1. Trang chủ
  2. » Vật lý

Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị phòng cháy chữa cháy trên địa bàn Hà Nội

16 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 189,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương I, luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại. Trước hết, luận văn nghi[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Hoạt động kinh doanh thiết bị phòng cháy chữa cháy là một lĩnh vực kinh doanh mang tính đặc thù “Kinh doanh có điều kiện” Sản phẩm cung cấp có yêu cầu

kỹ thuật cao, trách nhiệm đối với sản phẩm lâu dài, tính chất công nghệ gắn với các sản phẩm cụ thể theo gói thầu thiết bị Các thiết bị PCCC chủ yếu là nhập khẩu từ nước ngoài, thời gian thực hiện hợp đồng dài Trong điều kiện nền kinh tế thế giới

có nhiều biến động, tỷ giá ngoại tệ không ổn định Do vậy, công tác kế toán tại các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị phòng cháy chữa cháy cần được quan tâm để xác định chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh chính xác, cung cấp thông tin cho các nhà quản lý quản trị doanh nghiệp tốt hơn

Việc kế toán chi phí và doanh thu trong các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị PCCC do còn nhiều bất cập dẫn đến kết quả kinh doanh chưa chính xác, ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán Vì vậy hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị PCCC trên địa bàn

Hà Nội là điều hết sức cần thiết Bố cục của luận văn gồm 3 chương:

- Chương I: Lý luận chung về kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh

doanh trong các doanh nghiệp thương mại

- Chương II: Thực trạng kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại

các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị phòng cháy chữa cháy trên địa bàn Hà Nội

- Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí, doanh

thu và kết quả kinh doanh tại các đơn vị kinh doanh thiết bị phòng cháy chữa cháy trên địa bàn Hà Nội Nội dung cụ thể từng chương như sau:

Chương I, luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về kế toán chi

phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại Trước hết, luận văn nghiên cứu đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại và ảnh hưởng

Trang 2

của nó đến công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh Tiếp đến, luận văn tìm hiểu về bản chất, nội dung kinh tế của chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại

Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau như định nghĩa theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01; định nghĩa chi

phí trong kế toán tài chính; định nghĩa chi phí trong kế toán quản trị

Trong các doanh nghiệp thương mại chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường gồm: Giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền

Bản chất của doanh thu trong doanh nghiệp thuơng mại

Về doanh thu, khái niệm doanh thu được cả chuẩn mực kế toán Việt Nam số

14 (VAS 14) và chuẩn mực kế toán quốc tế số 18 (IAS 18) thống nhất định nghĩa:

"Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản vốn góp của cổ đông hoặc chủ sở hữu"

Đối với doanh nghiệp thương mại, doanh thu là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lao vụ mà doanh nghiệp đã bán, đã cung cấp cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu, phí thu thêm bên ngoài giá bán (nếu có)

Bản chất kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại

Bản chất của kết quả kinh doanh chính là kết quả lãi hoặc lỗ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền

- Ghi nhận doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp

Trang 3

thương mại

Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau:

doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lí hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; doanh nghiệp sẽ thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng

Theo VAS 01 đều đưa ra các nguyên tắc ghi nhận chi phí hoạt động kinh doanh như sau:

Thứ nhất: Chi phí hoạt động kinh doanh và chi phí khác được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi các chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả

và chi phí này phải được xác định một cách đáng tin cậy

Thứ hai: Các chi phí được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí

Thứ ba: Khi lợi ích kinh tế dự kiến thu được trong nhiều kỳ kế toán có liên quan đến doanh thu và thu nhập khác được xác định một cách gián tiếp thì các chi phí liên quan được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ

sở phân bổ theo hệ thống hoặc tỷ lệ

Thứ tư: Một khoản chi phí được ghi nhận ngay vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ khi chi phí đó không đem lại lợi ích kinh tế trong các kỳ sau

Ghi nhận kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại

Theo cách thức phản ánh của kế toán tài chính, kết quả kinh doanh thương mại phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và kết quả hoạt động khác Nội dung

Trang 4

và cách xác định kết quả hoạt động kinh doanh được xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể sau:

- Kết quả hoạt động kinh doanh là số chênh lệch giữa tổng doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ thuần cộng doanh thu của hoạt động tài chính với giá vốn hàng hoá, chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: KQHĐSX,KD = Doanh thu bán hàng thuần + Doanh thu hoạt động tài chính)

- (Giá vốn hàng bán + chi phí tài chính + CPBH + CPQLDN)

- Kết quả hoạt động khác là số chênh lệch giữa các khoản thu khác và các khoản chi khác

- Kết quả hoạt động kỳ báo cáo (lãi hoặc lỗ trước thuế) = KQHĐSX,KD + KQHĐ khác

Kết quả hoạt động có thể xác định theo loại hoạt động chức năng, theo ngành hàng hoặc tính tổng quát; kỳ báo cáo có thể là tháng, quý, 6 tháng hoặc năm tuỳ thuộc yêu cầu quản lý và chế độ kế toán hiện hành áp dụng tại doanh nghiệp

Sau khi đã nắm được bản chất cũng như nội dung kinh tế của chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh, luận văn nghiên cứu kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại dưới góc độ kế toán tài chính

Kế toán chi phí

Trong các doanh nghiệp thương mại kế toán chi phí là công tác kế toán giá vốn hàng bán, kế toán chi phí bán hàng, kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp và kế toán các khoản chi phí khác

Kế toán giá vốn hàng bán

Tài khoản sử dụng: Để hạch toán giá vốn hàng bán, kế toán sử dụng tài khoản

632 “Giá vốn hàng bán” để phản ánh các nghiệp vụ phát sinh và các tài khoản liên quan khác như tài khoản 156 “Hàng hoá”, tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”, tài khoản 632 dùng để phản ánh trị giá vốn hàng bán của hàng hoá tiêu thụ, bất động sản đầu tư trong kỳ

Trang 5

Kế toán chi phí tài chính

Chi phí hoạt động tài chính là những khoản chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động đầu tư tài chính, chi phí đi vay và cho vay vốn, chi phí góp vốn liên doanh, liên kết, lỗ chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn, chi phí giao dịch chứng khoán…

Để phản ánh chi phí tài chính, kế toán sử dụng TK 635 “Chi phí tài chính” Tài khoản 635 phải được hạch toán chi tiết cho từng nội dung chi phí

Nội dung kế toán chi phí tài chính được khái quát qua sơ đồ 1.3 (xem phụ lục

số 03)

Kế toán chi phí bán hàng

TK 641 “Chi phí bán hàng” là tài khoản chi phí, không có số dư cuối kỳ và

TK 641 được mở chi tiết theo từng yếu tố chi phí, với 7 tài khoản cấp II

Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp

Chứng từ, sổ sách sử dụng: Các chứng từ và sổ sách kế toán sử dụng trong kế toán quản lý bao gồm: các bảng lương nhân viên quản lý, bảng tính khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý, các bảng kê, bảng tổng hợp chi phí…Sổ tổng hợp và chi tiết phản ánh chi phí bán hàng phát sinh trong kỳ

TK 642 là tài khoản chi phí, không có số dư cuối kỳ, được mở chi tiết theo 8 tài khoản cấp II

Kế toán chi phí khác

Chi phí khác là những chi phí phát sinh do các sự kiện hay các nghiệp vụ riêng biệt với các hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp Các chi phí bao gồm: Chi phí thanh lý, nhượng bán tài sản cố định và giá trị còn lại của tài sản cố định thanh lý, nhượng bán tài sản cố định (nếu có); Chênh lệch lỗ do đánh giá lại vật tư hàng hoá, tài sản cố định góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên

Trang 6

kết, đầu tư dài hạn khác, tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế; bị phạt thuế, truy nộp thuế; các khoản chi phí khác

Để phản ánh chi phí khác, kế toán sử dụng TK 811 “Chi phí khác”

Nội dung kế toán chi phí khác được khái quát qua sơ đồ 1.6 (xem phụ lục số 06)

Kế toán doanh thu

Chứng từ, sổ sách chủ yếu: Hoá đơn GTGT (mẫu số 01 GTKT -3LL); Hoá đơn bán hàng thông thường (mẫu số 02 GTTT - 3LL); Bảng thanh toán hàng đại

lý, ký gửi (mẫu số 01 - BH); Thẻ quầy hàng (mẫu 02 – BH); Sổ chi tiết bán hàng (mẫu số S35 - DN); Sổ doanh thu

Tài khoản sử dụng chủ yếu là tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” Tài khoản này dùng để phản ánh tổng số doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã thực hiện trong kỳ và các khoản giảm trừ doanh thu, từ đó tính ra doanh thu thuần về tiêu thụ trong kỳ Tổng doanh thu được ghi nhận có thể là tổng giá thanh toán (với các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp cũng như các đối tượng không chịu thuế GTGT) hoặc giá bán không có thuế GTGT (với các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ) và các tài khoản liên quan

Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế thì doanh thu phản ánh vào TK 511 được tính theo giá bán chưa có thuế GTGT, bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà doanh nghiệp được hưởng

Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, hoặc các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì doanh thu phản ánh vào TK 511 là tổng giá thanh toán bao gồm thuế và

Trang 7

các khoản phụ thu, phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà doanh nghiệp được hưởng

TK 511 không có số dư cuối kỳ và được chi tiết bởi các tài khoản cấp II:

TK 5111 - Doanh thu bán hàng hoá;

TK 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ

Ngoài ra để phản ánh các khoản doanh thu nội bộ, kế toán sử dụng TK 512

“Doanh thu nội bộ” TK 512 dùng để phản ánh giá bán của hàng hoá được cung cấp cho nhau giữa các đơn vị cùng tổng công ty hoặc giữa các đơn vị cấp dưới với đơn vị cấp trên TK 512 không có số dư cuối kỳ; để phản ánh doanh thu tài chính,

kế toán sử dụng tài khoản 515 “Doanh thu hoạt động tài chính” và các tài khoản liên quan khác để phản ánh các nghiệp vụ phát sinh

Nội dung kế toán doanh thu hoạt động tài chính được khái quát qua sơ đồ 1.8 (xem phụ lục số 08)

Để phản ánh các khoản giảm doanh thu bán hàng hoá, các doanh nghiệp thương mại sử dụng các tài khoản liên quan sau:

TK 521 “ Chiết khấu thương mại” dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng hoá với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc cam kết mua, bán hàng hoá

TK 521 không có số dư cuối kỳ

TK 531 “Hàng bán bị trả lại” dùng để phản ánh doanh thu của số hàng hoá đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại TK 531 không có số dư cuối kỳ

TK 532 “ Giảm giá hàng bán” dùng để phản ánh khoản giảm giá cho khách hàng tính trên giá bán thoả thuận TK 532 không có số dư cuối kỳ

Nội dung kế toán doanh thu bán hàng được khái quát qua sơ đồ 1.7 (xem phụ lục

số 07)

Kế toán kết quả kinh doanh

Trang 8

Kết quả hoạt động kinh doanh thông thường là kết quả từ những hoạt động tạo

ra doanh thu của doanh nghiệp, là kết quả của hoạt động bán hàng, cung cấp dịch

vụ và hoạt động tài chính được thể hiện bằng chỉ tiêu lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh Nội dung kế toán kết quả các hoạt động kinh doanh trong kỳ được khái quát qua sơ đồ 1.9 (xem phụ lục số 09)

Kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại dưới góc độ kế toán quản trị

Kế toán chi phí dưới góc độ kế toán quản trị: Nhận diện chi phí, phân loại chi phí, xây dựng dự toán chi phí giá vốn, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh, thu thập thông tin về chi phí phát sinh trong kỳ, phân tích thông tin, dự báo để có quyết định kinh doanh

Kế toán doanh thu dưới góc độ kế toán quản trị: Xác định điều kiện ghi nhận doanh thu, lập dự toán doanh thu, tổ chức thu thập thông tin liên quan đến doanh thu, xử lý thông tin ra quyết định kinh doanh

Kế toán kết quả kinh doanh dưới góc độ kế toán quản trị: Thu thập thông tin và lập báo cáo kết quả kinh doanh

Phần cuối cùng trong chương I, luận văn nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế và kinh nghiệm của các nước trên thế giới về kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại, bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam trong công tác kế toán

Cùng với việc nghiên cứu các chuẩn mực kế toán quốc tế về chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh (IAS 23, IAS 8) luận văn nghiên cứu kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại 2 nước Pháp, Mỹ Từ đó nhận thấy, chế độ kế toán Việt Nam đã kế thừa được tính khái quát như tinh thần của chuẩn mực kế toán các nước Tuy nhiên chế độ kế toán Việt Nam chưa khuyến khích các doanh nghiệp vận dụng linh hoạt chế độ dẫn đến công tác hạch toán còn cứng nhắc

Trang 9

- Chương II: Thực trạng kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại

các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị phòng cháy chữa cháy trên địa bàn Hà Nội

Qua thực tế khảo sát công tác kế toán tại các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị PCCC trên địa bàn Hà Nội cho thấy các doanh nghiệp hoạt động với quy mô khác nhau, tổ chức bộ máy quản lý khác nhau, nên tổ chức bộ máy kế toán, hình thức kế toán cũng như chế độ kế toán áp dụng là khác nhau Hầu hết các doanh nghiệp lớn, hoạt động trên địa bàn rộng thì áp dụng hình thức tổ chức kế toán phân tán, còn lại

áp dụng hình thức tổ chức kế toán tập trung

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tác giả đi sâu nghiên cứu 2 doanh nghiệp: công ty Cổ phần PCCC Rừng Việt Nam, công ty TNHH PCCC Hanagashi

Sở dĩ tác giả chọn 2 doanh nghiệp trên, vì các doanh nghiệp đều có quy mô tương đương, đặc điểm công tác tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức bộ máy kế toán có tính tương đồng Hình thức áp dụng kế toán giống nhau Chương II tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

Thực trạng kế toán giá vốn hàng bán

Trong doanh nghiệp thương mại nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị PCCC nói riêng giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí Giá vốn hàng bán bao gồm giá mua và các khoản chi phí liên quan đến việc mua hàng Qua khảo sát các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị PCCC trên địa bàn Hà Nội, cho thấy doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên Trên cơ sở chứng từ phát sinh thực tế như: hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng, bảng kê phiếu mua hàng, Phiếu nhập kho, biên bản kiểm nhận hàng hóa, phiếu chi, giấy thanh toán tạm ứng (đối với hàng hoá mua trong nước) hoặc: Hoá đơn thương mại, vận tải đơn, chứng từ bảo hiểm, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá, tờ khai hải quan, biên lai thu thuế, phiếu nhập kho, các chứng từ thanh toán khác (đối với hàng hoá nhập khẩu) Kế toán hạch toán giá vốn hàng bán vào TK 632 chi tiết cho từng

Trang 10

mặt hàng, từng khách hàng, tài khoản đối ứng là TK 156 chi tiết cho từng mặt hàng, từng khách hàng

Thực trạng kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp

Theo chế độ kế toán hiện hành, các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị PCCC trên địa bàn Hà Nội đều hạch toán chi phí quản lý doanh nghiệp vào TK 642 và được theo dõi chi tiết theo từng yếu tố chi phí Tuy nhiên, thời điểm ghi nhận chi phí quản lý doanh nghiệp không theo thời điểm phát sinh chi phí mà theo thời điểm kế toán nhận được các chứng từ kế toán, nên hạch toán kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp đôi khi không đúng kỳ phát sinh chi phí Trên cơ sở chứng từ phát sinh kế toán tập hợp tất cả các chi phí liên quan như: chi phí xăng xe, chi phí điện thoại, chi phí tiếp khách, chi phí phôtô hồ sơ, công tác phí, phí chuyển tiền…vào TK 642, tài khoản đối ứng là TK 1111, 1121

Thực trạng kế toán chi phí bán hàng

Theo chế độ kế toán hiện hành, các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị PCCC trên địa bàn Hà Nội đều hạch toán chi phí bán hàng vào TK 641 và được mở chi tiết theo từng nội dung chi phí Trên cơ sở chứng từ phát sinh kế toán tập hợp tất cả các chi phí liên quan như: chi phí xăng xe, chi phí điện thoại, chi phí tiếp khách, chi phí phôtô hồ sơ thầu, công tác phí, cước đường bộ, phí vận chuyển hàng, chi phí mua phụ kiện phục vụ công tác bảo hành, …vào TK 641

Kế toán doanh thu hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị PCCC trên địa bàn Hà Nội

Các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị PCCC trên địa bàn Hà Nội đã xác định những khoản sau đây vào doanh thu bán hàng của doanh nghiệp:

Khoản tiền mà bên mua hàng chấp nhận thanh toán sau khi bên mua hàng nhận đủ số lượng hàng hoá trong hợp đồng hoặc đơn đặt hàng; khoản tiền doanh

Ngày đăng: 21/01/2021, 11:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w