Bài viết mô tả đặc điểm lâm sàng, cắt lớp vi tính (CLVT) và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ung thư thanh quản (UTTQ) T1N0M0. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 41 bệnh nhân UTTQ T1N0M0 từ 01/2014 đến 01/2018 tại bệnh viện Ung Bướu Hà Nội.
Trang 1ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT NỘI SOI
UNG THƯ THANH QUẢN GIAI ĐOẠN T1N0M0
TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU HÀ NỘI
ĐÀM TRỌNG NGHĨA1, BÙI THANH HÙNG2
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cắt lớp vi tính (CLVT) và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ung thư
thanh quản (UTTQ) T1N0M0
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 41 bệnh nhân UTTQ T1N0M0 từ 01/2014 đến 01/2018
tại bệnh viện Ung Bướu Hà Nội
Kết quả: UTTQ đều ở thanh môn Đa số UTTQ tổn thương dạng sùi (85,3%) Lát cắt rìa có 4,8% BN có
MBH dương tính 70,7% bệnh nhân được phẫu thuật mở khí quản chủ động và nội soi cắt thanh quản
Biến chứng chảy máu và tràn khí dưới da chiếm 2,4% Tỷ lệ tái phát và di căn vùng đều là 2,4%
Kết luận: Phương pháp phẫu thuật nội soi cắt thanh quản cho thấy kết quả khả quan với tỷ lệ biến chứng
và di căn thấp
ABSTRACT
Assess the results of endoscopic surgery forthe treatment of laryngological cancer T1N0M0
at Hanoi Oncology Hospital Objective: To study clinical, CT Scanner features of laryngeal carcinoma T1N0M0 and result of surgery Method: Performing cross sectional study on 41 patients diagnosis with T1N0M0 and cutting of the larynx
section from 01/2014 to 01/2018 at Hanoi Oncology Hospital
Result: The laryngeal cancer is all in the glottis and tumor in the vocal Most laryngeal cancer lesions in the
form of the larynx (85.3%).Cutting edge having 4.8% of patients with positive pathohistography 70.7% of patients are actively administered tracheoscopic and endoscopic laryngoscopy Complications of bleeding and subcutaneous gasesaccounted for 2.4% The incidence of relapse and regional metamigrations is 2.4%
Conclusion: Laparoscopic surgical methods of laryngoscopy indicate a possible outcome with a low rate of
complications and metamigrations
1TS.BS Khoa Phẫu thuật đầu cổ - Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội
2 ThS.BS Khoa Phẫu thuật đầu cổ - Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thanh quản là một khối u ác tính xuất
phát chủ yếu từ lớp biểu mô thanh quản Đây là loại
ung thư đứng hàng thứ 8 trong các ung thư ác tính
hay gặp nhất và đứng hàng thứ hai trong các khối u
ác tính đường hô hấp, sau ung thư phổi Ở Việt
Nam, trong số các ung thư vùng đầu cổ, ung thư
thanh quản đứng hàng thứ 2 sau ung thư vòm mũi
hơn nữ giới với tỉ lệ khác nhau ở từng nước,
Việt Nam khoảng 10/1[4,5], đa phần ung thư thanh
quản xuất phát từ vùng thanh môn (90%) Nhóm tuổi
hay gặp nhất từ 40 tuổi đến 70 tuổi Thuốc lá và
rượu được xem như là yếu tố nguy cơ chính của ung thư thanh quản[6,7] Điều trị ung thư thanh quản hiện nay chủ yếu là phẫu thuật và tia xạ, trong đó phẫu thuật vẫn giữ vai trò quan trọng Đối với ung thư thanh quản giai đoạn sớm hiện nay ở Việt Nam, điều trị chủ yếu là phẫu thuật với xu hướng phẫu thuật bảo tồn chức năng của thanh quản, bao gồm chức năng phát âm và chức năng nuốt Tuy nhiên, việc điều trị phẫu thuật luôn gặp mẫu thuẫn giữa mục tiêu lấy hết bệnh tích và khả năng giữ được chức năng của thanh quản Nhiều phương pháp phẫu thuật bảo tồn thanh quản khác nhau đã được nghiên cứu và phát triển và phẫu thuật nội soi cũng
Trang 2là một hướng đi có nhiều ưu điểm vượt trội Từ năm
2011 đến nay, Khoa Ngoại Đầu cổ - Bệnh viện Ung
Bướu Hà Nội đã tiến hành phẫu thuật cắt thanh
quản bảo tồn với những bệnh nhân UTTQ giai đoạn
sớm, mang lại kết quả rất tốt về bảo tồn chức năng
thanh quản, kết quả về ung thư học, ít biến chứng
Để đánh giá một cách đầy đủ hơn về phương pháp
phẫu thuật, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật nội soi ung thư
thanh quản giai đoạn T1N0M0 tại Bệnh viện Ung
Bướu Hà Nội” với hai mục tiêu:
1 Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cắt lớp vi
tính ung thư thanh quản giai đoạn T1N0M0
2 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội cắt thanh
quản tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội từ 2014-2018
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định UTTQ giai
đoạn T1N0M0 và điều trị phẫu thuật nội soi thanh
quản
Tiêu chuẩn lựa chọn
+ Được chẩn đoán UTTQ giai đoạn T1 tầng
thanh môn (qua lâm sàng, nội soi, CLVT), phù hợp
chỉ định và được phẫu thuật nội soi
+ Kết quả giải mô bệnh học là ung thư thanh
quản biểu mô vảy
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ 01/2014 đến 01/2018 tại bệnh viện Ung
Bướu Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu
thuận tiện 41 bệnh nhân
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Xử lý và phân tích số liệu
Mô tả tần suất, tỷ lệ phần trăm và mối liên quan,
tương quan bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm lâm sàng và CLVT
Tuổi, giới
Tổng số 41 bệnh nhân được chẩn đoán xác
định UTTQ giai đoạn T1N0M0 và điều trị phẫu thuật
nội soi tham gia vào nghiên cứu Trong đó, nam giới
chiếm 92,7% và độ tuổi trung bình của bệnh nhân là
56 tuổi, lứa tuổi hay gặp nhất là từ 51-60 chiếm
48,8%
Yếu tố nguy cơ
Bảng 1 Yếu tố nguy cơ
Hút thuốc và uống rượu 13 31,7
U nhú (Papilloma) 2 4,9 Loạn sản, bạch sản 2 4,9
Phần lớn bệnh nhân có yếu tố nguy cơ là hút thuốc lá (65,9%) và uống rượu (34,1%) và cả 2 là 31,7%
Vị trí và hình thái tổn thương trên nội soi Bảng 2 Vị trí và hình thái tổn thương khi nội soi
(n = 41)
Hình thái tổn thương khi nội soi n %
Bạch sản/TNĐ 3 7,3
U d ạng polyp 1 2,4
Khi soi phóng đại bằng nội soi cho thấy tổn thương ung thư khu trú ở dây thanh với 53,7% ở 1/3 giữa chiếm tỉ lệ lớn nhất và u sùi là hình thái tổn thương chủ yếu trong UTTQ (85,3%) và u sùi tổn thương dạng bạch sản trên nền thâm nhiễm đỏ (7,3%)
Vị trí tổn thương trên CLVT Bảng 3 Vị trí tổn thương trên CLVT (n = 41)
Thanh môn 41 100
V ị trí khác 0 0
Vị trí tổn thương u trên CLVT đều ở thanh môn, không có dấu hiệu xâm lấn sang vị trí khác
Trang 3Phân độ tổn thương theo TNM
Bảng 4 Phân độ tổn thương trước mổ (n = 41)
Đa phần UTTQ là T1aNoMo (82,9%), chỉ 7
trường hợp T1b (17,1%)
Kết quả phẫu thuật
Phương pháp phẫu thuật
Bảng 5 Phương pháp phẫu thuật và (n = 41)
M ở khí quản + nội soi vi phẫu 29 70,7
N ội soi vi phẫu 12 29,1
Phần lớn bệnh nhân được phẫu thuật nội soi vi
phẫu thanh quản có mở khí quản (70,7%)
Kết quả mô học lát cắt rìa sau mổ
Bảng 6 Kết quả mô học lát cắt rìa sau mổ
K ết quả mô học lát cắt rìa n %
Dương tính 2 4,8
Phần lớn kết quả mô học lát cắt rìa âm tính
(95,2%), có 4,8% trường hợp có kết quả mô bệnh
học lát cắt rìa sau mổ dương tính
Biến chứng sau phẫu thuật
Bảng 7 Biến chứng sau phẫu thuật (n = 41)
Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật thấp (4,8%)
bao gồm 1 trường hợp chảy máu và 1 trường hợp
tràn khí dưới da
Đánh giá chức năng và thời gian nằm viện
Bảng 8 Đánh giá chức năng và thời gian nằm viện
Đánh giá chức năng và thời gian nằm viện Ngày
Th ời gian cho ăn thử bằng miệng 8,5 ± 2,7
Thời gian rút sonde ăn 11,8 ± 5,3
Th ời gian rút canuyn 15,1 ± 7,3
Th ời gian nằm viện 10,3 ± 8,0
Sau phẫu thuật, thời gian cho ăn thử bằng
miệng, thời gian rút sonde ăn, thời gian rút canuyn
sau phẫu thuật và thời gian nằm viện trung bình lần lượt trung bình là 8 ngày,12 ngày; 15 ngày,10 ngày Đánh giá khả năng phát âm, 100% có giọng nói hiểu được rõ lời
Điều trị bổ trợ sau phẫu thuật và tái phát Bảng 9 Điều trị bổ trợ sau phẫu thuật và tái phát
di căn (n = 41)
Điều trị bổ trợ sau phẫu thuật
Tái phát t ại chỗ 2 4,8
Có 9,8% bệnh nhân được điều trị tiếp bằng
xạ trị
Có 4,8% tái phát tại chỗ sau 8 tháng, 4,8% di căn hạch cổ cùng bên và chưa phát hiện trường hợp nào di căn xa
BÀN LUẬN Đặc điểm lâm sàng và cắt lớp vi tính
Trong 41 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi
thấy tuổi mắc trung bình của bệnh nhân là 56 trong
đó nhóm tuổi từ 51 - 60 chiếm tới 48,8% Bệnh nhân nam chiếm đa số, chỉ có 3 bệnh nhân là nữ với tỉ lệ 12,7/1 Kết quả này phù họp với nghiên cứu khác
của các tác giả trong nước như Bùi Thế Anh[1],… Các công bố trước đây cho thấy UTTQ có liên quan
chặt chẽ tới thói quen hút thuốc và uống rượu Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 65,9% bệnh nhân có tiền sử hút thuốc, 34,1% có tiền sử uống rượu và 31,7% có tiền sử vừa hút thuốc vừa uống rượu Kết quả này tương tự nghiên cứu của Phạm Văn Hữu[9]
Khi nội soi cho thấy khối u ở vị trí 1/3 giữa dây thanh chiếm 53,7% Việc dùng ống cứng chỉ cho chúng ta cái từ phía trên xuống, chỉ quan sát được ở một khoảng cách nhất định, nên chủ yếu đánh giá được tổn thương thượng thanh môn và thanh môn, hạn chế đánh giá tổn thương hạ thanh môn, buồng Morgani và mép trước nểu chân sụn nắp lồi nhiều vào lòng thanh quản.Tuy nhiên lại đánh giá về sự di động của dây thanh rất tốt
Qua thăm khám bằng nội soi, chúng tôi gặp đa
số tổn thương đại thể khối u UTTQ ở dạng sùi (85,3%) và các dạng khác (14,7%) Hình thái u thâm nhiễm cũng là thể khó chẩn đoán, chúng tôi không gặp trưòng hợp nào trong số các bệnh nhân UTTQ
Trang 4Phạm Văn Hữu cũng phát hiện có 83,33% sổ bệnh
nhân UTTQ có hình ảnh tổn thương dạng u sùi
Ngoài ra nhóm nghiên cứu còn gặp một số hình thái
tổn thương khác như: bạch sản/ TNĐ (3 trường
họp), u dạng polyp (1 trường họp) và u dạng nhú
(1 trường họp) Kết quả này cho thấy cần phải làm
mô bệnh học với tất cả các u lành tính dây thanh để
tránh bỏ sót tổn thương ác tính[9]
Việc phân độ tổn thương tại chỗ hiện nay cần
phối hợp nhiều phương pháp thăm khám khác nhau
Kết hợp thăm khám lâm sàng và hình ảnh chụp
CLVT, chúng tôi nhận thấy có 34 bệnh nhân (82,9%)
có UTTQ T1a; có 7 bệnh nhân (17,1%) ở giai đoạn
Tlb Nghiên cứu của Nguyễn Vĩnh Toàn cho thấy,
dù khám trên lâm sàng có hiệu quả nhất định trong
chẩn đoán giai đoạn T của khối u UTTQ nhưng vẫn
cần phải dựa vào thông tin từ hình ảnh CLVT
Trong nghiên cứu của Nguyễn Vĩnh Toàn, 11 bệnh
nhân được đánh giá là T1 trên lâm sàng, sau khi
đượckiểm tra chụp CLVT thấy chỉ có 9 trường hợp
là đúng (81,8%) Còn 1 trường hợp đã chuyển sang
giai đoạn T2 thậm chí có một bệnh nhân sang giai
đoạn T3 do ở bệnh nhân này tổn thương đã xâm lấn
vào khoang cạnh thanh môn cho dù di động dây
thanh vẫn bình thưòng và đã thay đổi hẳn phương
pháp điều trị Từ chỗ chỉ định cắt dây thanh trên
lâm sàng, qua đánh giá CLVT bệnh nhân phải cắt bỏ
thanh quản toàn phần[3] Sự không phù hợp này có
thể được giải thích, qua thăm khám lâm sàng và nội
soi chúng ta chỉ quan sát được bề mặt của tổn
thương, sự di động của thanh quản, không thể đánh
giá được sự xâm nhập sâu của khối u vì vậy chụp
CLVT với những lớp cắt mỏng, và sự tái tạo chính
xác không gian 3 chiều để đánh giá mức độ xâm lấn
của khối u, giúp chúng ta đánh giá được sự lan tràn
của bệnh đúng với giai đoạn của khối u Tuy nhiên
trong nghiên cứu của chúng tôi, phân độ T trên lâm
sàng phù hợp với hình ảnh CLVT
Mô bệnh học lát cắt rìa và hạch: Chúng tôi tiến
hành cắt lại các mảnh tổ chức vùng rìa để làm mô
bệnh học Phẫu thuật viên chỉ có thể đánh giá sự
xâm lấn của khối u ở mức đại thể mà không thể
đánh giá được ở mức vi thể, nhất là những tổn
thương vi xâm nhập vì vậy một nguyên tắc cơ bản
trong phẫu thuật ung thư nói chung, ung thư thanh
quản và ung thư hạ họng nói riêng là sau khi phẫu
thuật lấy bỏ bệnh tích ung thư cần phải sinh thiết
xung quanh diện cắt còn lại (hay vùng rìa) để làm
giải phẫu bệnh giúp xác định phẫu thuật đã lấy hết
bệnh tích ở mức độ vi thể hay còn sót lại bệnh tích
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ gặp 2 BN có kết
quả dương tính của diện cắt, các trường hợp còn lại
có đều kết quả mô học vùng rìa âm tính Hai bệnh
nhân này chúng tôi chỉ định xạ trị hậu phẫu bổ trợ
Điều này cho thấy khả năng lấy hết tổn thương ung
thư của phương pháp nội soi đối với giai đoạn T1 là rất cao Đồng thời các xét nghiệm mô bệnh học này
hỗ trợ đắc lực cho quá trình phẫu thuật cũng như áp dụng phưong pháp điều trị bổ sung bằng tia xạ hoặc hóa chất sau mổ, kịp thời khắc phục các thiểu sót trong phẫu thuật Ở giai đoạn sớm hơn của UTTQ như T1, các phẫu thuật dễ dàng hơn trong việc loại
bỏ khối u và khả năng tái phát ung thư do cắt còn sót tổ chức ung thư thấp Tuy nhiên, việc kiểm tra sót tổ chức ác tính bằng mô bệnh học lát cắt rìa vẫn hết sức hũư ích để kéo dài cuộc sổng người bệnh
Kết quả phẫu thuật
Các bệnh nhân tham gia trong nghiên cứu này đều được tiến hành phẫu thuật cắt thanh quản qua nội soi Trong số 41 bệnh nhân được phẫu thuật, có
29 bệnh nhân được mở khí quản chủ động Đây là những bệnh nhân trên hình ảnh soi thanh quản, u khá lớn và/ hoặc lan qua mép trước nên chúng tôi chủ động mở khí quản và gây mê qua canuyn để phẫu trường rộng rãi và dự phòng tai biến sau mổ như chảy máu, khó thở… Trong nghiên cứu của chúng tôi, các bệnh nhân đều ở giai đoạn T1 và trên thăm khám lâm sàng và CLVT đều không phát hiện
có hạch di căn hay nghi ngờ Vì vậy chúng tôi không tiến hành vét hạch đối với các bệnh nhân này Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ gặp 1 trường hợp biến chứng là chảy máu sau mổ vào ngày thứ 6 và 1 trường hợp tràn khí dưới da mức độ nhẹ và đã được xử trí Nguyên nhân là do trong quả trình phẫu thuật vùng mép trước chúng tôi đã sử dụng dao điện nhiều, gây tổn thương sâu, khi bong giả mạc dễ chảy máu Biến chứng chảy máu là biến chứng nguy hiểm, chảy máu có thể gây máu tràn vào đường thở, bệnh nhân tử vong nếu không được
xử trí đúng và kịp thời Chính vì biến chứng này, đòi hỏi cơ sở phải có hệ thống theo dõi tốt, các nhân viên y tế phải được làm quen Bệnh nhân tràn khí dưới da cũng chỉ gặp ở dưới da vùng cổ quanh chân canuyn Bệnh nhân được theo dõi sát và không thấy triệu chứng tăng lên và hết sau 2 ngày Các biến chứng khác như khó thở, nhiễm trùng, viêm phổi, dò,… đều không xuất hiện Xuất hiện biến chứng sau phẫu thuật không chỉ phụ thuộc vào tính chất, giai đoạn bệnh, kinh nghiệm của phẫu thuật viên, mà còn bị ảnh hưởng bởi phương pháp và phương tiện phẫu thuật Phạm Văn Hữu tiến hành phẫu thuật UTTQ giai đoạn Tis, trong nghiên cứu này không gặp trường hợp chảy máu, tuy nhiên gặp 5 trường hợp khó thở do phù nề vùng diện cắt làm hẹp khe thanh môn phải tiến hành mở khí quản[9] Nghiên cứu hồi cứu của Ganly và cộng sự (2009) trên 150 bệnh nhân cắt bán phần thanh quản do UTTQ bởi ung thư tế bào vẩy được phẫu thuật từ 1984 đến
1998 cho thấy tỉ lệ biến chứng sau phẫu thuật lên tới 11% tổng số bệnh nhân phẫu thuật Tỉ lệ biến chứng
Trang 5cũng phụ thuộc nhiều vào quá trình chiếu xạ trước
phẫu thuật tại chỗ gây nên tổn thương, hình thành
lỗ rò [8]
Chức năng nuốt: chúng tôi cho bệnh nhân ăn
thử rất sớm, thời gian bắt đầu cho ăn thử bằng
miệng trong phạm vi 5-13 ngày, với thời gian trung
bình là 8,5 ngày, thời gian rút sonde ăn trên nhóm
bệnh nhân này trung bình là 11,8 ngày; với thời gian
ngắn nhất là 7 ngày, dài nhất lên tới 18 ngày Nghiên
cứu của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu
khác trên bệnh nhân UTTQ như 34 bệnh nhân trong
nghiên cứu của Lawson: thời gian nuốt chất đặc sau
phẫu thuật là 9 ngày, uống nước là 12 ngày[10], trong
nghiên cứu của Yu và cộng sự trên139 bệnh nhân
thì thời gian rút sonde ăn trung bình là 15 ngày[11]
Điều này có thể được giải thích là do bệnh nhân của
chúng tôi đều được phẫu thuật nội soi nên thời gian
hồi phục sẽ ngắn hơn và khả năng hồi phục sẽ tốt
hơn.Thời gian rút canuyn: sau phẫu thuật trung bình
dài 15,1 ngày với phạm vi dao động từ 8 - 41 ngày
Ngắn hơn so với một số tác giả Lawson là 14 ngày
với cùng giai đoạn phẫu thuật UTTQ[10] Yu và cộng
sự nghiên cứu trên 139 bệnh nhân UTTQ giai đoạn
TI và T2 được phẫu thuật theo phương pháp Tucker
Kết quả cho thấy 100% bệnh nhân có thể rút canuyn
với thời gian trung bình 10 ngày[11] Việc rút canuyn
sớm giúp bệnh nhân sớm hồi phục phản xạ ho, khả
năng nói Do vậy, để rút ngắn thời gian đặt canuyn
cần kết hợp nhiều yếu tố, đem lại sự phục hồi chức
năng sớm cho người bệnh Có một số trường hợp
cần tia xạ bổ sung sau mổ, chúng tôi chủ trương lưu
lại canuyn đề phòng khó thở do thanh quản bị phù
nề trong quá trình tia xạ Đây là những trường hợp
không tính vào nhóm khó rút canuyn Chức năng
phát âm: đa phần các bệnh nhân có được giọng nói
thỏa đáng, phát âm có thể hiểu được lời qua phỏng
vấn trực tiếp và đàm thoại điện thoại Các bệnh nhân
này có thể hòa nhập tốt với cuộc sống Điều này
cũng phù hợp với nghiên cứu trên 139 bệnh nhân
UTTQ của Yu và cộng sự: có 121 bệnh nhân (87%)
có giọng nói thỏa đáng, 18 bệnh nhân (13%) có
giọng nói trung bình
Thời gian nằm viện: thời gian nằm viện trung
bình của nhóm bệnh nhân UTTQ là 10,1 ngày với
phạm vi từ 8-17 ngày Thời gian này ngắn hơn khá
nhiều so với các nghiên cứu khác trên thế giới như
nhóm bệnh nhân UTTQ của Lawson có thời gian
điều trị trung bình là 16 ngày[10] Điều này được giải
thích do bệnh nhân của chúng tôi hồi phục rất tốt
sau mổ Khi các chức năng của bệnh nhân như ăn
và thở tốt, chúng tôi cho bệnh nhân ra viện
Trong 41 bệnh nhân được phẫu thuật chúng tôi
cho xạ trị sau phẫu thuật 4 trường hợp, trong đó có
2 trường hợp MBH lát cắt rìa dương tính Những
trường hợp còn lại tùy thuộc vào đánh giá của phẫu
thuật viên trong lúc mổ mà quyết định có tia xạ hay không Chỉ định xạ trị phối hợp sau mổ theo chúng tôi là một chỉ định khó khăn, chưa có tiêu chí rõ ràng, nhất là khi hạch cổ đều âm tính và mô bệnh học vùng rìa cũng âm tính Những trường hợp này chủ yếu chúng tôi dựa vào mức độ tổn thương tại chỗ, khi khối u lớn, khối u thâm nhiễm sâu, để chỉ định phối hợp tia xạ sau mổ Trong 41 bệnh nhân theo đánh giá sơ bộ của chúng tôi thì không có bệnh nhân nào có di căn xa Chỉ có 2 trường hợp tái phát sau phẫu thuật 8 tháng, chúng tôi đã tiến hành phẫu thuật cắt thanh quản bán phần NVH và cho tia xạ sau phẫu thuật Có 2 trường hợp di căn hạch cổ cùng bên sau 6 tháng, chúng tôi đã nội soi để đánh giá và bấm sinh thiết nhưng không thấy dấu hiện tái phát khối u vì vậy chúng tôi chỉ quyết định NVH chức năng bên di căn, sau đó cho xạ trị phối hợp và theo dõi sát bệnh nhân
KẾT LUẬN
Đặc điểm lâm sàng và CLVT: bệnh gặp chủ yếu
ở nam giới tuổi trung niên, liên quan nhiều đến 2 yếu
tố nguy cơ là hút thuốc và uống rượu Kết quả nội soi cho thấy UTTQ đều ở thanh môn Trên CLVT thấy 100% khối u ở dây thanh Đa số UTTQ có tổn thương dạng sùi (85,3%) Không phát hiện được dấu hiệu hạch trên lâm sàng và CLVT
Kết quả phẫu thuật: khả năng lấy hết bệnh tích cao với tỉ lệ lắt cắt rìa âm tính là 95,2%, ít gặp biến chứng và thời gian hồi phục ngắn, bảo tồn được tối
đa chức năng thanh quản, tỉ lệ tái phát thấp
Như vậy, phẫu thuật nội soi là phương pháp an toàn và mang lại hiệu quả rất lớn trong điều trị ung thư thanh quản giai đoạn sớm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Thế Anh (2005) “Đối chiếu biểu hiện của Galectin-3 với đặc điểm lâm sàng và mô bệnh
học của ung thư thanh quản-hạ họng” Luận văn Bác sỹ nội trú bệnh viện, Đại học Y Hà Nội
2 Đỗ Xuân Anh (2007) “Nghiên cứu hình thái học
u biểu mô dây thanh” Luận văn thạc sỹ y học, ĐHY Hà Nội
3 Nguyễn Vĩnh Toàn (2007) “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chụp cắt lớp vi tính của tổn thương ung thư thanh quản đối chiếu với phẫu thuật” Luận văn Bác sỹ nội trú bệnh viên ĐHY Hà Nội
4 Nguyễn Khắc Hùng (2003) “Bệnh giọng thanh
quản và một số yếu tố nguy cơ ở giáo viên tiểu
học huyện Đại Từ-Tỉnh Thái Nguyên” Luận văn
thạc sỹ y học, ĐHY Hà Nội
Trang 65 Ngô Ngọc Liễn (2000) Ung Thư Thanh Quản
Giản yếu tai mũi họng Tập III NXB Y học Hà
Nội
6 Silver.C.E (1981) “Historical Aspects” Surgery
for cancer of the Larynx and relatedstructures
.pp1-9
7 Silver.C.E (1981) “Conservation Surgery for
Glottic Carcinoma” Surgery for cancer of
theLarynx and related structures Edited by Carl
E.Silver,M.D ,p83-113 P483 – 533
8 Ganly I, Patel SG, Matsuo J, et al., (2009),
“Analysis of postoperative complications of open
partial laryngectomy” Head & Neck.3 1(3): 338 -
45
9 Phạm Văn Hữu, (2008), “Nghiên cứu hình thái lâm sàng, nội soi và đối chiếu với kết quả phẫu thuật của ung thư thanh quản giai đoạn sớm”
Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, Trường Đại
học Y Hà Nội
10 Lawson G, Jamart J, Remade M (2001), Improving the functionaloutcome of Tucker's reconstructive laryngectomy Head &Neck 23(10):871 - 8
11 Yup, Antoine G, Bruno G (2005), ‘‘Partial vertical laryngectomywith epiglottis reconstruction-Tucker technique” Lin Chuang Er BiY anH ouK
eZ aZ hi 19(9):389 - 91, 393