1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ung thư tuyến giáp thể tủy di căn hạch cổ nhân một trường hợp lâm sàng

4 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 7,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MTC là một khối u hiếm gặp. Phẫu thuật là ưu tiên hàng đầu ở những bệnh nhân còn chỉ định. Tính chất di căn hạch cổ sớm là đặc điểm đặc trưng của bệnh, điều đó giải thích cho vai trò quan trọng của phẫu thuật. Lấy được hạch cổ di căn ảnh hưởng lớn tới kết quả điều trị, hiểu biết về giải phẫu tự nhiên và quá trình di căn hạch cổ trong MTC giúp các nhà lâm sàng kiểm soát bệnh tốt hơn.

Trang 1

UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ TỦY DI CĂN HẠCH CỔ

NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

NGUYỄN VĂN ĐĂNG1, NGÔ THANH TÙNG1, NGUYỄN VIỆT ANH1, NGUYỄN VĂN HÙNG1

TỔNG QUAN

Ung thư tuyến giáp thể tủy (MTC) chiếm khoảng 1.7% trong các bệnh lý ác tính của tuyến giáp Trong đó

15 - 25% số trường hợp liên quan đến di truyền Phẫu thuật vẫn là ưu tiên hàng đầu cho những bệnh nhân còn chỉ định Trong đó di căn hạch cổ trung tâm và hạch cổ bên là một trong những yếu tố phát hiện bệnh Việc vét

bỏ hạch sẽ làm tăng thời gian kiểm soát bệnh, bởi đó hiểu biết về giải phẫu hạch cổ và diễn biến tự nhiên của ung thư giáp thể tủy sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà lâm sàng trong điều trị và tiên lượng bệnh nhân

Từ khóa: Ung thư giáp thể tủy, di căn hạch cổ

1 Bệnh viện K Trung Ương

CA LÂM SÀNG

Bệnh nhân nam 52 tuổi, vào viện vì nổi hạch cổ

2 bên Khám lâm sàng nhiều hạch cổ nhóm VI và

dọc cơ ức đòn chũm 2 bên, hạch lớn nhất kích

thước khoảng 3cm nhóm III bên trái mật độ chắc,

còn di dộng được Nội soi tai mũi họng, nội soi thực

quản, dạ dày, đại tràng, siêu âm bụng, X-quang

ngực không phát hiện bất thường Bệnh nhân đã

được sinh thiết hạch chẩn đoán Giải phẫu bệnh cho

kết quả hạch di căn carcinoma Nhuộm hóa mô

miễn dịch cho kết quả dương tính với CK7, TTF-1,

Synaptopysin, NSE, CD56, S100 và âm tính với

các marker CK20, CDX2, P63, Chromogranin

Bệnh nhân được hội chẩn lại tiêu bản và chụp

cắt lớp vi tính lồng ngực loại trừ một khối u phổi và

đồng thời chụp PET-CT đánh giá Kết quả hội chẩn

theo dõi khối u thần kinh nội tiết hướng tới nguồn

gốc từ tuyến giáp Bệnh nhân được siêu âm đánh

giá kĩ lại tuyến giáp và làm xét nghiệm calcitonin,

CEA huyết thanh Kết quả siêu âm phát hiện nhân

thùy trên bên trái tuyến giáp kích thước 1.2cm, nhiều

hạch cổ 2 bên tương ứng với vị trị tăng bắt FDG trên

PET-CT (SUV = 3.1) Bệnh nhân được chọc hút tế

bào bằng kim nhỏ (FNA) nhân thùy trên trái tuyến

giáp, kết quả FNA hướng tới một carcinoma tuyến giáp thể tủy (MTC) với hình ảnh các tế bào có nhân tròn, không đều, hình nhân kì quái, bào tương rộng xếp thành đám nhỏ và rời rạc, nhân nhiễm sắc dạng muối tiêu Kết quả này phối hợp với tăng calcitonin huyết thanh >2000pg/ml (bình thường <9.5pg/ml) và CEA 250ng/ml (bình thường <5ng/ml) đã giúp xác lập chẩn đoán trước mổ một ung thư giáp thể tủy

di căn hạch Bệnh nhân được tiến hành cắt tuyến giáp toàn bộ tuyến giáp cùng vét hạch cổ hai bên Trong mổ xác định u thùy trên trái tuyến giáp kích thước 1 x 1.2cm chưa phá vỏ, nhiều hạch cổ kích thước to nhỏ khác nhau, phá vỏ, xâm lấn tổ chức xung quanh Giải phẫu bệnh sau mổ cho hình ảnh carcinoma thể tủy với hình ảnh vi thể các tế bào tròn đều, bào tương rộng, hạt nhân ưu toan, các tế bào sắp xếp dạng ổ, nhú và giả tuyến trên nền chất dạng tinh bột ưa toan Nhuộm calcitonin bào tương trên khối u nguyên phát cho kết quả dương tính Bệnh nhân lấy được 30 hạch cổ trong đó có 14/15 hạch cổ nhóm VI di căn và 5/15 hạch cổ bên di căn carcinoma thể tủy Bệnh nhân tiếp tục được tia xạ hậu phẫu giường u và vị trí hạch cổ 2 bên với liều 66Gy

Trang 2

Hình 1A Hạch cổ trái trên chụp cắt

lớp vi tính Hình1B PET- CT của bệnh nhân

và chất nhiễm sắc dạng muối tiêu Hình 2B Hình ảnh HE u giáp Hình 2C HMMD dương tính với Calcitonin

kém biệt hóa

BÀN LUẬN

Ung thư giáp thể tủy (MTC) chiếm 1.7% trong

các ung thư giáp phát hiện tại Mỹ[1] Khối u phát triển

từ các tế bào C tuyến giáp, nơi sản xuất calcitonin

80% MTC xảy ra độc lập nhưng đôi khi cũng liên

quan đến một số hội chứng di truyền MEN 2A

(Sipple syndrome), MEN 2B (Wagenmann-Froboese

syndrome) và MTC gia đình (FMTC)[1] Các hội

chứng di truyền này thường liên quan đến đột biến

gen tiền ung thư RET, nằm trên nhánh dài nhiễm sắc thể số 10[2] Theo khuyến cáo của ATA, tất cả những bệnh nhân mới được chẩn đoán tăng sản tế bào C tuyến giáp nên được làm xét nghiệm đột biến gen RET[3], đặc biệt tại các vị trí exon 10, 11, 13, 16 của gen MTC thường biểu hiện từ 40 - 60 tuổi, nếu

có liên quan đến đột biến gen thường sẽ biểu hiện sớm hơn Bệnh nhân của chúng tôi chẩn đoán bệnh lúc 52 tuổi với xét nghiệm tăng cả CEA và calcitonin huyết thanh Tăng nồng độ CEA thể hiện tăng hoạt

B

A

Trang 3

động chuyển hóa đã được xác định bằng PET - CT

có tăng hấp dược chất phóng xạ tại thùy trái tuyến

giáp, hạch cổ trước cũng như hạch cổ bên Siêu âm

cũng đã xác định được nhân thùy trái tuyến giáp

kích thước 1.2cm tương ứng với vị trí tăng chuyển

hóa Ở giai đoạn sớm, đa số các bệnh nhân không

có triệu chứng Ở giai đoạn muộn bệnh nhân thường

xuất hiện tiêu chảy do tăng nồng độ calcitonin máu[4]

Mặc dù nồng độ calcitonin >2000pg/ml nhưng

bệnh nhân của chúng tôi không có triệu chứng này

Có 2 - 4% số bệnh nhân xuất hiện hội chứng

Cushing do tăng tiết ACTH Chọc hút tế bào kim nhỏ

(FNA) giúp xác định chẩn đoán trước mổ[4] Với độ

nhạy của xét nghiệm là từ 50 - 80% và được gia

tăng khi kết hợp với xét nghiệm calcitonin huyết

thanh Vì vậy khi có nghi ngờ MTC thì nên được làm

xét nghiệm calcitonin[5] Hình ảnh trên FNA thường

là các tế bào kém liên kết, hình thoi và có dạng biểu

mô[4] Đôi khi có dạng tế bào khổng lồ, tế bào sáng

hoặc giống với ung thư biểu mô tế bào nhỏ Nhân

thường lệch tâm, chất nhiễm sắc dạng muối tiêu

giống với các ung thư thần kinh nội tiết khác (hình

2A) Hình ảnh vi thể trên nhuộm HE thường có các

tế bào hình tròn hoặc đa giác, sắp xếp trong các tổ,

dây hoặc đám, dải Các hạt nhân tròn với chất nhiễm

sắc thô và không đều (hình 2B) Nhìn chung dạng u

này thường có chỉ số phân bào thấp và trong bào

tương thường chứa các hạt amyloid với thành phần

có chứa chất tiết calcitonin (Hình 2C) Khác với các

khối u ung thư giáp thể biệt hóa như thể nhú thường

cho hình ảnh vi thể với các tuyến bắt màu đậm với

nhiều nhú lồi vào lòng tuyến và các trục liên kết

mảnh (Hình 3A) Còn trong ung thư giáp thể nang

thường tạo thành nhiều hình nang tuyến giống nang

tuyến bình thường với tế bào trụ cao, nhiều hang,

bào tương sáng ít chất chế tiết và có thể thấy được

hình ảnh u xâm nhập vỏ, mạch máu (Hình 3B) Đối

với ung thư giáp kém biệt hóa những tế bào thường

nhỏ, kém biệt hóa dễ nhầm với hình ảnh các tế bào

u lympho ác tính (Hình 3C) Chuẩn đoán được xác

định khi nhuộm hóa mô miễn dịch với calcitonin,

chromogranin và CEA Thyroglobulin thường âm tính

giống như trường hợp bệnh nhân của chúng tôi

Bệnh nhân của chúng tôi được chẩn đoán trước mổ

bằng khám lâm sàng, siêu âm tuyến giáp và hạch

cổ, FNA, xét nghiệm CEA và calcitonin huyết thanh

và được khẳng định lại sau mổ bằng nhuộm hóa mô

miễn dịch với calcitonin trên mẫu bệnh phẩm u

Nồng độ calcitonin huyết thanh trước mổ có liên

quan tới đáp ứng bệnh sau mổ Cohen và cộng sự

báo cáo 45 trường hợp bệnh nhân có nồng độ

calcitonin < 50pg/mL thì 44 có nồng độ bình thường

sau mổ Trong đó chỉ có 50/120 số bệnh nhân có

calcitonin trở về bình thường sau mổ khi calcitonin

>50pg/ml[6] Bệnh nhân của chúng tôi có calcitonin

trước mổ >2000pg/ml và sau mổ xuống còn

600pg/ml Machens và cộng sự báo cáo 62% số bệnh nhân không có di căn hạch có calcitonin bình thường sau mổ trong khi nhóm có di căn hạch thì

tỉ lệ này chỉ là 10% FDG-PET/CT hoặc F-DOPA-PET/CT được khuyến cáo để phát hiện các tổn thương di căn xa[2] ATA và NCCN đều đồng thuận rằng điều trị của MTC vẫn là phẫu thuật cắt tuyến giáp toàn bộ và vét hạch do tính chất ác tính và không đáp ứng với điều trị I131 MTC di căn hạch rất sớm với tỉ di căn hạch nhóm VI là 81%, di căn hạch

cổ cùng bên là 81% và di căn hạch cổ đối bên là 44% ngay cả ở giai đoạn còn khu trú một bên của tuyến giáp[7] Nồng độ calcitonin trước mổ >20pg/ml liên quan đến di căn hạch cổ cùng bên và >50pg/ml liên quan đến di căn hạch cổ đối bên Bệnh nhân của chúng tôi có calcitonin trước mổ >2000pg/ml và giải phẫu bệnh có di căn hạch nhóm VI cũng như hạch cổ cùng bên và đối bên Xạ trị chiếu ngoài (EBRT) được áp dụng cho những bệnh nhân không thể lấy hết tổn thương và những bệnh nhân có nguy

cơ tái phát cao như còn tổn thương R1, u hoặc hạch phá vỏ Xạ trị giúp kiểm soát bệnh tại chỗ với liều khuyến cáo từ 60Gy đến 66Gy vào giường u và liều cao hơn có thể được áp dụng nếu còn tổn thương sau phẫu thuật Theo dõi bằng nồng độ calcitonin và CEA tại thời điểm sau phẫu thuật 3 tháng được khuyến cáo Nếu calcitonin < 150pg/ml và khám lâm sàng, siêu âm không phát hiện bệnh thì bệnh nhân

sẽ được tái khám mỗi 6 tháng Ngược lại, cần chú ý tìm tổn thương thứ phát Trong đó gan là cơ quan hay di căn của MTC, chiếm 45% các bệnh nhân giai đoạn tiến triển Sự kết hợp của cả CEA và calcitonin trong theo dõi là tăng độ nhậy và độ đặc hiệu[8] Tần suất theo dõi cũng như chỉ định xét nghiệm nên phụ thuộc và nồng độ calcitonin và CEA Nếu bệnh nhân có nồng độ calcitonin sau mổ ổn định trong khoảng 150ml - 300pg/ml thì nên làm siêu

âm định kì hàng năm Cắt lớp vi tính toàn thân được khuyến cáo khi calcitonin từ 399pg/mL tới 650pg/mL PET-CT cũng nên được xem xét khi nồng độ calcitonin trên 500pg/ml[9] Xạ hình xương là hữu ích

và nên được tiến hành khi điều kiện cho phép

KẾT LUẬN

MTC là một khối u hiếm gặp Phẫu thuật là

ưu tiên hàng đầu ở những bệnh nhân còn chỉ định Tính chất di căn hạch cổ sớm là đặc điểm đặc trưng của bệnh, điều đó giải thích cho vai trò quan trọng của phẫu thuật Lấy được hạch cổ di căn ảnh hưởng lớn tới kết quả điều trị, hiểu biết về giải phẫu

tự nhiên và quá trình di căn hạch cổ trong MTC giúp các nhà lâm sàng kiểm soát bệnh tốt hơn Ngoài ra vai trò của xạ trị chiếu ngoài trong kiểm soát bệnh tại chỗ cũng đã được nghiên cứu Vẫn cần nhiều hơn nữa các nghiên cứu để tìm ra phương án điều trị

Trang 4

hiệu quả cho các trường hợp MTC không phẫu thuật

được hoặc kháng với điều trị trước đó

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Wells SA Jr, Asa SL, Dralle H, Elisei R, Evans

DB, Gagel RF, et al Revised American Thyroid

Association guidelines for the management of

medullary thyroid carcinoma Thyroid 2015;

25(6): 567 - 610

2 Donis-Keller H, Dou S, Chi D, Carlson KM,

Toshima K, Lairmore TC, et al Mutations in the

RET proto-oncogene are associated with MEN

2A and FMTC Hum Mol Genet 1993; 2 (7):

851 - 6

3 Ha EJ, Na DG, Baek JH, Sung JY, Kim JH, Kang

SY US Fine-Needle Aspiration Biopsy for

Thyroid Malignancy: Diagnostic Performance of

Seven Society Guidelines Applied to 2000

Thyroid Nodules Radiology 2018; 287 (3):

893 - 900

4 Rodrigo Arrangoiz, Fernando Cordera, David

Caba, Eduardo Moreno, Enrique Luque de-Leon,

Manuel Munoz Medullary Thyroid Carcinoma

Literature Review and Current Management J

Clin Endocrinal and Diabetes 2018

5 Kudo T, Miyauchi A, Ito Y, Takamura Y, Amino

N, Hirokawa M Diagnosis of medullary thyroid

carcinoma by calcitonin measurement in

fine-needle aspiration biopsy specimens Thyroid 2007; 17 (7): 635 - 8

6 Cohen R, Campos JM, Salaün C, Heshmati HM, Kraimps JL, Proye C, et al Preoperative calcitonin levels are predictive of tumor size and postoperative calcitonin normalization in medullary thyroid carcinoma Groupe d'Etudes des Tumeurs a Calcitonine (GETC) J Clin Endocrinol Metab 2000; 85 (2): 919 - 22

7 Moley JF, DeBenedetti MK Patterns of nodal metastases in palpable medullary thyroid carcinoma: recommendations for extent of node dissection Ann Surg 1999; 229(6): 880 - 7

8 Meijer JA, le Cessie S, van den Hout WB, Kievit

J, Schoones JW, Romijn JA, et al Calcitonin and carcinoembryonic antigen doubling times as prognostic factors in medullary thyroid carcinoma: a structured metaanalysis Clin Endocrinol (Oxf) 2010; 72 (4): 534 - 42

9 Ong SC, Schoder H, Patel SG, Tabangay-Lim

IM, Doddamane I, Gonen M, et al Diagnostic accuracy of 18F - FDG PET in restaging patients with medullary thyroid carcinoma and elevated calcitonin levels J Nucl Med 2007; 48 (4):

501 - 7

Ngày đăng: 21/01/2021, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w