(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH VĂN NHẬT
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN TẠI TRẠI CHĂN NUÔI AN HƯNG, XÃ DANH
THẮNG, HUYỆN HIỆP HOÀ, TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2020
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH VĂN NHẬT
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN TẠI TRẠI CHĂN NUÔI AN HƯNG, XÃ DANH THẮNG, HUYỆN HIỆP HOÀ, TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thu Trang
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 3Qua một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
và sau 6 tháng thực tập tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của thầy
cô, gia đình, bạn bè em đã hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình chỉ bảo, truyền tải kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt, em cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của cô TS Nguyễn Thu Trang – là
người hướng dẫn trực tiếp, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện
và hoàn thành khóa luận
Cũng qua đây cho em gửi lời cảm ơn đến cán bộ và công nhân tại trại chăn nuôi An Hưng, đã tạo điều kiện cho em thực hiện chuyên đề tốt nghiệp và nâng cao tay nghề Trong quá trình thực tập, bản thân em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5năm 2020
Sinh viên
Đinh Văn Nhật
Trang 4Để hoàn thành chương trình đào tạo, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình đào tạo Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian củng cố và hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen dần với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, nắm bắt được phương pháp tổ chức
và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc
Xuất phát từ quan điểm trên và được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự nhất trí của giáo viên hướng dẫn và sự giúp đỡ tận tình của trại chăn nuôi An Hưng em đã
tiến hành thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị
bệnh cho đàn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang”
Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên trong bản khóa luận tốt nghiệp này không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của bạn bè, đồng nghiệp
để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 5LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
1.1 Đặt vấn đề 6
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 6
1.2.1 Mục tiêu 6
1.2.2 Yêu cầu 7
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
2.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của trại 8
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 8
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 8
2.1.3 Cơ sở vật chất trang trại 8
2.1.4 Tình hình sản xuất của trại 8
2.1.5 Đánh giá chung 11
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến đề tài 12
2.2.1 Tổng quan tài liệu 12
2.2.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 21
2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 12
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn mẹ 12
2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 31
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 33
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 33
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30
Trang 63.1 Đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 32
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4.2 Phương pháp thực hiện 32
3.4.2.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại 32
3.4.3 Công thức tính toán từng chỉ tiêu 40
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 41
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng , huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 42
4.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh sát trùng 42
4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn con 40
Quy trình phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin 40
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái và đàn lợn con 43
4.4.1 Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn lợn nái và đàn lợn con 43
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái và lợn con 50
4.5 Kết quả thực hiện công tác khác 51
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 7Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại qua 3 năm 42
Bảng 4.2 Lịch sát trùng 43
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh sát trùng 39
Bảng 4.4 Lịch phòng bệnh cho lợn bằng thuốc và vắc xin 41
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn con 42
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái và đàn lợn con tại trại 44
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái và đàn lợn con 51
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện công tác khác 52
Trang 8Cs: Cộng sự TT: Thể trọng Ml: Mililit Nxb: Nhà xuất bản
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nước ta hiện nay đang hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới, nhằm đưa kinh
tế nước ta phát triển nhanh hơn, mạnh hơn Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách mới trong sự phát triển của đất nước, đặc biệt quan tâm chú trọng cho phát triển ngành chăn nuôi Với tiền đề là một nước nông nghiệp đi lên cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước cũng như sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chăn nuôi đang có những bước trở mình mạnh mẽ, không những giúp người dân xóa đói giảm nghèo mà còn đang góp phần vào công cuộc làm giàu của đất nước
Đặc biệt là chăn nuôi lợn, hiện nay không chỉ còn là chăn nuôi theo phương thức hộ gia đình nhỏ lẻ, sử dụng con giống nội giá trị kinh tế thấp Mà còn nhờ có chính sách mở cửa, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự tham gia của các công ty trong nước và ngoài nước trong việc chăn nuôi đã được tăng cường mở rộng theo hướng công nghiệp tập trung, sử dụng con giống ngoại nhập, công nghệ tự động Chăn nuôi lợn hiện nay đã đem lại một nguồn lợi kinh tế lớn và góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của kinh tế Tuy nhiên, do đặc điểm về địa lý cũng như khí hậu nóng
ẩm ở nước ta, mà chăn nuôi cũng gặp không ít khó khăn Từ những điều kiện trên ta cần thực hiện một quy trình chăn nuôi có thể đáp ứng được các yêu cầu trong nước
về điều kiện ngoại cảnh cũng như điều kiện vật chất
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cũng như được sự đồng ý của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em
tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng
trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
Nắm vững quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đối với đàn lợn nái và lợn con theo
mẹ qua từng giai đoạn
Trang 10 Rèn luyện và nâng cao tay nghề, củng cố những kiến thức đã học và tìm hiểu thêm những kiến thức thực tế
Đánh giá được tình hình mắc một số bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của trại
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Trại chăn nuôi An Hưng thuộc địa bàn thôn Đại Đồng, xã Danh thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
Về địa lý, Danh Thắng là một xã thuộc huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, với diện tích tự nhiên 9,37 km 2 Là vùng chuyển tiếp giữa đồi núi và đồng bằng Cách trung tâm huyện Hiệp Hoà 5,3 km, cách trung tâm thành phố Bắc Giang 27km Dân số có 7613 người, mật độ dân số đạt 812 người/km 2 (tính đến 2016)
Về khí hậu, Danh Thắng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc, một năm có bốn mùa rõ rệt, mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu ôn hoà Nhiệt độ trung bình 22 - 23 0 C, độ ẩm dao động lớn, từ 73 - 87%
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
2.1.3 Cơ sở vật chất trang trại
Trại chăn nuôi được xây dựng năm 2008, với quy mô xây dựng cho tổng số nái
là 600 con nhưng hiện tại đã giảm xuống còn 160 con Hoạt động theo phương thức nuôi nái sinh sản, bán lợn giống và lợn thịt
Trại được xây dựng trên diện tích gần 3 ha chia làm 2 khu vực chính là: khu sinh hoạt chung cho công nhân và khu sản xuất
Trong đó khu sinh hoạt chung cho công nhân gồm có: cổng ra vào trại, phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà ăn… các khu phục vụ cho các nhu cầu
Trang 12thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm Ngoài ra trại còn thiết kế thêm một số khu vui chơi phục vụ nhu cầu giải trí của công nhân
Khu chăn nuôi thì gồm 4 phần chính: chuồng đẻ, chuồng bầu và chuồng cai sữa, chuồng lợn thịt
Hệ thống chuồng đẻ của trại gồm 2 chuồng đẻ, mỗi chuồng gồm 2 dãy, mỗi dãy
có 20 ô với kích thước mỗi ô là 2,4 m × 1,6 m/ô Trong mỗi chuồng được lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và 4 quạt thông gió ở cuối chuồng Ngoài ra mỗi chuồng còn được lắp đặt thêm cửa sổ và hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện
Thứ 2 là hệ thống chuồng bầu với 2 chuồng chính, trong mỗi chuồng được lắp đặt
100 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô Cũng như chuồng đẻ, chuồng bầu cũng có dàn mát, cuối mỗi chuồng có 5 quạt thông gió, ngoài ra trong mỗi chuồng bầu còn có hệ thống làm mát cho lợn bằng nước
Thứ 3 là chuồng cai sữa gồm 10 ô, có hệ thống quạt gió, giàn mát và quây úm,
có đường nước riêng để tiện cho pha thuốc
Thứ 4 là chuồng nuôi lợn thịt, được trang bị đầy đủ quạt hút gió và giàn mát, các ô lợn đều có máng tắm và máng ăn là máng gõ
Ngoài chuồng đẻ, chuồng bầu, chuồng cai sữa còn có chuồng cách ly dùng để nhốt lợn mới nhập, lợn có dấu hiệu bị bệnh và thêm 1 phòng tinh
Sau mỗi chuồng đều có đường rãnh thoát nước thải, các đường rãnh này đều thông về một bể chứa nước thải tập trung
Nguồn nước được sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 1 bể được xử lý bằng hóa chất Sau đó được bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh
2.1.4 Tình hình sản xuất của trại
Công tác chăn nuôi
Đặc điểm là trại sản xuất con giống nên nhiệm vụ chính của trại là sản xuất giống thương phẩm, xuất bán cho các trại nuôi lợn thịt
Trang 13Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2 - 2,5 lứa/năm Số con sơ sinh là 13,25 con/đàn, số con chọn nuôi là 12,63; số con cai sữa là 12,18 con/đàn Tại trại, lợn con sẽ được nuôi theo mẹ cho đến khoảng 20 đến 24 ngày tuổi, những lợn con chưa đủ khối lượng sẽ được ghép đàn nuôi với những đàn có số ngày tuổi nhỏ hơn, còn những lợn con đã quá ngày xuất bán nhưng chưa có đợt sẽ được nhốt sang chuồng cai sữa Những lợn con này sau đó sẽ được chuyển tới các trang trại nuôi lợn thịt
Trong trại có 1 lợn đực giống Duroc đã được sử dụng nhằm mục đích khai thác tinh và kích thích sự lên giống của lợn nái Tinh dịch sau khi được pha loãng trong môi trường sẽ được bảo quản lạnh, mỗi lợn nái sau khi được phát hiện lên giống sẽ được đem đi phối 3 lần
Thức ăn phục vụ cho lợn trong trại được mua tại công ty Greenfeed, là loại thức ăn hỗn hợp với các loại khác nhau dành cho lợn ở các lứa tuổi và các chu kỳ khác nhau
Công tác phòng bệnh: theo lịch của công ty, lợn trong trại sẽ được tiêm phòng vắc xin để phòng một số bệnh thường gặp trên lợn Từ đó tăng sức đề kháng cho lợn
mẹ và lợn con sau sinh, lợn con cũng được tiêm phòng các loại vắc xin theo ngày tuổi
Công tác trị bệnh: Lợn luôn được kỹ sư theo dõi, giám sát, mọi con lợn có biểu hiện bất thường đều sẽ được nhốt riêng cách ly theo dõi và có các biện pháp điều trị cũng như xử lý kịp thời
Trang 14Công tác vệ sinh: Công nhân trước khi vào chuồng sẽ được tắm và thay đồng phục tại nhà tắm sát trùng Mọi dụng cụ khi đưa vào khu vực sản xuất đều được cách
ly, phun sát trùng Định kỳ sẽ có các công nhân làm nhiệm vụ vệ sinh, sát trùng trong chuồng và ngoài chuồng Các chuồng sau khi xuất hết lợn con sẽ được vệ sinh ngâm tẩy bằng hóa chất, được cách ly trước khi cho lợn nái mới lên đẻ
Công tác phòng bệnh: theo lịch của công ty, lợn trong trại sẽ được tiêm phòng vắc xin để phòng một số bệnh thường gặp trên lợn Từ đó tăng sức đề kháng cho lợn mẹ và lợn con sau sinh, lợn con cũng được tiêm phòng các loại vắc xin theo ngày tuổi
Công tác trị bệnh: Lợn luôn được theo dõi dám sát của 1 kỹ sư và 1 tổ trưởng, mọi con lợn có biểu hiện bất thường đều sẽ được nhốt riêng các ly theo dõi và có các biện pháp điều trị cũng như xử lý kịp thời
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm trong sản xuất
Chuồng trại có hệ thống điện lưới và nước sạch luôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn nuôi
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại
Trang 152.1.5.2 Khó khăn
Điều kiện thời tiết trong những năm gần đây diễn biến khá phức tạp kèm theo dịch bệnh xảy ra khó kiểm soát gây khó khăn cho chăn nuôi Do đó đòi hỏi công tác phòng chống dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn cần phải được đẩy mạnh
Đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu, do đó ảnh hưởng rất nhiều đến tiến độ công việc
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất
Ngoài ra, quy mô chăn nuôi lớn nên lượng chất thải nhiều, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến đề tài
2.2.1 Tổng quan tài liệu
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
Sự thành thục về tính
Một cơ thể được coi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể căn bản đã phát triển toàn diện Dưới tác động của thần kinh nội tiết tố (các phản
xạ về sinh dục), cơ quan sinh dục lợn nái có các noãn bào trứng dụng
Ở lợn nái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như: Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn cái hạu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông
Mật độ nuôi nhốt: mật độ nuôi nhốt đông trên một dơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục, nhưng cần tránh nuôi lợn nái hậu bị trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu của Hughes và cs (1996) [31], cho thấy việc nuôi nhốt lợn nái hậu bị riêng biệt từng cá thể sẽ làm chậm thành thục về tính so với lợn nái hậu bị được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn nái hậu bị Nếu lợn cái thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn so với lợn nái hậu bị không thường xuyên tiếp xúc với lợn
Trang 16đực giống Theo Hughes và cs (1996) [31], lợn nái hậu bị ngoài 90 kg thể trọng
ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn nái sẽ động dục lần đầu( Muirhead M., Alexander T., 2010) [41]
+ Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn nái được diễn ra liên tục và có chu kỳ Do trứng dụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [7]
Trứng chín: dưới ảnh hưởng của thùy trước tuyến yên, trứng phát triển rất nhanh , lớp tế bào hạt phát triển thành nhiều lớp, hình thành thể vàng, tiết dịch nang trứng làm cho kích thước nang trứng tăng nhanh, nổi lên bề mặt buồng trứng như bóng nước Tế bảo trứng nằm trong nang trứng tiến hành phân chia giảm nhiễm lần thứ nhất cho ra noãn tử để phát triển thành tế bào trứng chín
Hiện tượng rụng trứng: noãn bào lớn dần lên Nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp xuất Noãn bào vỡ giải phóng tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào khỏi noãn bào trứng ra ở từng loài gia súc khác nhau
Sự hình thành thể vàng: Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng tạo nên những nếp nhăn trên vách ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy từ vách xoang ra Dịch và máu đọng lại và lấy đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng nhanh Trong các tế bào hạt có chứa lipoit
và sắc tố màu vàng Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy các tế bào hạt (gọi
là tế bào lutein) Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi tạo ra progesterone Trong một thời gian vài ngày thể vàng sẽ đầy xoang của tế bào trứng, nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng sẽ nhanh chóng đạt đến độ tối đa rồi thoái hóa
Trang 17dần Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 – 15 ngày Nếu gia súc có thai, nó sẽ tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến khi gia súc gần đẻ
Niêm dịch: Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là kết qảu của quá trình rụng trứng Sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra âm dịch Đồng thời
ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
Tính dục: do kết quả của quá trình dụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong máu nên có một loại biến đổi khác với bình thường, gia súc cái đứng nằm không yên, kém ăn, kêu rống, thích gần con đực
Tính hưng phấn: Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi về bên ngoài, thường không yên, khi có người hoặc lợn đực đi qua lợn có biểu hiện tai dựng đứng, người ở tư thế chịu đực Cao điểm nhất là lúc
tế bào trứng rụng Khi tế bào trứng rụng đã rụng thì tính hưng phấn giảm đi rõ rệt
Chu kỳ động dục: Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [27] cho biêt: Chu
kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn dầu của chu kỳ động dục, lúc này buồng trứng to hơn bình thường Cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều, lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
- Giai đoạn động dục
Lúc này cơ thể gia súc cái có biểu hiện hàng loạt những biến đỏi sinh lý Bên ngoài âm hộ xưng đỏ, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt chảy ra nhiều, conv ật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu rống phá chuồng hay nhảy lên lưng con khác
- Gai đoạn sau động dục
Trang 18Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn mất dần đi rồi mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh
- Giai đoạn nghỉ ngơi
Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn
2.2.1.2 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đang mang thai
Quá trình chăm sóc lợn nái mang thai là quá trình quan trọng, nhằm đạt mục tiêu: lợn nái đẻ sai con, lợn con sinh ra đồng đều và đạt khối lượng sơ sinh cao nhất có thể, lợn nái mang thai phải đủ thể trạng trước khi đưa lên đẻ tránh hao mòn trong thời kỳ tiết sữa nuôi con Để đạt những mục tiêu trên, trong quá trình chăm sóc lợn nái mang thai cần chú trọng những vấn đề sau:
Sau khi phối giống qua 21 ngày cần kiểm tra lại nếu không thấy lợn nái
có biểu hiện động dục trở lại có nghĩa là lợn đã mang thai, nếu lợn có biểu hiện động dục trở lại cần đưa trở lại chuồng phối, công việc nên thực hiện kiểm tra vào ban đêm lúc yên tĩnh nhất Nhưng sau 3 tháng tiếp theo lợn nái không có biểu hiện của quá trình mang thai (bầu vú phát triển, hai hàng vú tạo thành hai
bẹ sữa chạy dọc vùng bụng, có rành phân chia riêng biệt, thì lợn chắc chắn đã chửa giả không sinh sản được
Thời gian mang thai của lợn nái là 114 ± 3 ngày Sẽ có trường hợp lợn
đẻ quá số ngày và có trường hợp đẻ sớm Trường hợp lợn đẻ non quá sớm sẽ rất khó nuôi con con
Trong quá trình mang thai, thức ăn đóng ai trò quan trọng trong việc phát triển và sinh trưởng của con con vì vậy thức ăn đủ chất cho lợn nái mang thai
là rất cần thiết Để đạt được hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản cao nhất thì cần phải có một chương trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai sao cho đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng, duy trì và dinh dưỡng của lợn nái mang thai
Trang 19* Dinh dưỡng cho lợn nái mang thai
Một quy trình chăm sóc lợn nuôi dưỡng lợn nái chửa đạt tiêu chuẩn cần phải đáp ứng đủ nhu cầu sinh trưởng, duy trì và phát triển của thai Nếu thức
ăn kém dinh dưỡng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến thai ở giai đoạn đầu và giai
đoạn cuối của thai: giai đoạn đầu thức ăn kém dinh dưỡng sẽ gây hiện tượng tiêu thai, khi đẻ còn ít thai sống và nhiều thai khô (gỗ), giai đoạn cuối giai đoạn thai phát triển mạnh nếu thức ăn kém dinh dưỡng, con non khi sinh
ra nhỏ, yếu ớt, sức sống kém, thể trạng nái không đủ để tiết sữa nuôi con
Nhưng nếu khẩu phần ăn thừa dinh dưỡng cũng sẽ gây nên tình trạng bào thai phát triển quá to hoặc thức ăn sẽ được con nái hấp thu vào chính cơ thể nó dẫn đến con nái quá mập gây hiện tượng đẻ khó, phải can thiệp kéo thai, móc thai, gây tổn thương bộ phận sinh dục, sau khi đẻ rất dễ mắc các bệnh (viêm tử cung, mất sữa), hội chứng M.M.A Gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
Từ những nguyên nhân trên cho thấy, cân bằng dưỡng chất, tránh dư thừa năng lượng, dư thừa chất béo, thai sinh ra yếu, chết do thiếu dinh dưỡng, viêm
vú viêm tử cung do sinh khó Vì vậy người chăn nuôi cần lưu ý khẩu phần cho lợn nái chửa
Bảng 2.1 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại mang thai
(kg thức ăn tinh/nái/ngày)
Giai đoạn
Thể trạng lợn nái Nái gầy
Nái bình thường Nái béo
Trang 20Thức ăn cần phải được kiểm tra độc tố nấm mốc và các chất dinh dưỡng sao cho phù hợp nhất với con nái qua từng giai đoạn sao cho, con nái và thai đạt hiệu quả tốt nhất
Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ máng ăn, tránh nấm mốc phát triển
Công tác vệ thú y đối với lợn nái chửa
- Tiêm vắc - xin phòng bệnh
Cần tiêm đủ các loại vaccine Dịch tả, FMD, PRRS… cho lợn nái từ 80 -
100 ngày sau khi phối giống Định kỳ tẩy nội, ngoại ký sinh trùng cho lợn nái
2.2.1.3 Kỹ huật chăm sóc lợn nái đẻ
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước muối lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có
vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ
nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và quan trọng
đó là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con, ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó
có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi
Trang 21phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt
là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ổ úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 -
10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày
dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21], thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ, trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ
1 - 2 - 3 kg tương ứng
Trang 22+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:
Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu
Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ, chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 -
20oC, độ ẩm 70 - 75%
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chủ yếu không thể thay thế được trong những giai đoạn đầu tiên sau khi sinh của lợn con, sản lượng của sữa mẹ và
Trang 23khối lượng của lợn con khi cai sữa liên quan mật thiết đến nhau, nếu lợn mẹ có sản lượng sữa cao thì khối lượng lợn con khi cai sữa cao và ngược lại Do vậy việc áp dụng các biện pháp để nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ là rất quan trọng Muốn đạt được mục đích trên yêu cầu phải nắm được quy luật tiết sữa
và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái, từ đó đề ra biện pháp kỹ thuật có hiệu quả
- Sinh lý tiết sữa
Tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp, do có những đặc điểm khác với gia súc khác là bầu vú của lợn nái không có
bể sữa nên lợn nái không dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn mẹ không tiết sữa tùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ
Quá trình tiết sữa của lợn nái là một phản xạ, do những kích thích vào bầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh giữ vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc vú
mẹ, những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng Hypothalamus, từ đó kích thích tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytoxin tiết vào trong máu, kích tố này
đi vào tuyến bào kích thích lợn nái thải sữa Do tác động của oxytoxin trong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau, những
vú ở phần ngực tiết sữa nhiều hơn những vú ở phần sau
Lợn con dùng mõm thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú của lợn con có thể từ 5 - 7 phút, sau đó nằm im hoàn toàn và bú Sữa tiết ra rõ nhất là lúc lợn
mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu vú, nằm yên theo sự tiết sữa của lợn mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ so với nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh lợn con bú từ 20 - 25 lần trên ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra 25 - 35 gam/con
Lượng sữa của lợn nái tiết ra cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần
Trang 24Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái như giống,
cá thể, tuổi và lứa đẻ, số con đẻ ra/lứa, nuôi dưỡng và chăm sóc
* Kỹ thuật đỡ đẻ lợn
Người đỡ đẻ cần sạch móng tay và rửa sạch tay trước khi đỡ đẻ, khi thai
ra tiến hành các công việc đỡ đẻ như sau:
Lau dịch nhờn: Một tay cầm chắc mình lợn, một tay lau khô dịc nhờn ở mũi, mồm và toàn thân lợn Các động tác nhẹ nhàng khéo léo không làm ảnh hưởng đến lợn mẹ
Cắt rốn: dùng dây chỉ đã ngâm với sát trùng, độ dài rốn để lại từ 4 – 5
cm thắt rốn lại rồi cắt, sau đó sát trùng vết cắt
Đẻ được 4 – 5 con thì cho lợn con bú sữa đầu
Mài nanh: Dùng máy mài nanh, số nanh phải mài là 8 cái, trong đó 4 răng nanh và 4 răng cửa sau Không mài quá nông vì mài nông răng vẫn sắc và nhọn gây ảnh hưởng vú lợn mẹ, mài quá sâu gây ảnh hưởng đến lợi của lợn con
Cắt duôi: Để tránh hiện tượng cắn đuôi nên cắt đuôi cho lợn con mới sinh sau 24 giờ để giảm stress co lợn con Sử dụng kéo bấm đuôi hoặc kìm bấm đuôi để bấm
2 2.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con:
- Khái niệm sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý hóa phức tạp, duy trì từ khi phôi thai hình thành đến khi thành thục về tính Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất đồng hóa và dị hóa: là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế
hệ trước Thực chất sinh trưởng là sự tăng trưởng và sự phân chia các tế bào trong cơ thể
Trang 25Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục nhanh Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 – 12 lần
So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần (Nguyễn Quang Linh và cs, 2003) [14]
Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng lượng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [13]
- Khái niệm phát dục
Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức trong cơ thể luôn hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Phát dục là một quá trinh thay đổi về chấ lượng tức là sự thay đổi tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của cơ quan, bộ phận trong cơ thể nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện chức năng của cơ thể sống (Pensaet M.B và cs (1978) [35]
Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm hiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp
* Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:
Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giai đoạn này để giảm tỷ lệ chết
* Thời kỳ 3 tuần tuổi:
Trang 26Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn
mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi
đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập ăn sớm cho lợn con
* Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu
là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp
Chú ý: Trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiến hành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con
Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau: + Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
+ Bổ sung sắt cho lợn con
+ Tập cho lợn con ăn sớm
2.2.2.2 Cho bú sữa đầu
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn
là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng
Trang 27 globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy với tỷ lệ chết cao
2.2.2.3 Tập cho lợn con ăn sớm
Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: Đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ
Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách
dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị
Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm (tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)
Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5% Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ăn sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn Giúp cho lợn con làm quen với thức ăn và sớm biết ăn để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm hơn Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặm nhấm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 - 10 ngày tuổi lợn con mọc thêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức ăn nhấm nháp cả ngày đỡ ngứa lợi thì lợn con bớt gặm lung tung
Trang 28Lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ
2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.3.1 Phòng bệnh
Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [20] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra
áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs, (1993) [25], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là
vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vâṭ chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn,
điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E.coli,
bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 30oC đối với lợn sơ sinh và 28 - 30oC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không
Trang 29thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước
khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản
Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc - xin:
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất
Trang 30Theo Nguyễn Bá Hiên và Cs, (2012) [11] vắc - xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô hoạt bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới
- vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ướng
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay
mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
2.2.3.2 Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012) [11] nguyên tắc để điều trị bệnh là: + Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
- Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
Trang 31+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh
Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
Trang 32- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, nước sinh lý…
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn mẹ
2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung
Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh
dễ xảy ra
Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh, Trần Ngọc Bích và cs, (2016) [2], đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%
Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng
tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái, làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [8]
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs, (2016) [26], viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn
thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F 2 và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2002) [13], Nguyễn Xuân Bình (2000) [3],
Lê Minh và cs, (2017) [16] bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
Trang 33- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường
Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung
co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn
- Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: Sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
- Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm
- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
- Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái
- Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [17], yếu
tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc viêm tử cung: Mùa Hạ có
tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa Đông 46,05%, mùa Thu 43,70%
Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái, nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng
cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng, tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc tố làm tiêu