1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty cổ phần cơ điện trần phú

114 44 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 4,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích thực trạng trong hoạt động thống kê tác nghiệp các thông tin kiểm soát hệ thống sản xuất của công ty .... Nhiệm vụ quan trọng của thống kê là phản ánh khách quan và kịp thời cá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

PHÂN TÍCH ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT HỆ THỐNG SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ

PHẦN CƠ ĐIỆN TRẦN PHÚ

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS TRẦN THỊ BÍCH NGỌC

Hà nội - Năm 2015

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, LƯU ĐỒ, BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC PHỤ LỤC vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài: 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2

4 Phương pháp nghiên cứu: 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT VÀ KIỂM SOÁT HỆ THỐNG SẢN XUẤT 3

1.1 Khái niệm về hệ thống sản xuất: 3

1.1.1 Khái niệm sản xuất 3

1.1.2 Đặc điểm của sản xuất hiện đại 4

1.1.3 Khái niệm quản trị sản xuất và tác nghiệp 5

1.1.4 Mục tiêu của quản trị sản xuất 7

1.2 Khái niệm và tầm quan trọng của kiểm soát trong quản lý 8

1.2.1 Khái niệm kiểm soát 8

1.2.2 Mục đích cơ bản của kiểm soát 8

1.2.3 Tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát 9

1.3 Khái niệm kiểm soát hệ thống sản xuất, chức năng, nhiệm vụ và nội dung của quá trình kiểm soát hệ thống sản xuất 9

1.3.1 Khái niệm kiểm soát hệ thống sản xuất 9

1.3.2 Các chức năng của kiểm soát hệ thống sản xuất 10

1.3.3 Nhiệm vụ và nội dung của kiểm soát hệ thống sản xuất 11

1.3.3.1 Nhiệm vụ và nội dung của thống kê tác nghiệp sản xuất: 11

1.3.3.2 Nhiệm vụ và nội dung của giai đoạn kiểm tra, phân tích 15

Trang 4

1.3.3.3 Nhiệm vụ và nội dung của giai đoạn điều chỉnh quá trình sản xuất

19

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát hệ thống sản xuất và các phương hướng hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất 21

1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát hệ thống sản xuất 21

1.4.2 Các phương hướng hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất 23

Kết luận cuối chương 1 25

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HỆ THỐNG SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN TRẦN PHÖ 26

2.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú: 26

2.1.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú: 26

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển: 28

2.1.3 Cơ cấu tổ chức nhân sự: 32

2.1.3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức nhân sự: 32

2.1.3.2 Trách nhiệm của từng bộ phận trong bộ máy quản lý 34

2.2 Phân tích thực trạng về kiểm soát hệ thống sản xuất 35

2.2.1 Giới thiệu về bộ máy kiểm soát hệ thống sản xuất 35

2.2.2 Các quy định chung về hoạt động kiểm soát hệ thống sản xuất 39

2.2.3 Giới thiệu về chính sách nhân sự 42

2.3 Phân tích thực trạng trong hoạt động thống kê tác nghiệp các thông tin kiểm soát hệ thống sản xuất của công ty 43

2.3.1 Bộ máy thực hiện chức năng thống kê tác nghiệp 43

2.3.2 Hệ thống các loại bảng biểu, sổ sách, báo cáo, các chỉ tiêu kiểm soát và người tham gia báo cáo 47

2.3.3 Quy định nộp báo cáo, lưu báo cáo, thời gian và nơi nhận 48

2.3.4 Các phương tiện hỗ trợ hoạt động thống kê tác nghiệp sản xuất 49

2.4 Phân tích thực trạng công tác kiểm tra - phân tích thông tin trong kiểm soát hệ thống sản xuất 50

2.4.1 Bộ máy tham gia công tác kiểm tra, phân tích hoạt động sản xuất 50

2.4.2 Công tác kiểm tra – phân tích dữ liệu thống kê 59

Trang 5

2.4.2.1 Về kiểm soát chất lượng: 59

2.4.2.2 Về kiểm soát nhân công: 63

2.4.2.3 Về kiểm soát hoạt động của các thiết bị, máy móc sản xuất: 66

2.4.3 Thực trạng chất lượng công tác kiểm tra – phân tích dữ liệu thống kê 73 2.4.3.1 Thực trạng chất lượng công tác kiểm tra – phân tích dữ liệu thống kê về chất lượng sản phẩm: 73

2.4.3.2 Thực trạng công tác kiểm tra – phân tích dữ liệu thống kê về tình hình nhân công sản xuất: 75

2.4.3.3 Thực trạng công tác kiểm tra – phân tích dữ liệu thống kê về phương tiện, nhà xưởng sản xuất: 76

2.5 Phân tích thực trạng công tác điều chỉnh các hoạt động sản xuất của công ty: 77

Kết luận chương 2 78

Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT HỆ THỐNG SẢN XUẤT CHO CÔNG TY 80

3.1 Cơ hội, thách thức và định hướng phát triển của công ty 80

3.1.1 Mục tiêu của công ty 80

3.1.2 Những cơ hội phát triển của công ty 80

3.1.3 Những thách thức với công ty 81

3.1.4 Định hướng của công ty 82

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất cho công ty 83

3.2.1 Giải pháp số 1 – Hoàn thiện hệ thống các báo cáo sản xuất 83

3.2.2 Giải pháp số 2 – Hoàn thiện hệ thống thông tin kiểm soát 89

3.2.3 Giải pháp số 3 – Nhóm các giải pháp khác 91

3.2.3.1 Giải pháp nâng cao hiểu biết của cán bộ làm công tác kiểm soát 91

3.2.3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác phổ biến quy định kiểm soát tới toàn thể Công ty 92

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN Tác giả của đề tài “Phân tích đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ

thống sản xuất tại Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú” xin cam đoan đây là công

trình do tác giả nghiên cứu các tài liệu, thu thập các thông tin của môi trường vĩ mô, môi trường ngành và quan sát, nghiên cứu thực trạng kiểm soát hệ thống sản xuất tại Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú Vận dụng các nguyên lý đã thu nạp trong quá trình học tập để nhìn ra điểm mạnh điểm yếu trong công tác kiểm soát, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất cho Công ty với mong muốn nâng cao hiệu quả trong sản xuất, giảm chi phí, giúp cho công ty luôn vững vàng trong môi trường kinh doanh đầy biến động và nhiều cơ hội phát triển vững chắc trong tương lai

Đề tài này hoàn toàn không sao chép của bất kỳ ai

Trang 7

Phòng Kế hoạch SXTM & DV Phòng Kế hoạch sản xuất thương mại và dịch vụ

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, LƯU ĐỒ

Sơ đồ 1-1: Quá trình sản xuất [ 6, 1 ] 3

Sơ đồ 1-2: Hệ thống sản xuất/tác nghiệp [ 2, 6 ] 6

Sơ đồ 3-1: Sơ đồ bộ máy kế toán quản trị Error! Bookmark not defined Lưu đồ 2-1: Quy trình theo dõi kế hoạch sản xuất kinh doanh 36

Lưu đồ 2-1: Quy trình kiểm tra trong quá trình và kiểm tra cuối cùng 60

Lưu đồ 2-2: Quy trình kiểm tra tại Xí nghiệp kéo rút 61

Bảng 2-1: Hệ thống các loại bảng biểu, sổ sách, báo cáo 47

DANH MỤC HÌNH Hình 2-1: CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ BỘ MÁY NHÂN SỰ 33

Hình 2-2: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC NHÂN SỰ TẠI 34

Hình 2-3: Báo cáo chất lượng dây đồng được sản xuất từ đồng tấm 52

Hình 2-4: Báo cáo kế hoạch sản xuất 54

Hình 2-5: Báo cáo tình hình thực hiện đơn hàng 55

Hình 2-6: Báo cáo hàng xuất vào sản xuất 56

Hình 2-7: Mẫu phiếu nhập kho 57

Hình 2-8: Mẫu phiếu xuất kho 58

Hình 2-9: Bảng chấm công bộ phận Kỹ thuật 64

Hình 2-10: Bảng chấm công tại Phòng Kiểm tra CLSP 65

Hình 2-11: Danh sách kiểm tra kiểm định và hiệu chỉnh thiết bị - năm 2015 70

Hình 2-12: Tờ trình về việc sửa chữa XN kéo rút đồng 73

DANH MỤC BẢNG BIỂU Biểu đồ 2-1: Tăng trưởng Doanh thu trước cổ phần hóa 29

Biểu đồ 2-2: Sản lượng tiêu thụ dây điện dân dụng 30

Biểu đồ 2-3: Tăng trưởng lợi nhuận, vốn chủ sở hữu sau cổ phần hóa 31

Trang 9

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Bảng theo dõi nhập hạt nhựa PVC 95

PHỤ LỤC 2: Biểu mẫu kiểm tra tại XN Kéo rút 96

PHỤ LỤC 3: Biểu mẫu kiểm tra tại XN Cáp động lực 97

PHỤ LỤC 4: Mẫu kết quả thử nghiệm 98

PHỤ LỤC 5: Biểu mẫu kiểm tra công đoạn bện 100

PHỤ LỤC 6: Biểu mẫu kiểm tra công đoạn bọc XPLE 101

PHỤ LỤC 7: Biểu mẫu kiểm tra công đoạn ghép lõi 102

PHỤ LỤC 8: Biểu mẫu kiểm tra công đoạn quấn băng 103

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một đất nước muốn phát triển thì yêu cầu cốt lõi là hệ thống cơ sở hạ tầng đầy

đủ, hiện đại như giao thông, vận tải, tài chính, ngân hàng, năng lượng, lao động được đi kèm với nó là những chính sách, cơ chế đồng bộ thông thoáng được tạo ra từ thượng tầng kiến trúc Trên thế giới, các nền kinh tế mạnh như Mỹ, Đức, Anh, Pháp các điều kiện ấy là nền tảng, là sự trợ giúp đắc lực để đẩy kinh tế của

họ phát triển với tốc độ chóng mặt vượt qua hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới Việt Nam là một quốc gia còn nghèo, vẫn đang trên đà phát triển Những năm qua Đảng và Nhà nước luôn xác định phải tiếp tục xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng

mà đầu tiên là tập trung mạnh vào các ngành công nghiệp nặng (ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất) làm bước đà cho phát triển kinh tế

Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú trực thuộc UBND Thành phố Hà Nội là đơn

vị đứng đầu tại Việt Nam chuyên sản xuất và cung cấp phôi liệu cho ngành sản xuất Dây và cáp điện rất có uy tín về thương hiệu, sức mạnh thị trường, đang dẫn đầu cả nước về năng lực công nghệ chuyên cung cấp sản phẩm Dây và cáp điện các loại phục vụ cho ngành xây lắp điện và tiêu dùng của nhân dân

Do Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú là doanh nghiệp sản xuất hàng đầu Việt Nam về các sản phẩm dây cáp điện nên sự cạnh tranh từ các đối thủ, các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh vực là vô cùng khốc liệt Bởi vậy nghiên cứu

đề tài: “Phân tích đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản

bao giờ hết Bởi đề tài sẽ góp phần giúp công ty hoàn thiện hệ thống kiểm soát trên các quan điểm khoa học hơn so với việc xây dựng trước đây và phù hợp với thời đại

mà điều quan trong nhất chính là giúp công ty nâng cao được năng lực quản lý, tiết kiệm chi phí, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành thấp hơn nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Dây và cáp điện trong nước và khu vực

2 Mục đích nghiên cứu đề tài:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích và đánh giá thực trạng trong công tác kiểm soát hệ thống sản xuất của công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú hiện tại, trên

Trang 11

cơ sở đó đề xuất những biện pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát sản xuất của công

ty nhằm tạo cho công ty phát triển vững chắc trong tương lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của hệ thống kiểm soát sản xuất công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú

- Phạm vi nghiên cứu: Các hoạt động liên quan tới kiểm soát hệ thống sản xuất của công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú từ năm 2010 đến 2015

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích thống kê; Phương pháp phân tích hệ thống; Phương pháp phân tích so sánh; Phương pháp nghiên cứu tài liệu (phương pháp tại bàn)

5 Nội dung của đề tài:

Luận văn được chia thành 3 chương như sau:

Chương I : Cơ sở lý luận về sản xuất và kiểm soát hệ thống sản xuất

Chương II: Phân tích thực trạng kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty Cổ

phần Cơ điện Trần Phú

Chương III: Một số đề xuất hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất cho công ty

Cổ phần Cơ điện Trần Phú

Trang 12

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT

VÀ KIỂM SOÁT HỆ THỐNG SẢN XUẤT

1.1 Khái niệm về hệ thống sản xuất:

1.1.1 Khái niệm sản xuất

Theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất được hiểu là: “quá trình tạo

Sơ đồ 1-1: Quá trình sản xuất [ 6, 1 ]

Như vậy, về thực chất sản xuất chính là quá trình chuyển hoá các yếu tố đầu vào, biến chúng thành các sản phẩm hoặc dịch vụ ở đầu ra Ta có thể hình dung quá trình này như trong sơ đồ 1-1

Theo nghĩa rộng, sản xuất bao hàm bất kỳ hoạt động nào nhằm thoả mãn

các hoạt động sản xuất theo ba bậc: sản xuất bậc 1; sản xuất bậc 2 và sản xuất bậc 3 [6, 1-2]

- Sản xuất bậc 1 (sản xuất sơ chế): là hình thức sản xuất dựa vào khai thác tài

nguyên thiên nhiên hoặc là những hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên có sẵn, còn ở dạng tự nhiên như khai thác quặng mỏ, khai thác lâm sản, đánh bắt hải sản, trồng trọt

- Sản xuất bậc 2 (công nghiệp chế biến): là hình thức sản xuất, chế tạo, chế

biến các loại nguyên liệu thô hay tài nguyên thiên nhiên biến thành hàng hoá như gỗ

Đầu ra

- Hàng hoá

- Dịch vụ

Trang 13

chế biến thành bàn ghế, quặng mỏ chế biến thành sắt thép Sản xuất bậc 2 bao gồm

cả việc chế tạo các bộ phận cấu thành dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp

- Sản xuất bậc 3 (công nghiệp dịch vụ): Cung cấp hệ thống các dịch vụ nhằm

thoả mãn nhu cầu đa dạng của con người Trong nền sản xuất bậc 3, dịch vụ được sản xuất ra nhiều hơn các hàng hoá hữu hình Các nhà sản xuất công nghiệp được cung cấp những điều kiện thuận lợi và dịch vụ trong phạm vi rộng lớn Các công ty vận tải chuyên chở sản phẩm của các công ty sản xuất đến các nhà bán lẻ Các nhà buôn bán và nhà bán lẻ cung cấp dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng Ngoài ra còn nhiều loại dịch vụ khác như: bốc dỡ hàng hoá, bưu điện, viễn thông, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, nhà hàng, khách sạn

1.1.2 Đặc điểm của sản xuất hiện đại

Quản trị sản xuất ngày nay ngày càng được các nhà quản trị cấp cao quan tâm, coi đó như là một vũ khí cạnh tranh sắc bén Sự thành công chiến lược của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh giá, tạo dựng, phát triển các nguồn lực từ chức năng sản xuất Sản xuất hiện đại có những đặc điểm sau:

- Thứ nhất, sản xuất hiện đại yêu cầu phải có kế hoạch hợp lý khoa học, có đội

ngũ kỹ sư giỏi, công nhân được đào tạo tốt và thiết bị hiện đại

- Thứ hai, quan tâm ngày càng nhiều đến thương hiệu và chất lượng sản

phẩm Đây là một tất yếu khách quan khi mà tiến bộ kỹ thuật ngày càng phát triển

với mức độ cao và yêu cầu của cuộc sống ngày càng nâng cao

- Thứ ba, càng nhận thức rõ con người là tài sản quý nhất của công ty Yêu cầu

ngày càng cao của quá trình sản xuất, cùng với sự phát triển của máy móc thiết bị, vai trò năng động của con người trở nên chiếm vị trí quyết định cho sự thành công cho trong các hệ thống sản xuất

- Thứ tư, sản xuất hiện đại ngày càng quan tâm đến vấn đề kiểm soát chi phí

Việc kiểm soát chi phí được quan tâm thường xuyên hơn trong từng chức năng, trong mỗi giai đoạn quản lý

- Thứ năm, sản xuất hiện đại dựa trên nền tảng tập trung và chuyên môn hoá

cao Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm các công ty thấy rằng

không thể tham gia vào mọi lĩnh vực, mà cần phải tập trung vào lĩnh vực nào mình

có thế mạnh để giành vị thế cạnh tranh

Trang 14

- Thứ sáu, sản xuất hiện đại cũng thừa nhận yêu cầu về tính mềm dẻo của hệ

thống sản xuất Sản xuất hàng loạt, quy mô lớn đã từng chiếm ưu thế làm giảm chi

phí sản xuất Nhưng khi nhu cầu ngày càng đa dạng, biến đổi càng nhanh thì các đơn vị vừa và nhỏ, độc lập mềm dẻo có vị trí thích đáng

- Thứ bảy, sự phát triển của cơ khí hoá trong sản xuất từ chỗ thay thế cho lao

đông nặng nhọc, đến nay đã ứng dụng nhiều hệ thống sản xuất tự động điều khiển

bằng chương trình

- Thứ tám, mô phỏng các mô hình toán học được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ

cho việc ra các quyết định sản xuất – kinh doanh [6, 2]

1.1.3 Khái niệm quản trị sản xuất và tác nghiệp

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu thị trường và thu về cho mình một khoản lợi nhuận nhất định Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường bên ngoài và có cấu trúc bên trong gồm nhiều phân

hệ khác nhau Để thực hiện mục tiêu của mình, mỗi doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành nhằm thực hiện các chức năng cơ bản Sản xuất là một trong những phân hệ chính có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho xã hội Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm, dịch vụ là chức năng, nhiệm vụ cơ bản của từng doanh nghiệp Hình thành, phát triển và tổ chức điều hành tốt là cơ sở và yêu cầu thiết yếu để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trường Có thể nói, quản trị sản xuất chính là quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành và kiểm tra theo dõi hệ thống sản xuất nhằm thực

hiện mục tiêu sản xuất đã đề ra

Cũng giống như những phân hệ khác, hệ thống sản xuất bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau Toàn bộ phân hệ sản xuất được biểu diễn bằng sơ đồ sau đây:

Trang 15

Đột biến Ngẫu nhiên

Thông tin Thông tin

Phản hồi Phản hồi

Sơ đồ 1-2: Hệ thống sản xuất tác nghiệp [ 2, 6 ]

Yếu tố trung tâm của quản trị sản xuất là quá trình biến đổi Đó là quá trình chế biến, chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành hàng hoá hoặc dịch vụ mong muốn, đáp ứng nhu cầu của xã hội Kết quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc thiết kế, tổ chức và quản lý quá trình biến đổi này

Các yếu tố đầu vào rất đa dạng gồm có nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người, công nghệ, kỹ năng quản lý và nguồn thông tin Chúng là điều kiện cần thiết cho bất

kỳ quá trình sản xuất hoặc dịch vụ nào Muốn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cần phải tổ chức, khai thác, sử dụng các yếu tố nguồn lực đầu vào hợp lý, tiết kiệm nhất

Đầu ra chủ yếu gồm hai loại là sản phẩm và dịch vụ Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ, đầu ra được thể hiện dưới nhiều dạng khó nhận biết một cách cụ thể như trong sản xuất Ngoài những sản phẩm và dịch vụ được tạo ra sau mỗi quá trình sản xuất, dịch vụ còn có các loại phụ phẩm khác có thể có lợi hoặc không có lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đôi khi đòi hỏi phải có chi phí rất lớn cho việc xử

lý, giải quyết chúng, chẳng hạn: phế phẩm, chất thải

Thông tin phản hồi là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống sản xuất của doanh nghiệp Đó là những thông tin ngược cho biết tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất trong thực tế của doanh nghiệp

Quá trình biến đổi

Kiểm tra

Trang 16

Các đột biến ngẫu nhiên làm rối loạn hoạt động của toàn bộ hệ thống sản xuất dẫn đến không thực hiện được những mục tiêu dự kiến ban đầu Chẳng hạn thiên tai, hạn hán, lũ lụt, chiến tranh, hoả hoạn v.v

Nhiệm vụ của quá trình sản xuất và dịch vụ là thiết kế và tổ chức hệ thống sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi, nhưng với một lượng lớn hơn lượng đầu tư ban đầu Giá trị gia tăng là yếu tố quan trọng nhất, là động cơ hoạt động của các doanh nghiệp và mọi tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giá trị gia tăng là nguồn gốc tăng của cải và mức sống của toàn xã hội; tạo ra nguồn thu nhập cho tất cả các đối tượng có tham gia đóng góp vào hoạt động của doanh nghiệp như những người lao động, chủ sở hữu, cán bộ quản lý và là nguồn tái đầu tư sản xuất

mở rộng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.[2, 5-7]

1.1.4 Mục tiêu của quản trị sản xuất

Các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời Lợi nhuận tối đa là mục tiêu chung nhất, mục tiêu cuối cùng của bất kỳ doanh nghiệp nào khi đầu tư tiền của và sức lực vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường Quản trị sản xuất đồng thời với tư cách là tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố đầu vào và cung cấp đầu ra phục vụ nhu cầu của thị trường, vì vậy, mục tiêu tổng quát đặt ra là đảm bảo thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố sản xuất Nhằm thực hiện mục tiêu này, quản trị sản xuất có các mục tiêu cụ thể sau:

- Bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu của khách hàng

- Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra

- Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ

- Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao

Các mục tiêu cụ thể này gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.[2, 7-8]

Trang 17

1.2 Khái niệm và tầm quan trọng của kiểm soát trong quản lý

1.2.1 Khái niệm kiểm soát

- “Kiểm soát là quá trình áp dụng các cơ chế và phương pháp nhằm đảm bảo

các hoạt động và kết quả đạt được phù hợp với những mục tiêu, kế hoạch đã định và các chuẩn mực đã đặt ra của tổ chức „ [3, 381]

- “Kiểm soát là việc dựa vào các định mức, các chuẩn mực, các kế hoạch đã

định để đánh giá hiệu quả công tác quản trị của cấp dưới „ [3, 381]

1.2.2 Mục đích cơ bản của kiểm soát

- H.Fayol đã khẳng định: Trong ngành kinh doanh, sự kiểm soát gồm có việc kiểm chứng xem mọi việc có được thực hiện theo như kế hoạch đã được vạch ra, với những chỉ thị những nguyên tắc đã được ấn định hay không Nó có nhiệm vụ vạch ra những khuyết điểm và sự sai lầm để sửa chữa, ngăn ngừa sự tái phạm Nó đối phó với mọi sự vật, con người và hành động

Goctr cho rằng: Sự hoạch định quản trị tìm cách thiết lập những chương trình thống nhất, kết hợp và rõ ràng và còn sự kiểm soát bắt buộc các công việc phải theo đúng kế hoạch

Từ những quan điểm nói trên về kiểm soát có thể rút ra mục đích cơ bản của kiểm soát là:

- Xác định rõ những mục tiêu, kết quả đã đạt được theo kế hoạch đã định

- Xác định và dự đoán những biến động trong lĩnh vực cung ứng đầu vào, các yếu

tố chi phí sản xuất cũng như thị trường đầu ra

- Phát hiện chính xác, kịp thời những sai sót xảy ra và trách nhiệm của các bộ phận có liên quan trong quá trình thực hiện, quyết định, mệnh lệnh, chỉ thị

- Tạo điều kiện thực hiện một cách thuận lợi các chức năng: uỷ quyền, chỉ huy và thực hiện chế độ trách nhiệm cá nhân

- Hình thành hệ thống thống kê báo cáo với những biểu mẫu có nội dung chính xác, thích hợp

- Đúc rút, phổ biến kinh nghiệm, cải tiến công tác quản lý nhằm mục tiêu đã định, trên cơ sở nâng cao hiệu suất công tác của từng bộ phận, từng cấp, từng cá nhân trong bộ máy quản trị kinh doanh.[3, 381-382]

Trang 18

1.2.3 Tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát

- Từ những thập niên 90 của thế kỷ XX, kiểm soát đã trở thành công cụ được các nhà quản trị sử dụng để giám sát nhân viên dưới quyền và kiểm soát các hoạt động của chính họ

- Nhờ kiểm soát mà đo được mức độ chính xác, sự phù hợp của các quyết định, các mục tiêu chiến lược, chiến thuật đã được hoạch định của doanh nghiệp

- Nhờ kiểm soát mà đánh giá được kết quả đã đạt được, duy trì các hoạt động đang tiến hành, phát hiện nguyên nhân sai sót từ đó điều chỉnh các quyết định trong tương lai

- Thông qua các tài liệu kiểm soát, nhà quản trị sẽ có được hệ thống thông tin đầy đủ, cập nhật để làm căn cứ hoạch định mục tiêu cho tương lai

Tóm lại: Sự cần thiết của kiểm soát nảy sinh từ ý muốn của những người hoạch định và ra quyết định, muốn biết kết quả thực hiện những mệnh lệnh, quyết định của cấp dưới, qua đó thẩm định, mức độ chính xác, tính khả thi của những mục tiêu

đã hoạch định

- Ngoài ra, tính tất yếu của kiểm soát cần xuất phát từ mối liên hệ tương tác giữa các hoạt động trong doanh nghiệp Kiểm soát có ý nghĩa to lớn trong việc phối hợp các hoạt động quản trị từ: xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược, xác lập cơ cấu tổ chức, tạo động lực kích thích động cơ của người lao động trong doanh nghiệp

1.3 Khái niệm kiểm soát hệ thống sản xuất, chức năng, nhiệm vụ và nội dung của quá trình kiểm soát hệ thống sản xuất

1.3.1 Khái niệm kiểm soát hệ thống sản xuất

Kiểm soát sản xuất bao gồm có các nội dung chính là: thống kê; kiểm tra, phân tích và điều chỉnh các quyết định sản xuất, nó là giai đoạn cuối cùng của quản lý sản xuất Nền tảng để thực hiện các công việc được bắt đầu từ thống kê tác nghiệp Nhiệm vụ quan trọng của thống kê là phản ánh khách quan và kịp thời các hoạt động sản xuất, thu được các thông tin có độ tin cậy cao về tiến trình thực hiện các

kế hoạch sản xuất của các bộ phận sản xuất, tình hình đảm bảo tất cả các nguồn lực

để kiểm soát kịp thời và điều chỉnh tiến trình sản xuất đang diễn ra, nâng cao chất lượng quản trị sản xuất nói chung.[1, 1]

Trang 19

1.3.2 Các chức năng của kiểm soát hệ thống sản xuất

Kiểm soát hệ thống sản xuất bao gồm có ba chức năng đó là: Thống kê; kiểm tra, phân tích và điều chỉnh thực hiện vai trò phản hồi trong quá trình sản xuất

- Chức năng thống kê tác nghiệp tiến hành:

Vào sổ các dữ liệu phản ánh hoạt động của các bộ phận sản xuất theo quy định, tích luỹ, phân loại, hệ thống hoá lại các dữ liệu đó Những dữ liệu của thống kê tác nghiệp sẽ được sử dụng trong quá trình kiểm tra, phân tích và điều chỉnh ở các bước tiếp theo Yêu cầu cần đảm bảo cho các nhà quản trị sản xuất các thông tin: đầy đủ, kịp thời và chính xác nhằm đánh giá chính xác quá trình sản xuất và có thể kịp thời đưa ra các tác động điều chỉnh

- Chức năng kiểm tra và phân tích:

Đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị các thông tin phân tích để từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh quá trình sản xuất Trong quá trình kiểm tra và phân tích đó cần thiết phải tiến hành phân tích và đánh giá toàn diện các đối tượng quản lý, phân tích các nguyên nhân phát sinh các sai lệch giữa tiến trình thực tế so với kế hoạch, tìm ra những tiềm năng của hệ thống sản xuất, đưa ra các phương án khác nhau của các quyết định quản lý nhằm điều chỉnh quá trình sản xuất (ví dụ: khi điều chỉnh lịch trình sản xuất, có thể xem xét các phương án sử dụng các tiềm năng bên trong và huy động các nguồn lực bên ngoài để đảm bảo hiệu quả cao nhất cho quá trình sản xuất)

Nhiệm vụ cơ bản của chức năng kiểm tra đó là: thông báo kịp thời cho các nhà quản trị biết về những phát sinh trong quá trình sản xuất bằng cách so sánh các dữ liệu về tình trạng thực tế với kế hoạch và các định mức quy định Trong quá trình

đó cần làm rõ ý nghĩa của những sai lệch và đưa ra các dự báo về khả năng có thể thực hiện các chương trình sản xuất mà không cần thực hiện các tác động điều chỉnh lên tiến trình sản xuất Trong trường hợp có khả năng đó xảy ra thì có thể coi như những sai lệch là không đáng kể Để đưa ra được các quyết định điều chỉnh có hiệu quả các nhà quản trị cần phải biết được nguyên nhân thực sự của các phát sinh, mức độ ảnh hưởng đến tiến trình sản xuất, và khả năng có thể loại bỏ những sai lệch

đó nhằm đạt được những kết quả mong muốn trong thời hạn đề ra

Chuẩn bị thông tin phân tích phản ánh hoạt động của đối tượng quản lý sẽ thực hiện trong quá trình phân tích hoạt động sản xuất Thông tin phân tích cần chứa

Trang 20

các nguyên nhân và các nhân tố gây ra các rối loạn trong quá trình sản xuất, các tiềm năng có thể khai thác Trong quá trình phân tích đó có thể phân tích những bất cập của kế hoạch sản xuất và sự không phù hợp của những định mức đang sử dụng Thông tin phân tích được tích luỹ và sử dụng nhằm làm rõ quy luật diễn ra của quá trình sản xuất, dự báo các tình huống của sản xuất với mục tiêu đưa ra các cảnh báo

về sự phát triển bất lợi và loại trừ các tổn thất có thể xảy ra

- Chức năng điều chỉnh các quyết định sản xuất:

Thực hiện các công việc như đưa ra các quyết định, các biện pháp nhằm loại trừ các sai lệch, rối loạn trong quá trình sản xuất Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng không phải thực hiện sự điều chỉnh để đạt mục tiêu ban đầu bằng bất cứ giá nào vì như thế

sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất.[1, 2-5]

1.3.3 Nhiệm vụ và nội dung của kiểm soát hệ thống sản xuất

1.3.3.1 Nhiệm vụ và nội dung của thống kê tác nghiệp sản xuất:

Nhiệm vụ quan trọng của thống kê là phản ánh khách quan và kịp thời các hoạt động sản xuất, thu được các thông tin có độ tin cậy cao về tiến trình thực hiện các kế hoạch sản xuất của các bộ phận sản xuất, tình hình đảm bảo tất cả các nguồn lực để kiểm soát kịp thời và điều chỉnh tiến trình sản xuất đang diễn

ra, nâng cao chất lượng quản trị sản xuất nói chung

Thống kê tác nghiệp sản xuất cần phải bao quát được tất cả các đối tượng quản lý: từ khâu chuẩn bị sản xuất, đến các khân sản xuất chính, phụ và phụ trợ, tất cả các nguồn lực sản xuất (máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhân lực ), tiêu thụ sản phẩm hoàn chỉnh Và điều đó có nghĩa là cần thiết thống kê tác nghiệp sản xuất phải phản ánh đầy đủ và kịp thời các phương diện hoạt động của doanh nghiệp

Ví dụ như: thông tin dành cho nhà quản trị tác nghiệp về chuẩn bị sản xuất cần phải có: về tình hình thực hiện kế hoạch chuẩn bị sản xuất trên toàn doanh nghiệp

và cho từng bộ phận sản xuất, từng người thực hiện, các thống kê về sự tương thích với các định mức tiêu hao nguyên vật liệu, chi phí nhân công, thời gian thực chạy của các máy móc thiết bị sản xuất, thống kê về tình hình thực hiện các biện pháp nhằm ứng dụng kỹ thuật mới, tình hình chuẩn bị sản xuất các sản phẩm mới, tăng chất lượng các sản phẩm đang sản xuất Trong lĩnh vực đảm bảo vật tư và kỹ thuật cho sản xuất cần thiết có: thông tin về thực hiện các kế hoạch cung ứng nguyên vật

Trang 21

liệu, bán thành phẩm mua ngoài, thông tin về sự vận động của dòng vật chất trong các xưởng và sử dụng chúng trong sản xuất,

Thống kê tác nghiệp sản xuất bao gồm tính toán theo các nguyên công của quy trình công nghệ tại các xưởng: vận động của đối tượng lao động trong các kho của các xưởng, trong kho trung tâm, tính toán về sự chuyển giao giữa các kho, thông tin

về phế phẩm sản xuất, thời gian ngừng lãng phí của máy móc thiết bị, công nhân, thông tin về số lượng sản phẩm sản xuất ra, tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất tại các xí nghiệp, thông tin về số lượng bán thành phẩm trong sản xuất Trong quá trình lập các kế hoạch điều độ sản xuất (tác nghiệp) cần phải có thông tin về tiến trình thực của sản xuất

Thông tin về tiến trình sản xuất không chỉ phục vụ cho lập kế hoạch sản xuất

mà còn được sử dụng để kiểm soát và điều chỉnh quá trình sản xuất Nói chung

ngay cả những hệ thống sản xuất rất ổn định thì vẫn có trường hợp xảy ra các thay đổi, phát sinh trục trặc và cần thiết phải điều chỉnh lại các kế hoạch sản xuất đã lập

ra Ví dụ như: cung cấp thiếu nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sản xuất cho các kho, xuất hiện các sai hỏng hàng loạt chất lượng sản phẩm, thiếu vắng công nhân, vi phạm thời hạn sửa chữa các máy móc, thiết bị công nghệ

Để quản lý hiệu quả sản xuất cần có các dữ liệu về hoạt động của các xí nghiệp,

bộ phận sản xuất phụ, sản xuất các công cụ, dụng cụ sản xuất, tiến hành các hoạt động vận tải, sửa chữa các thông số của thống kê tác nghiệp không chỉ cần phản ánh quá trình sản xuất đang diễn ra mà còn cần ghi lại tất cả các thay đổi, sai lệch với các kế hoạch, các định mức, có nghĩa là phản ánh về tình hình của quá trình sản xuất, cụ thể như:

- Sản lượng đạt được trong thực tế của từng xí nghiệp, bộ phận sản xuất trong đơn vị theo hiện vật và giá trị

- Chuyển động của các đối tượng lao động trong quá trình sản xuất, tình trạng bán thành phẩm

- Lượng phế phẩm trong sản xuất, các tổn thất phát sinh do ngừng máy móc, thiết bị và công nhân

- Số lượng tại các kho và sự vận động của dòng vật chất qua các kho

Nền tảng thông tin kiểm soát và phân tích là các số liệu thực về tiến trình sản xuất, các thông tin về kế hoạch và các thông tin định mức tra cứu Các định mức

Trang 22

có thể liệt kê như: mức thời gian sản phẩm, định mức phục vụ máy móc, thiết bị công nghệ, định mức sử dụng công suất máy (phụ tải máy), định mức tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng điện Từ đó có thể thấy, thống kê tác nghiệp cũng đồng nghĩa với thu thập thông tin về kết quả làm việc của các xí nghiệp, bộ phận sản xuất, trong một khoảng thời gian nhất định để kiểm tra và điều chỉnh quá trình sản xuất ở bước tiếp theo Những thông tin này còn được tổng hợp lại và dùng với mục đích hoạch định sản xuất trong các giai đoạn dài hơn: cho các tháng, các quý

Như vậy trong hệ thống quản lý doanh nghiệp thống kê tác nghiệp đóng vai trò:

- Là nguồn thu nhận liên tục các thông tin về kết quả làm việc của công ty nói chung và từng các thành phần nói riêng, về tình hình đảm bảo vật tư và các nguồn lực khác cho quá trình sản xuất

- Là phương tiện kiểm soát hàng ngày và mang tính hệ thống tiến trình thực hiện các chương trình sản xuất (kế hoạch) và thực hiện kịp thời các điều chỉnh cần thiết

- Là nguồn dữ liệu để phân tích kinh tế và phát hiện các tiềm năng để nâng cao hiệu quả sản xuất và dự báo về phát triển sản xuất

Tất cả những điều trên được đảm bảo chỉ khi tổ chức hợp lý hệ thống thống kê tác nghiệp trên toàn bộ quy mô của doanh nghiệp Các phương tiện có thể dùng cho thống kê tác nghiệp là các thiết bị đo lường - kiểm tra được kết nối với máy tính cá nhân và hệ thống mạng máy tính để cung cấp cho các nhà quản trị thông tin đầy đủ, cập nhật và chính xác Các đặc điểm tổ chức sản xuất sẽ ảnh hưởng quan trọng đến các nguyên tắc xây dựng hệ thống thống kê tác nghiệp sản xuất cũng như trình độ phát triển trong sử dụng công nghệ thông tin

Hệ thống thống kê tác nghiệp cần phải trả lời các yêu cầu sau:

+ Có khả năng tác nghiệp cao trong thu thập và sử dụng thông tin Về thực tế cần thiết đảm bảo có thông tin trong thời gian thực (có thông tin trực tiếp ngay sau khi kết thúc đăng ký và ghi lại)

+ Loại bỏ sự trùng lặp trong công việc ở mỗi mắt xích của hệ thống

+ Loại bỏ các thông tin thừa cho người sử dụng

+ Tối thiểu các số liệu lưu dữ

+ Đảm bảo khả năng tổng hợp thông tin theo mức độ cần thiết của những người quản lý

Trang 23

+ Tối thiểu các lao động thủ công trong thực hiện các tài liệu thống kê sơ cấp + Nâng cao trách nhiệm của những người vào dữ liệu thống kê

Trong toàn công ty và trong từng xí nghiệp cần giải quyết nhiệm vụ tính toán

các chỉ tiêu sau: thực hiện các chương trình sản xuất tại các bộ phận theo từng

tháng, quý, năm, theo hai đơn vị: hiện vật và giá trị, phân chia quỹ lương cho các

xí nghiệp, các bộ phận sản xuất, sự nhịp nhàng của tiến trình sản xuất, mức độ bán thành phẩm, thời gian còn lại để thực hiện các đơn đặt hàng, phế phẩm theo

số lượng và giá trị, năng suất và tiền lương cho từng nhóm lao động, giá thành sản phẩm, thời gian thực tế bỏ ra, thực hiện chương trình sản xuất và các kế hoạch tác nghiệp tại các xí nghiệp, bộ phận sản xuất theo các ca, ngày, tuần, tình hình thực hiện các đơn hàng xuất khẩu, thực hiện các kế hoạch dự trữ, tình hình chuyển giao các chi tiết sản phẩm giữa các kho, số lượng tồn kho thực tế, số lượng thừa, thiếu chi tiết

Để tổ chức hiệu quả hệ thống thống kê tác nghiệp cần thiết phải giải quyết bài

toán hệ thống mã hoá và mã hoá thông tin (mã hoá các sản phẩm, chi tiết cấu thành, các nguyên công công nghệ, các vật tư, nguyên vật liệu sản xuất, các bán thành phẩm, xí nghiệp, bộ phận sản xuất, máy móc thiết bị công nghệ, các nhóm lao động theo các nghề khác nhau, )

• Lựa chọn các chỉ tiêu phản ánh quá trình sản xuất :

Trong quá trình đánh giá cần thiết phải đánh giá đầy đủ quá trình sản xuất Những đặc điểm khách quan về dòng chảy của quá trình sản xuất, đó là các chỉ tiêu kinh tế Các chỉ tiêu đó có thể thuộc vào các loại định tính và định lƣợng

Một số ví dụ về các chỉ tiêu tổng hợp đƣợc sử dụng để kiểm soát quá trình sản xuất:

+ Ở cấp doanh nghiệp: sản lƣợng sản xuất tính theo đơn vị hiện vật và theo giá

trị, sản lƣợng sản xuất theo từng chủng loại sản phẩm trong danh mục sản xuất tính

Trang 24

theo đơn vị hiện vật và theo giá trị, số lượng người lao động, quỹ lương, giá thành sản phẩm

+ Ở cấp xí nghiệp: sản lượng sản xuất tính theo đơn vị hiện vật và theo giá trị

Sản lượng sản xuất theo từng chủng loại sản phẩm trong danh mục sản xuất tính theo đơn vị hiện vật và theo giá trị Số lượng người lao động, quỹ lương, giá thành sản phẩm, chi phí sản xuất

+ Ở cấp tổ đội sản xuất: số lượng công nhân, sản lượng sản phẩm sản xuất,

năng suất lao động từng công nhân trong một ca, một ngày, chi phí sản xuất

Việc lựa chọn tập hợp các chỉ tiêu này cũng là một nhiệm vụ phức tạp bởi phải thoả mãn yêu cầu phản ánh đầy đủ quá trình sản xuất nhưng đồng thời phải tối thiểu hoá, dễ thống kê, tính toán và có khả năng tổng hợp theo mỗi cấp quản lý, không được trùng lặp nhau Quy mô kiểm soát cũng cần tương ứng với các nhu cầu của hệ thống quản lý và phân tích thông tin.[1, 5- 10]

1.3.3.2 Nhiệm vụ và nội dung của giai đoạn kiểm tra, phân tích

- Nhiệm vụ và nội dung của kiểm tra

Trong quá trình kiểm tra có thể chia ra các giai đoạn:

+ So sánh giá trị thực của những chỉ tiêu kiểm soát với các giá trị kế hoạch + Xác định ý nghĩa và mức độ sai lệch

Trong giai đoạn đầu chúng ta cần so sánh các số liệu thực về quá trình sản xuất

đã thu được trong bước thống kê tác nghiệp với các số liệu về kế hoạch, xác định những sai lệch tuyệt đối, tương đối, truyền thông tin đến những nhà quản trị tương ứng

Trong giai đoạn thứ hai cần xác định mức độ cho phép của các sai lệch mà không làm phá vỡ các chỉ tiêu kế hoạch Khi xác định rằng các sai lệch là đủ lớn để tiến hành các can thiệp điều chỉnh thì trong từng trường hợp cụ thể các nhà quản lý thường sử dụng những kinh nghiệm cá nhân và kinh nghiệm của các chuyên gia và

có thể những cảm nhận của chính mình Trong trường hợp phát sinh một loạt các sai lệch trên các chỉ tiêu khác nhau thì cần thiết phải đưa ra các dự báo tác nghiệp về quá trình sản xuất và kết quả thực hiện các chương trình sản xuất, đánh giá phương

án thực hiện kế hoạch sản xuất mà không có sự can thiệp vào quá trình sản xuất

- Nhiệm vụ và nội dung của phân tích hoạt động sản xuất

Nhiệm vụ phân tích hoạt động sản xuất có thể chia ra làm ba giai đoạn sau:

Trang 25

do thợ không cung ứng đủ nguyên vật liệu tại bộ phận sản xuất

Trong quá trình phân tích các nguyên nhân có thể sử dụng mô hình mối quan hệ nhân - quả Cùng với tiến trình phân tích hoạt động sản xuất thì rất cần thiết làm rõ các tiềm năng sản xuất để từ đó xây dựng giải pháp hợp lý hoá sử dụng các nguồn lực sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

+ Giai đoạn hai:

Xây dựng các quan hệ nhân - quả phát sinh trong quá trình sản xuất, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu hoạt động sản xuất và đo lường ảnh hưởng của chúng:

Để tìm nguyên nhân đã ảnh hưởng đến các chỉ tiêu của hoạt động sản xuất và làm rõ những nhân tố gây ảnh hưởng xấu đến việc đạt các mục tiêu kế hoạch của sản xuất thì rất cần thiết phải xây dựng mô hình mối quan hệ nhân - quả phát sinh giữa các tham số trong quá trình sản xuất Mô hình này cần phải đưa vào các chỉ tiêu chính mà đã sử dụng để đánh giá quá trình sản xuất (Mô hình hay sơ đồ nhân quả có thể xây dựng theo sơ đồ xương cá ISHIKAWA - công cụ của quản lý chất lượng để truy tìm các lỗi và nguyên nhân của lỗi)

- Ta cũng có thể tìm nguyên nhân và kết quả của công việc theo sơ đồ xương cá ISHIKAWA:

Trang 26

+ Giai đoạn ba:

Chuẩn bị các thông tin phân tích cần thiết để đƣa ra các quyết định điều chỉnh sản

xuất

Các nhà quản trị cần phải có đầy đủ các thông tin về đối tƣợng quản lý và các công

cụ đánh giá hậu quả của những quyết định của mình lên các chỉ tiêu của hoạt động

sản xuất, hiệu quả sản xuất Để đƣa ra các quyết định về điều chỉnh quá trình sản

xuất thì các nhà quản trị cần sử dụng thông tin phân tích về nguyên nhân đã dẫn đến

các sai lệch, sự sẵn có các tiềm năng sản xuất để giảm rối loạn sản xuất Quá trình

lựa chọn các quyết định điều chỉnh có thể thể hiện theo biểu đồ sau:[1, 14]

Sơ đồ 1 - 3 Sơ đồ nguyên nhân, kết quả hình xương cá

Nguyên

nhân 4

Nguyên nhân 3

Nguyên nhân 2 Nguyên nhân 1

Nguyên nhân 5

Nguyên nhân phụ

5.1

Nguyên nhân phụ 5.2.1

Vấn đề

Trang 27

Điều chỉnh

So sánh các giá trị các chỉ tiêu thực tế và các giá trị kế hoạch

Có các thay đổi?

Dự báo hậu quả của các sai

lệch

Có đủ lớnkhông ?

Làm rõ các nguyên nhân sai lệch, những tiềm năng sản xuất

Xây dựng các phương án quyết định

về điều chỉnh quá trình sản xuất

Dự báo về kết quả của từng phương án quyết định

Kết quả có tốt không?

Không

Có Không

Phân tích

Kiểm tra

Sơ đồ 1-4: Nguyên tắc về quá trình ra các quyết định và phân tích tiến trình sản xuất [1, 14]

Trang 28

1.3.3.3 Nhiệm vụ và nội dung của giai đoạn điều chỉnh quá trình sản xuất

Quá trình điều chỉnh sản xuất gồm ba bước sau:

- Chuẩn bị thông tin để ra quyết định

- Ra quyết định và thông qua

- Thực hiện quyết định và kiểm soát thực hiện

+ Trong bước chuẩn bị thông tin: cần chế biến thông tin (về những sai lệch

trong sản xuất, những hướng ưu tiên sản xuất, tình trạng các nguồn lực ) và trình bày theo hình thức văn bản giấy, hoặc video hoặc các khác cho phép

+ Giai đoạn xây dựng các quyết định và thông qua quyết định: đưa ra các

phương án quyết định khác nhau và lựa chọn một trong số đó Trong quyết định rất cần ghi đầy đủ các thông tin như: thời hạn quy định cần hoàn thành, lựa chọn những người tham gia, đưa thêm những thông tin bổ sung, thống nhất và ra quyết định, xác định những nguồn lực cần thiết để thực hiện quyết định

Những điều kiện cần để thực hiện quyết định điều chỉnh quá trình sản xuất là: Đảm bảo về mặt tổ chức: có đủ các nguồn lực cần thiết trong tay những người chịu trách nhiệm thực hiện để thực hiện quyết định, đầy đủ các tài liệu hướng dẫn của tổ chức cần thiết để ứng xử trong từng tình huống phát sinh

Đảm bảo về thông tin cần thiết để hài hoà hoạt động của những người thực hiện

+ Trong giai đoạn thực hiện các quyết định: thì cần kiểm soát thực hiện của

các thành viên nhóm thực hiện và trong đó có thể tiếp tục đưa ra các điều chỉnh cần thiết cho những người thực hiện quyết định điều chỉnh sản xuất

Việc điều chỉnh đưa ra các yêu cầu sau đây:

Lập kế hoạch sản xuất tác nghiệp rõ ràng

Kiểm soát liên tục và theo dõi tiến trình thực hiện

Thực hiện cần nhanh chóng và nghiêm ngặt theo các quy định của lãnh đạo

Ý thức trách nhiệm của các nhà quản trị sản xuất tác nghiệp

Trong các quyết định điều chỉnh sản xuất có thể sử dụng các loại nguồn dự trữ: vật chất; thời gian; tổ chức Nguồn dự trữ về vật chất liên quan đến bổ sung máy móc thiết bị công nghệ, công cụ, dụng cụ sản xuất, nguyên vật liệu Liên quan đến thời gian là có thể huy động làm ngoài giờ, bổ sung ca làm việc trong ngày Liên quan đến tổ chức có thể là phân chia lại các nguồn lực giữa các xí nghiệp, các bộ

Trang 29

phận sản xuất, Việc sử dụng các nguồn lực dự trữ này như thế nào là trách nhiệm của các bộ phận điều độ và các nhà quản trị

- Bộ máy điều độ trong một công ty lớn thông thường được tạo bởi từ ba

cấp:

+ Cấp công ty: ở cấp công ty thì thường được gọi là phòng kế hoạch điều độ

trung tâm

+ Cấp Xí nghiệp: thường được gọi là kế hoạch điều độ của xí nghiệp

+ Cấp bộ phận sản xuất: ở cấp bộ sản xuất thì chỉ có một điều độ viên thực

hiện nhiệm vụ điều độ

Việc phân cấp điều độ này còn phụ thuộc vào: quy mô, đặc điểm của tổ chức

sản xuất, kết cấu sản xuất Tại những công ty lớn thì lãnh đạo phòng kế hoạch -

điều độ trung tâm là điều độ viên trưởng với quyền hành điều phối công việc của các nhóm điều độ khác nhau để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng cho quá trình sản xuất (Các nhóm đó liên quan đến tất cả các xí nghiệp sản xuất khác nhau trong công ty, từ sản xuất chính đến phụ và phụ trợ)

- Các chức năng của điều độ viên trưởng sẽ bao gồm:

* Kiểm soát tiến trình thực hiện chương trình sản xuất theo các chủng loại sản xuất chính, ra những quyết định điều chỉnh để loại bỏ các chậm muộn phát sinh

* Đưa ra các cảnh báo cần thiết về những rối loạn sẽ xảy ra trong tiến trình sản xuất khi có những dấu hiệu không bình thường trong hoạt động của hệ thống máy móc thiết bị công nghệ, chậm cung ứng nguyên vật liệu, công cụ dụng

cụ sản xuất, vi phạm các định mức tiêu hao vật tư trong các xí nghiệp

* Thực hiện tính toán và phân tích lãng phí thời gian máy móc thiết bị trong các ca làm việc

- Trách nhiệm của bộ phận điều độ cấp xí nghiệp: ví dụ như với xí nghiệp

Đúc kéo đồng thì chỉ là nhằm đảm bảo cung ứng đầy đủ cho các xí nghiệp khác trong công ty các loại dây đồng theo nhu cầu của sản xuất mà Phòng Kỹ thuật đã tổng hợp ra (đúng về chủng loại, kích thước, Tiêu chuẩn, số lượng và tiến độ)

Bộ máy điều độ sản xuất của các xí nghiệp sản xuất kiểm soát và điều chỉnh việc sản xuất sản phẩm theo từng chủng loại của xí nghiệp đó và thực hiện các chức năng sau:

Trang 30

* Tập hợp các thông tin từ các bộ phận sản xuất theo tiến trình sản xuất

* Nhận các thông báo từ các bộ phận sản xuất trong xí nghiệp về những bất

ổn phát sinh, những chậm muộn và những nhân tố làm ảnh hưởng đến việc hoàn thành các kế hoạch theo thời gian đã đề ra

* Lãnh đạo xí nghiệp theo những nhiệm vụ sản xuất hàng ngày và lịch trình sản xuất tác nghiệp

* Giao những hướng dẫn, các chỉ đạo cho các bộ phận của xí nghiệp để loại

bỏ những phát sinh gây ra chậm muộn, kiểm soát việc thực hiện các chỉ đạo tác nghiệp đó

* Kiểm soát công việc của các bộ phận chuẩn bị sản xuất cho xí nghiệp

* Thông tin cho lãnh đạo xí nghiệp và lãnh đạo bộ phận điều độ cấp xí nghiệp

về những trường hợp không bình thường đòi hỏi phải can thiệp Tiến hành các cuộc họp điều độ theo các vấn đề cần thực hiện của các nhóm theo nhiệm vụ được giao trong hiện tại

* Kiểm soát việc đưa các thiết bị, máy móc vào ra theo lịch trình sửa chữa Hiệu quả hoạt động của bộ máy điều độ phụ thuộc rất nhiều vào tổ chức các mối quan hệ trong công ty (với bộ phận cung ứng vật tư, cơ điện, công nghệ – kỹ thuật, KCS ) để tạo ra sự phối kết hợp nhịp nhàng trong thực hiện các quyết định điều chỉnh sản xuất Mối quan hệ giữa bộ máy điều độ với bộ máy quản trị sản xuất tác nghiệp chiếm vị trí đặc biệt quan trọng bởi cả hai đều nằm trong sự thống nhất của Phòng kế hoạch - điều độ trung tâm để đảm bảo sự phối hợp ra quyết định về điều chỉnh quá trình sản xuất.[1, 15-18]

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát hệ thống sản xuất và các phương hướng hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất

1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát hệ thống sản xuất

Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng của kiểm soát hệ thống sản xuất nhưng nhìn chung có các nhân tố ảnh hưởng chính sau:

- Thiết kế bộ máy kiểm soát hệ thống sản xuất:

+ Bộ máy kiểm soát hệ thống sản xuất có phù hợp với quy mô, tình hình thực tế của đơn vị sản xuất hay không, ví dụ: thông thường ở các công ty quy mô trung bình và lớn thì bộ máy kiểm soát thường được phân làm 3 cấp (cấp công ty, cấp xí nghiệp, cấp tổ đội sản xuất) mới đáp ứng được yêu cầu kiểm soát, còn với quy mô

Trang 31

nhỏ doanh nghiệp có thể kiểm soát qua 2 cấp mà vẫn đảm bảo tính kịp thời và chính xác trong điều hành sản xuất

+ Những người tham gia vào kiểm soát hệ thống sản xuất có được quy định trách nhiệm, quyền hạn và chế độ ưu đãi một cách rõ ràng không? có đủ năng lực để đảm nhiệm công việc không?

- Thiết kế các quy định trong quản lý hoạt động kiểm soát: những văn bản quy

định, mẫu báo cáo liên quan đến hoạt động kiểm soát

- Trang thiết bị kiểm soát: các trang thiết bị trong quá trình kiểm soát sản xuất

sẽ giúp kịp thời phát hiện các sai lệch, trục trặc trong hoạt động sản xuất, nâng cao

độ chính xác của các thông tin kiểm soát Ví dụ như: nếu có bộ đàm, và camera theo dõi hoạt động sản xuất, người điều động sản xuất thưởng trên văn phòng có thể phát hiện và điều khiển trực tiếp với điều động viên ở xí nghiệp, và ngược lại, xí nghiệp

có thể xin ý kiến chỉ đạo trực tiếp từ cấp trên, hoặc nếu được trang bị máy tính, phần mềm nối mạng từ xí nghiệp lên văn phòng công ty thì việc xử lý dữ liệu sẽ chính xác và nhanh chóng hơn

- Các văn bản quy định có liên quan đến hoạt động sản xuất: như khen

thưởng, kỷ luật: điều này rất quan trọng vì khi xảy ra sự cố có liên quan đến trách

nhiệm cho đối tượng rõ ràng mà không được xử lý thích đáng sẽ gây phản ứng coi nhẹ cho các trường hợp khác, dẫn đến mất kỷ luật, hoặc khen thưởng không đúng mức sẽ không kích thích được tính tự giác, sáng tạo đóng góp của con người tham gia vào quá trình sản xuất sẽ tạo ra sự chây ỳ, chậm phát triển của cả hệ thống sản xuất

- Mối quan hệ chặt chẽ giữa các bộ phận kiểm soát với các bộ phận khác,

trong một doanh nghiệp mọi hoạt động của các bộ phận khác nhau đều có liên quan chặt chẽ với nhau, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, phối hợp nhịp nhàng thì hệ thống của

cả doanh nghiệp mới hoạt động tốt được Ví dụ: công ty thực hiện chậm tiến độ một đơn hàng xuất khẩu do khách quan máy hỏng đòi hỏi sự phối hợp của bộ phận xuất nhập khẩu để thương thuyết về thời gian chẳng hạn

- Chất lượng kế hoạch sản xuất tác nghiệp, và các định mức (tiêu hao nguyên

vật liệu, máy móc ) Nếu không có những chỉ tiêu kế hoạch, định mức cụ thể và chi tiết thì sẽ không kiểm soát được một cách toàn diện hoặc, ngoài ra các kế hoạch,

Trang 32

bảng định mức không đúng với thực tế làm thông tin trong sản xuất bị xáo trộn không có thước đo và kiểm soát sẽ sai lệch

- Triển khai thực hiện hoạt động kiểm soát: có một bộ máy kiểm soát phù hợp

với đầy đủ các phương tiện hỗ trợ nhưng muốn nó hoạt động hiệu quả đòi hỏi các thành viên tham gia phải thực hiện đúng quy trình công việc, làm việc nghiêm túc,

có trách nhiệm, phải biết xử lý tình huống một cách khoa học nhanh nhạy đòi hỏi người làm công tác kiểm soát có trình độ chuyên môn

Sự phản ánh trung thực khi phát hiện các trường hợp gây ra lỗi, không được bao che, trốn tránh trách nhiệm cũng là yêu cầu cần thiết trong xây dựng những chuẩn mực nghề nghiệp cho bộ máy kiểm soát Ví dụ: những kiểm soát viên cấp xí nghiệp

và tổ đội thường có mối quan hệ gắn bó về mặt tình cảm do cùng nhau làm việc trong cùng một địa điểm nên họ ngại va chạm, làm mất lòng người khác dẫn đến bỏ qua hoặc bao che cho những hành vi sai phạm Hoặc khi máy móc bị dừng, sản phẩm bị lỗi do công nhân mất tập trung làm việc thường đổi cho tình trạng máy móc không tốt và trưởng bộ phận lại bao che cho họ.[1, 19-23]

1.4.2 Các phương hướng hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất

Muốn có một hệ thống kiểm soát sản xuất hoạt động thực sự có hiệu quả đòi hỏi phải làm tốt các yếu tố sau:

- Hoàn thiện bộ máy kiểm soát bao gồm: Hoàn thiện phân cấp trong bộ máy

kiểm soát, hoàn thiện các văn bản quy định phân công trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp, từng vị trí trong bộ máy

- Hoàn thiện trang thiết bị kiểm soát và hỗ trợ kiểm soát như: Hệ thống thông

tin giữa các xí nghiệp và văn phòng công ty (điện thoại, bộ đàm ) Trang bị máy tính cho từng xí nghiệp và nối mạng nội bộ công ty nhằm cập nhật thông tin hàng ngày Nếu quy mô công ty lớn có thể trang bị phần mềm kiểm soát sản xuất, camera theo dõi công nhân làm việc, thiết bị cân đong điện tử ở xí nghiệp, máy chấm công (scanner)

- Hoàn chỉnh các văn bản quy chế, quy định của công ty một cách khoa học

(có chế tài xử phạt rõ ràng với những vi phạm và mức thưởng tương xứng với những thành tích nổi bật)

- Đào tạo chuẩn cho đội ngũ tham gia công tác kiểm soát tại các xí nghiệp:

hiểu rõ về hệ thống sản xuất, tầm quan trọng của công tác kiểm soát sản xuất để

Trang 33

nâng cao ý thức trách nhiệm, thực hiện các báo cáo, nhật ký làm việc một cách trung thực và khoa học

- Hoàn thiện công tác hoạch định kế hoạch tác nghiệp sản xuất, các hệ thống

định mức

- Tăng cường các hoạt động phối kết hợp giữa các bộ phận khác nhau trong

doanh nghiệp nhằm tăng hiệu quả kiểm soát các hoạt động sản xuất [1, 23-25]

Trang 34

Kết luận cuối chương I

Chương I đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như:

• Khái niệm về hệ thống sản xuất

• Khái niệm và tầm quan trọng của kiểm soát hệ thống sản xuất

• Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của hệ thống sản xuất: thiết kế

bộ máy kiểm soát sản xuất, các văn bản, chính sách có liên quan đến quản lý hoạt động kiểm soát hệ thống sản xuất, các trang thiết bị kiểm soát, công tác lập kế hoạch trong hoạt động sản xuất và các công tác xây dựng định mức trong hoạt động sản xuất, trình độ và ý thức trách nhiệm, kỷ luật của đội ngũ nhân viên tham gia thực hiện các nhiệm vụ kiểm soát hệ thống sản xuất, mối quan hệ tương tác giữa các

bộ phận khác nhau trong Công ty nhằm hỗ trợ cho hoạt động kiểm soát tiến hành nhịp nhàng

• Các phương hướng hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất

Đây là những nền tảng lý thuyết quan trọng để sử dụng trong quá trình nghiên cứu, phân tích các hoạt động kiểm soát trong hệ thống sản xuất của Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú

-

Trang 35

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HỆ THỐNG SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN TRẦN PHÖ

-2.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú: 2.1.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú:

Công ty CP Cơ điện Trần Phú tiền thân là Xí nghiệp Cơ khí Xây dựng Trần Phú

ra đời vào năm 1984 theo Quyết định số 4018/QD-TCCQ ngày 12 tháng 9 năm

1984 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội cấp, sau đổi tên lần thứ nhất thành Công ty Cơ điện Trần Phú theo Quyết định số 4505/QĐ-UB ngày 20 tháng 12 năm

1995 của UBND Thành phố Hà Nội Ngày 23 tháng 8 năm 2004, UBND Thành phố

Hà Nội ra Quyết định số 131/2004/QĐ-UB chuyển Công ty Cơ điện Trần Phú thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Cơ điện Trần Phú Ngày 22 tháng 2 năm 2010, Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chuyển đổi cổ phần hóa từ Doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú theo Quyết định số 416/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội ngày 25 tháng 01 năm 2010 (thay đổi lần 2 ngày 29/10/2013)

CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN TRẦN PHÖ

Tên viết tắt: TRAFUCO., JSC Tên tiếng Anh: TRAN PHU ELECTRIC

MECHANICAL JOINT STOCK COMPANY

Địa chỉ trụ sở chính: Số 41 phố Phương Liệt,

phường Phương Liệt, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Điện thoại: +84-4-8691168 Website: www.tranphucable.com.vn

Ngành nghề kinh doanh chính:

Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0100106063 ngày 22 tháng 2 năm 2010 (sửa đổi lần 2 ngày 29 tháng 10 năm 2013), ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty CP Cơ điện Trần Phú là:

Sản xuất dây cáp, sợi cáp quang học

Sản xuất dây, cáp điện và điện tử khác

Trang 36

Sản xuất thiết bị điện chiếu sáng

Sản xuất đồ điện dân dụng

Sản xuất máy chuyên dụng

Bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử, viễn thông

Cho thuê máy móc, thiết bị, đồ dùng hữu hình khác

Các Xí nghiệp thành viên:

Xí nghiệp sản xuất dây đồng

Xí nghiệp sản xuất dây và cáp động lực

Xí nghiệp sản xuất dây điện dân dụng

Xí nghiệp sửa chữa cơ điện

Cáp bọc cách điện PVC, XLPE, HDPE:

Ruột nhôm (AV, ACV; AX; AE)

Ruột đồng (CV; CX; CE)

Cấp điện áp từ 0,6/1KV đến 1,8/3KV

Tiết diện đến 400mm2

Trang 37

Dây điện dân dụng ruột đồng gồm 1

hoặc hay nhiều sợi bện

Tiết diện ruột từ 0.3 đến 10mm2; có cách

điện và vỏ bọc (nếu có) bằng PVC

Điện áp làm việc đến 0,6/1kV

Các chủng loại thông dụng: dây một

ruột, dây hai ruột, dây ba ruột

Năng lực thiết bị công nghệ dây chuyền sản xuất:

Nhờ liên tục đầu tư đổi mới theo hướng chiều sâu nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm mà hiện nay trình độ trang thiết bị của Công ty được đánh giá là tương đối hiện đại so với các công ty hoạt động trong ngành sản xuất dây và cáp điện với 80% máy móc thiết bị hiện có của Công ty được sản xuất sau năm 2000 tại các nước công nghiệp phát triển có nền sản xuất tiên tiến như: Đức, Nhật Bản, Phần Lan, Italia Một số hệ thống máy móc trọng yếu bao gồm: Hệ thống đúc kéo đồng liên tục trong môi trường không ô-xi (xuất xứ Phần Lan); Máy kéo ủ liên tục và thu dây tự động (xuất xứ Đức); Máy kéo dây nhôm liên tục và thu dây tự động Hen rich (xuất xứ Đức); Máy kéo tinh có ủ 16 đầu dây (xuất xứ Italia) và các thiết bị đo đạc khác từ Nhật, Áo, Hệ thống máy móc và thiết bị hiện đại của Công ty đều được đặt tại các vị trí sản xuất trọng yếu, đóng góp không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm tạo nên những thang, dòng sản phẩm được đánh giá cao trên thị trường

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển:

Năm 1984, Xí nghiệp Cơ khí Xây dựng Trần Phú được thành lập trên cơ sở sát nhập hai xí nghiệp cơ khí trực thuộc Sở Xây dựng Hà Nội là Xí nghiệp Cơ khí Trần Phú và Xí nghiệp Cơ khí xây dựng với mục tiêu xác định là trở thành đơn vị hậu cần cho ngành xây dựng Thủ đô Trong vòng 5 năm đầu tiên từ khi sát nhập, Xí nghiệp chỉ sản xuất các sản phẩm truyền thống phục vụ cơ khí xây dựng Từ cuối năm 1988, Trần Phú đã quyết định mạnh dạn chuyển sang sản xuất một sản phẩm hoàn toàn mới là dây nhôm và cáp nhôm Trên cơ sở cáp nhôm, Trần Phú đã tiếp tục sản xuất cáp đồng và điểm mốc quan trọng nhất diễn ra vào năm 1994 khi công

ty quyết định sản xuất dây điện dân dụng - sản phẩm đã mang lại thương hiệu cho

Trang 38

Trần Phú trong suốt hai thập kỷ qua Dây điện dân dụng đã giúp Trần Phú vững vàng đi đầu trong thị trường dây điện phía Bắc và luôn nằm trong danh sách 500 công ty có doanh số lớn nhất Việt Nam theo bình chọn của VNR500 Trần Phú chính thức trở thành Công ty CP từ năm 2010 trong đó phần vốn Nhà nước chiếm 65%

Từ một cơ sở sản xuất nhỏ bé, chỉ sản xuất những công cụ thô sơ phục vụ xây dựng cơ bản, Công ty CP Cơ điện Trần Phú đã vươn lên trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trên lĩnh vực sản xuất dây và cáp điện các loại Cùng với dây chuyền thiết bị, công nghệ tiên tiến hiện đại của các nước Tây Âu và

áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, “dây và cáp điện Trần Phú” đã có vị thế vững chắc ở Hà Nội và cả nước, đạt được nhiều thành tựu, danh hiệu và huân chương cao quý

Công ty CP Cơ điện Trần Phú hiện đang tăng trưởng với mức cao, đồng thời đủ sức hội nhập với thị trường khu vực và quốc tế Để có được tiềm lực như hiện nay, Công ty đã phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển và chuyển đổi để phù hợp với tình hình kinh tế từng giai đoạn

(Nguồn: Phòng Kế toán Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú)

Biểu đổ 2-1 TĂNG TRƯỞNG DOANH THU TRƯỚC CỔ PHẦN HÓA

Trang 39

Giai đoạn cổ phần hóa từ năm 2010 đến nay, Công ty CP Cơ điện Trần Phú đã

có những phát triển so với giai đoạn 100% vốn Nhà nước trước đây Việc cơ cấu cổ phần giúp lãnh đạo Công ty tập trung hơn vào lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh, khiến cho tỉ suất lợi nhuận của Công ty tăng lên đáng kể

Trang 40

(Nguồn: Phòng Kế toán Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú)

Biểu đồ 2-2 SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ DÂY ĐIỆN DÂN DỤNG

Biểu đồ 2-3 TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN, VỐN CHỦ SỞ HỮU

SAU CỔ PHẦN HÓA

Ngày đăng: 21/01/2021, 08:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w