Khái niệm CNTT được hiểu và xác định trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/8/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ Việt Nam, như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương ti
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Được sự hướng dẫn của thầy Đỗ Văn Phức học viên đã đọc các tài liệu viết chương 1, dùng bài bản của chương 1 và các dữ liệu của ừng dụng CNTT ở Sở Tài chính Hòa Bình viết chương 2, chương 3 học viên viết về ừng dụng CNTT phù hợp với nhu cầu, điều kiện của Sở Tài chính Hòa Bình trong thời gian tới Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Mạnh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA TỔ CHỨC 3
1.1 Ứng dụng công nghệ thông tin với phát triển hoạt động của tổ chức 3
1.2 Phương pháp đánh giá tình hình ứng dụng công nghệ thông tin của tổ chức 21
1.2.1 Chỉ số 1: Mức độ đầu tư cho ứng dụng CNTT của tổ chức 27
1.2.2 Chỉ số 2 Mức độ (%) rút ngắn thời gian hoàn thành công việc 28
1.2.2 Chỉ số 3: Mức độ (%) tăng tiện ích về lưu giữ và tìm kiếm thông tin 28
1.2.5 Chỉ số 4: Mức độ giảm sai lỗi ở các loại công việc chính 29
1.3 Những yếu tố trực tiếp quyết định tình hình ứng dụng công nghệ thông tin của tổ chức 31
1.3.1 Mức độ đồng bộ, sắc sảo của các chủ trương, chính sách phát triển công nghệ thông tin 32
1.3.2 Chất lượng của đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên ứng dụng CNTT 34
1.3.3 Điều kiện cơ sở vật chất 37
1.3.4 Liên kết với bên ngoài 38
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG CNTT VỀ MẶT KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CỦA SỞ TÀI CHÍNH TỈNH HÒA BÌNH 40
2.1 Các đặc điểm hoạt động của Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình 40
2.2 Đánh giá tình hình ứng dụng CNTT của Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình 50
2.2.1 Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin của Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình 50
2.2.2 Ứng dụng CNTT đã giúp quản lý và xử lý nghiệp vụ của ngành tài chính tỉnh Hòa Bình tốt hơn 71
2.3 Những nguyên nhân tình hình ứng dụng CNTT của Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua chưa tốt 83
Trang 32.3.1 Nguyên nhân từ phía cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập 84
2.3.2 Liên kết giữa ngành tài chính với các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu 86
2.3.3 Đội ngũ chuyên ứng dụng công nghệ thông tin của Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình quá nhỏ bé so với nhu cầu 88
2.3.4 Hạ tầng cơ sở vật chất CNTT còn thiếu và yếu 89
CHƯƠNG 3 : ĐỀ XUÁT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA SỞ TÀI CHÍNH TỈNH HÒA BÌNH 93
3.1 Nhu cầu ứng dụng CNTT của Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016 – 2020 93
3.2 Đề xuất một số giải pháp trọng yếu cải thiện tình hình ứng dụng CNTT của Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016 - 2020 94
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách 94
3.2.2 Nâng cao Liên kết giữa ngành tài chính với các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ về CNTT 95
3.2.3 Nâng cao trình độ ứng dụng CNTT cho đội ngũ công chức Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016 – 2020 97
3.2.4 Nâng cấp cơ sở vật chất CNTT 100
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
CÁC PHỤ LỤC 105
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CNTT Công nghệ thông tin
TTDL Trung tâm dữ liệu
TABMIS Treasury And Budget Management Information System VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
WB Ngân hàng Thế giới (World Bank)
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 5DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
Hình 1.1: “Bốn thành phần, ba chủ thể” 10
Hình 1.2 Ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý của tổ chức 21
Bảng 1.1: Tóm lược phương pháp đánh giá CKĐL tình hình ứng dụng CNTT của tổ chức 30
Hình 1.3: Các yếu tố trực tiếp quyết định tình hình ứng dụng 32
CNTT của tổ chức 32
Hình 2.1 Sở đồ tổ chức Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình 48
Hình 2.2 Mô hình tổng thể hệ thống mạng HTTT 56
Hình 2.3 Mô hình thiết kế kỹ thuật 57
Hình 2.4 Sơ đồ Logic mạng LAN tại PTC 58
Hình 2.5 Sơ đồ mạng LAN tại PTC 59
Bảng 1.1: Các thiết bị đã được Bộ Tài chính và STC đầu tư 60
Bảng 1.2: Các dịch vụ mạng đã triển khai 61
Bảng 1.3: Các trang thiết bị đã được PTC đã đầu tư 61
Bảng 1.4: Danh mục của Dự án CNTT 63
Hình 1: Mô hình 3 lớp (mô hình kỹ thuật CSDL ngành tài chính) 77
Bảng 1.5: Các thông tin cơ bản cần được lưu trữ 77
Bảng 1.5: Xây dựng ứng dụng Quản trị và khai thác báo cáo điều hành 79
Bảng 1.6: Mức độ giảm sai lỗi ở các loại công việc chính 83
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Hơn 10 năm qua, công nghệ thông tin đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng và hiệu quả cao, đóng góp trực tiếp gần 7% GDP của đất nước, đồng thời có tác động lan tỏa thúc đẩy phát triển nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội Những con số thống kê cho thấy công nghệ thông tin càng ngày càng chiếm vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội cũng như đối với sự phát triển của nền kinh tế trong một quốc gia Đó cũng là nền tảng của phương thức phát triển mới Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các tổ chức, doanh nghiệp hiện nay vẫn gặp phải những khó khăn và thử thách dẫn đến nhiều hạn chế về mặt nguồn lực, cơ chế chính sách cũng như con người thực hiện công tác ứng dụng CNTT, cũng như các nội dung ứng dụng CNTT
Là một cán bộ công tác tại Sở tài chính tỉnh Hòa Bình, tôi nhận thấy rằng trong thời gian qua, Ban lãnh đạo Sở đã rất quan tâm đến công tác ứng dụng CNTT tại đơn vị, vì thế đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần nâng cao cơ sở hạ tầng CNTT cũng như tăng hiệu quả ứng dụng CNTT tại Sở tài chính Hòa Bình Mặc dù vậy, công tác này vẫn không tránh khỏi những hạn chế xoay quanh vấn đề nguồn lực và nội dung ứng dụng Lúc này, các giải pháp đề xuất nhằm cải thiện tình hình ứng dụng CNTT cho đơn vị là điều rất cấp thiết và quan trọng
Ngoài ra, trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường và
để phù hợp với chuyên ngành đào tạo, phục vụ cho công tác của học viên hiện tại và trong tương lai học viên nhận thấy rõ chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhiều vấn đề, nội dung liên quan đến công nghệ thông tin và tình hình ứng dụng CNTT
Trang 7Từ những lý do trên, tôi đã chủ động đề xuất và được giáo viên hướng dẫn cùng với Viện chuyên ngành chấp thuận cho làm luận văn tốt
nghiệp với đề tài “Đánh giá và giải pháp cải thiện tình hình ứng dụng
công nghệ thông tin của Sở tài chính tỉnh Hòa Bình”
2 Mục đích (Kết quả) nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này sẽ đạt được các kết quả quan trọng sau:
- Kết quả thiết lập phương pháp đánh giá và các yếu tố trực tiếp quyết định tình hình ứng dụng CNTT nhằm hiện đại hóa hoạt động của tổ chức
- Kết quả đánh giá chung kết định lượng tình hình ứng dụng CNTT của
Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình trong 5 năm qua cùng các nguyên nhân trực tiếp, trung gian và sâu xa;
- Kết quả đề xuất một số giải pháp trọng yếu để cải thiện tình hình ứng dụng CNTT của Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình trong 5 năm tới
3 Phạm vi nghiên cứu
Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin của Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình từ năm 2009 – 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu học viên chủ yếu sử dụng kết hợp các phương pháp như: mô hình hóa thống kê, điều tra - phân tích, chuyên gia
5 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận về tình hình ứng dụng CNTT của tổ chức Chương 2 Phân tích tình hình ứng dụng CNTT của Sở Tài chính tỉnh
Hòa Bình
Chương 3 Một số giải pháp cải thiện tình hình ứng dụng CNTT của Sở
Tài chính tỉnh Hòa Bình
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
CỦA TỔ CHỨC
1.1 Ứng dụng công nghệ thông tin với phát triển hoạt động của tổ chức
Công nghệ thông tin viết tắt là CNTT (Information Technology - viết tắt là IT) là một ngành ứng dụng công nghệ vào quản lý xã hội, xử lý thông tin CNTT có các chức năng quan trọng như sáng tạo, xử lý, lưu trữ và truyền tải thông tin CNTT có những đặc trưng riêng biệt, có tính toàn cầu và bao trùm; là cơ sở để phổ biến, trao đổi thông tin, tri thức, công nghệ, phát huy sáng tạo; hỗ trợ giảm chi phí, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh; loại bỏ các quá trình trung gian, dư thừa Có thể hiểu CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo
vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin
Có nhiều cách hiểu về CNTT, ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu
và định nghĩa trong Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị, CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xứ 1ý thông tin Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ chính trị đó nêu rõ, ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 9Khái niệm CNTT được hiểu và xác định trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/8/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ Việt Nam, như sau:
“CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”
Theo định nghĩa của Luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã nêu "CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số" Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số; môi trường mạng
là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tầng thông tin Theo quan niệm này thì CNTT là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công
cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho
dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá của con người
Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản
xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm
mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu
CNTT là một ngành khoa học nhằm khai thác có hiệu quả tài nguyên thông tin phục vụ cho hoạt động mọi mặt của con người Do đó có thể khẳng định rằng ở bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào con người cần xử lý thông tin thì ở
đó có chỗ cho CNTT
CNTT có các chức năng quan trọng như sáng tạo (bao gồm nghiên cứu khoa học, công trình thiết kế, giáo dục, đào tạo, v.v ), truyền tải thông tin (bao gồm mạng internet, phát hành, xuất bản, phát thanh truyền hình, phương
Trang 10tiện thông tin đại chúng, ), xử lý thông tin (gồm biên tập, trình bày, phát triển phần mềm, quản lý, xử lý dữ liệu, phân tích hỗ trợ ra quyết định, v.v )
và lưu giữ thông tin (gồm thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu, v.v )
Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh
vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này Ứng dụng CNTT là một nhân tố quan trọng nhằm đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá Mạng Internet làm cho thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé, tri thức và thông tin không biên giới làm cho hoạt động kinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu Với những thành tựu và khả năng ứng dụng rộng rãi của CNTT, viễn thông và mạng Internet, v.v ngành CNTT cùng với các dịch vụ liên quan đang trở thành ngành mang tính chủ đạo trong mọi nền kinh tế
Vai trò của CNTT đối với phát triển xã hội loài người vô cùng quan trọng, nó không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế dựa vào tri thức, phát triển bền vững,
mà quan trọng hơn là thúc đẩy phát triển con người, phát triển văn hoá, phát triển xã hội Mạng thông tin là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, là phương tiện quan trọng để quảng bá và nhân nhanh vốn tri thức - động lực của sự phát triển, thúc đẩy phát triển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực con người
Nhận thức được vai trò của CNTT đối với phát triển bền vững, các quốc gia trên thế giới đã và đang xây dựng chiến lược quốc gia về CNTT CNTT được xem như là một ngành kinh tế gắn với công nghiệp phần cứng, phần mềm, công nghiệp nội dung, dịch vụ, viễn thông, điện tử, Tuy nhiên, với nước ta CNTT không chỉ là một ngành kinh tế mà còn là động lực phát triển của đất nước trong nhiều lĩnh vực và là phương tiện để có thể thực hiện đi tắt, đón đầu và nâng cao vị thế toàn cầu, tiếp cận các mục tiêu phát triển kinh tế -
Trang 11xã hội, an ninh - quốc phòng dự trên cơ sở phát triển CNTT và các lĩnh vực ứng dụng CNTT
CNTT là nhân tố quan trọng góp phần đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá Mạng Internet làm cho thế giới ngày càng trở nên gần gũi và gắn kết với nhau hơn Tri thức và thông tin trở thành nguồn tài nguyên không biên giới, các luồng giao lưu hàng hoá, dịch vụ thương mại, đầu tư, tài chính, công nghệ, nhân lực,… được các ứng dụng CNTT hỗ trợ gia tăng mạnh mẽ để các giao dịch đa dạng và vượt khỏi quy mô quốc gia vươn tới quy mô quốc tế Từ các ứng dụng CNTT, các thị trường phạm vi toàn cầu và khu vực, các cơ chế điều tiết quốc tế quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế được hình thành và phát triển rất nhanh chóng
* Trong kinh tế, văn hóa và xã hội: CNTT là một trong những động
lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ khác làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới đương đại
Kết hợp các phương tiện truyền thông và Internet, CNTT đó tạo ra môi trường trao đổi thông tin đa truyền thông, đa phương tiện (multimedia) Các công nghệ kết nối này đó xóa bỏ các rào cản về mặt vật lý, nhờ vậy mà con người có thể thực hiện mua bán, trao đổi thông tin kinh tế - xã hội hay thực hiện học tập, hội nghị từ xa Những công nghệ này kết nối thế giới ngày càng phổ biến, nhanh chóng, dễ dàng và chặt chẽ hơn Chính vì vậy mà CNTT đã làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa xã hội Từ biến đổi cách thức giao tiếp đến cách sử dụng thông tin, biến đổi bản chất thương mại, bản chất của công việc, thay đổi cách thức chăm sóc y tế và học tập Cụ thể như:
- Hơn một tỉ người có thể truy cập internet cùng một lúc và tham gia gặp gỡ, trao đổi và cập nhật thông tin theo thời gian thực Con người có thể thực hiện giao dịch mua bán trên mạng, trò chuyện với bạn bè trên khắp thế giới
Trang 12- Nhờ ứng dụng CNTT mà ngày nay, năng suất lao động được tăng nhanh, khối lượng công việc của hoạt động thương mại được giải quyết trong một ngày bằng cả năm 1949, một ngày xử lý các dự án khoa học bằng cả năm
1960, số cuộc gọi điện thoại trong một ngày bằng cả năm 1983, số thư điện tử gửi đi trong một ngày bằng cả năm 1990
* An ninh, quốc phòng: cũng có những thay đổi quan trọng khi đưa
ứng dụng CNTT trong vũ khí hiện đại và hình thành phương tiện chiến tranh
“thông minh”, từ đó xuất hiện hình thái chiến tranh, phương thức tác chiến điện tử và làm thay đổi sâu sắc học thuyết quân sự của nhiều quốc gia Thông tin về chiến trường, về đối phương được các thiết bị như vệ tinh viễn thông, radar gửi về tức thời, đầy đủ qua các trang bị của người lính Vũ khí được gắn thiết bị điện tử, có khả năng nhận dạng đối tượng, thu thập, phân tích, xử lý thông tin với độ chính xác cao, nâng cao hiệu quả tác chiến Quân phục
“thông minh” với các thiết bị ứng dụng CNTT và truyền thông, ngoài chức năng bảo vệ cơ thể người lính còn có thể tự thông báo về vị trí tác chiến, tình trạng sức khỏe, nhận dạng chiến trường.Thương mại điện tử đang thúc đẩy mạnh mẽ các ngành sản xuất, dịch vụ trên phạm vi toàn cầu Nhờ ứng dụng thương mại điện tử mà các nước đang phát triển, đặc biệt là các công ty nhỏ, các vùng biệt lập, xa xôi có thể dễ dàng tiếp xúc với thị trường rộng lớn ở trong nước cũng như ngoài nước
* Thương mại điện tử (e-commerce) là một trong những bước nhảy
vọt trong ứng dụng Internet đã tạo điều kiện để các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua Internet Ngày nay, thương mại điện tử đang thúc đẩy mạnh mẽ các ngành sản xuất, dịch vụ trên phạm vi toàn cầu Nhờ ứng dụng thương mại điện tử mà vấn đề khoảng cách địa lý, vấn đề phát triển thị trường đã từng bước được giải quyết Thông qua việc tham gia các dịch vụ thương mại điện tử dạng B2B (Doanh nghiệp - Doanh nghiệp), B2C (Doanh nghiệp - Khách hàng), G2G (Chính phủ - Chính phủ), các nước đang phát triển, các công ty nhỏ đã có thể tiếp xúc với thị trường rộng lớn trong và
Trang 13ngoài nước Việt Nam đã xác định đến năm 2010 có khoảng 60% doanh nghiệp lớn đã tham gia kinh doanh doanh dạng B2B, 80% doanh nghiệp vừa
và nhỏ tham gia kinh doanh dạng B2C [45, tr.1] Việc sử dụng phương tiện trao đổi qua thư điện tử (e-mail) rẻ hơn hàng nghìn lần so với fax Lợi ích của thương mại điện tử còn thể hiện ở khả năng sẵn sàng phục vụ cao, góp phần giảm bớt các khâu trung gian, tiết kiệm thời gian, chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ trong kinh doanh
CNTT có ứng dụng rộng rãi đối với hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường trong việc thu thập, xử lý số liệu, hỗ trợ cảnh báo; phân tích và đưa ra giải pháp xử lý các thảm họa môi trường, lạm dụng nguồn tài nguyên quý hiếm Chương trình kết nối mạng phục vụ phát triển bền vững của Liên hiệp quốc và Liên minh các quốc đảo đã xây dựng hệ thống mạng liên thông giữa các quốc đảo đáp ứng các nhu cầu liên quan đến các vấn đề đa dạng sinh học, môi trường biển, thay đổi khí hậu Hàng tháng, website của hệ thống này có khoảng 300.000 lượt truy cập từ hơn 100 quốc gia [3, tr.9] Hệ thống đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao nhận thức, ý thức bảo vệ môi trường đối với các quốc đảo này
* Trong y học: CNTT đã mang lại hiệu quả thiết thực trong nghiên
cứu, quản lý và hoạt động chuyên môn Dịch vụ chǎm sóc sức khỏe với sự hỗ trợ của CNTT như chẩn đoán, điều trị, cung cấp thuốc, tư vấn, bảo hiểm Các hoạt động “hội chẩn từ xa”, “chữa bệnh qua mạng” đang được ứng dụng phổ biến, tạo điều kiện khai thác tri thức của các chuyên gia giỏi trên phạm vi toàn thế giới để chẩn đoán và điều trị bệnh nhân vùng sâu, vùng xa, không có điều kiện tiếp cận với các trung tâm y tế Chữa bệnh trên mạng (hướng dẫn, khám bệnh, chẩn đoán, điều trị từ xa) đang trở thành một hình thức phổ biến, có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực cho dân cư ở các vùng còn nghèo nàn, lạc hậu nằm xa các trung tâm y tế
* Giáo dục, đào tạo, học tập với các ứng dụng CNTT và truyền thông
đã cải tiến hình thức đào tạo truyền thống và tạo nên hình thức đào tạo từ xa
Trang 14giúp nâng cao chất lượng các chương trình giảng dạy và học tập, giúp mọi người có thể thực hiện hình thức học tập suốt đời, phát triển kỹ năng liên tục, thích ứng với sự phát triển ngày càng nhanh của khoa học công nghệ Mô hình giáo dục truyền thống đào tạo - ra làm việc đang chuyển sang mô hình đào tạo suốt đời, đào tạo cơ bản, ra làm việc và tiếp tục đào tạo, vừa đào tạo vừa làm việc
Nhờ có mạng Internet, hình thức giáo dục, đào tạo, học tập từ xa qua mạng rất phát triển Mạng máy tính đã tạo điều kiện kết nối người học với nguồn thông tin phong phú khắp nơi trên thế giới Cùng với máy tính, các thiết bị điện tử cầm tay như PDA (Personal Digital Assistant), máy tính bảng, iPad, điện thoại di động thông minh có tính năng kết nối Internet (đặc biệt là kết nối không dây) cho phép mọi người có khả năng học tập mọi lúc, mọi nơi
CNTT là một ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 8% (ở Việt Nam là 23%), tạo ra nhiều việc làm mới Ớ các nước có CNTT phát triển, tỷ trọng riêng của ngành công nghiệp CNTT chiếm 10-15% GDP Mỗi quốc gia đều chọn hướng phát triển CNTT riêng cho mình Chẳng hạn như Malayxia chọn phát triển mạnh linh kiện điện tử, Ấn Độ phát triển công nghiệp phần mềm, Trung Quốc chiếm giữ sản xuất thiết bị CNTT,
… Theo các chuyên gia tư vấn, định hướng phát triển CNTT ở Việt Nam nên tập trung vào lĩnh vực gia công phần mềm, đặc biệt là đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng cao, đây có thể là hướng đi đúng nhất hiện nay Bởi lẽ
về lĩnh vực sản xuất phần cứng là các lĩnh vực độc quyền về công nghệ và có
xu hướng chia nhỏ ở nhiều quốc gia (theo xu hướng phân công lao động của quá trình toàn cầu hóa); Về lĩnh vực phần mềm, dẫn đầu là Ấn Độ, kế là Trung Quốc Vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần ưu tiên các chính sách về phát triển phần mềm, kết hợp với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
CNTT còn là cơ sở cho quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế Cùng với sự phát triển của Internet và viễn thông, CNTT đó từng bước xóa bỏ
đi các rào cản không gian về mặt vật lý giữa các vùng, miền hay giữa các
Trang 15quốc gia với nhau Ngày nay, việc mua bán hay học tập, hội thảo qua mạng đó trở nên phổ biến và hơn thế nữa, một người ở quốc này có thể làm thuê cho một công ty ở quốc gia khác đó không còn là vấn đề quá xa lạ Với mạng internet và các dịch vụ do CNTT tạo ra, các công ty có thể hợp tác sản xuất, trao đổi mua bán, quảng bá và mở rộng thị trường của mình ra khắp thế giới
Có thể nói rằng các ứng dụng CNTT tác động khắp các lĩnh vực trong
xã hội loài người, trong thời gian tới ngày càng được mở rộng về phạm vi và đạt hiệu quả cao về chất lượng
* Trong hoạt động của tổ chức
Trên phương diện của Chính phủ, CNTT cùng với sự phát triển của hệ thống interrnet sẽ giúp cho Chính phủ xóa bỏ rào cản về mặt vật lý giữa các
hệ thống thông tin dựa trên giấy tờ truyền thống, giải phóng các luồng di chuyển thông tin trong hệ thống, rút ngắn các qui trình thủ tục, cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp, lắng nghe người dân và cộng đồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin;
Theo mô hình “bốn thành phần, ba chủ thể” của Viện Chiến lược BCVT
và CNTT thuộc Bộ Bưu chính Viễn Thông (nay là Bộ TTTT):
Nguồn: Viện chiến lược BCVT và CNTT, 2005
Hình 1.1: “Bốn thành phần, ba chủ thể”
Trang 16CNTT với bốn thành phần: ứng dụng CNTT, cơ sở hạ tầng CNTT, nguồn nhân lực và công nghiệp CNTT sẽ giúp cho Chính phủ cải tiến mối tác động qua lại giữa ba chủ thể: Chính phủ, người dân và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tiến trình chính trị, KT-XH, tiến đến xây dựng CPĐT
Đối với các tổ chức, nhờ vào khả năng số hóa, xử lý và tái tạo thông tin một cách tự động, CNTT giúp cho việc tự động hóa hoặc vi tính hóa các qui trình, thủ tục giấy tờ hiện hành Từ đó, sẽ đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo ra phong cách lãnh đạo mới, các cách thức mới trong việc xây dựng
và quyết định chiến lược, cải tiến các hình thức cung cấp dịch vụ công Kết quả làm tăng tính hiệu quả của quá trình phê duyệt và cung cấp dịch vụ công một cách hiệu quả và kịp thời cho người dân, doanh nghiệp và cả trong hệ thống các tổ chức
Mặt khác, tính minh bạch của thông tin trong môi trường số sẽ giúp cho việc nâng cao tính minh bạch và tin cậy của thông tin trong quản lý điều hành, cũng như mở ra các cơ hội mới cho người dân được chủ động tham gia góp ý vào các vấn đề về điều hành và hoạch định chính sách Thông qua internet và một số phương tiện truyền thông khác, việc phổ biến rộng rãi thông tin sẽ hỗ trợ việc trao quyền cho người dân cũng như quá trình đưa ra quyết định của tổ chức Tính minh bạch của thông tin không chỉ thể hiện sự dân chủ mà còn gầy dựng sự tin cậy giữa những nhà lãnh đạo và tính hiệu quả trong điều hành; Đồng thời cũng góp phần chống quan liêu và tham nhũng trong bộ máy tổ chức
Như vậy, đối với Chính phủ nói chung và tổ chức nói riêng, CNTT chính là công cụ, phương tiện để nâng cao vai trò, hiệu quả và chất lượng quản lý của mình bằng cách cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch công nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho người dân; CNTT còn tăng cường năng lực quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch trong các tổ chức nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế, xó hội
Trang 17Ngay nay, lĩnh vực lãnh đạo quản lý cũng như các lĩnh vực khác đều đang chịu sự tác động của CNTT CNTT có thể hỗ trợ công tác quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của nó Đồng thời, hoạt động lãnh đạo quản lý cũng
có tác động lớn đến sự phát triển và ứng dụng CNTT;
Việc ứng dụng CNTT là sử dụng những kết quả của CNTT để hỗ trợ cho các cá nhân, tổ chức hoạt động xứ lý thông tin, hỗ trợ các khâu công việc cần thiết và cuối cùng, ở mức cao nhất là hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và các cá nhân tự động trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cải tiến, đổi mới qui cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn, đáp ứng những thay đổi dang diễn ra
Ứng dụng CNTT trong hoạt động của tổ chức nhằm nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả quản lý điều hành của các tổ chức; phục vụ tốt hơn, có hiệu quả hơn cho người dân và doanh nghiệp, góp phần đẩy nhanh tiến trình đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch
Cải cách hành chính và hiện đại hóa quản lý đang là một trong những mục tiêu mà Việt Nam đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và các cá nhân Việc ứng dụng CNTT giúp cho doanh nghiệp và công dân dễ dàng tiếp cận tới các chính sách của Đảng và Chính phủ trên nguyên tắc công khai minh bạch Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính có thể đo lường được cần phải ứng dụng CNTT, ngược lại ứng dụng CNTT phải được xem là chìa khóa để “mở và đo lường được” nhận thức về công khai, minh bạch trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính như các quốc gia phát triển đã từng thành công
Triển khai tốt ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Xây dựng thành công Chính phủ điện tử nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành của Chính phủ đáp ứng với yêu cầu của quá trình đổi mới và hội nhập
Trang 18Đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định: đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào quản lý, khai thác, vận hành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và toàn bộ nền kinh tế Coi phát triển và ứng dụng CNTT là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa từng ngành, từng lĩnh vực” Đồng thời cũng xác định là chúng ta sẽ phải “tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học và công nghệ, đặc biệt là CNTT Phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ, trước hết là CNTT, truyền thông, công nghệ tự động hóa, nâng cao năng lực nghiên cứu - ứng dụng gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”
Cùng với xu thế phát triển của nhân loại, CNTT và ứng dụng CNTT trên thế giới hay tại Việt Nam phát triển với tốc độ rất cao, các tổ chức, doanh nghiệp hay người dân được tiếp cận với CNTT và thường xuyên sử dụng CNTT vào công việc và cuộc sống hàng ngày Nhận thấy tầm quan trọng của CNTT và ứng dụng CNTT, từ những đòi hỏi của xã hội trong nền kinh tế tri thức, hay từ chính bản thân các cơ quan nhà nước mà việc triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước là một xu thế tất yếu
Ứng dụng CNTT và tin học trong quản lý hành chính nhà nước nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính điện tử (Chính phủ điện tử); giúp cho việc xử lý thông tin nhanh gọn, chính xác, đầy đủ, phục vụ tốt cho tổ chức, người dân, doanh nghiệp và chính bản thân cơ quan nhà nước Ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước là vấn đề quan trọng trong tình hình hiện nay, đẩy mạnh việc ứng dụng và phát triển CNTT góp phần đắc lực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội; đóng góp trực tiếp và hiệu quả cho cải cách hành chính nhà nước, cho sự phát triển đất nước trong
Trang 19giai đoạn mới – khi cả nước cùng toàn nhân loại đang bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của kinh tế tri thức
Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rõ CNTT là động lực quan trọng của
sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác, CNTT đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của các nước trên thế giới, trong đó có nước ta Thực tế cho thấy CNTT đi liền với tự động hóa đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, góp phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu xã hội, phong cách sống, học tập và làm việc của con người CNTT góp phần tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp truyền thống thông qua một hệ thống hỗ trợ như viễn thông, thương mại điện tử, dịch vụ truyền thông
đa phương tiện
Quản lý của tổ chức là lĩnh vực sử dụng CNTT nhiều nhất, người ta ước tính có tới 85% đầu tư CNTT là dành cho quản lý Những hệ thống như quản
lý ngân hàng, quản lý tài chính kế toán, quản lý tài sản, quản lý nhân sự, quản
lý văn bản hồ sơ hành chính một cửa, quản lý giao thông, quản lý dân cư,… đều là những ứng dụng CNTT trong lĩnh vực quản lý
Có thể nói rằng tại bất kỳ thời điểm nào, bất cứ nơi đâu có tổ chức là ở
đó có nhu cầu quản lý Các hoạt động quản lý rất đa dạng nhưng có một đặc điểm chung đó là phải xử lý một khối lượng thông tin lưu trữ lớn (hồ sơ, tài liệu,…) nhưng các quy trình xử lý nói chung là đơn giản
Thông thường, đối với một hoạt động ứng dụng CNTT trong quản lý của tổ chức, cần thực hiện những công việc sau:
- Tạo lập cơ sở dữ liệu (CSDL): tập hợp các dữ liệu về một lĩnh vực hoạt động của tổ chức được lưu trữ và quản lý một cách thống nhất trên máy
vi tính được gọi là một cơ sở dữ liệu Ví dụ, để quản lý nhân sự ta phải lập cơ
Trang 20sở dữ liệu về cán bộ, các thông tin, tiêu chí gắn với cán bộ như: trình độ, quê quán, quá trình học tập, công tác, quan hệ gia đình,…
- Duy trì cơ sở dữ liệu: Cập nhật dữ liệu thường xuyên để đảm bảo dữ liệu phản ánh đúng và kịp thời thế giới thực Các hoạt động cập nhật có thể là thêm các đối tượng mới, sửa thông tin về một đối tượng phù hợp với tình trạng thực tế, hay xóa một đối tượng không còn sử dụng khỏi CSDL
- Khai thác cơ sở dữ liệu: có hai dạng khai thác là kiểu khai thác tra cứu
và kiểu khai thác thống kê Khai thác tra cứu là nhằm tìm ra các thông tin vốn
có trong CSDL theo một tiêu chuẩn nào đó; để làm điều này người ta phải lập
ra các chương trình, nó sẽ truy cập tới cơ sở dữ liệu để xử lý, trích lọc thông tin và có báo cáo kết quả tra cứu Một loại hình khai thác khác là thống kê, nếu như hoạt động tra cứu chỉ trích ra các dữ liệu có sẵn trong CSDL thì các hoạt động thống kê thiên về tính đếm để rút ra các đặc trưng như tính tổng có điều kiện, lấy trung bình, tính giá trị lớn nhất hay nhỏ nhất
Theo kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn
2011-2015 được Thủ tướng Chính phủ thông qua tại Quyết định số 1073/QĐ-TTg ngày 12/7/2010, đến năm 2015 các cơ quan Chính phủ phải đưa hết các dịch
vụ công lên mạng, trong đó ưu tiên các dịch vụ: thuế điện tử, TTHQĐT, các thủ tục XNK điện tử, thủ tục liên quan tới đầu tư và đăng ký kinh doanh điện
tử, các loại giấy phép thương mại chuyên ngành, thủ tục giải quyết tranh chấp
Theo nhận định của các nhà phân tích, trong thế kỷ 21, CNTT trở thành mũi nhọn đột phá, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất toàn thế giới Đối với Việt Nam, ứng dụng CNTT góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, tạo điều kiện để Việt Nam thực hiện đi tắt đón đầu trong quá trình
Trang 21công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã làm xuất hiện những thay đổi ranh giới giữa vai trò của các doanh nghiệp trong nước và quốc tế Trong những năm tới, quá trình hội nhập toàn cầu diễn
ra nhanh chóng và sự phát triển của cơ chế thị trường sẽ có tác động chuyển đổi nền tảng quản lý thuế của Việt Nam
Ngày nay môi trường ứng dụng CNTT ở Việt Nam đã được xây dựng, phát triển mở rộng hết sức nhanh chóng, qua đó các thực thể trong nền kinh tế mới có điều kiện triển khai các ứng dụng CNTT phục vụ công việc của mình Thực tế hiện nay cho thấy hạ tầng truyền thông Việt Nam đã phủ kín hầu hết các địa bàn dân cư, chất lượng và giá cả đang ngày càng được cải thiện theo chiều hướng tốt, phù hợp với môi trường khu vực và thế giới Bên cạnh đó, do
sự phát triển hết sức nhanh chóng về công nghệ, các sản phẩm phục vụ trong lĩnh vực CNTT đã được cải tiến về chất lượng, tính năng, đồng thời giá thành ngày càng giảm Những điều kiện đó đã tạo nên động lực thúc đẩy ứng dụng CNTT trong các đơn vị quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và toàn bộ xã hội Nếu ở Việt Nam có được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát hơn nữa của các nhà lãnh đạo cao cấp, có chủ trương kèm theo biện phát thu hút và tập hợp được các nhân tài trong và ngoài nước về lĩnh vực CNTT để xây dựng và phát triển thành một ngành kinh tế mũi nhọn thì trong tương lai không xa, Việt Nam có thể sẽ được một vị trí quan trọng trên thế giới thông qua tiềm lực về CNTT Định hướng chiến lược phát triển CNTT và truyền thông của nước ta
đã dự báo đến năm 2020, với CNTT và truyền thông là nòng cốt, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp hoá theo hướng hiện đại hoá, xây dựng Việt Nam trí tuệ thuộc những nước có vị thế cao trong khu vực ASEAN về CNTT
và truyền thông, hình thành xã hội thông tin
Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta nhận định rằng nền kinh tế Việt Nam
sẽ phát triển với tốc độ cao theo xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa và chịu ảnh
Trang 22hưởng mạnh của sự phát triển của mạng Internet và CNTT Chính những điều
đó sẽ gây áp lực lớn đối với cả hệ thống quản lý nhà nước Để đáp ứng được nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam chắc chắn phải đẩy nhanh tiến độ cải cách, hiện đại hoá và ứng dụng CNTT ở mức độ cao hơn để tạo ra khả năng thích ứng tốt hơn đối với sự thay đổi, có khả năng xử lý và phân tích khối lượng thông tin khổng lồ để điều hành, quản lý theo chức năng
Trong thời gian gần đây, Chính phủ điện tử (e-Government) với nền tảng là ứng dụng CNTT và truyền thông được xác định là chiến lược chủ chốt cho xã hội thông tin và được nhiều quốc gia xem là một trong những nhân tố quan trọng để tăng cường năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế Mục đích
cơ bản của Chính phủ điện tử là cung cấp thông tin, các dịch vụ công hướng tới người dân mọi lúc, mọi nơi Hoạt động của Chính phủ điện tử tạo môi trường ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng, giảm chi phí, tăng cường tính minh bạch, hiệu quả đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước Mạng thông tin kết nối các cơ quan quản lý với đối tượng quản lý giúp cho quá trình ra quyết định được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác
Cơ sở pháp lý về ứng dụng CNTT trong hoạt động của tổ chức
Văn kiện có tầm quan trọng đặc biệt, có giá trị to lớn và lâu dài trong việc chỉ đạo, tổ chức việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, kế hoạch và
dự án ứng dụng và phát triển CNTT chính là Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chỉ thị đó khẳng định: “Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an
Trang 23ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”
Chỉ thị 58-CT/TW đó là cơ sở cho sự ra đời của Luật CNTT - Bộ luật đầu tiên trong lĩnh vực CNTT, được Quốc Hội thông qua ngày 29/6/2006 theo Nghị quyết số 67/NQ-QH, là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT của đất nước - và sau đó là Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của tổ chức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của tổ chức
và giữa các tổ chức, trong giao dịch của tổ chức với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch
Cơ sở pháp lý cho ứng dụng và phát triển CNTT tương đối hoàn thiện,
hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng khá đồng bộ, góp phần quan trọng thúc đẩy ứng dụng và phát triển CNTT Một số văn bản pháp
lý định hướng ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước như sau:
Thứ nhất là: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số
246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 về việc phê duyệt chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến 2010 và định hướng đến năm 2020, đã chỉ ra một số nội dung định hướng phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước như sau:
Mục tiêu đến năm 2015: Ứng dụng rộng rãi CNTT và truyền thông trong mọi lĩnh vực, khai thác có hiệu quả thông tin và tri thức trong tất cả các ngành Xây dựng và phát triển Việt Nam điện tử với công dân điện tử, Chính phủ điện tử, doanh nghiệp điện tử, giao dịch và thương mại điện tử để Việt Nam đạt trình độ khá trong khu vực Asean; hình thành xã hội thông tin
Thứ hai là: Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày
10/04/2007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước Nghị định này không chỉ bao gồm các quy định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của tổ chức mà còn cả các điều kiện bảo đảm cho việc ứng dụng CNTT
Trang 24trong tổ chức bao gồm tổ chức, cơ sở hạ tầng, đầu tư và nhân lực cho ứng dụng CNTT Có thể nói Nghị định 64/2007/NĐ-CP đã tạo ra môi trường pháp
lý thuận lợi hơn rất nhiều để triển khai công tác ứng dụng CNTT trong hoạt động của tổ chức sau khi Luật CNTT được ban hành
Thứ ba là: Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng
Chính phủ về định hướng ứng dụng và phát triển CNTT Việt Nam đến 2015
và tầm nhìn đến 2020, đưa ra một số nội dung chủ yếu:
Đến năm 2015, cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tới người dân và doanh nghiệp ở mức độ 2 và 3 (nhận mẫu hồ sơ trên mạng và trao đổi thông tin, gửi, nhận hồ sơ qua mạng) 80% doanh nghiệp và tổ chức
xã hội ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành, sản xuất kinh doanh Phổ cập ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục, y tế Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quốc phòng, an ninh Bước đầu ứng dụng CNTT để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, bao gồm ứng dụng CNTT trong quản lý giao thông đô thị, trong công tác vệ sinh, an toàn thực phẩm, trong công tác dự báo thời tiết, v.v…
Đến năm 2020, Chính phủ điện tử Việt Nam thuộc loại khá trên thế giới Việt Nam nằm trong nhóm 1/3 nước dẫn đầu trong bảng xếp hạng của Liên hiệp quốc tế về mức độ sẵn sàng Chính phủ điện tử Hầu hết các dịch vụ công cơ bản được cung cấp trên mạng cho người dân và doanh nghiệp ở mức
độ 4 (thanh toán phí dịch vụ, nhận kết quả dịch vụ qua mạng); 100% các ngành công nghiệp then chốt của đất nước, các doanh nghiệp và tổ chức xã hội ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành, sản xuất kinh doanh
Thứ tư là: Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27
tháng 8 năm 2010 về phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 Chương trình đưa ra một số nội dung chủ yếu:
Trang 25Mục tiêu đến năm 2015: Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử Ứng dụng rộng rãi CNTT trong hoạt động nội bộ của các cơ quan nhà nước, hướng tới nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí hoạt động Cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, trên diện rộng cho người dân và doanh nghiệp, làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn
Trên cơ sở các mục tiêu đề ra, chương trình đưa ra 4 nhóm nội dung cần tập trung vào các vấn đề như: Phát triển hạ tầng kỹ thuật; phát triển các hệ thống thông tin và CSDL lớn; ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước; ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp Sáu nhóm giải pháp được đưa ra là: giải pháp về nâng cao chất lượng công tác tổ chức, điều hành; về bảo đảm ứng dụng CNTT đồng bộ; về nâng cao nhận thức, đào tạo nguồn nhân lực; về học tập kinh nghiệm quốc tế; về bảo đảm môi trường pháp lý; tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác ứng dụng CNTT Theo đó, một số nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, gồm:
- Phát triển hạ tầng kỹ thuật đáp ứng cho nhu cầu ứng dụng CNTT; Phát triển các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu lớn của các cơ quan Trung ương
và địa phương; Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp; Ứng dụng thư điện tử và điều hành công việc qua mạng; Ứng dụng CNTT để tin học hóa hoạt động chỉ đạo, điều hành công việc trong cơ quan nhà nước; Cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước
- Triển khai nâng cấp và hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý văn bản
và điều hành của các cấp; phát triển hệ thống quản lý thông tin tổng thể; xây dựng mới, nâng cấp và hoàn thiện các ứng dụng CNTT trong các hoạt động nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu công tác tại mỗi cơ quan; nâng cấp, hoàn thiện
Trang 26các hệ thống ứng dụng CNTT khác trong công tác nội bộ theo hướng hiệu quả hơn, mở rộng kết nối
Hệ thống phần mềm ứng dụng, một cửa điện tử
Cổng thông tin điện tử
Quản lý văn bản
và điều hành công việc trên mạng
Quản lý nhân
sự, tài sản,
Phần mềm thư điện tử
Ứng dụng CNTT trong hoạt động quản
lý của cơ quan nhà nước
Hệ thống hội nghị truyền hình qua mạng
Hình 1.2 Ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý của tổ chức
1.2 Phương pháp đánh giá tình hình ứng dụng công nghệ thông tin của tổ chức
Muốn đánh giá tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức cần sử dụng phương pháp đánh giá Kết quả đánh giá tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức có sức thuyết phục cao khi nó được thể hiện dưới dạng chung kết định lượng, tức là cho phép nhận biết được tình hình tốt (xấu) đến mức độ nào Kết quả đánh giá tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức chỉ có được dưới dạng chung kết định lượng khi phương pháp được chọn dùng hoặc được thiết lập trên cơ sở các cách tiếp cận và căn cứ khoa học
Vận dụng Lý luận về phương pháp đánh giá tình hình của GS Đỗ Văn Phức [2,tr53] học viên thiết lập Phương pháp đánh giá tình hình ứng dụng
Trang 27CNTT của các tổ chức được thiết lập phải đáp ứng nhu cầu sử dụng chuyển thành các yêu cầu sử dụng sau đây:
1 Đảm bảo đánh giá đúng bản chất của tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức cần được đánh giá;
2 Đảm bảo đánh giá đầy đủ các mặt của tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức cần đánh giá;
3 Cho phép kết luận được mức độ của thực trạng từng mặt và của toàn
1 Có bộ chỉ số bám sát và bao quát bản chất của tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức cần đánh giá;
2 Có bộ dữ liệu đảm bảo chất lượng Việc ứng dụng CNTT của các tổ chức đã được chú trọng quan tâm, hầu hết các tổ chức đều có thống kê việc ứng dụng CNTT nên dữ liệu phản ánh, phục vụ cho đánh giá tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức đếu có thể xem xét trên các số liệu hiện có Tuy nhiên một số dữ liệu phục vụ cho việc đánh giá vẫn phải tiến hành điều tra, khảo sát;
3 Có các chuẩn so sánh chấp nhận được Để đánh giá tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức có thể dùng các bộ chuẩn chỉ số đánh giá của các
tổ chức đã ban hành và xin ý kiến chuyên gia;
4 Có cách định lượng, đánh giá từng chỉ số và toàn bộ tình hình tương đối hợp lý
Về bộ chỉ số phản ánh tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức:
tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức thường đa dạng, phức tạp Kể lể
Trang 28tình hình bằng một vài hiện tượng hoặc bằng một số số liệu có được sẽ khó lôi cuốn, thuyết phục được nhiều người Một chỉ số thường không phản ánh hết tình hình Do đó cần phải có một bộ chỉ số Từng chỉ số phải được thiết lập xuất phát từ bản chất của tình hình, có cách xác định rõ ràng, có cơ sở dữ liệu đảm bảo chất lượng và có trọng số (điểm tối đa) hợp lý Bộ chỉ số phải vừa
đủ bao quát hết tình hình
Từng chỉ số sau khi tính toán từ các số liệu sát thực phản ánh một phần, một mặt của tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức cụ thể trên thực tế Các chỉ số phản ánh rời rạc tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức cụ thể trên thực tế Cách lượng hóa kết quả đánh giá tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức theo từng chỉ số: căn cứ vào trị số đạt được của tổ chức cụ thể, trị
số xấu nhất và điểm tối đa
Về bộ dữ liệu dùng để tính toán các chỉ số phản ánh tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức: Trên thực tế có một số bộ dữ liệu là kết quả
thống kê tự động, trực tiếp nên chúng tin dùng; nhiều trường hợp khác bộ dữ liệu về tình hình kinh tế – xã hội chịu tác động của nhiều loại nhiễu nên bị biến dạng Có một số trường hợp có số liệu thống kê và chúng đảm bảo chất lượng dùng được Thường có 3 loại số liệu: số liệu phục vụ cho số cán bộ chủ chốt, số liệu phục vụ cho toàn bộ CBCNV, số liệu phục vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước Khi không biết chọn dùng, không xử lý, không bổ sung số liệu…; sử dụng số liệu không hoàn toàn sát đúng chúng ta sẽ có các kết quả tính toán kém chính xác dẫn đến kết luận đánh giá tình hình và đưa ra các giải pháp sai lệch Trong các trường hợp đó cần sử dụng kết hợp các dữ liệu thống
kê với các dữ liệu điều tra, khảo sát từ nhiều phía, từ nhiều loại đối tượng Ví
dụ, dữ liệu về tiện ích về lưu giữ và tìm kiếm thông tin khi ứng dụng CNTT vào quản lý phải là kết quả điều tra, khảo sát những người trong cuộc, am hiểu, tâm huyết từ bản thân đội ngũ cán bộ quản lý
Trang 29Dữ liệu về tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức thường là loại dữ liệu thường được thống kê chính thức, tuy nhiên được phân bố rời rạc Do vậy, cần có được dữ liệu thống kê chính thức kết quả lấy từ những bộ phận trong cuộc như: bộ phận thống kê, bộ phận quản lý CNTT, bộ phận tài chính,
đó là những bộ phận am hiểu về hình ứng dụng CNTT của các cơ quan; tâm huyết với thành, bại của việc ứng dụng CNTT của các cơ quan và tổng hợp thành bộ dữ liệu để đánh giá Một số dữ liệu về tình hình ứng dụng CNTT của các tổ chức không được thống kê chính thức, ít người nắm bắt được Do vậy, cần có được dữ liệu thống kê không chính thức (%) – kết quả xin ý kiến những người trong cuộc như: Cán bộ quản lý, bộ phận quản lý tài chính và những cán bộ trực tiếp sử dụng hệ thống
Về chuẩn so sánh: ý kiến, kết luận đánh giá chỉ có được sau khi so
sánh với chuẩn (chuẩn mốc, chuẩn mực…) nào đó So sánh với các chuẩn khác nhau dẫn đến ý kiến, kết luận đánh giá khác nhau Ở Việt Nam từ trước đến nay thiếu nhiều loại tiêu chuẩn (chuẩn mốc, chuẩn mực…) hoặc có nhiều loại chuẩn không thực sự là chuẩn theo mong muốn của công việc cần đánh giá như:
- Phương pháp đánh giá chỉ số ứng dụng CNTT Việt Nam (Việt Nam ICT Index) của Hội tin học Việt Nam: hệ thống chỉ số đánh giá ứng dụng CNTT Việt Nam hàng năm, áp dụng cho các đối tượng kinh tế xã hội tham gia ứng dụng CNTT trong hoạt động chuyên môn Hệ thống được hình thành bởi 4 nhóm chỉ số: hạ tầng kỹ thuật công nghệ, hạ tầng nhân lực, ứng dụng, môi trường tổ chức và chính sách
- Phương pháp đánh giá mức độ ứng dụng CNTT và truyền thông cho các doanh nghiệp của Viện Chiến lược CNTT và truyền thông: Hệ thống chỉ
số đánh giá ứng dụng CNTT và truyền thông trong doanh nghiệp Việt Nam chia thành các nhóm chỉ số: các ứng dụng cơ bản, tiềm năng ứng dụng, triển khai thương mại điện tử, tích hợp quy trình kinh doanh
Trang 30- Phương pháp đánh giá mức độ ứng dụng CNTT và internet đối với hoạt động nghiệp vụ trong cơ quan hành chính sự nghiệp công lập của Trung tâm internet Việt Nam (VNNIC): hệ thống chỉ số đánh giá ứng dụng CNTT
và internet được dựa trên nhóm 3 chỉ số: đánh giá theo người được phục vụ, đánh giá theo các nhân tố thông qua thống kê phân tích (hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, khả năng tài chính, chính sách môi trường hoạt động), đánh giá theo ghi nhận thực tế tại đơn vị
- Phương pháp đánh giá mức độ thực hiện thành công Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 Quyết định 147/QĐ-BTTTT ngày 20/02/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông: hệ thống chỉ số đánh giá ứng dụng CNTT được dựa trên nhóm
5 nhóm chỉ số: cơ chế, chính sách và quy định cho ứng dụng CNTT; hạ tầng ứng dụng CNTT; ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước; ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp; nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT
Từ năm 2009 đến nay Tạp chí Tài chính điện tử (eFinance) - Cục Tin học và Thống kê tài chính (Bộ Tài chính) thực hiện thu thập số liệu, phân tích, đánh giá và đưa ra Báo cáo về mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT trong ngành Tài chính (gọi tắt là ICT Index ngành Tài chính)
ICT Index ngành Tài chính giúp các đơn vị thuộc hệ thống ngành Tài chính xác định được vị trí "hiện đang ở đâu" cho bản thân mình, qua đó có thể định hướng chiến lược phát triển CNTT - TT một cách hiệu quả hơn
ICT Index ngành Tài chính được xây dựng hoàn chỉnh hơn trên cơ sở các nhóm đối tượng theo tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính, trong đó có nhóm các đơn vị cấp tỉnh, thành phố theo hệ thống ngành dọc và nhóm các Sở Tài chính được tách riêng để phù hợp trong việc đánh giá, xếp hạng
Về đánh giá định lượng, chung kết: Luôn có nhu cầu nhận biết tình
hình một cách chung kết định lượng; yêu cầu phải có kết luận cuối cùng về
Trang 31tình hình: tốt hay xấu, đến mức độ nào Đánh giá rời rạc theo các chỉ số không thoả mãn được nhu cầu đó Do vậy, cần có ba rem điểm cho từng chỉ số phân biệt trọng số ở điểm tối đa, cần có cách cho điểm đối với trường hợp thực tế
cụ thể; Căn cứ vào trị số mà tổ chức cụ thể đạt được với trị số tối đa và điểm tối đa của chỉ số đó cho điểm từng chỉ số Tổng điểm của các chỉ số so với điểm tối đa là kết quả đánh giá chung kết định lượng tình hình
Mỗi tổ chức, khi đưa ứng dụng CNTT để thực hiện một công việc gì đó, đều đứng trước câu hỏi rất khó trả lời là: làm sao đánh giá được kết quả quá trình ứng dụng CNTT vào các hoạt động của tổ chức Thường khi một vị lãnh đạo tới kiểm tra một đơn vị đang triển khai những ứng dụng CNTT, vị đó luôn được báo cáo rằng hệ thống giải quyết được rất nhiều việc, đôi khi kết quả báo cáo cứ như mơ Chẳng hạn tại những nơi triển khai hệ thống xử lý đơn từ khiếu nại tố cáo thì luôn được nghe là người dân có thể gửi đơn, thư khiếu nại của mình tới cơ quan qua mạng, đơn thư sẽ được chuyển đến cán bộ
có trách nhiệm xử lý cũng qua mạng v.v Vị lãnh đạo khó mà đánh giá rằng
hệ thống đang được kiểm tra có hiệu quả thật sự không
Ba khía cạnh chính để có thể đánh giá kết quả đạt được của việc ứng dụng CNTT
Năng suất lao động có được nâng lên không và nếu đạt được thường là rất rõ rệt Năng suất là đại lượng đo được, vì vậy nếu không xác định được sự gia tăng năng suất thì có thể tin là ứng dụng CNTT không hiệu quả
Chất lượng công việc có được cải thiện không: “Chất lượng công việc”
ở đây được đánh giá theo nhiều cách khác nhau Thông thường, chất lượng công việc biểu hiện thông qua chất lượng sản phẩm Điều này thể hiện rõ nhất qua các ứng dụng CNTT trong sản xuất công nghiệp Ví dụ, nhờ ứng dụng CNTT mà hàng hóa đ p hơn, tốt hơn Tuy nhiên, cũng có cách đánh giá khác
về chất lượng, đó là mức độ hài lòng của người được hưởng các kết quả của công việc được ứng dụng CNTT Những người này có thể là khách hàng mua
Trang 32sản phẩm, là người dân được phục vụ bởi một thủ tục hành chính có ứng dụng CNTT, là cấp lãnh đạo được cung cấp thông tin báo cáo thông qua một hệ thống có CNTT tham gia, v.v
Tạo ra một nguồn thông tin được tích lũy, được tổ chức khoa học nhờ
sử dụng CNTT vào nội dung công việc truyền thống Nguồn lực này là sức mạnh mới mà CNTT mang lại, thể hiện dần nguyên lý: nắm được thông tin là nắm được sức mạnh Thông tin sẽ là cơ sở chủ yếu để làm phát sinh những phương thức làm việc mới (cho một nội dung truyền thống ) Kết quả tạo ra bước nhảy về năng suất, chất lượng Hiệu quả thứ 3 này là điểm yếu rõ rệt của hầu hết các ứng dụng CNTT ở nước ta cho đến nay
Đi sâu vào cách đánh giá hiệu quả việc ứng dụng CNTT còn nhiều vấn
đề phức tạp Tuy nhiên, ít nhất hiệu quả phải được kiểm tra qua 3 mặt nói trên Từ đây, không khó khăn mấy, chúng ta có thể chuẩn hóa được công việc, tiếp đó đánh giá hiệu quả của việc triển khai ứng dụng CNTT Đây là điều rất quan trọng khi xét duyệt cũng như kiểm tra một dự án ứng dụng CNTT
1.2.1 Chỉ số 1: Mức độ đầu tư cho ứng dụng CNTT của tổ chức
Bản chất của chỉ số: Xác định mức chi phí đầu tư cho ứng dụng CNTT
của tổ chức Thông qua việc chỉ số này tổ chức biết được mức độ đầu tư của mình cho ứng dụng CNTT để hiện đại hóa các hoạt động
Nội hàm của chỉ số
Số lượng tiền được tổ chức chi cho ứng dụng CNTT bình quân cho 1 người trong 1 năm của giai đoạn Số lượng tiền tổ chức đầu tư cho ứng dụng CNTT thường được thống kê, báo cáo riêng
Tổng số công chức, viên chức của tổ chức theo thống kê
Trang 331.2.2 Chỉ số 2 Mức độ (%) rút ngắn thời gian hoàn thành công việc
Bản chất của chỉ số: Mức độ rút ngắn chu kỳ hoàn thành công việc
chính của hoạt động của tổ chức là một loại mục đích (hiệu quả) của việc ứng dụng CNTT vào hoạt động của tổ chức
Nội hàm chỉ số
Thời gian hoàn thành công việc trước khi ứng dụng CNTT là tổng thời gian từ khi công việc được xác nhận bắt đầu thực hiện đến khi hoàn thành công việc khi chưa có việc ứng dụng CNTT vào hỗ trợ các hoạt động
Thời gian hoàn thành công việc trước khi ứng dụng CNTT là tổng thời gian từ khi công việc được xác nhận bắt đầu thực hiện đến khi hoàn thành công việc khi đã có việc ứng dụng CNTT vào hỗ trợ các hoạt động
Chỉ số này phản ánh mức độ rút ngắn chu kỳ hoàn thành hoạt động thành phần nói riêng, toàn bộ hoạt động nói chung của tổ chức
1.2.2 Chỉ số 3: Mức độ (%) tăng tiện ích về lưu giữ và tìm kiếm thông tin
Bản chất của chỉ số: Mức độ (%) tăng tiện ích về lưu giữ và tìm kiếm thông tin là một loại mục đich (hiệu quả) của việc ứng dụng CNTT vào hoạt động của tổ chức
Trang 34Lấy thời gian lưu giữ và tìm kiếm thông tin trước khi ứng dụng CNTT trừ đi thời gian lưu giữ và tìm kiếm thông tin sau khi ứng dụng CNTT chia cho thời gian lưu giữ và tìm kiếm thông tin sau khi ứng dụng CNTT X100%
ta được chỉ số: Mức độ (%) tăng tiện ích của lưu giữ và tìm kiếm thông tin của việc ứng dụng CNTT vào hoạt động của tổ chức
Chỉ số này phản ánh một mặt quan trọng của hiệu quả đầu tư ứng dụng CNTT vào từng hoạt động thành phần nói riêng, toàn bộ hoạt động nói chung của tổ chức
Cách tính toán chỉ số
Mức độ (%) tăng tiện ích lưu
giữ / tìm kiếm thông tin =
Ttrc - Tsau
x100%
Tsau
1.2.5 Chỉ số 4: Mức độ giảm sai lỗi ở các loại công việc chính
Bản chất của chỉ số: Xác định mức độ giảm sai lỗi của các loại công
việc chính trong tổ chức Qua việc xác định chỉ số này giúp tổ chức đánh giá được hiệu quả của việc ứng dụng CNTT tác động đến việc giảm thiểu mức độ sai loiix ở các loại công việc chính của tổ chức
Nội hàm của chỉ số
Số lượng sai lỗi trước khi ứng dụng CNTT: là tổng số sai lỗi trong các loại công việc chính thuộc hoạt động của tổ chức trước khi đưa ứng dụng CNTT vào hỗ trợ các hoạt động của tổ chức
Số lượng sai lỗi sau khi ứng dụng CNTT: là tổng số sai lỗi trong các loại công việc chính thuộc hoạt động của tổ chức sau khi đưa ứng dụng CNTT vào hỗ trợ các hoạt động của tổ chức
Trang 35Số lượng sai lỗi trước khi ứng dụng CNTT
Sau khi nghiên cứu đánh giá từng mặt của việc ứng dụng CNTT của tổ chức chúng ta cần đi đến kết luận cuối cùng Tình hình ứng dụng CNTT của
tổ chức được đánh giá định lượng bằng thang điểm 100 và xếp loại theo khoảng điểm
Mức đạt của tổ chức cùng loại thành công hoặc
của chuyên gia 20
Mức đạt của tổ chức cùng loại thành công hoặc của chuyên gia 25
Mức đạt của tổ chức cùng loại thành công hoặc
30
Trang 36Chỉ số phản ánh Cách tính toán Chuẩn so sánh Điểm
tối đa thông tin, % ứng dụng CNTT x 100% của chuyên gia
Mức đạt của tổ chức cùng loại thành công hoặc của chuyên gia
Người ta thường xem xét 2 yếu tố có quan hệ nhân quả với nhau: mức
độ ứng dụng CNTT vào trong các hoạt động của tổ chức và khả năng ứng dụng CNTT của tổ chức đó Việc ứng dụng CNTT trong tổ chức không chỉ
Trang 37phụ thuộc vào khả năng tài chính của tổ chức mà nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như con người, môi trường, chính sách, v.v
Theo một cách tiếp cận tình hình ứng dụng CNTT của tổ chức chủ yếu
do các yếu tố trực tiếp quyết định như: Yếu tố con người, mức độ đồng bộ của các chủ trương chính sách về ứng dụng công nghệ thông tin, chất lượng (trình
độ của đội ngũ chuyên ứng dụng công nghệ thông tin, điều kiện cơ sở vật chất, liên kết với bên ngoài…
Hình 1.3: Các yếu tố trực tiếp quyết định tình hình ứng dụng
CNTT của tổ chức 1.3.1 Mức độ đồng bộ, sắc sảo của các chủ trương, chính sách phát triển công nghệ thông tin
Chủ trương chính sách là yếu tố quyết định và đóng vai trò quan trọng nhất trong các yếu tố tác động để thúc đẩy quá trình ứng dụng và phát triển CNTT của tổ chức
Tổ chức chịu ảnh hưởng bởi 2 loại chính sách: chính sách bên trong và chính sách bên ngoài Chính sách bên trong là các chính sách do tổ chức đề ra còn chính sách bên ngoài là chính sách môi trường, đây có thể là chính sách của Chính phủ, Nhà nước hoặc của tổ chức cấp trên mà tổ chức đó chịu ảnh hưởng ban hành
Chủ trương, chính
sách
Lực lượng chuyên ứng dụng CNTT
Điều kiện cơ sở vật
chất
Liên kết với bên ngoài
Ứng dụng CNTT của tổ chức
Trang 38Chính sách là một hệ thống các mục tiêu và biện pháp nhằm phát triển tiềm lực và ứng dụng CNTT của tổ chức Nó bao gồm hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước hay của ngành, từ định hướng chiến lược cho đến các khía cạnh cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng CNTT của
tổ chức Chính sách đảm bảo tính pháp lý cho các văn bản, các thủ tục khi triển khai ứng dụng CNTT như: tính pháp lý của văn bản điện tử, chữ ký số, chính sách công nhận các giao dịch qua mạng, thanh toán điện tử, v.v
Chính sách thu hút và khuyến khích các hoạt động CNTT rất quan trọng,
nó đảm bảo cho sự chuẩn bị đầy đủ về mặt nhân lực để triển khai ứng dụng CNTT Bên cạnh đó chính sách ứng dụng và phát triển CNTT cần sự nhất quán và định hướng lâu dài, có định hướng rõ ràng, khoa học, kịp thời cập nhật sự biến động nhanh chóng của công nghệ Vấn đề này rất quan trọng đối với các tổ chức nhà nước khi thay đổi người quản lý cấp cao thường dẫn đến việc thay đổi chính sách
Mỗi yếu tố về mặt chính sách đều có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ứng dụng và phát triển CNTT của tổ chức Vì vậy, để nâng cao chất lượng chính sách khi triển khai ứng dụng CNTT cần quan tâm đến các vấn đề sau: Xác định rõ mức độ cần đạt được của đầu tư ứng dụng CNTT trên cơ sở đánh giá đầy đủ những khó khăn thách thức khi triển khai để phát triển theo hướng bền vững
Đối với tổ chức đã có xuất phát điểm tốt về CNTT thì lưu ý đến vấn đề cải thiện tình hình hiện có, so sánh với mặt bằng chung để có hướng điều chỉnh cho phù hợp tránh bị tụt hậu Đối với tổ chức có mặt bằng CNTT thấp cần phải cải thiện từ nguồn nhân lực đến kinh phí thực hiện
Tiến hành các thay đổi cần thiết về tổ chức bộ máy và hoạt động cho phù hợp với mục tiêu đặt ra của quá trình đầu tư ứng dụng CNTT, có thể thí điểm
và rút kinh nghiệm để triển khai mở rộng
Trang 39Có chính sách cho cán bộ chuyên trách quản lý CNTT cấp cao và trao quyền lực cần thiết đảm bảo sự bình đẳng với lãnh đạo cấp cao khác nhằm tạo quyền lực và vị thế trong việc đảm bảo việc thực thi chính sách CNTT
Triển khai đồng bộ, tránh đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp; đồng thời ban hành các quy chế phối hợp trong hoạt động giữa các bộ phận và cá nhân của
tổ chức trong quá trình triển khai ứng dụng CNTT
Các hoạt động cần xoay quanh chính sách của tổ chức mà trong đó lấy mục tiêu đưa CNTT làm trọng tâm cho các hoạt động Nâng cao nhận thức và tuyên truyền sâu rộng về ứng dụng CNTT sẽ làm cho các thành viên đồng tình và ủng hộ, cũng như giám sát các quá trình cải cách đạt kết quả
1.3.2 Chất lượng của đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên ứng dụng CNTT
Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt của việc triển khai ứng dụng CNTT Nếu đánh giá cơ sở vật chất là phần xác thì đây được coi là phần hồn trong quá trình ứng dụng CNTT của bất cứ tổ chức nào
Yếu tố con người có vai trò rất quan trọng đối với quá trình ứng dụng CNTT, một quốc gia, địa phương, hay một tổ chức có nguồn nhân lực, nền tảng tri thức khoa học cao thì việc triển khai tin học hóa sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn rất nhiều so với các quốc gia, địa phương hay tổ chức có nền tảng thấp hơn bởi vì với nền tảng tri thức ở mức cao có thể rút ngắn được thời gian trong quá trình tiếp thu và ứng dụng tri thức đó vào thực tế
Các kết quả xử lý, đầu ra của hệ thống CNTT là dữ liệu đã được biến đổi, được sắp xếp lại, được cấu trúc lại, nhằm làm rõ hơn về đối tượng ta quan tâm Đó đã là những dữ liệu thô đã được "chưng cất" đã thành thông tin Cách mà thông tin thu được sử dụng như thế nào sẽ quyết định hiệu quả của toàn hệ thống ứng dụng CNTT Điều này không còn phụ thuộc khả năng, chất lượng của hệ thống phần cứng, phần mềm, dữ liệu , mà là trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tham gia sử dụng các ứng dụng CNTT Con người có vai trò quyết định không chỉ trong việc sử dụng các thông tin thu được mà còn
Trang 40trong toàn bộ các khâu xây dựng thiết kế, hình thành hệ thông ứng dụng CNTT và quá trình vận hành nó
Đương nhiên, chính con người xây dựng lên hệ thống, đặc biệt các phầm mềm, dữ liệu, và các thủ tục Các thủ tục do con người đặt ra nó có thể
có vai trò rất quyết định để triển khai thành công và khai thác một cách hiệu quả hệ thống CNTT, chúng cũng có thể trở thành các trở ngại đáng kể để triển khai một hệ thống, nhiều khi khá lớn và đắt tiền, nếu như mọi việc “còn phải chờ thủ tục” hoặc gặp phải các thủ tục không tương xứng
Ngoài đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng thiết kế, hình thành hệ thông ứng dụng CNTT và quá trình vận hành nó, đội ngũ cán bộ trực tiếp sử dụng (thường gọi chung là "người dùng cuối") của hệ thông ứng dụng CNTT Đây
là các chuyên viên văn phòng, kế toán và các chuyên viên nghiệp vụ khác
Họ cần đào tạo để sử dụng thành thạo các phần mềm mua về hoặc tự xây dựng phục vụ các hoạt động nghiệp vụ của họ Để đáp ứng các yêu cầu đó, tổ chức cần dòi hỏi cao ngay từ đầu về sự thành thạo của nhân viên, kể cả hỗ trợ
về thời gian và ngân sách đào tạo để họ có định hướng và quyết tâm nắm vững các phần mềm ứng dụng, sử dụng nó một cách hiệu quả nhất
Xu hướng hiện nay các phần mềm ứng dụng, nhất là các phần mềm phổ dụng được xây dựng, thiết kế "thân thiện với người sử dụng", giúp cho người sử dụng không được đào tạo sâu về CNTT có được sự dễ dàng tối đa trong sử dụng và khai thác Đây là một ưu điểm rất lớn của công nghệ phần mềm hiện đại, giải phòng số đông người sử dụng khỏi các kiến thức quá sâu
về CNTT, để họ tập trung vào các vấn đề nghiệp vụ Nhược điểm của việc này là làm người sử dụng có xu hướng dễ dãi, hời hợt trong quá trình sử dụng, chỉ cần xong việc mà không chịu đi sâu khai thác thêm các mặt mạnh thuộc về bản chất của phần mềm, của việc xử lý dữ liệu nhờ hỗ trợ CNTT so với xử lý thủ công Một trong các mặt mạnh này chính là cách thức tổ chức thông tin và chuỗi thao tác xử lý thông tin