1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp phát triển nhân lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tỉnh nam định đến năm 2020

113 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể bắt kịp với trình độ quản lý và trình độ khoa học - kỹ thuật hiện đại của các nước trong khu vực và thế giới trong xu thế hội nhập ngày càng sâu, rộng vào quá trình toàn cầu ho

Trang 1

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thanh Dung

Trang 2

Bản luận văn này được hoàn thành sau một quá trình học tập nghiên cứu của tôi trên giảng đường và trong thực tiễn Bên cạnh những nỗ lực của bản thân, đó cũng là kết quả của sự hướng dẫn và giúp đỡ của mọi người

Tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo hướng dẫn của tôi, GVC.TS Phạm Thị Thanh Hồng đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn tôi trong toàn bộ quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn

Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Viện Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức, trang bị những kỹ năng cho tôi trong quá trình học tập và giúp đỡ tôi hoàn tất mọi thủ tục để hoàn thành Luận văn;

Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Cục Thuế Nam Định; gia đình và bạn bè

đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn

Xin trân trọng cảm ơn./

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thanh Dung

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhân lực là tài sản quý giá và to lớn của quốc gia, vừa là mục tiêu, tiền đề, vừa là động lực để thực hiện chiến lược phát triển KTXH, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quan tâm đến con người, đặc biệt là giải quyết việc làm, ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động là những vấn đề xã hội nóng bỏng hiện nay

Sự thịnh vượng của các quốc gia trong thế kỷ XXI sẽ được xây dựng chủ yếu trên nền tảng văn minh về trí tuệ của con người Để có thể bắt kịp với trình độ quản lý

và trình độ khoa học - kỹ thuật hiện đại của các nước trong khu vực và thế giới trong xu thế hội nhập ngày càng sâu, rộng vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới hiện nay, Nam Định cùng với cả nước phải chuẩn bị một đội ngũ người lao động hội tụ những giá trị truyền thống của dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hoá của nhân loại, đó là những con người có đức, có tài, thông minh, sáng tạo, làm việc vì sự phồn vinh của Tổ quốc, được chuẩn bị tốt về mọi mặt, đủ năng lực từ quản lý sản xuất kinh doanh, đến điều hành vĩ

mô KTXH

Phát triển nhân lực là một trong những yêu cầu không thể thiếu trong chiến lược phát triển KTXH của đất nước nói chung và của từng địa phương nói riêng Cũng như câu hỏi “vốn ở đâu?”, “Đất ở đâu?” việc đào tạo phát triển nhân lực cũng là để trả lời câu hỏi “Người đâu?”

Nam Định là một trong những tỉnh đông dân cư, có truyền thống hiếu học đây là lợi thế của tỉnh trong việc cung cấp nhân lực để phục vụ phát triển KTXH Những năm qua, tỉnh Nam Định đã có nhiều cố gắng trong việc đạo tạo phát triển nhân lực Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao sự phát triển, việc đào tạo, phát triển nhân lực để phục vụ quá trình phát triển KTXH của tỉnh Nam Định cũng còn nhiều vấn đề tồn tại, cần nghiên cứu giải quyết, đang được đặt như một nhiệm vụ cấp bách Vì vậy, tác giả

chọn vấn đề: "Một số giải pháp phát triển nhân lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội

Trang 4

tỉnh Nam Định đến năm 2020" làm đề tài luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, với

mong muốn tham gia ý kiến vào việc giải quyết những vấn đề nêu trên

2 Mục đích, yêu cầu

Mục đích: Luận văn được thực hiện với mục đích đề xuất một số giải pháp phát triển nhân lực thúc đẩy phát triển KTXH của tỉnh Nam Định đến năm 2020

Yêu cầu:

- Các số liệu phải có tính chính xác và cập nhật cao

- Biện pháp đưa ra có cơ sở khoa học, có tính thực tiễn cao và phù hợp với điều kiện đổi mới và phát triển của tỉnh Nam Định

3 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về nhân lực nói chung và nhân lực tỉnh Nam Định nói riêng Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực rất rộng liên quan đến tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân Vì vậy, trong luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp ở tầm vĩ mô về phát triển nhân lực trong quá trình phát triển KTXH của tỉnh Nam Định đến năm 2020

Thời gian nghiên cứu từ 2009-2013

4 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, dự báo để đưa ra các giải pháp

- Các phân tích dựa trên số liệu thu thập được từ nguồn cung cấp chính thống ở các Sở, ngành của tỉnh Nam Định (Cục Thống kê; Sở LĐTB&XH tỉnh; Sở Nội vụ; Sở KH&CN; Sở KH&ĐT; Sở Y tế; Sở GD&ĐT…); Tổng cục Thống kê; một số tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Hồng và các tài liệu tham khảo khác…

5 Đóng góp của luận văn

- Luận văn đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về nhân lực, đào tạo và phát triển nhân lực

Trang 5

- Luận văn đã phân tích thực trạng phát triển KTXH; thực trạng nhân lực và thực trạng đào tạo phát triển nhân lực và các chính sách thúc đẩy quá trình đó Từ đó rút ra những nhận xét về thành công và những vấn đề cần nghiên cứu giải quyết để phát triển nhân lực của tỉnh Nam Định đến năm 2020

- Luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nhân lực thúc đẩy phát triển KTXH tỉnh Nam Định đến năm 2020

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày gồm 3 phần:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phát triển nhân lực

Chương 2: Thực trạng nhân lực và phát triển nhân lực tỉnh Nam Định năm

2013

Chương 3: Quan điểm, định hướng và một số giải pháp cơ bản phát triển nhân

lực thúc đẩy phát triển KTXH tỉnh Nam Định đến năm 2020

Trang 6

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC

1.1 Vai trò của phát triển nhân lực và phát triển KTXH

1.1.1 Khái niệm nhân lực

Nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, cũng có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng Theo đó, nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động KTXH Tiềm năng lao động của con người bao hàm cả thể lực, trí lực và tâm lực (như đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc)

Số lượng, chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động KTXH chính là số lượng, chất lượng của bộ phận dân số trong độ tuổi đang có việc làm, chưa

có việc làm nhưng có khả năng làm việc Về chất lượng nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực; trình độ học vấn, kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp; cơ cấu tuổi tác, giới tính, thiên hướng, tình trạng phân bổ theo lãnh thổ và khu vực hoạt động là thành thị, hay nông thôn

Theo Luật Lao động, nhân lực của xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động nhưng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động Số lượng nhân lực phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động; chất lượng nhân lực phụ thuộc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo và thể chất người lao động, yếu tố di truyền, nhu cầu sử dụng lao động ở địa phương

Nguồn lao động rộng hơn lực lượng lao động Nó không chỉ bao gồm lực lượng lao động; mà còn bao gồm cả bộ phận dân số từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động, nhưng chưa tham gia hoạt động kinh tế (đang đi học; nội trợ gia đình; không có nhu cầu làm việc, nghỉ hưu nhưng vẫn có khả năng lao động v.v )

Trang 7

Lực lượng lao động hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động đang có việc làm, hoặc không

có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc Giữa các quốc gia có sự khác nhau về quy định

độ tuổi lao động Hiện nay, nhiều nước lấy tuổi tối thiểu là 15 tuổi, còn tuổi tối đa vẫn còn có sự khác nhau, tuỳ thuộc vào tình hình phát triển KTXH của mỗi nước, có nước quy định là 60, có nước 65, thậm chí có nước đến 70, 75 tuổi Đặc biệt ở Úc không có quy định tuổi về hưu và do đó không có giới hạn tuổi tối đa Ở nước ta quy định tuổi lao động là từ 15 - 60 tuổi đối với nam và từ 15 - 55 tuổi đối với nữ

Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên

với lực lƣợng lao động và nguồn lao động ở Việt Nam

(Nguồn: Tổng cục Thống Kê)

Nhân lực được phân chia thành: nhân lực sẵn có; nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế; nhân lực dự trữ

Quan hệ giữa 3 khái niệm này mô hình hoá trong hình 1.2

Dân số từ đủ 15 tuổi trở lên

Đi học

Nội trợ cho gia đình mình

Không

có nhu cầu làm việc

Tình trạng khác

Lực lượng lao động

Nguồn lao động (Nhân lực )

Trang 8

Hình 1.2: Sơ đồ về mối quan hệ giữa các bộ phận trong nhân lực

(Nguồn: Tổng cục Thống Kê)

- Đặc trưng về mặt sinh học và xã hội con người Con người sống trong môi trường tự nhiên và xã hội, nên các yếu tố tự nhiên và xã hội gắn bó khăng khít, hoà quyện vào nhau Hoạt động của con người chủ yếu là hoạt động sản xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua những hoạt động đó, con người cải tạo chính bản thân mình, làm cho con người ngày càng trở nên hoàn thiện hơn Lao động đã sáng tạo ra con người

- Đặc trưng về số lượng: về mặt số lượng, quy mô nhân lực phụ thuộc vào phạm

vi lãnh thổ, các quy định pháp luật về giới hạn tuổi tác và cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính v.v Theo quy định ở Việt Nam dân số trong độ tuổi lao động được tính với những người có độ tuổi từ 15  60 (đối với nam giới), 15  55 (đối với nữ giới) (Nếu

Đi học

Nội trợ

Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân

Lực lượng lao động đang thất nghiệp

Trang 9

những quy định này thay đổi sẽ ảnh hưởng tới quy mô nguồn nhân lực) Sự gia tăng tổng dân số là cơ sở hình thành và gia tăng nguồn nhân lực Nhưng nhịp độ tăng giảm dân số phải sau 15 năm mới tác động đến nhịp tăng, giảm nguồn nhân lực

- Đặc trưng về chất lượng: Chất lượng nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất và phát triển con người Những nét đặc trưng đó bao gồm: những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực , thí dụ trạng thái sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ CMKT, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần

xã hội cũng như các lĩnh vực bảo đảm dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, lao động việc làm, trả công cũng như nhiều mối quan hệ xã hội khác

Chất lượng là một đặc trưng quan trọng của nguồn nhân lực , cần vượt trước trình

độ phát triển của cơ sở vật chất - kỹ thuật để sáng tạo, cũng như sẵn sàng đón nhận những tiến bộ kỹ thuật - công nghệ mới

1.1.2 Mối quan hệ sự phát triển nhân lực

Phát triển nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người lao động (trí tuệ, thể chất

và phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nhân lực cho sự phát triển KTXH trong từng giai đoạn phát triển

Cũng tương tự như trong các thuật ngữ tăng trưởng và phát triển kinh tế, phát triển nhân lực gắn liền với sự hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực , thể hiện ở việc nâng cao trình độ giáo dục quốc dân, trình độ kỹ thuật, chuyên môn, sức khoẻ và thể lực cũng như ý thức hệ, đạo đức của người lao động Còn tăng trưởng nhân lực gắn với việc tăng về số lượng trong lực lượng lao động Phát triển nhân lực có vai trò và ý nghĩa quyết định hơn so với sự tăng trưởng nguồn nhân lực, nhất là trong bối cảnh dân số, lao động và kinh tế như ở nước ta nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng

Trang 10

Quá trình phát triển nhân lực đòi hỏi tạo ra sự biến đổi về mặt số lượng và chất lượng và một cơ cấu đội ngũ nhân lực hợp lý cần thiết để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển vì sự tiến bộ KTXH Khác với đầu tư cho các nguồn lực phi con người, đầu tư cho nhân lực là sự tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội nói chung

Phát triển nhân lực được xem xét trên hai mặt chất và lượng Về chất, phát triển nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trường thuận lợi cho nhân lực phát triển; về lượng là gia tăng

số lượng nhân lực, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản

Dân số và cấu thành dân cư của địa phương là cơ sở cho sự hình thành và phát triển nguồn lao động Dân số cung cấp nhân lực Tăng dân số sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của nguồn nhân lực Dân số tăng nhanh sẽ trực tiếp làm tăng nguồn lao động xã hội Việc này một mặt tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, mặt khác gây sức ép rất lớn trong việc bố trí sử dụng số người bước vào độ tuổi lao động Mỗi năm nếu số người bước vào độ tuổi lao động tăng thêm này cao hơn nhiều so với nhu cầu sử dụng lao động của nền kinh tế - hậu quả là tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng

Bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động

và tư liệu lao động Do vậy, phát triển nhân lực chính là đầu tư vào các các yếu tố của quá trình sản xuất Cần lưu ý rằng trong tất cả các yếu tố đầu tư thì đầu tư vào con người, đầu tư cho nhân lực là đầu tư quan trọng nhất Đầu tư cho con người được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn: giáo dục tại nhà trường, đào tạo nghề nghiệp tại chỗ, chăm sóc y tế

Phát triển nhân lực dưới góc độ của một đất nước là quá trình tạo dựng một lực lượng lao động năng động, thể lực và sức lực tốt, có trình độ lao động cao, có kỹ năng

sử dụng lao động có hiệu quả Xét ở góc độ cá nhân thì phát triển nhân lực là việc nâng

Trang 11

động Tổng thể phát triển nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực, trí lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất Trí lực có được nhờ quá trình đào tạo

và tiếp thu kinh nghiệm Thể lực có được nhờ vào chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế, môi trường làm việc…

1.1.3 Sự cần thiết khách quan phát triển nguồn nhân lực

Sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi phải có nhân lực không chỉ về chất lượng và số lượng mà còn phải có một cơ cấu đồng bộ Nhân lực được coi là vấn

đề trung tâm của sự phát triển Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định “nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” “con người và nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nguồn lực con người là điểm cốt yếu nhất của nguồn nội lực, do đó phải bằng mọi cách phát huy yếu tố con người và nâng cấp chất lượng nhân lực

Vai trò và vị trí của nhân lực đối với sự phát triển của đất nước ngày càng cao đặc biệt đối với khoa học xã hội và nhân văn Nó là cơ sở “cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối chính sách phát triển KTXH, xây dựng con người, phát huy những di sản văn hóa dân tộc, sáng tạo những giá trị văn hóa mới của Việt Nam”

Trong chương trình “Xây dựng văn hóa, phát triển con người và nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã phản ánh một cách đầy đủ và súc tích về mối quan hệ các vấn đề văn hóa, con người nhân lực gắn quyện với nhau: hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra qua giáo dục lại trở lại với con người được con người thừa kế và phát triển, phải trở thành sức mạnh ở mỗi con người cũng như trong từng tập thể lao động, nguồn lực con người tạo ra các giá trị mới, đáp ứng nhu cầu phát triển của từng người, nhóm người, mỗi đơn vị sản xuất, kinh doanh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nói chung và của từng tế bào kinh tế nói riêng

Sự cần thiết khách quan phát triển nhân lực xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Trước hết sự phát triển nhân lực xuất phát từ nhu cầu về lao động Sở dĩ như vậy

Trang 12

bởi yêu cầu phát triển của xã hội nhân lực xã hội ngày càng tăng nhu cầu tiêu dùng của

xã hội ngày càng lớn, ngày càng phong phú đa dạng Điều đó tất yếu xã hội phải tạo ra nhiều của cải theo đà phát triển ngày càng tăng của xã hội; nghĩa là lực lượng tham gia vào các hoạt động của nền sản xuất xã hội phải ngày càng nhiều, chất lượng lao động phải ngày càng nâng lên, phải nâng cao trình độ trí tuệ và sức sáng tạo của con người hay nói cách khác phải nâng cao chất lượng nhân lực để tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ ngày càng cao mới đáp ứng được yêu cầu đó

Sự cần thiết phải nâng cao trình độ lao động còn cần thiết từ nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Khi kinh tế phát triển mạnh hơn, xã hội trở nên văn minh hơn thì con người luôn luôn được hoàn thiện ở cấp độ cao hơn Đến lượt nó đòi hỏi việc nâng cao trình độ tri thức của người lao động; nghĩa là không phải chỉ do yêu cầu thực tiễn của sản xuất mà do yêu cầu đòi hỏi từ chính bản thân con người, hay nói cách khác, chất lượng của nhân lực sẽ tăng lên là điều tất yếu trong tiến trình phát triển của nền sản xuất xã hội

Sự phát triển của nhân lực còn là một tất yếu do tiến trình phát triển của nền sản xuất xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, yêu cầu khoa học của tính đồng bộ trong tiến trình phát triển Đối với Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, chất lượng nhân lực tăng lên không chỉ có ý nghĩa để sử dụng các thành tựu mới của khoa học công nghệ mà còn có điều kiện để sáng tạo ra các tư liệu lao động mới Hơn thế quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa yêu cầu nhân lực phải có sự chuyển biến về chất từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ

Sự phân tích trên cho thấy nhân lực có vai trò rất quan trọng, việc nâng cao chất lượng nhân lực và phát triển nhân lực là một tất yếu khách quan, là xu thế phát triển của thời đại là yêu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hoá là sự cần thiết khách quan đối với Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng Một nhân lực chất lượng cao là tiền đề, là cơ sở quyết định sự thành bại trong công cuộc xậy dựng và phát

Trang 13

triển đất nước Hơn nữa nhân lực chất lượng cao còn là nhân tố khắc phục được những hạn chế của đất nước về tài nguyên thiên nhiên, môi trường, vị trí địa lý… Là giải pháp hữu hiệu nhất để đưa đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh bền vững

1.1.4 Mối quan hệ nhân lực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Sự phát triển KTXH phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác, quản lý và sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực của đất nước bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ và tiềm lực về con người hay nguồn nhân lực

Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có loại có thể tái tạo được,

có loại không thể tái tạo được Những tài nguyên đó đã và đang góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của đất nước (như dầu mỏ, khí đốt) Tuy nhiên việc khai thác, quản lý, sử dụng và tái tạo lại các nguồn tài nguyên thiên nhiên lại do con người quyết định Ngày nay, tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ đang góp phần quan trọng, thúc đẩy sự phát triển KTXH của đất nước Nhưng để có thể sử dụng, phát huy được những thành tựu đó đòi hỏi phải có đội ngũ lao động có trình độ, có kỹ thuật, tay nghề cao, nghĩa là vẫn phải có đội ngũ lao động phù hợp, đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất Nếu không có đội ngũ lao động tương ứng thì cả tài nguyên thiên nhiên, cả tiền vốn, cả thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ đều không thể phát huy được vai trò và sức mạnh

Cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một hệ thống các loại thị trường trong đó có thị trường sức lao động sẽ hình thành và ngày càng phát triển Đây là một xu hướng tất yếu, có ảnh hưởng lớn tới việc đào tạo và sử dụng nguồn lao động

Quá trình phát triển nền kinh tế của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng đòi hỏi phải có lực lượng lao động kỹ thuật có tay nghề, có kỷ luật và trình

Trang 14

độ văn hoá cao, có thể tiếp thu và sử dụng hiệu quả những thành tựu khoa học kỹ thuật

và công nghệ hiện đại của thế giới

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong suốt mấy thập kỷ qua đã cho thấy, nước nào biết chăm lo, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, biết phát huy nhân tố con người thì nước đó có thể đạt được tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng mặc dù không giàu tài nguyên thiên nhiên và trình độ khoa học, kỹ thuật chưa phát triển Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan là những thí dụ minh chứng cho điều đó

1.2 Các tiêu chí đánh giá nhân lực và phát triển nhân lực

Nhóm tiêu chí đánh giá năng lực trình độ của nhân lực là nhóm chỉ tiêu quan

trọng đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực Chất lượng nhân lực là một khái niệm có

nội hàm rất rộng, được thể hiện qua những thuộc tính cơ bản của nó Hiện nay có 3 tiêu chí cơ bản đánh giá tính hiệu quả của công tác quản trị nhân lực đó là: Sức khỏe - trình

độ văn hóa - trình độ CMKT

1.2.1 Tiêu chí biểu hiện trạng thái sức khỏe

Sức khoẻ của nhân lực cũng được xem xét là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không đơn thuần là không có bệnh tật Sức khoẻ là tổng hoà nhiều yếu tố tạo lên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần Có nhiều chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khoẻ của người lao động Bộ Y tế Việt Nam quy định 3 trạng thái sức khoẻ như sau: Thể lực tốt, không bệnh tật loại A; Trung bình loại B; Yếu không có khả năng lao động loại C

Tiêu chí sức khoẻ đối với nhân lực không những là một tiêu chuẩn chung, phổ thông cần thiết cho mọi nhóm ngành nghề, công chức nhà nước, mà tuỳ theo những hoạt động đặc thù của từng loại công việc còn có những yêu cầu tiêu chuẩn riêng Vì vậy, việc xây dựng chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khoẻ nhân lực cần xuất phát từ yêu cầu cụ thể đối với hoạt động có tính đặc thù của từng loại ngành nghề Yêu cầu về sức

Trang 15

khoẻ không chỉ là một quy định bắt buộc khi tuyển chọn, mà còn phải là yêu cầu được duy trì trong suốt quá trình thực hiện cuộc đời công tác của người làm việc Nhân lực được đảm bảo về mặt sức khoẻ mới có thể duy trì công việc được liên tục Vì vậy, người lãnh đạo cơ quan cần tạo không khí làm việc nghiêm túc, cởi mở, thân thiện để phát huy tốt nhất tính sáng tạo của nhân lực đồng thời hàng năm nên tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho nhân lực phát hiện những bệnh tật, nhất là bệnh nghề nghiệp để có biện pháp điều trị kịp thời

Sức khỏe vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển của một đất nước, một dân tộc Các cụ ta đã đúc kết: “Sức khỏe là vàng”, “Có sức khỏe là có tất cả” đã chứng tỏ được tầm quan trọng của sức khỏe con người Theo Tổ chức y tế thế giới:“Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật”

Còn theo Philippus Paracelsus, nhà vật lý học người Đức ở thế kỷ 15, người được coi là cha đẻ của nền y học hiện đại đã nói rằng: “Tinh thần là người chủ, trí tưởng tượng là công cụ và cơ thể là nguyên liệu mềm dẻo”

Như vậy, sức khỏe gồm sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, là khả năng mang vác, lao động chân tay Sức khỏe tinh thần là

sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động

Sức khỏe con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh

tế và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu có thể đo lường như: chiều cao, cân nặng, ngoại hình, sức bền, độ dẻo dai, khả năng mang vác vật nặng, tình trạng bệnh tật,… Trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ, sức khỏe lại càng quan trọng bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng phục vụ khách hàng Những nhân viên ở khu vực này có yêu cầu về ngoại hình cao hơn, không được phép mắc các bệnh truyền nhiễm dễ lây qua hoạt động giao tiếp, ăn uống; tinh thần cần luôn ở trạng thái thoải mái, vui vẻ, hoạt bát

sẽ tạo hiệu ứng tốt khi tiếp xúc với khách hàng

Trang 16

1.2.2 Tiêu chí biểu hiện trình độ văn hoá

Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nhân lực cũng như trình độ phát triển của KTXH

Trình độ văn hóa là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông không chỉ về lĩnh vực tự nhiên mà còn bao gồm cả lĩnh vực xã hội Ở một mức độ cho phép nhất định nào đó thì trình độ văn hoá của dân cư thể hiện mặt bằng dân trí của một quốc gia

Trình độ văn hoá của nhân lực được thể hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ:

- Số lượng và tỷ lệ biết chữ

- Số lượng và tỷ người qua các cấp học tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, cao đẳng, đại hoc, trên đại học,…

1.2.3 Tiêu chí biểu hiện trình độ CMKT

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân lực là trình độ về chuyên môn được đào tạo qua các trường lớp với văn bằng chuyên môn phù hợp yêu cầu của công việc Trình độ chuyên môn đào tạo ứng với hệ thống văn bằng hiện nay chia thành các trình

độ như sơ cấp, trung cấp, đại học và trên đại học Đây là một tiêu chí quan trọng đối với Nhân lực và ngày càng có yêu cầu cao hơn Nhân lực cần được đào tạo chuyên môn kiến thức chung về nhóm ngành nghề, về kinh tế Một nền tảng kiến thức vững chắc

về kinh tế học vĩ mô, kinh tế học vi mô, kinh tế học công cộng v.v sẽ giúp nhân lực có cái nhìn bao quát, tổng thể trước mọi biến động của tình hình kinh tế Nắm vững các quy định của pháp luật thuế và biết vận dụng một cách đầy đủ, đúng đắn nhất các quy định đó trong công tác với nhiều tình huống kinh tế phát sinh Được đào tạo về tin học ứng dụng và các kiến thức khác cần thiết cho công việc Tuy nhiên khi xem xét về trình

độ chuyên môn của nhân lực cần phải lưu ý về sự phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với yêu cầu thực tế của công việc và kết quả làm việc của họ

Trang 17

Trình độ CMKT thể hiện sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn, nghề nghiệp nào đó Đó cũng là trình độ được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp, chính quy Các chỉ tiêu phản ánh trình độ CMKT như:

- Số lượng lao động được đào tạo và chưa qua đào tạo

- Cơ cấu lao động được đào tạo:

+ Cấp đào tạo

+ Công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn

+ Trình độ đào tạo( cơ cấu bậc thợ )

Ngoài ra còn có thể xem xét chất lượng nhân lực thông qua chỉ tiêu biểu hiện năng lực phẩm chất của người lao động

1.3 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển KTXH

- Thay đổi cơ cấu kinh tế

- Mức tăng trưởng giá trị tổng sản phẩm quốc nội

- Tăng số trường lớp

- Mức tăng trưởng số lao động việc làm

- Mức giảm tỷ lệ thất nghiệp so với năm trước

- Giảm tỷ lệ tệ nạn xã hội

1.4 Nội dung chủ yếu phát triển nhân lực

1.4.1 Quy hoạch phát triển nhân lực

Quá trình quy hoạch phát triển nhân lực được thực hiện trong mối liên hệ mật thiết với quá trình hoạch định và thực hiện các chiến lược và chính sách phát triển trong tững lĩnh vực KTXH của tỉnh, quy hoạch phát triển nhân lực được thực hiện qua các bước sau đây:

Trang 18

- Phân tích môi trường, xác định mục tiêu phát triển KTXH của địa phương

- Phân tích hiện trạng nhân lực

- Phân tích quan hệ cung cầu nhân lực, xây dựng các chính sách, kế hoạch, chương trình thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực

- Thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình quản trị phát triển nhân lực của địa phương

- Kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện

1.4.2 Đào tạo phát triển nhân lực

Đào tạo nhân lực là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng được mục tiêu, chiến lược phát triển KTXH của một địa phương, một vùng hay của đất đất ở một thời kỳ nhất định Hiện nay, chất lượng nhân lực trở thành một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy

sự phát triển KTXH Đào tạo phát triển nhân lực nhằm:

- Giúp người lao động thực hiện các công việc một cách tốt hơn, đặc biệt khi người lao động thực hiện các công việc không đáp ứng được các tiêu chuần chẩn mẫu hoặc khi người lao động nhận công việc mới

- Cặp nhật các kỹ năng, kiến thức mới cho người lao động

- Với cơ cấu đào tạo phù hợp với mục tiêu phát triển KTXH của địa phương, với

xu thế phát triển của đất nước sẽ tạo ra cơ cấu lao động hợp lý, tiến bộ góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển

Bằng các phương thức đào tạo khác nhau như dạy và học trực tiếp tập trung, thông qua các phương tiện truyền thông, băng hình, đĩa hình chương trình hay đoà tạo trực tuyến qua mạng với các hình thức đào tạo: đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ giúp trang bị kiến thức phổ thông, kiến thức chuyên nghiệp và các kiến thức quản lý cho nhân lực

Trang 19

1.4.3 Chính sách thu hút, khuyến khích tạo động lực cho người lao động

và duy trì nhân lực

Chính sách thu hút, khuyến khích tạo động lực và chiến lược kích thích lao động

và động viên học nhằm duy trì củng cố và phát triển lực lượng lao động gắn bó với một

cơ quan, đơn vị cụ thể hay rộng hơn là gắn bó với địa phương nơi người lao động đang công tác, lao động Nếu cơ quan, đơn vị có lực lượng lao động có trình độ và bố trí vào

vị trí thích hợp, nhưng chính sách lương bổng, đãi ngộ không thích hợp thì tinh thần người lao động sẽ giảm sút, năng suất lao động không cao Chính sách lương bổng đãi ngộ của cơ quan, đơn vị đối với người lao động bao gồm: đãi ngộ về mặt tài chính và đãi ngộ phi tài chính

1.4.3.1 Đãi ngộ về mặt tài chính

Đãi ngộ về mặt tài chính được chia ra 2 phần: phần đãi ngộ trực tiếp là trả lương tháng, lương công nhật, tiền thưởng và đãi ngộ gián tiếp là các khoản phúc lợi và các kế hoạch bảo hiểm Trong đãi ngộ về mặt tài chính thì hình thức trả lương, thưởng cũng rất quan trọng Cơ cấu trả lương được chia thành trả lương theo khối gián tiếp và trực tiếp Khối gián tiếp là các nhân viên là các nhân viên hành chính và cán bộ quản lý doanh nghiệp, hình thức trả lương cho khối gián tiếp thường là lĩnh lương theo tháng và các khoản tiền thưởng Khối lao động trực tiếp đựơc lĩnh lương theo thời gian hoặc sản phẩm với các phương pháp trả lương như: phương pháp trả lương theo từng sản phẩm, trả lương thưởng 100%, trả lương theo giờ tiêu chuẩn, trả lương cơ bản cộng với tiền thưởng

Đãi ngộ gián tiếp về mặt tài chính là các khoản phúc lợi và các kế hoạch bảo hiểm Các khoản phúc lợi bao gồm: phúc lợi theo quy định của pháp luật và phúc lợi tự nguyện Phúc lợi theo quy định của pháp luật là các bảo hiểm xã hội: trợ cấp ốm đau bệnh tật, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu chí Phúc lợi tự nguyện là các khoản phúc lợi không theo quy định pháp luật nhằm khuyến khích người lao động yên tâm công

Trang 20

tác, gắn bó với cơ quan nhiều hơn: đó là chương trinh bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ, các loại dịch vụ, bảo hiểm nhân thọ và các loại trợ cấp khác

1.4.3.1, Đãi ngộ phi tài chính

Ở Việt Nam hiện nay, đa số người lao động trong các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị còn quan tâm nhiều đến tài chính để lo cho cuộc sống nên kích thích phi tài chính chưa thực sử trở thành nhu cầu thiết yếu Tuy nhiên, trong tương lai khi đất nước phát triển, vấn đề này càng trở nên quan trọng Hiện nay, ở một số nước có nền kinh tế phát triển, nhiều khi kích thích phi tài chính còn quan trọng các kích thích về tài chính Kích thích phi tài chính bao gồm chính bản thân công việc có thu hút và làm cho người lao động thoả mãn không? Và môi trường, khung cảnh làm việc có thoả mãn nhu cầu của người lao động chưa? Ngoài ra đãi ngộ phi tài chính còn làm thoả mãn nhu cầu ở thứ bậc cao như nhu cầu xã hội, nhu cầu được kính trọng, nhu cầu đựơc thể hiện mình, nhu cầu được học hành, thăng tiến

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân lực

1.5.1 Nhóm nhân tố "tự nhiên"

Nhóm này bao gồm quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số Các nhân tố này được xem xét trong mối quan hệ qua lại giữa sự biến dộng dân số, với nhân lực và giải quyết việc làm

Quy mô dân số được biểu thị khái quát bằng tổng số dân cư của một khu vực vào thời điểm nhất định Quy mô dân số là nhân tố quan trọng là căn cứ để hoạch định chiến lược phát triển Mỗi một nước (cũng như một vùng, địa phương) cần có một quy mô dân số thích hợp, tương thích với điều kiện tự nhiên, cũng như trình độ phát triển KTXH của mình

Cơ cấu dân số thích hợp bảo đảm cho sự phát triển ổn định, được nhiều nhà dân

số học nhất trí: Tỷ lệ trẻ em dưới tuổi lao động là 26%28%; Tỷ lệ người trong độ tuổi

Trang 21

lao động là 6064%; Tỷ lệ người già trên độ tuổi lao động là: 1012% Muốn vậy, thì

tỷ suất sinh (TFR) phải giữ ở mức thay thế

Gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và phát triển nhân lực Nhưng nếu dân số

có tăng nhanh trong điều kiện nước nghèo, khi mà không có khả năng cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và chăm sóc y tế, trình độ học vấn thấp v.v Năng suất lao động thấp, sản phẩm quốc dân tăng chậm thì rất bất lợi cho phát triển KTXH

Cơ cấu dân số theo độ tuổi có tác động đến số lượng nhân lực : tăng nhanh hay chậm

Cơ cấu dân số theo giới tính có vai trò trong cân bằng sinh thái của cộng đồng, trong những mối liên hệ xã hội và kinh tế

Cơ cấu dân số theo khu vực thành thị, nông thôn thể hiện mức độ đô thị hoá

Di dân là một trạng thái vận động của dân cư Di dân (theo nghĩa đơn giản, trực tiếp) là sự di chuyển dân cư từ đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác Di dân

là một hiện tượng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố có những yếu tố khó kiểm soát Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành thị là một tất yếu

1.5.2 Nhóm nhân tố về KTXH

Các nhân tố này liên quan chặt chẽ với chất lượng nguồn nhân lực

Như chúng ta đều biết bất kỳ một quá trình sản xuất xã hội nào cũng cần có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động; trong đó sức lao động là yếu tố chủ thể của quá trình sản xuất; nó không chỉ làm “sống lại” các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn có khả năng sáng tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất Điều đó chứng tỏ vai trò của nhân lực có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Trong các nhân lực sẵn có thì chất lượng nhân lực có ý nghiã đặc biệt quan trọng Như đã phân tích trên để cải biến đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động phải sử dụng lao động chân tay, song để sáng tạo ra các đối tượng lao động và tư liệu lao động mới tất yếu cần đến đội ngũ lao động trí óc

Trang 22

Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực trước hết phải kể đến là sức khỏe của nguồn nhân lực Đây là một yêu cầu tất yếu, tiên quyết và không thể thiếu Bởi sức khỏe là nhân tố quyết định để duy trì sự tồn tại, là cơ sở cốt yếu để tiếp nhận, duy trì

và phát triển trí tuệ Hơn thế, chỉ có sức khỏe mới là cơ sở cho giáo dục đào tạo tốt hơn, mới có điều kiện để tiếp thu tri thức của nhân loại, mới có khả năng xử lý các thông tin, ứng dụng tri thức của nhân loại vào thực tiễn

Trí tuệ - lao động trí tuệ là nhân tố quan trọng hàng đầu đội ngũ nhân lực trong điều kiện phát triển KTXH ngày nay Trí tuệ của nhân lực được thể hiện thông qua tri thức Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi nó được con người tiếp thu, làm chủ và sử dụng chúng Hơn nữa dù máy móc công nghệ hiện đại đến đâu mà không có phẩm chất và năng lực cao, có tri thức khoa học thì không thể vận hành để làm “sống lại” nó chứ chưa nói đến việc phát huy tác dụng của nó thông qua hoạt động của con người

Việc phân tích nhân tố trên đây cho thấy vai trò của nhân lực nói chung đặc biệt

là nguồn lao động chất xám lao động trí tuệ là hết sức cần thiết, nhân tố đóng vai trò quyết định đối với nhân lực của xã hội, đánh dấu bước phát triển của một xã hội nhất định trong điều kiện quốc tế hóa, toàn cầu hóa hiện nay Để có được nhân lực có chất lượng cao không có cách nào khác hơn đó là sự tác động sự quyết định của giáo dục đào tạo Sự nghiệp giáo dục đào tạo góp phần quan trọng nhất tạo nên sự chuyển biến căn bản về chất lượng của nguồn nhân lực

Truyền thống lịch sử, thói quen, tập quán, văn hóa, đạo đức, lối sống, là những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực Trong những biểu hiện về thái độ của những người hiện đại với những di sản truyền thống thì ý thức tự tôn dân tộc và lòng tự hào về những giá trị truyền thống là yếu tố rất cơ bản, có ý nghĩa xuyên suốt Đây là một trong những tiêu chí quan trọng để nhận ra mức độ ảnh hưởng của truyền thống lên cuộc sống của con người hiện đại

Trang 23

Trong các quan hệ cộng đồng thì quan hệ gia đình là tế bào của xã hội Đối với con người Việt Nam hiện đại, cuộc sống gia đình hòa thuận theo quan niệm truyền thống là nhân tố quan trọng chí phối tâm thức của họ Đối với một số quy phạm đạo đức truyền thống như đạo hiếu, lối sống thanh bạch, trong sạch, lòng nhân ái, sẵn sàng tương trợ người khác trong những lúc gặp khó khăn hoạn nạn là những nhân tố cần phát huy và có ý nghĩa nhất định đối với chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nhân lực, được phân tích làm sáng tỏ trên các mặt cơ cấu nhân lực hiện có, trình độ học vấn, số năm đi học bình quân Tình trạng thể lực nhân lực về tình trạng sức khỏe, trọng lượng, chiều cao, tình trạng bệnh tật Chất lượng nhân lực gắn với nghề nghiệp chuyên môn nhất định Như vậy, “có thể phân loại tất cả lực lượng lao động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hóa Nồng độ tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lượng lao động tri thức”

Trình độ trí lực và kỹ năng của nhân lực, trình độ học vấn của dân số trong độ tuổi lao động, số năm học văn hóa phổ thông, số năm đào tạo nghề Trình độ văn hoá tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, lao động kỹ thuật được đào tạo chính qui, phân bổ giữa các vùng Trình độ lao động được đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học, trên đại học Cơ cấu nguồn lao động được đào tạo

và sử dụng… Người công nhân có trình độ cao là người lao động theo phương pháp tiên tiến, giỏi nghề chính và biết thêm nghề khác, thâm nhập nhanh để vận hành được máy móc

Về chất lượng nguồn nhân lực, đặc trưng nhân lực Việt Nam có trình độ học vấn khá, thông minh, cần cù, chịu khó, sáng tạo có khả năng nắm bắt nhanh những thành tựu mới của khoa học công nghệ trên nhiều ngành nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, thích ứng với kinh tế thị trường Nhân lực đã qua đào tạo từ nhiều địa chỉ ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Đây là nguồn lực cơ bản cần thiết cho trước mắt và tương lai để tiến hành lao động sản xuất đạt hiệu quả cao

Trang 24

Ở nước ta lao động nông nghiệp chiếm phần lớn trong tổng số lực lượng lao động Do đó trong tiến trình phát triển, cơ cấu lao động phải được chuyển dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động tri thức theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

1.5.3 Thị trường sức lao động

Đề cập về phát triển nhân lực trong kinh tế thị trường, không thể không đề cập đến thị trường sức lao động Đây là một trong những đặc điểm làm thay đổi về chất và lượng việc phát triển nhân lực gắn với trạng thái chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh

tế quốc tế là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO

Nâng cao tính linh hoạt của thị trường sức lao động, tức là tránh những quy định

sơ cứng mà cần phải để cho giá cả sức lao động, số lượng, chất lượng sức lao động, cơ cấu lao động tự thích ứng với những thay đổi của thị trường, nâng cao tính linh hoạt của

tổ chức sản xuất, chế độ làm việc, phương thức hợp đồng thuê mướn nhân công, trình tự

và nội dung thương lượng thỏa thuận giữa giới chủ và giới thợ

Như chúng ta đều biết thị trường sức lao động ra đời gắn liền với sự ra đời và vận động của một loại hàng hóa đặc biệt hàng hóa sức lao động Các yếu tố cơ bản trên thị trường sức lao động trước hết và quan trọng hơn hết là hàng hóa sức lao động, là cung cầu, giá cả sức lao động

Nguồn cung và cầu về sức lao động thực chất là cung và cầu về nhân lực được hình thành từ các yếu tố khác nhau Nguồn cung về nhân lực được hình thành từ các cơ

sở đào tạo như các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác Nguồn cung còn được thể hiện từ những người đang tìm việc làm, từ các doanh nghiệp, cơ quan,

tổ chức hoặc nguồn cung còn được thể hiện từ nguồn lao động nhập khẩu Một nguồn cung khác được bổ sung thường xuyên từ những người đến độ tuổi lao động Đối với nước ta đây là nguồn cung rất lớn với đặc điểm Việt Nam dân số trẻ

Trang 25

Nguồn cầu về lao động được hình thành từ các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc từ nhu cầu lao động nhập khẩu của nước ngoài Sự tác động qua lại của cung cầu hình thành nên giá cả sức lao động, khoản thù lao mà người lao động nhận được phản ánh trạng thái cân bằng trên thị trường sức lao động

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “ Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, nhất là ở khu vực nông thôn Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là xuất khẩu lao động đã qua đào tạo nghề, lao động nông nghiệp Hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển chọn và sử dụng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước và bộ máy công quyền”

1.5.4 Các chế độ, chính sách

Mục tiêu phát triển KTXHcủa đất nước nói chung và của mỗi địa phương nói riêng là mục đích hoặc kết quả cụ thể muốn phấn đấu đạt được Từ mục tiêu chiến lược chung của tỉnh sẽ có mục tiêu, chiến lược chức năng như chiến lược nguồn nhân lực , chiến lược về giáo dục đào tạo, chiến lược về phát triển kinh tế ngành

Mục tiêu phát triển KTXH ảnh hưởng đến các lĩnh vực chuyên môn như dân số,

y tế, giáo dục, đào tạo, các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ) mỗi lĩnh vực này phải phụ thuộc vào mục tiêu chung của tỉnh để đề ra các mục tiêu cụ thể của từng lĩnh vực

Căn cứ vào mục tiêu phát triển KTXH chung để hoạch định các chính sách phát triển nói chung và chính sách phát triển nhân lực nói riêng Chính sách phát triển nhân lực phù hợp với mục tiêu phát triển KTXH của địa phương góp phần đảm bảo có đủ Nhân lực với cơ cấu lao động phù hợp và những năng lực, trình độ, kỹ năng và phẩm chất cần thiết để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra

Trang 26

Ngoài các chế độ, chính sách chung của nhà nước như: chính sách dân số, chính sách kinh tế, chính sách giáo dục-đào tạo thì các chính sách riêng của mỗi tỉnh cũng

có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển nhân lực của địa phương đó Các chế độ, chính sách của địa phương không phải là luật lệ cứng nhắc mà nó mềm dẻo, uyển chuyển phù hợp với các giai đoạn khác nhau trong chiến lược phát triển để đạt được mục đích của tỉnh Một số nội dung trong các chế độ, chính sách của địa phương có ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân lực là:

- Chính sách ưu tiên đối với người lao động để thu hút lao động chất lượng cao

và duy trì Nhân lực như: cơ chế tuyển dụng; bố trí, sắp xếp vào các vị trí thích hợp nếu

họ có năng lực

- Chính sách về đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nhân lực

1.6 Kinh nghiệm đào tạo phát triển nhân lực ở một số nước châu Á

1.6.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là một nước có quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra khá mạnh

từ các năm cuối của thế kỷ XIX Sau chiến tranh thế giới thứ hai mở cửa liên kết vào nền kinh tế thế giới, du nhập công nghệ tri thức từ Phương Tây và với tinh thần học tập của người Nhật, nước Nhật đã nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp phát triển thuộc loại bậc nhất thế giới Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nước Nhật rất coi trọng phát triển, giáo dục và đào tạo nhân lực cho nông thôn Hệ thống giáo dục phổ cập tiểu học, giáo dục trung học được Chính phủ đặc biệt quan tâm trong chính sách phát triển, làm nền móng cho đào tạo nhân lực Tỷ lệ đến trường so với nhóm tuổi, trung học 66% vào năm 1950 và 93% vào năm 1980; con số này ở đại học là 6% và 31%

Thời kỳ đầu công nghiệp hóa, đô thị hóa, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở sản xuất gia đình, nhà buôn bán ở các thị trấn và ở nông thôn Nhật Bản có vai trò quan trọng trong dạy nghề bậc thấp cho lao động nông nghiệp chuyển sang hoạt động trong

Trang 27

lĩnh vực công nghiệp, thương mại Lao động lành nghề được đào tạo tại các nhà máy có quy mô lớn, khi ra trường được các doanh nghiệp tư nhân tuyển dụng vào làm việc

Đặc điểm nổi bật nhất của đào tạo, dạy nghề của Nhật Bản là chính phủ khuyến khích phát triển hệ thống đào tạo nghề tại công ty Trong ba hình thức cơ bản để đào tạo nghề cho lao động nông thôn là đào tạo tại trường, đào tạo tại công ty, đào tạo kết hợp tại trường và công ty, thì thành công hơn cả tại Nhật Bản là hình thức đào tạo tại công

ty Sự phát triển của hình thức đào tạo này thường bắt nguồn từ truyền thống đào tạo, dạy nghề, văn hóa và hệ thống quản lý trước đây của người Nhật Bản Hơn nữa, đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại công ty, tạo điều kiện cho người lao động học được các kiến thức, kỹ năng phù hợp với công nghệ sử dụng, sát với yêu cầu, nhu cầu sử dụng của các công ty Chính phủ khuyến khích hình thức đào tạo này vì ngoài yếu tố chất lượng đào tạo, đáp ứng thị trường lao động, đào tạo nghề tại công ty còn tiết kiệm được đầu tư cho chính phủ Nhiều công ty lớn của Nhật Bản đã đầu tư xây dựng các trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao, bao gồm đào tạo cả trình độ bậc thấp, công nhân lành nghề và lành nghề cao đáp ứng cho thị trường lao động thành phố và thị trường các vùng nông thôn

Đào tạo nghề tại công ty có vai trò rất lớn đối với lao động nông thôn Nhật Bản trong quá trình chuyển sang công nghiệp hiện đại Đa số lao động nông thôn sau khi tốt nghiệp phổ thông được đào tạo đại học và học nghề Số học sinh nông thôn học nghề bao gồm những người sau tốt nghiệp phổ thông được các công ty thuê vào làm việc, được công ty lên danh sách và cho tham gia trực tiếp vào các khóa đào tạo do chính công ty tổ chức Trong đào tạo tại công ty các nội dung chính được đặt ra là:

* Đào tạo về truyền thống hoạt động kinh doanh, truyền thống văn hóa của công

ty, các giá trị công việc và thái độ làm việc, các quyền, lợi ích, trách nhiệm của nhân viên; tăng cường niềm tin và lòng tự hào của người tham gia đào tạo đối với công ty

* Đào tạo các kiến thức lý thuyết chung liên quan tới công nghệ sản xuất của các nghề đào tạo, chú trọng cập nhật các kiến thức về máy móc thiết bị mới đang sử dụng

Trang 28

và sẽ được công ty đổi mới trong tương lai Các tài liệu đào tạo do các trung tâm, cơ sở đào tạo của công ty chuẩn bị, hoặc do những người hướng dẫn, kèm cặp đào tạo của công ty soạn ra

* Chương trình thực hành trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn đặc biệt được chú trọng, chương trình học kiến thức thực hành được thực hiện thông qua chỉ dẫn trong quá trình sản xuất của công ty, phát hành các cuốn cẩm nang tự học cho học viên, tăng thời lượng các buổi thảo luận kỹ thuật, thảo luận chất lượng, chuyển đổi vị trí làm việc và tự học

Một điều cần chú ý là hệ thống giáo dục phổ thông của Nhật Bản rất hiệu quả, giáo dục khá toàn diện, nên chất lượng học sinh nông thôn tốt nghiệp phổ thông không

có khoảng cách lớn so với học sinh thành phố Đây là cơ sở rất quan trọng để đào tạo được đội ngũ lao động CMKT lành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của các công ty

Ngoài đào tạo nghề, để đáp ứng nhu cầu phát triển nền công nghiệp hiện đại và phát triển nông thôn, Nhật Bản còn rất chú trọng đào tạo lao động trình độ đại học của khu vực nông thôn Đến nay, Nhật Bản có nền giáo dục đại học rất phát triển với 460 trường đại học và 1,8 triệu sinh viên Trước năm 1950, học sinh nông thôn theo học đại học chiếm tỷ lệ thấp, đến năm 1980 tỷ lệ học sinh đến trường đại học so với nhóm tuổi

là 31% và hiện nay có gần 50% học sinh nông thôn tốt nghiệp phổ thông trung học theo học các chương trình đại học Các trường đại học của Nhật Bản thường được trang bị hiện đại, kết hợp đào tạo và nghiên cứu khoa học, cập nhật được các tri thức mới của thế giới và trong nước nhờ công nghệ thông tin phát triển mạnh nên chất lượng đào tạo lao động trình độ đại học nói chung và cho nông thôn nói riêng rất cao Để tạo điều kiện cho học sinh nông thôn học đại học, chính phủ khuyến khích phát triển hệ thống các chương trình giảng dạy đại học qua truyền hình, có khích lệ quá trình tự học và một số trường tiến hành tuyển sinh thông qua bảng điểm của quá trình học và thư giới thiệu

1.6.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Trang 29

Hàn Quốc là con rồng châu Á đã đạt được những thành tựu huyền diệu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc năm 1966 là nông nghiệp 34,9%; công nghiệp là 25,6%; dịch vụ 39,5%, đến năm 1980 con số này là 16,0%; 41% và 43% Trong các năm 1960-1970 tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc thuộc loại cao nhất thế giới, Giá trị tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người của Hàn Quốc tăng trung bình 6,7% một năm và vào năm 1990 đã đạt 2.370 đô la Mỹ/người Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã đặt ra nhiệm vụ lớn cho chính phủ Hàn Quốc là phải tăng cường đào tạo Nhân lực để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp và dịch vụ Có thể nói Hàn Quốc là nước thành công trong kết hợp được hài hòa giữa chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chính sách phát triển nguồn nhân lực Công trình nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (1993) đã nhấn mạnh đến thành tựu đào tạo Nhân lực của Hàn Quốc, trong đó có vai trò to lớn của tập trung đầu tư cho giáo dục, đảm bảo cho mọi người dân được giáo dục, đào tạo với quy

mô lớn, ở tất cả các ngành lĩnh vực của nền kinh tế Tỷ lệ đăng ký đi học theo nhóm tuổi tương ứng của Hàn Quốc năm 1971 tiểu học là 103%, năm 1992 là 105%; trung học năm 1970 là 42%; năm 1992 là 90%; đại học năm 1980 là 16%; năm 1992 là 42%

Hệ thống giáo dục đào tạo luôn mở ra cơ hội cho người lao động nông thôn theo học các trường, lớp đào tạo CMKT theo nhu cầu của bản thân để tìm kiếm việc làm phù hợp trên thị trường lao động

Trong những năm đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, chính phủ Hàn Quốc phát triển hệ thống đào tạo, thu hút lao động vào đào tạo các ngành nghề hàm lượng lao động cao như ngành dệt, may, giầy da, đồ chơi, công nghiệp chế biến, nhà hàng… (cuối những năm 1960) Các thời kỳ sau, công nghiệp phát triển mạnh mẽ, lao động được đào tạo với quy mô lớn trong các lĩnh vực sắt thép, hóa chất, đóng tàu, xây dựng công nghiệp, xây dựng dân dụng, xe lửa, điện tử, viễn thông, máy tính và chất bán dẫn… Sự phát triển mạnh các ngành công nghiệp xuất khẩu, dịch vụ đã giải quyết được việc làm cho lao động nông thôn mất việc làm trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động; trong lực lượng lao động, lao động nông nghiệp

Trang 30

đã giảm từ 74,1% năm 1950 xuống còn 38,6% năm 1980 Đời sống dân cư và người lao động không ngừng được nâng cao nhờ tăng nhanh lao động kỹ năng và việc làm có năng suất lao động cao hơn nhiều

Chính phủ Hàn Quốc có chính sách khuyến khích các công ty tham gia đào tạo nghề, hướng dẫn thực tập nghề nghiệp cho người lao động, đặc biệt là cho lao động nông thôn theo học nghề ban đầu, để đảm bảo cung ứng cho nhu cầu của các ngành công nghiệp có tốc độ phát triển nhanh Chính phủ quy định các công ty sử dụng hơn

150 công nhân hàng năm phải tham gia đào tạo nghề cho người lao động trong vùng, chú trọng đào tạo lao động từ nông thôn Các kế hoạch đào tạo phải được đệ trình hàng năm lên Bộ Lao động, nếu công ty nào không thực hiện thì phải nộp khoản thuế từ 0,25% đến 0,67% quỹ lương Trên thực tế một số công ty không muốn đào tạo mà thay vào đó là nộp thuế để khỏi phải thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề Chính phủ sử dụng khoản thuế này vào mục đích hỗ trợ đào tạo cho lao động nông thôn và hỗ trợ đào tạo đối với các ngành thiếu hút lao động kỹ năng, đang cần đào tạo khẩn cấp cho nhu cầu

áp dụng công nghệ mới, mở rộng quy mô hoạt động

Chính phủ cũng khuyến khích phát triển hình thức tín dụng, giảm thuế và trợ cấp, nhằm tạo điều kiện cho lao động nghèo, lao động nông thôn có thể tham gia các khóa đào tạo, học nghề, học đại học

Trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hướng vào phát triển các ngành kinh tế có hàm lượng tri thức và công nghệ cao hơn Hàn Quốc đã có chính sách tăng cường quy mô và chất lượng giáo dục trung học phổ thông kể cả ở nông thôn, để đảm bảo cơ sở cho đào tạo nhân lực trình độ cao, đáp ứng giai đoạn phát triển của các ngành kinh tế Trong đó, đặc biệt là nhân lực trong ngành công nghệ thông tin, dược phẩm, chế tạo ô tô, điện tử cao cấp, viễn thông, chế tạo máy móc chính xác, tự động hóa, công nghệ sinh học…

Trang 31

Kết luận Chương 1

Trong Chương 1, Luận văn đã phân tích làm sáng tỏ những khái niệm cơ bản về Nhân lực và phát triển nhân lực; những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nhân lực; vai trò của nhân lực đối với quá trình phát triển KTXH Đồng thời, nêu lên một số bài học kinh nghiệm của các nước về phát triển nhân lực trong quá trình CNH-HĐH và phát triển KTXH để vận dụng vào Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng Các nước kể trên, cũng như Việt Nam, đều nhận thức được vai trò quan trọng của nhân lực trong phát triển đất nước; tầm quan trọng của việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực , đặc biệt là lực lượng lao động trong khu vực nông thôn Vì vậy, tất cả các nước này đều rất quan tâm đến việc đào tạo, phát triển lực lượng lao động có đủ năng lực để tiếp thu những kiến thức tiên tiến của thế giới và giải quyết được những vấn đề đặt ra cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Hiện nay, mục tiêu phát triển của đất nước đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Tạo nhân lực dồi dào cho đất nước sẽ góp phần quan trọng có tính quyết định để thực hiện mục tiêu này

Trang 32

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2009-2013

Về cơ cấu hành chính, Nam Định có 9 huyện và một thành phố loại I trực thuộc tỉnh với 195 xã và 35 phường, thị trấn Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.652,29 km2chiếm 11,12% diện tích đất tự nhiên vùng đồng bằng Sông Hồng, bằng gần 0,5% diện tích toàn quốc Đất nông nghiệp 114.799,25 ha, chiếm 69,47% đất tự nhiên, bình quân đầu người hiện có 694,77 m2/người Nam Định có 72 km chiều dài bờ biển trên địa phận 24 xã của 3 huyện Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng và Hải Hậu Là tỉnh nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt gần trùng với 2 mùa khô và ẩm… tất cả những yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi để phát triển ngư nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và du lịch

Nam Định là một trong những tỉnh có dân số đông trong cả nước, đây là nguồn lực rất quan trọng để phát triển KTXH Quá trình hình thành cộng đồng cư dân Nam Định gắn liền với quá trình cư dân người Việt từ vùng tiền châu thổ tràn xuống lấn

Trang 33

chiếm vùng châu thổ và duyên hải Bắc Bộ Chính vì vậy, Nam Định là nơi hội tụ và là nơi hợp cư của nhiều bộ phận cư dân khác nhau, trong đó chủ yếu là từ vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Sự hình thành cộng đồng cư dân ở Nam Định cũng đồng thời gắn liền với quá trình phát triển nền nông nghiệp thâm canh trên vùng đất phù sa màu mỡ Chính

vì vậy, mật độ dân số ở khu vực này là khá cao so với cả nước và với đồng bằng Bắc Bộ (trừ các đô thị Hà Nội, Hải Phòng)

Trang 34

gốm sứ, tơ lụa, bông sợi, may mặc; trên giác độ KTXH, Nam Định có nhiều ngành nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền (hiện có 18/94 làng nghề truyền thống), ngành công nghiệp dệt may, ngành tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề truyền thống trong tỉnh khá phát triển cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hoá đa dạng, chất lượng

Nền kinh tế của tỉnh trong thời gian qua đã có bước phát triển mới về quy mô và hiệu quả, tạo ra nhiều thay đổi về cơ cấu các thành phần kinh tế, các doanh nhiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần phát triển nhanh chóng Tính đến năm 2013, tỉnh Nam Định có 13 khu công nghiệp được chính phủ phê duyệt trong quy hoạch phát triển khu công nghiệp chung của cả nước với tổng diện tích là 2.238 ha; 20 cụm công nghiệp được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt dự án đầu tư với tổng mức đầu

tư 562,1 tỷ đồng, diện tích 338ha Tính đến 30/6/2014 đã có 515 dự án đầu tư vào khu, cụm công nghiệp, tổng số vốn đầu tư đăng ký là 12.334,1 tỷ đồng và 142,9 triệu USD Các khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động đã phát huy được hiệu quả trong phát triển công nghiệp ở địa phương, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh

Qua quá trình phát triển, tỉnh Nam Định đã hình thành rõ nét 3 vùng kinh tế bao gồm: vùng kinh tế biển, vùng sản xuất nông nghiệp và vùng kinh tế trung tâm công nghiệp dịch vụ ở thành phố Nam Định Trong 10 năm qua, kinh tế của tỉnh đã có bước chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội (GDP) năm sau cao hơn năm trước (bình quân giai đoạn 2005-2009 tăng 7,3%, bình quân giai đoạn 2010 - 2013 tăng 10,3%), Giá trị tổng sản phẩm quốc nội đầu người tăng từ 5,52 triệu đồng năm

2009 lên 12,24 triệu đồng vào năm 2013

Quy mô nền kinh tế được mở rộng, so với thời kỳ 2005 - 2009, tổng Giá trị tổng sản phẩm quốc nội tăng hơn 1,63 lần, Giá trị tổng sản phẩm quốc nội đầu người tăng hơn 2,6 lần, giá trị sản xuất công nghiệp tăng hơn 2,5 lần Thu ngân sách từ kinh phí địa phương vượt mức 2.000 tỷ đồng (năm 2009: 1.687 tỷ đồng, năm 2013: 2.093 tỷ đồng)

Có thêm nhiều dự án đầu tư mới có quy mô vừa trong sản xuất công nghiệp và dịch vụ

Trang 35

(năm 2009: 50 dự án, năm 2013: 79 dự án) Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, hiện có 3.285 doanh nghiệp được cấp đăng ký kinh doanh (năm 2009: 1.117 doanh nghiệp)

Cơ cấu kinh tế của tỉnh có nhiều chuyển biến theo xu hướng tiến bộ phù hợp với định hướng phát triển kinh tế nhiều thành phần và quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 40,95% năm 2004 xuống còn 31,88% năm

2009 và đến năm 2013 là 29,75%, tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng từ 59,05% năm 2004 lên 68,12% năm 2009 và đến năm 2013 là 70,25% (xem hình 2.2) Ước tính cơ cấu Giá trị tổng sản phẩm quốc nội năm 2014 là nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 29,5%; ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 36,5%; ngành dịch vụ chiếm 34% Vấn đề này sẽ làm thay đổi nhiều về cơ cấu sử dụng Nhân lực của tỉnh

Hình 2.2: Biểu cơ cấu Giá trị tổng sản phẩm quốc nội theo ngành kinh tế

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định năm 2009 – 2013)

Trang 36

Số liệu trên đây cho thấy cơ cấu ngành công nghiệp và xây dựng có tăng lên, từ 31,1% năm 2009 tăng lên 35,8% năm 2013, tăng 4,7%, con số này chỉ giảm bớt từ nông lâm - ngư nghiệp 2,13% số còn lại giảm ở kinh tế dịch vụ So với các tỉnh lân cận và vùng Đồng bằng Sông hồng, trong cơ cấu Giá trị tổng sản phẩm quốc nội của tỉnh Nam Định, ngành Nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng khá lớn Mặc dù Nam Định có thế mạnh

là nông nghiệp, tuy nhiên theo xu thế chung là phải tăng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, du lịch giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, xong ở Nam Định tốc độ chuyển

dịch còn diễn ra chậm hơn so với một số tỉnh lân cận (xem bảng 2.1)

Bảng 2.1 : Cơ cấu Giá trị tổng sản phẩm quốc nội của Nam Định

(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2013)

Những năm qua tỉnh Nam Định đã tập trung triển khai thực hiện đồng loạt các chương trình, dự án trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; du lịch; giao thông; giáo dục, đào tạo Từ 2005-2013 nền kinh tế của tỉnh

đã đạt mức tăng trưởng khá, bình quân hàng năm là 8,8% Giai đoạn 2005-2009 tăng 7,3% và 2010-2013 tăng 10,3%, với giá trị Giá trị tổng sản phẩm quốc nội năm 2013

Trang 37

đạt 9.460,3 tỷ đồng, tăng 7,1% so năm 2012 và tăng gấp 1,5 lần so năm 2004 (xem bảng 2.2 )

Bảng 2.2: Tăng trưởng Giá trị tổng sản phẩm quốc nội tỉnh Nam Định 2004-2013

(Nguồn: Niên giám thống kê Nam Định năm 2004 – 2013)

Về giá trị sản xuất, chỉ số phát triển tăng qua các năm trong đó ngành công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăng cao nhất (xem bảng 2.3) Đây là chiều hướng tích cực trong cơ cấu giá trị sản xuất của tỉnh, điều này chứng tỏ trong xu thế chung sự phát triển KTXHcủa tỉnh, kinh tế đã vận động theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tổng giá trị sản xuất năm 2013 đạt 21.754,31 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 1994), năm 2013 tăng 63,64% so với năm 2009 (xem bảng 2.3)

Bảng 2.3: Giá trị sản xuất giai đoạn 2009-2013

Năm Tổng số

(tỷ đồng)

Nông nghiệp, thuỷ sản

Công nghiệp và xây dựng

Dịch vụ

Chỉ số phát triển (%) Tổng

số

Nông nghiệp

Trang 38

2013 21.754,31 4.327,19 12.052,64 5.374,49 109,2 100,8 112,9 108,5

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định năm 2013)

2.1.3 Đặc điểm về văn hóa - xã hội

Nam Định là một vùng văn hoá tiêu biểu và đặc sắc Ăn, mặc, ở, đi lại của người Nam Định vừa là sự thích nghi, hoà đồng của con người với tự nhiên, vừa là sự tận dụng và khai thác của con người đối với môi trường tự nhiên ven sông, gần biển Trên cái nền tín ngưỡng dân gian, của tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thành hoàng tại vùng phía Bắc của Nam Định, được quan niệm là một vùng “không gian thiêng” là nơi khởi phát và trở thành trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu và thờ Đức thánh Trần Vùng ven biển Nam Định lại là nơi đầu tiên tiếp nhận và sớm trở thành mảnh đất màu mỡ cho Thiên chúa giáo nẩy mầm, bén rễ, trở thành một trung tâm Thiên chúa giáo lớn Cả Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo và các tín ngưỡng dân gian khác đều song song tồn tại, phát triển, thậm chí có khi hoà đồng trong mỗi làng xã, mỗi gia đình, làm cho đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Nam Định thật nổi trội, phong phú và độc đáo

Nam Định là một vùng quê văn hiến, một môi trường văn hoá tổng hợp, hoà quyện và đan xen văn hoá biển với văn hoá miền châu thổ, văn hoá bác học với văn hoá dân gian, văn minh đô thị với văn minh thôn dã, giá trị tinh thần truyền thống với tác phong công nghiệp hiện đại Nam Định là một vùng đất học với nhiều trường học nổi tiếng và nhiều thầy giỏi, trò ngoan, nhiều người đỗ đạt cao, nhiều nhà văn hoá lớn, nhiều thành tựu khoa học, văn học, nghệ thuật ngang tầm quốc gia, quốc tế Điều này ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nguồn lao động của tỉnh

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, y tế - giáo dục, thể dục thể thao những năm qua

đã có nhiều thay đổi tích cực, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân trong tỉnh được cải thiện, quốc phòng, an ninh được củng cố Ngành giáo dục đạt được nhiều thành tích đáng phấn khởi; các xã, phường, thị trấn đều có trạm y tế, trường học, các

Trang 39

phương tiện truyền thông được trang bị đầy đủ; nhiều trung tâm văn hóa được xây dựng, các chính sách xã hội đều thực hiện khá tốt; kết cấu hạ tầng của Nam Định khá phát triển, 100% số xã trong tỉnh đã có điện lưới quốc gia và mạng điện thoại hữu tuyến, trên 90% tuyến đường liên tỉnh, liên huyện được trải nhựa Ngoài thành phố Nam Định nhiều vùng nông thôn, thị trấn thị tứ đã được cung cấp nước sạch

Nhìn chung, Nam Định là một vùng quê giàu truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo, một vùng kinh tế, văn hoá, văn hiến tiêu biểu và có vị thế đặc biệt trong suốt chiều dài lịch sử đất nước Trong những năm gần đây, Nam Định

đã đạt được những thành tựu khá toàn diện trên các lĩnh vực KTXH Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân giai đoạn 2010-2013 tăng 10,3%, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tương đối tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu Giá trị tổng sản phẩm quốc nội Sản phẩm nông nghiệp

có nhiều tiến bộ trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa, gắn với thị trường, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Giá trị sản xuất các ngành tăng, giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng nhanh nhất, giai đoạn 2010-2013 bình quân tăng 19,15%; riêng năm 2012 tăng 22,13% so với cùng kỳ năm trước (xem bàng 2.3)

Các yếu tố KTXH của Nam Định đã góp phần thúc đẩy tích cực sự phát triển Nhân lực cả về thể chất lẫn tinh thần Thứ nhất, kinh tế phát triển, quy mô sản xuất được mở rộng, giải quyết việc làm cho người lao động; thứ hai, thu nhập bình quân đầu người tăng, điều kiện sống được cải thiện, đồng thời các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, giải trí ngày càng phát triển, người dân có điều kiện và cơ hội để nâng cao dân trí, sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần Đây chính là yếu tố vật chất ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến chất lượng nguồn lao động, đến việc phân bổ, sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện cho Nam Định có cơ hội hoà nhập vào quá trình phát triển năng động của các tỉnh trong vùng và của cả nước

Trang 40

Tuy nhiên trong quá trình phát triển KTXH đặt ra vấn đề cần phát triển nguồn nhân lực , đòi hỏi nhân lực ngày càng có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu nói chung và quá trình đô thị hóa nói riêng Bên cạnh những tác động tích cực, sự phát triển nhân lực của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng nặng nề của cơ chế cũ quan liêu, bao cấp kéo dài nhiều năm, thiếu những chính sách biện pháp tổng thể có tính chất chiến lược của tỉnh trong việc sử dụng lao động

2.2 Đánh giá nhân lực và phát triển nhân lực

Thực trạng về nhân lực, chất lượng nhân lực và phát triển nhân lực hiện có là một trong những vấn đề quan trọng nhất của đất nước, của quá trình sản xuất, nhất là trong quá trình CNH-HĐH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội Phân tích chất lượng nguồn lao động trên các mặt: trình độ văn hóa, trình độ CMKT, thu nhập, cơ cấu đội ngũ lao động, phân bố nguồn lao động, sử dụng nguồn lao động, sử dụng nhân tài… Là những nhân tố ảnh hưởng và đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển KTXH

2.2.1 Trạng thái sức khỏe nhân lực của tỉnh

Tầm vóc và thể lực là những đặc điểm sinh thể quan trọng, phản ánh một phần thực trạng của cơ thể và đặc biệt liên quan chặt chẽ đến khả năng lao động của con người Người lao động Việt nam nói chung cũng như người Nam Định nói riêng có chiều cao và trọng lượng cơ thể thuộc loại trung bình thấp của thế giới

Nhiều năm gần đây công tác chăm sóc sức khoẻ đã được tỉnh quan tâm đầu tư Các hoạt động chăm sóc sức khỏe tăng cả về số lượng và chất lượng Mạng lưới y tế bảo vệ sức khoẻ và kế hoạch hoá gia đình đã phát triển rộng khắp trong thành phố và các huyện Chất lượng khám chữa bệnh từng bước được nâng cao, công tác y tế dự phòng được tăng cường, chủ động phòng chống thành công các dịch bệnh nguy hiểm

Tính đến năm 2013, toàn tỉnh đã có 248 cơ sở y tế công lập (trong đó 19 bệnh

Ngày đăng: 21/01/2021, 08:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w