) quy định: "Người gửi hàng phải lập ba bộ vận đơn và giao vận đơn cùng
Trang 24với hàng hoá" Khoản 5 điều luật này còn quy định: "Theo yêu cầu của người gửi hàng, nên người vận chuyển lập vận đơn, thì người vận chuyển được coi là đã thay mặt người gửi hàng làm như vậy, trừ khi chứng minh ngược lại"
1.2.3 Nội dung hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Về chủ thể:
Nếu xét theo góc độ của người gửi hàng, các bên tham gia vào vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không gồm:
- Người gửi hàng là cá nhân, tổ chức (gọi chung là người gửi hàng)
- Người nhận hàng là cá nhân, tổ chức (gọi chung là người nhận hàng)
- Nhà chuyên chở là các hãng hàng không hay còn được gọi là doanh nghiệp vận chuyển hàng không (Airlines8)
- Ngoài ra, còn có các chủ thể là:
1) Đại lý của các hãng hàng không (Agency) và các công ty khai thác máy bay (Air Operator), sử dụng máy bay của mình để vận chuyển hàng hóa & hành khách
2) Các công ty bưu chính (Postal Company) vận chuyển thư tín hàng không, với phong bì tài liệu và các gói bưu phẩm có trọng lượng đến 30 kg Các công ty này thuê dịch vụ vận chuyển của các hãng hàng không Ví dụ: EMS, Viettel
3) Các công ty chuyển phát quốc tế (Courier) vận chuyển các phong bì tài liệu
và các bưu kiện tới 75 kg, và cũng thuê lại dịch vụ chuyển hàng của các hãng hàng không Ví dụ: Kerry Express
4) Các công ty chuyển phát nhanh quốc tế (Integrator), chuyển phong bì và gói hàng đến 75 kg Họ thường dùng máy bay vận tải riêng của mình, và có thể thuê lại một phần dịch vụ của các hãng hàng không Ví dụ: DHL Express, FedEx, TNT Express, UPS
8 Doanh nghiệp vận chuyển hàng không là doanh nghiệp thực hiện việc vận chuyển hành khách, hàng hóa, hành lý, bưu gửi bằng đường hàng không Hiện nay ở Việt Nam có các hãng hàng không thực hiện hoạt động vận chuyển hàng hóa chính: Vietnam Airlines, Jetstar Pacific Airlines, Vietjet Air, Bamboo Airways,…
Trang 255) Các công ty giao nhận hàng không (Air Cargo Forwarder), vận chuyển các gói hàng và các lô hàng đóng ghép trên 75kg, họ thuê lại dịch vụ của các hãng hàng không Ví dụ: Agility, CEVA Logistics, C.H.Robinson, Damco,
DB Schenker
Việc vận chuyển hàng hóa trong chặng đường hàng không giữa các sân bay thực
sự là do các hãng hàng không, hoặc các nhà khai thác máy bay thực hiện Tất nhiên, những công ty chuyển phát nhanh quốc tế có máy bay riêng sẽ tự vận chuyển đa số hàng hóa mà mình làm dịch vụ, phần còn lại mới thuê các hãng hàng không
Thực tế thì các công ty giao nhận hàng không vẫn là những khách hàng “truyền thống” và quan trọng của các hãng hàng không Theo FIATA, các công ty fowarder chiếm tới 80% các lô hàng vận chuyển quốc tế bằng máy bay Họ nhận các lô hàng vận chuyển bằng đường hàng không theo phương thức từ cửa đến cửa (door-to-door) cho khách hàng của mình Còn các hãng hàng không sẽ chuyên trách trong việc chuyển hàng từ sân bay tới sân bay (airport-to-airport).9
Về nội dung:
Nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là toàn
bộ những điều khoản mà hai bên đã thoả thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng trong nền kinh tế thị trường, pháp luật không giới hạn các điều khoản mà các bên ký kết hợp đồng thoả thuận với nhau Nói như vậy không có nghĩa là các bên muốn thoả thuận như thế nào cũng được Các bên tham gia hợp đồng có quyền thoả thuận nhưng những thoả thuận đó không được trái với pháp luật thì mới có hiệu lực và được pháp luật bảo vệ Trong những trường hợp cần thiết, nhà nước vẫn có quyền can thiệp vào nội dung quan hệ hợp đồng Như vậy, nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không không chỉ là những điều khoản do các bên thoả thuận mà còn có thể bao gồm cả những điều khoản các bên không thoả thuận, nhưng theo quy định của pháp luật các bên có nghĩa vụ phải thực hiện Điều đó thể hiện rõ ràng ở các quy định cụ thể của luật hàng không
9 Xem thêm tại: http://air-cargo-how-it-works.blogspot.com/search/label/air%20cargo%20market
Trang 26dân dụng Việt Nam, các công ước quốc tế về hàng không, các quy tắc của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế về quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Do đặc thù của vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, các điều khoản được thoả thuận trong hợp đồng phải cụ thể, rõ ràng để tránh hiểu lầm; từ ngữ dùng trong hợp đồng phải súc tích, ngắn gọn; phải theo mẫu có sẳn (vận đơn hàng không)
và phù hợp với các quy tắc chấp nhận (Tact Rules)
Ví dụ: Mẫu vận đơn hàng không ban hành theo cuốn Quy tắc chấp nhận (Tact Rules) của IATA áp dụng thống nhất cho tất cả các hãng hàng không trên toàn thế giới.10
Căn cứ vào tính chất và vai trò của các điều khoản trong hợp đồng, các điều khoản của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không được chia làm 3 loại: Điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ, điều khoản tuỳ nghi
- Điều khoản chủ yếu:
Điều khoản chủ yếu của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
là những điều khoản căn bản, nhất thiết phải có trong hợp đồng Do đó các bên bắt buộc phải thoả thuận được với nhau về điều khoản này Nếu các bên không thoả thuận được với nhau thì hợp đồng không có giá trị Các điều khoản chủ yếu giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và tồn tại của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không Những điều khoản chủ yếu của loại hình hợp đồng này được quy định tại Điều 9 Công ước Vacsava thống nhất một số quy tắc về vận chuyển hàng không quốc tế Điều khoản chủ yếu bao gồm: Tên, địa chỉ người gửi, số tài khoản; tên, địa chỉ của người chuyên chở phát hành vận đơn hàng không; tên sân bay đi - đến, nhà chuyên chở thứ nhất, nhà chuyên chở thứ hai, hành trình và số hiệu chuyến bay, ngày, giờ bay; tên hàng hoá, trọng lượng, số lượng, kích thước, qui cách đóng gói, tình trạng hàng hoá lúc nhận chuyên chở và các đặc tính khác của hàng hoá; mức cước phí và các chi phí khác; phương thức thanh toán; số vận đơn và ngày phát hành vận đơn;
10 Xem thêm: https://www.iata.org/publications/tact/Pages/index.aspx
Trang 27chữ ký của đại diện bên nhận hàng và bên vận chuyển,… Các nội dung này thường thể hiện toàn bộ ở mặt trước của vận đơn hàng không
Trên thực thế, vận đơn hàng không là một chứng từ được các hãng hàng không
in sẵn theo mẫu tiêu chuẩn của IATA Mặt trước của vận đơn bao gồm các cột mục
để trống, để người gửi hàng hay người thay mặt người gửi hàng điền vào các nội dung
đã trình bày ở trên (gọi là lập vận đơn)
- Điều khoản thường lệ:
Điều khoản thường lệ trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là những điều khoản đã được pháp luật ghi nhận, nếu các bên không ghi vào hợp đồng thì coi như các bên đã mặc nhiên công nhận và có nghĩa vụ thực hiện những quy định đó Hay nói cách khác, các điều khoản thường lệ là những điều khoản mà nội dung của nó đã được quy định trong các văn bản pháp luật (luật hàng không dân dụng quốc tế, luật của mỗi quốc gia) và các thông lệ quốc tế
Những điều khoản này các bên có thể thoả thuận và đưa vào hợp đồng mà cũng
có thể không đưa vào hợp đồng Khi các bên thoả thuận đưa vào hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không thì không được có thoả thuận trái luật, nếu thoả thuận trái luật thì thoả thuận đó không có giá trị Hiện nay, các công ước quốc tế trong lĩnh vực vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không không quy định trên vận đơn hàng không phải có điều khoản quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng vận chuyển, mà quyền và nghĩa vụ của họ được quy định trong nội dung của công ước Bất cứ quốc gia nào tham gia các công ước này đều phải chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật đó Những quy định của pháp luật sẽ trở thành nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không Những điều khoản thường
lệ trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không bao gồm: Cam kết của người gửi hàng; thông báo tổn thất và khiếu nại; giới hạn trách nhiệm; áp dụng biểu cước; thông tin hàng đến; bảo quản hàng hoá trong quá trình vận chuyển,… Những điều khoản này nếu có thể hiện sẽ ở trên mặt sau của vận đơn hàng không
Theo điều 9 Công ước Montreal “Việc không thực hiện các yêu cầu về chứng từ vận
chuyển không ảnh hưởng đến sự tồn tại hay hiệu lực của hợp đồng vận chuyển mà
Trang 28phụ thuộc vào những nguyên tắc của công ước này liên quan đến giới hạn trách nhiệm” Điều này có nghĩa nếu trong quá trình vận chuyển, nếu có thiệt hại xảy ra
đối với hàng hoá thì chứng từ vận chuyển là bằng chứng đầu tiên xác định có sự giao kết hợp đồng chuyên chở của các bên; tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nếu chứng từ này trên thực tế không còn nữa do bị mất mát hư hỏng mà không thể hiện được nội dung của hợp đồng thì cũng không phải là cơ sở để loại trừ trách nhiệm người chuyên chở Họ vẫn phải chịu trách nhiệm dựa trên những cơ sở dữ liệu đã lưu cũng như áp dụng mức giới hạn trách nhiệm mà công ước quy định
Trên thực tế, nội dung của mặt sau không vận đơn thể hiện các nội dung sau đây:
Thông báo liên quan đến trách nhiệm của người chuyên chở: người chuyên chở thông báo số tiền lớn nhất mà họ phải bồi thường trong trường hợp hàng hoá bị tổn thất trong quá trình chuyên chở, tức là thông báo giới hạn trách nhiệm của mình Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở được quy định ở đây là giới hạn được quy định trong các công ước, quy tắc quốc tế hoặc luật quốc gia
về hàng không dân dụng
Các điều kiện hợp đồng: bao gồm nhiều điều khoản khác nhau liên quan đến vận chuyển lô hàng được ghi ở mặt trước Các nội dung đó thường là: 1) Các định nghĩa, như định nghĩa về người chuyên chở, định nghĩa về công ước Vacsava 1929, định nghĩa về vận chuyển, điểm dừng thoả thuận… 2) Thời hạn trách nhiệm chuyên chở của người chuyên chở hàng không; 3) Cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở hàng không; 4) Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở hàng không; 5) Cước phí của hàng hoá chuyên chở; 6) Trọng lượng tính cước của hàng hoá chuyên chở; 7) Thời hạn thông báo tổn thất; 8) Thời hạn khiếu nại người chuyên chở; 9) Luật áp dụng
Những quy định này phải phù hợp với quy định của các công ước quốc tế về hàng không như Công ước Vacsava 1929 và các nghị định thư sửa đổi công ước11như Nghị định thư Hague 1955, Công ước Guadalazala 1961, Hiệp định Montreal
11 Việt Nam là thành viên của công ước Vác-xa-va 1929 và Nghị định thư La-hay 1955 từ ngày 09/01/1983
Trang 291966, Nghị định thư Guatemala 1971, Nghị định thư Montreal 1975 số 1, số 2, số 3,
số 4, Công ước12 Montreal 1999
- Điều khoản tuỳ nghi:
Điều khoản tuỳ nghi trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không là những điều khoản do các bên tự thoả thuận với nhau khi chưa có quy định của nhà nước hoặc đã có quy định nhưng các bên được phép vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh thực tế của mình mà không trái pháp luật
Khi có thoả thuận điều khoản tuỳ nghi trong quá trình giao kết hợp đồng thì các bên phải ghi vào hợp đồng Điều khoản tuỳ nghi xuất phát từ những quy phạm tuỳ nghi Khi một quy phạm pháp luật về hàng không dân dụng quy định các bên có thể thoả thuận về vấn đề này hay vấn đề khác thì các bên có thể thoả thuận hoặc không thoả thuận Nếu như các bên thoả thuận thì thoả thuận đó là nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không và các bên phải có trách nhiệm thực hiện Điều khoản tuỳ nghi trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không có thể là điều khoản thưởng vật chất, điều khoản áp dụng mức phạt cụ thể khi
vi phạm các điều khoản của hợp đồng trong khung hình phạt mà pháp luật đã quy định Trên thực tế, các bên hầu như ít khi thoả thuận các điều khoản tuỳ nghi trong quá trình giao kết các hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không vì tính đặc thù của loại hình hợp đồng này
1.3 Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
1.3.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển
hàng hóa bằng đường hàng không
Trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, khi đại diện của người gửi hàng và người vận chuyển ký vào vận đơn hàng không hoặc biên lai hàng hoá, nghĩa vụ của các bên được xác lập và các bên phải thực hiện nghiêm chỉnh những nghĩa vụ đó Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu các bên thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc không thực hiện nghĩa vụ của mình cũng có nghĩa là các bên đã
12 Việt Nam là thành viên của công ước Montreal 1999 từ ngày 26/11/2018
Trang 30vi phạm pháp luật hợp đồng và đương nhiên họ phải gánh chịu những hậu quả pháp
lý bất lợi mà pháp luật đã dự liệu
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là trách nhiệm bù đắp, đền bù những tổn thất về hàng hoá (hàng hoá bị phá huỷ, mất mát, hư hỏng hoặc vận chuyển chậm trễ) giữa các chủ thể của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không cho bên bị thiệt hại do những chủ thể này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là một trong ba loại hình trách nhiệm cơ bản về chuyên chở hàng không:
- Trách nhiệm về mất mát, hư hỏng hành lý, hàng hoá;
- Trách nhiệm về tính mạng hành khách, tổ bay;
- Trách nhiệm về thiệt hại gây ra cho người thứ ba
1.3.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng
hóa bằng đường hàng không
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không có những đặc điểm giống và khác so với các trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng các loại hình khác
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường hàng không chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho bên đối tác và chỉ áp dụng đối với người có hành vi vi phạm đó
Sau khi hoàn chỉnh các thủ tục chấp nhận vận chuyển và ký vào vận đơn hàng không hoặc biên lai hàng hoá, hãng hàng không sẽ chịu trách nhiệm đối với hàng hoá cho đến khi giao hàng hoá cho người nhận hoặc chuyển giao toàn bộ hàng hoá đó cho hãng hàng không khác vận chuyển tiếp tại sân bay trung chuyển Hiểu theo nghĩa rộng thì hành vi vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật bao gồm bất kỳ hành vi nào vi phạm các quy định của pháp luật gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ít nhất một trong các bên chủ thể hợp đồng Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu trách
Trang 31nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không vi phạm hợp đồng được chú trọng
Biểu hiện của hành vi vi phạm hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là việc các bên thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc không thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không cũng rất đa dạng và phong phú Chúng có thể là sự
vi phạm về nghĩa vụ cung cấp thông tin, nghĩa vụ thanh toán của người gửi hàng; cũng có thể là sự vi phạm nghĩa vụ của người vận chuyển về hành trình và thời gian
mà người gửi hàng yêu cầu; nghĩa vụ của người vận chuyển trong việc bảo quản hàng hoá và thông báo cho người nhận hàng khi hàng đến
Khi một trong các bên tham gia hợp đồng có hành vi vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên đối tác, bên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên đối tác những thiệt hại về hàng hoá, tài sản Trách nhiệm bồi thường phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là một loại trách nhiệm vật chất cụ thể chỉ áp dụng đối với những người có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường hàng không là một biện pháp bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên chủ thể bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng gây thiệt hại về hàng hoá, tài sản trong quá trình thực hiện hợp đồng
Khi thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, người gửi hàng, người nhận hàng và các đại lý của họ có quyền định đoạt hàng hoá của mình trong các chặng hành trình Trong quá trình định đoạt hàng hoá đó, nếu người gửi hàng, người nhận hàng và các đại lý của họ phát hiện thấy có sự thiệt hại về hàng hoá, tài sản của mình do mất mát, hao hụt, đỗ vỡ, hư hỏng bao bì, chậm trễ,… thì những người này có quyền khiếu nại đòi người vận chuyển và các đại lý của họ bồi thường thiệt hại Trên cơ sở các quy định của pháp luật hàng không, thông lệ quốc tế
và pháp luật quốc gia; dựa vào hồ sơ khiếu nại và sự đầy đủ các căn cứ thực tế xác định trách nhiệm bồi thường, người vận chuyển và các đại lý của họ sẽ tiến hành thương thảo và bồi thường thiệt hại về hàng hoá, tài sản cho những người có quyền
Trang 32Pháp luật quy định khi xảy ra sự thiệt hại về hàng hoá vận chuyển bằng đường hàng không do mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hoặc do vận chuyển chậm trễ, bên nhận hàng có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện người vận chuyển ra toà án hoặc trọng tài để yêu cầu bồi thường thiệt hại
Ứng với nghĩa vụ này của người vận chuyển, người vận chuyển có quyền yêu cầu hành khách, người gửi hoặc người nhận hàng bồi thường thiệt hại đã gây ra cho người vận chuyển hoặc thiệt hại mà người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường Thủ tục và mức bồi thường thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự Biện pháp bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên chủ thể bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng gây thiệt hại về hàng hoá, tài sản trong quá trình thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường hàng không được bảo đảm bằng pháp luật: "Các tranh chấp trong hoạt
động hàng không dân dụng có thể được giải quyết bằng thương lượng, hoà giải hoặc đưa ra giải quyết trước trọng tài hoặc khởi kiện trước toà án theo thẩm quyền, thủ tục do pháp luật quy định"
Tuy nhiên, hầu hết những khiếu nại của khách hàng phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không thường do các bên tự dàn xếp, thoả thuận để cùng nhau giải quyết một cách thoả đáng tại các hãng hàng không hoặc đại lý của họ Các vụ khởi kiện có liên quan đến hợp đồng, vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không ra toà án hoặc trọng tài thường là qua thủ tục phức tạp, thời gian kéo dài nên ít được khách hàng lựa chọn
Thứ ba, trách nhiệm bồi thường phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường hàng không có liên quan trực tiếp tới hàng hoá, tài sản
Thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là việc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng này Hàng hoá, tài sản được người vận chuyển hàng không chấp nhận chuyên chở là đối tượng chính của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không Hàng hoá, tài sản được vận chuyển bằng đường hàng không rất phong phú và đa dạng Đồ dùng cá nhân, hàng có giá trị cao, hàng nguy hiểm, động vật sống, hàng dễ hư hỏng, hàng ướt, hàng nặng mùi, hàng quá khổ quá tải, vũ khí đạn dược, vật liệu chiến tranh và các loại hàng hoá khác thậm
Trang 33chí kể cả xác người đều có thể trở thành đối tượng của loại hình hợp đồng này Do
đó, trách nhiệm bồi thường phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là trách nhiệm tài sản
Trừ những trường hợp miễn trách, bên vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không phải bồi thường cho bên bị hại tất cả những thiệt hại về hàng hoá, tài sản do hành vi vi phạm của mình gây ra
Thứ tư, hậu quả bất lợi mà người vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu là việc bắt
buộc phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại đã xảy ra đối với hàng hoá, tài sản nhằm thoả mãn quyền lợi chính đáng và khôi phục hậu quả vật chất cho người bị vi phạm
Bên bị vi phạm trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có trách nhiệm thực hiện hoàn chỉnh tất cả các nghĩa
vụ mà các bên đã thoả thuận trong quá trình giao kết hợp đồng
Hậu quả pháp lý của việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng dẫn đến thiệt hại về hàng hoá, tài sản thể hiện ở trách nhiệm của bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải bồi thường thiệt hại cho bên đối tác Đối với
người vận chuyển, luật hàng không dân dụng quy định: "Người vận chuyển có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do mất mát, thiếu hụt hoặc hư hỏng hàng hoá, hành lý ký gửi trong quá trình vận chuyển bằng tàu bay" và "có trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra do vận chuyển chậm trễ" Đồng thời luật cũng quy định trách nhiệm cho
người gửi hàng: "Người gửi hàng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra
cho người vận chuyển hoặc thiệt hại mà người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường
do việc người gửi hàng kê khai không đúng quy cách, không chính xác hoặc không đầy đủ" Trong thực tế, có trường hợp bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng vừa phải thực
hiện các nghĩa vụ mà các bên đã thoả thuận trong quá trình giao kết hợp đồng vừa phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên đối tác những thiệt hại về hàng hoá, tài sản
Như vậy, vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không là phương thức vận chuyển hàng hóa bằng tàu bay, giúp cho hàng hóa được lưu thông một cách nhanh
Trang 34chóng, an toàn và hiệu quả Để thực hiện được hoạt động vận chuyển này, các bên thường ký kết hợp đồng thông qua các không vận đơn hoặc các văn bản theo thỏa thuận Việc các bên thực hiện hợp đồng thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Trang 35Chương 2:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT 2.1 Nội dung điều chỉnh của văn bản pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
2.1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không theo các văn bản luật hàng không dân dụng quốc tế
Trách nhiệm của người chuyên chở hàng hóa bằng đường hàng không trong Công ước Vacsava năm 1929:
Quy định về thời hạn trách nhiệm:
Theo công ước, người chuyên chở phải chịu trách nhiệm trong quá trình vận chuyển bằng tàu bay Vận chuyển bằng tàu bay bao gồm giai đoạn mà hàng hóa nằm trong sự bảo quản của người chuyên chở hàng không ở trong cảng hàng không, ở trong tàu bay, hoặc ở bất cứ nơi nào nếu tàu bay phải hạ cánh ngoài cảng hàng không.13 Vận chuyển bằng tàu bay không bao gồm vận chuyển bằng đường bộ, đường biển hoặc đường sông tiến hành ngoài cảng hàng không Tuy nhiên, nếu việc vận chuyển bằng các phương thức trên xảy ra trong khi thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng tàu bay nhằm mục đích lấy hàng, giao hoặc chuyển tải; thì nếu có thiệt hại xảy ra, thiệt hại đó được coi là kết quả của sự kiện xảy ra trong quá trình vận chuyển bằng tàu bay Công ước Vacsava năm 1929 quy định như vậy vì người chuyên chở hàng không cũng có thể cung cấp dịch vụ từ cửa tới cửa Khi đã cung cấp dịch
vụ vận chuyển này thì người vận chuyển phải chịu trách nhiệm từ nơi nhận hàng ra cảng hàng không xuất phát và từ cảng hàng không cuối cùng tới nơi giao hàng bằng các phương tiện vận tải khác Vì vậy, công ước mở rộng phạm vi điều chỉnh, hay nói
13 Khoản 2 Điều 18 Công ước Vacsava năm 1929
Trang 36cụ thể hơn là người chuyên chở hàng không phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa trong cả quá trình vận chuyển bằng các phương thức vận tải không phải là bằng đường hàng không
Quy định về cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở hàng không:
Theo công ước, người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về thiệt hại trong trường hợp mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hàng hóa trong quá trình vận chuyển bằng tàu bay.14 Người chuyên chở cũng phải chịu trách nhiệm về thiệt hại xảy ra do chậm trễ trong quá trình vận chuyển hàng hóa bằng tàu bay.15
Tuy nhiên, người chuyên chở không phải chịu trách nhiệm nếu chứng minh được rằng mình và đại lý của mình đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để tránh thiệt hại hoặc đã không thể áp dụng được những biện pháp như vậy Người chuyên chở cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu chứng minh được rằng thiệt hại xảy ra do lỗi trong việc lái tàu bay, trong việc chỉ huy tàu bay hoặc do hoạt động không vận và trong mọi phương diện khác mà phía vận chuyện và đại lý của họ đã
áp dụng mọi biện pháp cần thiết để tránh thiệt hại.16
Quy định về giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở hàng không:
Mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là một khoản tiền mà bên vận chuyển phải bồi thường cho bên gửi hàng trong trường hợp các bên vận chuyển vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, gây thiệt hại về hàng hoá, tài sản
Trong luật hàng không dân dụng quốc tế, mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không không ngừng được hoàn thiện phù hợp với sự phát triển kinh tế và hợp tác giao lưu giữa các quốc gia Mức trách nhiệm này được quy định đầy đủ, cụ thể trong hệ thống công ước Vacsava thống nhất một số quy tắc về vận chuyển hàng không quốc tế Dựa vào tính chất và giá trị của hàng hoá, hệ thống công ước Vacsava đã chia thành hai mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Hàng hoá thông thường và hàng hoá đặc biệt, có giá trị:
14 Khoản 1 Điều 18 Công ước Vacsava năm 1929
15 Điều 19 Công ước Vacsava năm 1929
16 Điều 20 Công ước Vacsava năm 1929
Trang 37- Mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hàng hoá thông thường:
Hàng hoá thông thường là những hàng hoá được chấp nhận và làm các thủ tục
ký hợp đồng vận chuyển bằng đường hàng không theo trình tự bình thường Khoản 2 Điều 22 Công ước Vacsava 1929 quy định trách nhiệm của người chuyên chở được giới hạn là 250 Franc vàng/kg17 trừ khi người gửi hàng công bố giá trị vào lúc giao hàng cho người chuyên chở và trả một khoản tiền bổ sung nếu người chuyên chở yêu cầu Trong trường hợp trị giá hàng hóa đã được kê khai trên vận đơn thì giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở là trị giá kê khai trên vận đơn Nếu có thiệt hại xảy ra, người chuyên chở phải chịu trách nhiệm trả một khoản tiền không vượt quá giá trị đã công bố, trừ khi người chuyên chở chứng minh được rằng khoản tiền bồi thường đó lớn hơn giá trị thực tế của hàng hóa đã
kê khai Nếu trị giá hàng hóa mà người gửi hàng kê khai trên vận đơn lớn hơn giá trị thực tế của hàng hóa lúc giao hàng, thì người chuyên chở chỉ phải bồi thường tới giá trị của hàng hóa lúc giao hàng nếu họ chứng minh được như vậy
Các văn bản pháp luật về hàng không dân dụng cũng lưu ý rằng đây là mức giới hạn trách nhiệm bồi thường tối đa đối với hàng hoá thông thường Trong quá trình
áp dụng, người vận chuyển cần căn cứ vào tính chất, giá trị và chủng loại hàng hoá của từng vụ khiếu nại cụ thể để xác định mức bồi thường phù hợp
- Mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hàng hoá đặc biệt, có giá trị:
Khoản 2 Điều 22 Công ước Vacsava 1929 và khoản 3 Điều 22 Công ước Montreal 1999 thống nhất một số quy tắc về vận chuyển hàng không quốc tế quy
định: "Khi người gửi hàng có khai báo đặc biệt về lợi ích đối với hàng gửi đi và
đã trả một khoản chi phí vào thời điểm giao hàng cho người vận chuyển, bên vận chuyển có trách nhiệm trả một số tiền không vượt quá tổng số tiền đã khai báo,
17 Đồng Franc Pháp có hàm lượng vàng là 65.5mg vàng, độ tinh khiết 900/1000 Khoản tiền này có thể đổi ra bất kỳ đồng tiền quốc gia nào theo số tròn 250 francs tương đương 15.89 bảng Anh
“The ‘gold franc’ referred to is a ‘diplomatic’ unit of currency, not an actual coin in commercial use, weighing 10/31 of a gramme and being of millesimal finess 900 The Carriage by Air (Sterling Equivalents) Order 1996, (S.I.1996, No.224), came into force in February 1996, and introduced the Sterling equivalents for expressing the limitation figures contained in the First Schedule (containing the Warsaw Convention 1929, and the amended Warsaw Convention 1975; 250 francs are £15.89, 5,000 francs £317.71, 125,000 francs £7942.79, and 250,000 francs £15,885.58”
“Principles of Law Relating to International Trade” – Nicholas Kouladis
Trang 38trừ khi người vận chuyển chứng minh được rằng tổng số tiền đó vượt quá lợi ích thực sự của người gửi hàng đối với hàng gửi đi"
Hàng hoá đặc biệt trong vận chuyển hàng không là thuật ngữ dùng chung cho các loại hàng có những hạn chế về bản chất hàng hoá, giá trị, kích thước và trọng lượng Do vậy đòi hỏi phải có kiến thức đặc biệt khi chấp nhận vận chuyển hàng, lưu giữ hàng trong kho, vận chuyển và thu gom hàng Để xác định xem lô hàng
có phải là hàng có giá trị hay không, người vận chuyển cần chia giá trị kê khai được ghi trên hoá đơn của người gửi theo tổng trọng lượng của lô hàng Nếu giá trị kê khai được tính bằng đồng tiền địa phương thì bắt buộc phải quy đổi ra đồng Đô-la Mỹ (hoặc Bảng Anh) theo tỷ giá ngân hàng
Trong trường hợp người chuyên chở cố ý gây tổn thất cho hàng hóa thì họ không được hưởng giới hạn trách nhiệm nói trên Người chuyên chở không được vận dụng những quy định của Công ước này mà loại bỏ hoặc hạn chế trách nhiệm của mình Nếu thiệt hại gây ra do lỗi cố ý hoặc do sơ suất của người chuyên chở mà theo luật tòa án thụ lý vụ kiện này sơ suất đó được coi như tương đương với lỗi
cố ý, thì người chuyên chở vẫn phải chịu trách nhiệm Tương tự như vậy, đối với đại lý của người chuyên chở cũng không loại trừ trách nhiệm do lỗi cố ý
Quy định về thời hạn khiếu nại và khởi kiện:
Người vận chuyển phải giao hàng theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng với
người gửi hàng cho người có trách nhiệm nhận hàng “Việc giao hàng đã hoàn thành
mà không có khiếu nại gì sẽ là bằng chứng rõ ràng rằng hàng hóa đã được giao trong điều kiện tốt và phù hợp với chứng từ vận chuyển” 18
Trong trường hợp thiệt hại, người được quyền nhận hàng phải khiếu nại với người vận chuyển ngay sau khi đã phát hiện ra thiệt hại và muộn nhất trong vòng bảy ngày kể từ ngày nhận đối với hàng hóa Trong trường hợp chậm trễ, thời hạn khiếu nại là trong vòng mười bốn ngày kể từ ngày mà hàng hóa lẽ ra phải được đặt dưới sự định đoạt của người nhận
18 Khoản 1 Điều 26 Công ước Vacsava năm 1929
Trang 39Đơn khiếu nại phải được lập thành văn bản đúng với chứng từ vận chuyển hoặc
là thông báo riêng bằng văn bản gửi trong thời hạn nói trên “Nếu không khiếu nại
vào những thời gian nêu trên, thì không khởi kiện nào đối với người vận chuyển được coi là hợp pháp, trừ trường hợp người vận chuyển gian lận.” 19
Thời hiệu khởi kiện trong trường hợp thiệt hại, chậm trễ đối với hàng hóa là hai năm kể từ ngày tàu bay đến điểm đến hoặc từ ngày mà lẽ ra tàu bay phải đến hoặc kể
từ ngày việc vận chuyển chấm dứt Phương pháp tính thời gian giới hạn được xác định theo luật tòa án nơi thụ lý vụ kiện.20
Trách nhiệm của người chuyên chở hàng hóa bằng đường hàng không trong các văn bản sửa đổi, bổ sung của công ước Vacsava năm 1929:
Một số quy định của Công ước Vacsava năm 1929 không còn phù hợp nữa, vì vậy, hàng loạt các công ước, quy tắc, hiệp định, nghị định thư ra đời sau đó nhằm sửa đổi, bổ sung công ước, như Nghị định thư Hague 1955, Công ước Guadalajara 1961, Hiệp định Montreal 1966, Nghị định thư Guatemala 1971 và 4 nghị định thư Montreal năm 1975 Những thay đổi chính liên quan đến hàng hóa là các điều khoản quy định
về trách nhiệm, miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở
- Những bổ sung, sửa đổi của Nghị định thư Hague 1955:
Theo Nghị định thư Hague 1955, người chuyên chở không được miễn trách đối với những tổn thất về hàng hóa do lỗi trong việc dẫn đường bay, chỉ huy và điều hành bay Nhưng Nghị định thư Hague 1955 lại miễn cho người chuyên chở trách nhiệm khi mất mát, hư hại hàng hóa do hậu quả phẩm chất của hàng hóa chuyên chở.21
Về thời hạn khiếu nại, Nghị định thư Hauge 1955 quy định: ‘Trường hợp chậm
trễ, khiếu nại phải được thực hiện chậm nhất trong vòng hai ngày kể từ ngày mà hàng hóa lẽ ra đã được đặt dưới quyền định đoạt của người nhận” 22
- Những sửa đổi, bổ sung của Công ước Guadalajara 1961:
19 Khoản 4 Điều 26 Công ước Vacsava năm 1929
20 Điều 29 Công ước Vacsava năm 1929
21 Điều 12 Nghị định thư Hauge năm 1955
22 Điều 15 Nghị định thư Hauge năm 1955
Trang 40Công ước Guadalajara năm 1961 đã đề cập đến trách nhiệm của người chuyên chở theo hợp đồng và người chuyên chở thực tế mà công ước Vacsava chưa đề cập tới
Theo công ước Guadalajara, người chuyên chở theo hợp đồng là người ký một hợp đồng vận chuyển được điều chỉnh bằng công ước Vacsava 1929 với người gửi hàng hay với người thay mặt người gửi hàng23 Người chuyên chở thực tế là một người khác, không phải là người chuyên chở theo hợp đồng, là người thực hiện toàn
bộ hay một phần hợp đồng vận chuyển.24
Công ước Guadalajara quy định rằng, cả người chuyên chở thực tế và người chuyên chở theo theo hợp đồng đều phải chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng Trong trường hợp vận chuyển kế tiếp, thì người chuyên chở theo hợp đồng có trách nhiệm đối với toàn bộ quá trình vận chuyển, người chuyên chở thực tế chỉ có trách nhiệm đối với phần thực hiện của mình
Khi khiếu nại, người nhận hàng có thể lựa chọn khiếu nại người chuyên chở thực
tế hoặc khiếu nại người chuyên chở theo hợp đồng
- Những bổ sung, sửa đổi của Nghị định thư Guatemala 1971:
Nghị định thư Guatemala 1971 đã quy định chi tiết hơn cách tính trọng lượng hàng hóa để xem xét bồi thường Theo nghị định thư Guatemala, trong trường hợp hàng hóa bị mất mát hư hại hoặc giao chậm một phần, thì trọng lượng được xem xét
để xác định số tiền mà người chuyên chở phải chịu trách nhiệm bồi thường là trọng lượng của một hay nhiều kiện bị tổn thất Nhưng nếu phần hàng hóa bị mất mát hư hại hay giao chậm lại ảnh hưởng tới giá trị của các kiện khác ghi trong cùng một vận đơn hàng không, thì toàn bộ trọng lượng của một kiện hay nhiều kiện khác ấy cũng được xem xét và giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở.25 Điều này không được quy định trong công ước Vacsava cũng như nghị định thư và công ước trước nghị định thư Guatemala
23 Khoản b Điều 1 Công ước Guadalajara năm 1961
24 Khoản c Điều 1 Công ước Guadalajara năm 1961
25 Điểm b Khoản 2 Điều 8 Nghị định thư Guatemala năm 1971