Khái niệm Dự án đầu tư được hiểu là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồ
Trang 1- -
ĐẶNG VĂN TIẾN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ODA TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI SỞ GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ MAI CHI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh
Tôi xin chân thành cảm ơn tiến sỹ Nguyễn Thị Mai Chi, người đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trường Đại học Bách khoa Hà Nội, lãnh đạo và các cán bộ, chuyên viên phòng ban chuyên môn Sở Giáo dục và Đào tạo, các cán bộ, chuyên viên các sở, ban, ngành của tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này; cám ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã động viên, hỗ trợ tôi về tinh thần, vật chất trong quá trình học tập
Tác giả luận văn
Đặng Văn Tiến
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG VỐN ODA TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3
1.1 Tổng quan về đầu tư và dự án đầu tư 3
1.1.1 Khái niệm về đầu tư 3
1.1.2 Dự án đầu tư 4
1.1.2.1 Khái niệm 4
1.1.2.2 Sự cần thiết của dự án đầu tư 4
1.1.2.3 Đặc điểm của dự án đầu tư 5
1.1.2.4 Phân loại dự án đầu tư và quản lý Nhà nước đối với dự án XDCT 6
1.1.2.5 Vòng đời của dự án đầu tư 7
1.2 Quản lý dự án đầu tư 8
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của quản lý dự án 8
1.2.2 Mục đích của quản lý dự án 10
1.2.3 Quá trình quản lý dự án 11
1.2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư 12
1.2.3.2 Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư 13
1.2.3.3 Giai đoạn kết thúc đầu tư 15
1.2.4 Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư 16
1.2.4.1 Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án 16
1.2.4.2 Chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý thực hiện dự án 17
1.3 Quản lý dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước 17
1.3.1 Đặc điểm các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách 17
Trang 41.3.2 Phân cấp quản lý các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách 20
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn ngân sách 21
1.3.3.1 Chỉ tiêu kết quả sử dụng vốn 21
1.3.3.2 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn 22
1.4 Quản lý dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA 25
1.4.1 Đặc điểm các dự án đầu tư sử dụng vốn ODA 25
1.4.1.1.Vốn ODA có tính chất ưu đãi 25
1.4.1.2 Vốn ODA thường gắn với các điều kiện ràng buộc 26
1.4.2 Phân loại các dự án đầu tư sử dụng vốn ODA 29
1.4.2.1 Phân loại theo tính chất nguồn vốn 29
1.4.2.2 Phân loại theo nước tiếp nhận 30
1.4.2.3 Phân loại theo nguồn cung cấp 30
1.4.2.4 Phân loại theo mục đích 31
1.4.2.5 Phân loại theo tính rằng buộc 31
1.4.2.6 Phân loại theo cách thức thực hiện 31
1.4.3 Các phương thức cung cấp vốn ODA 32
1.4.3.1 Hỗ trợ cán cân thanh toán 32
1.4.3.2 Hỗ trợ chương trình 32
1.4.3.3 Hỗ trợ dự án 32
1.4.4 Tác dụng của vốn ODA 33
1.4.4.1 Với các nước tài trợ 33
1.4.4.2 Đối với các nước tiếp nhận vốn ODA 34
1.4.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả quản lý các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA 36
1.4.6 Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA 39
1.4.7 Kết quả sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng của Sở Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2011 - 2013 41
Trang 51.4.8 Tình hình sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng của Sở Giáo dục và
Đào tạo giai đoạn 2011 - 2013 42
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 44
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN ODA TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH QUẢNG NINH 45
2.1 Khái quát về tình hình phát triển giáo dục của tỉnh Quảng Ninh 45
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh 45
2.1.2 Tình hình phát triển Giáo dục và Đào tạo của tỉnh Quảng Ninh 48
2.2 Phân tích tình hình thực hiện các dự án có sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng của Sở Giáo dục và Đào tạo theo các giai đoạn 50
2.2.1 Mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư 50
2.2.1.1 Vận động ODA 51
2.2.1.2 Xây dựng danh mục các chương trình, dự án và trình duyệt 51
2.2.1.3 Chuẩn bị hồ sơ dự án 51
2.2.1.4 Thẩm định dự án 51
2.2.1.5 Ký kết các điều ước quốc tế 51
2.2.1.6 Triển khai dự án 52
2.2.1.7 Theo dõi, đánh giá dự án 52
2.2.2 Quy trình quản lý dự án đầu tư có sử dụng vốn ODA 52
2.2.3 Thực trạng công tác QLDA đầu tư của Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh theo lĩnh vực chủ yếu của dự án 54
2.2.3.1 Quản lý thời gian và tiến độ các dự án đầu tư 54
2.2.3.2 Phân tích đáp ứng mặt chất lượng công trình 63
2.2.3.3 Phân tích tình hình thực hiện dự án theo kinh phí 67
2.2.3.4 Công tác giám sát đánh giá đầu tư 71
2.3 Các tồn tại và nguyên nhân trong sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng của Sở Giáo dục và Đào tạo 72
2.3.1 Những kết quả đạt được 72
Trang 62.3.1.1 Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục không ngừng tăng 72
2.3.1.2 Chất lượng giáo dục đã có chuyển biến tích cực 73
2.3.1.3 Mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các tổ chức, các khu vực được tăng cường 73
2.3.1.4 Vị thế ngành giáo dục đào tạo Quảng Ninh được nâng cao trên trường quốc tế 73
2.3.2 Những tồn tại cần khắc phục 74
2.3.2.1 Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước 74
2.3.2.2 Tỷ lệ giải ngân chưa cao 74
2.3.2.3 Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA chưa cao 74
2.3.3 Nhận xét, đánh giá 75
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ODA TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH QUẢNG NINH 77
3.1 Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Ninh đoạn 2014 - 2020 tầm nhìn đến năm 2030 77
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng của Sở Giáo dục và Đào tạo 78
3.2.1 Nhóm giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút nguồn vốn ODA cho ngành giáo dục thời gian tới 78
3.2.1.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý 79
3.2.1.2 Xác định hướng huy động và sử dụng nguồn vốn ODA 80
3.2.1.3 Chủ động đưa ra những danh mục, chương trình, dự án ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục 81
3.2.1.4 Cải thiện chất lượng dự án ODA 81
3.2.2 Nhóm giải pháp nhằm tăng tốc độ giải ngân nguồn vốn ODA cho ngành giáo dục tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới 82
Trang 73.2.2.1 Hài hoà thủ tục giữa phía Việt Nam và các nhà tài trợ 83
3.2.2.2 Tăng cường hiệu quả công tác xây dựng kế hoạch giải ngân 84
3.2.2.3 Giải quyết tốt vấn đề vốn đối ứng 85
3.2.3 Nhóm giải pháp nhằm sử dụng hợp lý nguồn vốn ODA trong ngành giáo dục tỉnh Quảng Ninh 85
3.2.3.1 Xác định rõ trách nhiệm từng đối tượng tham gia dự án ODA 85
3.2.3.2 Cải thiện và chia sẻ thông tin 86
3.2.3.3 Phát huy vai trò chủ động và tham gia tích cực của phía Việt Nam 87 3.2.3.4 Nâng cao năng lực quản lý dự án ODA 87
3.2.3.5 Đẩy mạnh công tác theo dõi và đánh giá dự án 88
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số thí dụ xác định yếu tố cho không trong viện trợ 25
Bảng 2.1: Tình hình đầu tư dự án sử dụng vốn ODA (giai đoạn 2011 - 2013) 42
Bảng 2.2 Tiến độ dự án của Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh 59
Bảng 2.3: Danh mục các công trình chưa quyết toán, chậm nộp báo cáo 61
Bảng 2.4: Mức độ đáp ứng tiến độ của dự án (giai đoạn 2011 – 2013) 62
Bảng 2.5 Đánh giá đáp ứng về chất lượng (giai đoạn 2011 – 2013) 64
Bảng 2.6 Tổng hợp dự án hoàn thành đã phê duyệt quyết toán năm 2013 70
Bảng 2.7: Kết quả thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư 72
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ vòng đời của dự án đầu tư 7
Sơ đồ 1.2: Quá trình quản lý dự án 12
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu chi phí thực hiện dự án 68Biểu đồ 2.1: Tổng vốn đầu tư dự án sử dụng vốn ODA (giai đoạn 2011 - 2013) 43Biểu đồ 2.2: Mức độ đáp ứng tiến độ đầu tư (giai đoạn 2011 – 2013) 63Biểu đồ 2.3: Mức độ đáp ứng chất lượng dự án 64
Trang 10Kế hoạch và đầu tư KH&ĐT Kho bạc Nhà nước KBNN Kinh tế xã hội KT-XH Ngân sách địa phương NSĐP Ngân sách nhà nước NSNN
Quản lý chất lượng QLCL Quản trị kinh doanh QTKD Thất thoát lãng phí TTLP Thiết kế kỹ thuật TKKT Tổng mức đầu tư TMĐT
Trang 11Sinh viên: Đặng Văn Tiến 1 Lớp: 12A-QTKDHL
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển nền kinh tế xã hội, đầu tư là một vấn đề then chốt của quá trình phát triển Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, bên cạnh đó chúng ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì vậy nhu cầu về vốn đầu tư là rất lớn Tuy nhiên, do trình độ khoa học công nghệ lạc hậu, thu nhập quốc dân bình quân đầu người thấp, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế gần như không đáng kể nên vốn đầu tư là một trong những khó khăn lớn đặt ra cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội hiện nay
Vốn ngân sách là nguồn vốn có vai trò quyết định trong hoạt động đầu tư, phát triển kinh tế xã hội, thì bên cạnh đó Vốn đầu tư nước ngoài luôn được coi là nguồn vốn có vị trí quan trọng Cùng với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thì nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nguồn vốn đã mang lại hiệu quả trong nhiều năm quá Đây là nguồn vốn có thời gian vay kéo dài hàng chục năm, thời gian ân hạn dài, lãi suất thấp hơn nhiều so với vay thương mại và có khoảng 10% tổng số là viện trợ không hoàn lại Nguồn vốn ODA có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay, thông qua nguồn viện trợ này mà chúng ta có thể xây dựng, cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ nguồn nhân lực, hỗ trợ cải cách chính sách kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, xoá đói giảm nghèo… còn các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, tiếp thu trình độ quản lý tiên tiến
Sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả là một trong những quan điểm của báo cáo kết quả giám sát lĩnh vực ODA của Ủy ban đối ngoại và Thường trực Ủy ban kinh tế và ngân sách Quốc hội đã thống nhất Quảng Ninh cũng không nằm ngoại
lê Quảng Ninh là tỉnh nằm trong tam giác phát triển kinh tế trọng điểm phía bắc Trong những năm ần đây sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa từng bước được đẩy mạnh, nhân tố con người được được phát huy coi trọng Dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực giáo dục đào tạo liên tục được triển khai ở hầu hết
Trang 12Sinh viên: Đặng Văn Tiến 2 Lớp: 12A-QTKDHL
các địa phương và các đơn vị của tỉnh Quảng Ninh, trong đó Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh là một trong những đơn vị thu hút được nhiều dự án đầu tư ODA tập trung vào lĩnh vực mà Sở quản lý Chình vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài:
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng tại Sở Giáo dục và Đào tại tỉnh Quảng Ninh” để làm luận văn thạc sỹ
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số cơ sở lý luận cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng Vận dụng những cơ sở đó để phân tích thực trạng sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng, đồng thời đề xuất một số giải pháp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc
sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng tại Sở Giáo dục và Đào tại tỉnh Quảng Ninh và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vào tình hình công tác
sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng tại Sở Giáo dục và Đào tại tỉnh Quảng Ninh thời gian trong 3 năm gần đây (2011-2013) Nguồn số liệu được thu thập tại
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh trong khoảng thời gian từ năm 2011-2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng lý luận kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: thống kê, phân tích và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng
Chương 2: Phân tích thực trạng sử dụng vốn ODA trong đầu tư xây dựng tại
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong đầu
tư xây dựng tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh
Trang 13Sinh viên: Đặng Văn Tiến 3 Lớp: 12A-QTKDHL
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG VỐN ODA TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1 Tổng quan về đầu tư và dự án đầu tư
1.1.1 Khái niệm về đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ
Hoạt động đầu tư có nhiều loại khác nhau Theo nguồn vốn, có thể phân chia thành đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; theo đối tượng đầu tư, có thể phân biệt đầu tư tài sản cố định và đầu tư tài sản lưu động; theo tính chất của đầu tư có thể phân định thành đầu tư phát triển, đầu tư chuyển dịch
Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu
tư phát triển Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế Do vậy đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằ ợi ích với nhiều hình thức khác nhau Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đạ
phục tài sản cố định cho nền kinh tế
Bên cạnh đó, đầu tư XDCB còn là việc bỏ vốn để tiến hành hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong
hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình
Đầu tư XDCB có tác động rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo hoạt
Trang 14Sinh viên: Đặng Văn Tiến 4 Lớp: 12A-QTKDHL
động sản xuất và đời sống xã hội không ngừng phát triển Thực tế lịch sử đã cho thấy bất cứ một phương thức sản xuất xã hội nào cũng đều phải có sơ sở vật chất -
kỹ thuật tương ứng
Đầu tư XDCB thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định Chủ đầu
tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình Xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư nói riêng Chủ đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát đầu tư, chịu trách nhiệm toàn diện về những sai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến môi trường môi sinh và do đó, có ảnh hưởng quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư
Các hoạt động đầu tư thường được tiến hành theo dự án, vậy thế nào là một
dự án, nên tiến hành quản lý dự án như thế nào
1.1.2 Dự án đầu tư
1.1.2.1 Khái niệm
Dự án đầu tư được hiểu là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định (Theo điều 3 - Luật đấu thầu ), hay nói cách khác dự án đầu tư là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thể thực mới
"Dự án đầu tư xây dựng" công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở (Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003)
1.1.2.2 Sự cần thiết của dự án đầu tư
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Dự án đầu tư là cơ sở thẩm định và ra quyết định đầu tư
Trang 15Sinh viên: Đặng Văn Tiến 5 Lớp: 12A-QTKDHL
Trên góc độ Chủ đầu tư: Dự án đầu tư là căn cứ để xin phép đầu tư và giấy phép hoạt động, xin phép nhập khẩu máy móc vật tư kỹ thuật, xin hưởng các khoản
ưu đãi đầu tư, xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, xin vay vốn của các định chế tài chính trong và ngoài nước, là căn cứ để kêu gọi góp vốn hoặc phát hành các cổ phiếu, trái phiếu…
Dự án đầu tư khi được xây dựng sẽ đem lại những kết quả KT - XH to lớn:
Có thể nói, đầu tư XDCB là hoạt động rất quan trọng: Là một khâu trong quá trình thực hiện đầu tư phát triển, nó có quyết định trực tiếp đến sự hình thành chiến lược phát triển kinh tế từng thời kỳ; góp phần làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chính sách kinh tế của nhà nước
Kết quả trực tiếp: Công trình cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng tạo điều kiện giao thông thuận lợi, phát triển kinh tế, kéo theo hàng loạt những dự án đầu tư khác khiến bộ mặt kinh tế quanh khu vực có công trình thay đổi
Kết quả gián tiếp: Tạo được công ăn việc làm, nhiều ngành nghề, dịch vụ mới phát sinh trong khu vực có công trình xây dựng được tạo nên, tạo cảnh quan đô thị
1.1.2.3 Đặc điểm của dự án đầu tư
Dự án có mục đích, kết quả xác định Điều này thể hiện tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ Kết quả này có thể là một tòa nhà, một con đường, một dây chuyền sản xuất… Mỗi dự án bao gồm một tập hợp nhiệm vụ cần thực hiện Mỗi nhiệm vụ lại có kết quả riêng, độc lập Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án
Dự án chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn Dự án là một sự sáng tạo, dự án không kéo dài mãi mãi Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản lý dự án giải tán
Dự án có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan cung cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng từ dự án, các nhà tư vấn Nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau
Trang 16Sinh viên: Đặng Văn Tiến 6 Lớp: 12A-QTKDHL
Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo Kết quả của dự án có tính khác biệt cao, sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại duy nhất
Môi trường hoạt động “ va chạm” quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị… Trong quản lý, nhiều trường hợp, các thành viên ban quản lý dự án lại có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai lệnh lại mâu thuẫn nhau… do đó, môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động
Dự án có tính bất định và độ rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đều tư thường có độ rủi ro cao
1.1.2.4 Phân loại dự án đầu tư và quản lý Nhà nước đối với dự án XDCT
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009; Nghị định số 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọi chung là dự án) được phân loại như sau:
Theo quy mô và tính chất: Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét,
quyết định về chủ trương đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C
Theo nguồn vốn đầu tư:
- Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn
Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định theo phân cấp, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước
Trang 17Sinh viên: Đặng Văn Tiến 7 Lớp: 12A-QTKDHL
1.1.2.5 Vòng đời của dự án đầu tư
Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc rõ ràng nên dự án có một vòng đời Vòng đời của dự án (Project lifi cycle) bao gồm nhiều giai đoạn phát triển từ ý tưởng đến việc triển khai nhằm đạt được kết quả và đến khi kết thúc dự án Thông thường, các dự án đều có vòng đời bốn giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn hình thành dự án (Chủ trương lập dự án); giai đoạn nghiên cứu phát triển (lập dự án); giai đoạn thực hiện và quản lý; giai đoạn kết thúc
Tiến trình công việc chính: Xây dựng ý tưởng ban đầu, xác định quy mô và mục tiêu, đánh giá các khả năng, tính khả thi của dự án, xác định các nhân tố và cơ
sở thực hiện dự án
Có thể minh họa sơ đồ chu kỳ của dự án đầu tư như sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ vòng đời của dự án đầu tƣ
Có thể thấy trong các giai đoạn trên thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư là giai đoạn quan trọng, tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại của một dự án, dự
Trang 18Sinh viên: Đặng Văn Tiến 8 Lớp: 12A-QTKDHL
án có phát huy hiệu quá tối đa khi đưa vào khai thác sử dụng hay không chính là nhờ vào việc xác định mục tiêu đúng đắn Nội dung chủ yếu của giai đoạn chuẩn bị đầu tư là việc xây dựng dự án đầu tư Trong đó vấn đề chất lượng, tính chính xác của các kết quả nghiên cứu tính toán và dự án là quan trọng nhất
Đến giai đoạn thực hiện đầu tư thì vần đề thời gian là vấn đề quan trọng hơn
vì đây là yếu tố có ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến khả năng về vốn, thời
cơ cạnh tranh của sản phẩm Giai đoạn kết thúc đầu tư xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng thì việc tổ chức quản lý và phát huy tác dụng các kết quả của dự
án là quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian tồn tại của dự án
1.2 Quản lý dự án đầu tƣ
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của quản lý dự án
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Quản lý dự án (Project Management – PM) là quá trình lập kế hoạch, theo dõi và kiểm soát tất cả những vấn đề của một dự án và điều hành mọi thành phần tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách được được duyệt với các chi phí, chất lượng và khả năng thực hiện chuyên biệt Nói cách khác QLDA là công việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của dự án hay nói cách khác QLDA là việc huy động các nguồn lực và tổ chức các công nghệ để thực hiện được mục tiêu đề ra
QLDA đầu tư xây dựng là một quá trình phức tạp nó mang tính duy nhất không có sự lặp lại, không xác định rõ ràng và không có dự án nào giống dự án nào Mỗi dự án có địa điểm khác nhau, không gian và thời gian khác nhau, yêu cầu về số lượng và chất lượng khác nhau, tiến độ khác nhau, con người cũng khác nhau… thậm chí trong quá trình thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, ý tưởng từ Chủ đầu tư Cho nên việc điều hành QLDA luôn thay đổi linh hoạt, không có công thức nhất định
QLDA là một yếu tố quan trọng quyết định tồn tại của dự án, là sự vận dụng lý luận, phương pháp quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn
Trang 19Sinh viên: Đặng Văn Tiến 9 Lớp: 12A-QTKDHL
bộ công việc có liên quan tới dự án đầu tư dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn
Theo Viện quản lý dự án (PMI): “Quản lý dự án là ứng dụng kiến thức, kỹ
năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động dự án để thỏa mãn các yêu cầu của dự án”
Theo Giáo trình quản lý dự án của tác giả PGS.TS Từ Quang Phương:
“Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép”
Dù tiếp cận theo góc độ nào thì quản lý dự án cũng bao gồm ba giai đoạn chủ yếu Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện và giám sát
+ Lập kế hoạch Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự
tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng sơ đồ hệ thống hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống
+ Điều phối thực hiện dự án Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm
tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị cho phù hợp
+ Giám sát Đây là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình
hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự
án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha của dự án
Quản lý dự án bao gồm những đặc trưng cơ bản sau:
1 Chủ thể của quản lý dự án chính là người quản lý dự án
2 Khách thể của QLDA liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là
Trang 20Sinh viên: Đặng Văn Tiến 10 Lớp: 12A-QTKDHL
toàn bộ nhiệm vụ công việc của dự án) Những công việc này tạo thành quá trình vận động của hệ thống dự án Quá trình vận động này được gọi là chu kỳ tồn tại của
dự án
3 Mục đích của QLDA là để thể hiện được mục tiêu dự án, tức là sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Bản thân việc quản lý không phải mục đích mà là cách thực hiện mục đích
4 Chức năng của QLDA có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án Nếu tách rời các chức năng này thì dự án không thể vận hành có hiệu quả, mục tiêu quản lý cũng không được thực hiện Quá trình thực hiện mỗi dự án cần có tính sáng tạo, vì thế chúng ta thường coi việc quản
lý dự án là quản lý sáng tạo
1.2.2 Mục đích của quản lý dự án
QLDA đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố như sự nỗ lực, tính tập thể, yêu cầu hợp tác… vì vậy nó có tác dụng rất lớn, dưới đây trình bày một số mục đích chủ yếu như sau:
- Liên kết tất cả các công việc, các hoạt động của dự án
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án
- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án
- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự án được Tạo điều kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng
- Tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn
Đối với những dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước vai trò của QLDA lại càng thể hiện một cách rõ rệt vì:
- Dự án đầu tư là những dự án có tính chất phức tạp, quy mô tiền vốn lớn, máy móc, thiết bị, vật tư cần nhiều, thời gian thi công kéo dài
Trang 21Sinh viên: Đặng Văn Tiến 11 Lớp: 12A-QTKDHL
- Dự án đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế xã hội nơi nó tọa lạc khi được hoàn thành
- Do sử dụng vốn của Nhà nước, nguồn vốn quản lý có nhiều lỏng lẻo và tồn tại nhiều kẽ hở nên cần phải quản lý một cách chặt chẽ
Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án nói chung là hoàn thành các công việc dự
án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt
và theo tiến độ thời gian cho phép Về mặt toán học, ba mục tiêu này liên quan chặt chẽ với nhau và có thể biểu diễn theo công thức sau:
C = f (P,T,S)
Trong đó: C: Chi phí; T: Yếu tố thời gian; S: Phạm vi dự án
P: Mức độ hoàn thành công việc (kết quả)
1.2.3 Quá trình quản lý dự án
Công tác QLDA các dự án có một quá trình bao gồm nhiều công việc Chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án Nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp giao vốn để thực hiện Dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khâu kết thúc xây dựng đưa vào khai thác
sử dụng với mục đích cuối cùng là tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu đề ra, sử dụng có hiệu quả Để làm được điều này cơ quan được giao nhiệm vụ QLDA phải làm tốt các công việc sau: Lập và xin phê duyệt quy hoạch; lập báo cáo đầu tư (dự
án nhóm quan trọng Quốc gia), lập dự án đầu tư; các bước thiết kế; đấu thầu; chỉ định thầu; các thủ tục cần thiết để đủ điều kiện khởi công được công trình; quản lý chất lượng công trình; thanh toán vốn đầu tư; đưa Dự án vào khai thác sử dụng Đối với mỗi Dự án có quy mô, tính chất khác nhau nên công tác QLDA cũng khác nhau,
có sự phối hợp với các cơ quan ban ngành khác nhau
Quá trình QLDA đầu tư gồm các giai đoạn: Chủ trương, ý tưởng đầu tư, Chuẩn bị đầu tư; kết thúc đầu tư; kết thúc xây dựng đưa công trình vào quản lý khai thác sử dụng
Trang 22Sinh viên: Đặng Văn Tiến 12 Lớp: 12A-QTKDHL
Sơ đồ 1.2: Quá trình quản lý dự án
Chủ trương, ý tưởng đầu tư
Chuẩn bị đầu tư
Kết thúc đầu tưThực hiện đầu tư
Xác địnhChủ đầu tư
Dự án được phê duyệt
Dự án được nghiệm thu
Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng chi phối, cho nên hoạt động đầu tư xây dựng đòi hỏi phải tuân thủ trình tự các bước theo từng giai đoạn của dự án Vi phạm trình tự đầu tư và xây dựng sẽ gây ra lãng phí, thất thoát và tạo sơ hở cho tham nhũng trong hoạt động đầu tư và xây dựng Trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt, trình tự thực hiện dự án đầu tư được thực hiện theo các bước trong từng giai đoạn như sau:
1.2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Chủ đầu tư dự án chuẩn bị lập hồ sơ đầu tư theo các nội dung sau:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư
- Nghiên cứu thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung cấp thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư
- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
- Lập dự án đầu tư
- Thẩm định dự án đầu tư
- Phê duyệt dự án đầu tư
Giai đoạn này có ý nghĩa thật sự quan trọng, nó vạch ra phương hướng đầu
Trang 23Sinh viên: Đặng Văn Tiến 13 Lớp: 12A-QTKDHL
tư đúng đắn, hợp lý của dự án Thành bại của một dự án, dự án có phát huy tác dụng tối đa khi đưa vào khai thác sử dụng hay không chính là nhờ vào việc xác định mục tiêu đầu tư đúng đắn Do đó công việc đầu tư bao gồm: Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư Xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư, tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng Lập và trình duyệt quy hoạch, báo cáo đầu tư,dự án đầu tư
Một dự án đầu tư được coi là hiệu quả khi giai đoạn chuẩn bị đầu tư đáp ứng được các yêu cầu về quy hoạch, kỹ thuật, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội do dự án đem lại
Để thực hiện tốt giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đáp ứng các yêu cầu về quy hoạch, kỹ thuật, tài chính, kinh tế - xã hội, cần chú ý đến các nhân tố ảnh hưởng sau đây:
- Nhân tố con người: Đội ngũ cán bộ quản lý dự án phải có đủ trình độ và năng lực chuyên môn để hiểu biết, cũng như thẩm định được các nội dung của một
số dự án đầu tư
- Lựa chọn Tư vấn: Phải có những đơn vị Tư vấn chuyên nghiệp có đủ về trình độ, đủ tầm nhìn cũng như kinh nghiệm để giúp chủ đầu tư lập dự án đầu tư có
đủ các thông tin cần thiết để chủ đầu tư xem xét có quyết định đầu tư hay không
- Trong quá trình lập dự án đầu tư nhất thiết phải sử dụng các trang thiết bị hiện đại để thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu chính xác
1.2.3.2 Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư
Trên cơ sở dự án đầu tư được duyệt Chủ đầu tư tiến hành các công việc tiếp theo để triển khai xây dựng công trình, sớm đưa vào khai thác sử dụng, phục vụ mục tiêu đầu tư đã đề ra
Giai đoạn thực hiện đầu tư, gồm các công việc sau:
- Thiết kế kỹ thuật thi công, dự toán và tổng dự toán xây dựng công trình;
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình;
- Lựa chọn Nhà thầu theo luật đấu thầu;
- Đền bù thực hiện GPMB;
Trang 24Sinh viên: Đặng Văn Tiến 14 Lớp: 12A-QTKDHL
- Quản lý thi công xây dựng công trình;
- Quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình
Một dự án được coi là hiệu quả khi quá trình thực hiện đầu tư phải đáp ứng được những yêu cầu về tiến độ, chất lượng và chi phí
Dự án phải đáp ứng được tiến độ như kế hoạch đã đề ra
Đây là vấn đề quan trọng bậc nhất, bởi lẽ kế hoạch thực hiện đã được đề cập đến trong dự án đầu tư và thời gian để thực hiện dự án đầu tư là một trong những yếu tố đầu vào để phân tích hiệu quả tài chính của dự án, việc không đáp ứng được tiến độ sẽ làm phát sinh thêm nhiều chi phí có liên quan, nhiều rủi ro có thể xảy ra không ngoài trừ trường hợp dự án đầu tư không kết thúc, không thể thực hiện được
do tiến độ thi công kéo dài
Dự án phải đáp ứng được các yêu cầu về mặt chất lượng
Dự án phải đáp ứng được các yêu cầu về mặt chất lượng như đã được mô tả trong bản vẽ thiết kế Đây cũng là một chỉ tiêu hết sức quan trọng trong việc thực hiện đầu tư, nếu không đảm bảo chất lượng của dự án thì không thể có được “sản phẩm dự án” có chất lượng Có nghĩa là dự án sẽ không thể phát huy được hết hiệu quả như đã đề cập trong dự án đầu tư; không đảm bảo chất lượng sẽ dẫn đến sự lãng phí, thất thoát tài sản; có thể phát sinh nhiều chi phí để sửa chữa cải tạo cũng như có thể dự án sẽ không thể đi vào vận hành và khai thác sử dụng được Điều này dẫn đến
dự án đầu tư bị phá sản, lãng phí các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như xã hội
Dự án phải đáp ứng được các yêu cầu về mặt chi phí
Các chi phí vượt dự toán chi phí ban đầu xuất phát từ những nguyên nhân do công tác khảo sát, thiết kế không kỹ, do công tác định giá không chính xác làm tăng thêm các chi phí mà không tăng quy mô đầu tư Có thể sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả của dự án đầu tư Khi mà lập và phân tích hiệu quả tài chính thì tất cả các khoản chi phí đã được đề cập tới trong tổng mức đầu tư TMĐT này là cơ sở quan trọng để phân tích hiệu quả tài chính của dự án Các chi phí phát sinh vượt tổng mức đầu tư có thể sẽ làm giảm hiệu quả tài chính của dự án trong nhiều trường hợp thì làm cho dự án đầu tư không có hiệu quả
Trang 25Sinh viên: Đặng Văn Tiến 15 Lớp: 12A-QTKDHL
Để thực hiện tốt giai đoạn thực hiện đầu tư, đáp ứng được yêu cầu về tiến
độ, chất lượng, chi phí và công tác kiểm tra đánh giá, cần phải chú ý đến các nhân
tố ảnh hưởng sau đây:
- Nhân tố con người: Cán bộ theo dõi công tác đền bù GPMB, giám sát thi công phải là người có chuyên môn nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm rất cao, có đạo đức công vụ, ý thức kỷ luật tốt
- Lựa chọn Nhà thầu: Việc lựa chọn Nhà thầu có ảnh hưởng rất lớn đến việc hoàn thành dự án ở chỗ, nếu Nhà thầu có đủ điều kiện về năng lực, kinh nghiệm, năng lực tài chính, năng lực chuyên môn sẽ đảm bảo việc thi công cũng như cung cấp vật tư thiết bị được diễn ra như đúng kế hoạch
- Tiến độ: Quản lý chặt chẽ tiến độ thi công và năng lực của các Nhà thầu, kiểm tra đôn đốc thường xuyên tiến độ dự án
1.2.3.3 Giai đoạn kết thúc đầu tư
Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai khác sử dụng, gồm những việc như sau:
- Nghiệm thu, bàn giao công trình
- Thực hiện việc kết thúc hoạt động xây dựng công trình
- Hướng dẫn sử dụng công trình và vận hành công trình
- Tạm ứng, thanh quyết toán vốn đầu tư
- Bảo hành công trình
- Bảo trì công trình
Một dự án coi là hiệu quả khi công tác nghiệm thu, xác nhận các công việc
đã hoàn thành phải được thực hiện nhanh chóng, kịp thời đúng các quy trình, chính xác về quy cách, đủ về khối lượng
Để thực hiện tốt giai đoạn kết thúc đầu tư cần phải chú ý đến các nhân tố sau đây:
- Nhân tố con người: Cần có các cán bộ đủ năng lực, công tâm, làm việc khách quan, khoa học và chính xác;
- Phải sử dụng các trang thiết bị hiện đại để kiểm nghiệm chất lượng vật tư,
Trang 26Sinh viên: Đặng Văn Tiến 16 Lớp: 12A-QTKDHL
vật liệu, thiết bị, độ vững của công trình, sự đáp ứng về mặt tiêu chuẩn kỹ đối với các thiết bị;
- Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa đơn vị thi công, giám sát, chủ đầu tư, cơ quan cấp trên, cơ quan thanh toán để tiến hành công tác nghiệm thu bàn giao được tiến hành đúng tiến độ đã đặt ra
1.2.4 Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư
Có 2 loại hình thức quản lý thực hiện dự án đầu tư và xây dựng Căn cứ điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân, người quyết định lựa chọn một trong các hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sau:
- Chủ đầu tư xây dựng công trình thuê tổ chức Tư vấn QLDA đầu tư XDCT;
- Chủ đầu tư xây dựng công trình trực tiếp QLDA đầu tư XDCT
1.2.4.1 Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án
Việc thu được sản phẩm tốt, chất lượng cao đảm bảo kỹ mỹ thuật, phát huy hiệu quả giá cả hợp lý chính là bài toán đối với các Chủ đầu tư Để làm được điều này thì không thể phủ nhận được vai trò công tác quản lý dự án, do đó Chủ đầu tư cần cân nhắc việc lựa chọn hình thức quản lý dự án cho phù hợp
Chủ đầu tư trực tiếp QLDA là hình thức Chủ đầu tư sử dụng bộ máy cơ quan, đơn vị của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án đầu tư với 2 mô hình sau:
- Mô hình 1: Chủ đầu tư không thành lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ máy hiện có của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án, mô hình này được áp dụng với dự án quy mô nhỏ có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng, khi bộ máy của Chủ đầu tư kiêm nhiệm được việc quản lý thực hiện dự án
- Mô hình 2: Chủ đầu tư thành lập Ban QLDA để giúp mình trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án Với hình thức này thì phải đảm bảo nguyên tắc:
+ Ban QLDA do Chủ đầu tư thành lập, là đơn vị trực thuộc Chủ đầu tư Quyền hạn, nhiệm vụ của Ban QLDA do Chủ đầu tư giao
+ Ban QLDA có tư cách pháp nhân hoặc sử dụng pháp nhân của Chủ đầu tư
để tổ chức quản lý thực hiện dự án
+ Cơ cấu tổ chức của Ban QLDA gồm có Giám đốc, các phó giám đốc, và
Trang 27Sinh viên: Đặng Văn Tiến 17 Lớp: 12A-QTKDHL
lực lượng chuyên môn, nghiệp vụ Cơ cấu bộ máy phải phù hợp với nhiệm vụ được giao và đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng và tiết kiệm tối đa chi phí Các thành viên của Ban QLDA làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm
+ Ban QLDA hoạt động theo quy chế do Chủ đầu tư ban hành, chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư và pháp luật theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao
+ Chủ đầu tư phải cử người có trách nhiệm để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra Ban QLDA thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ để đảm bảo dự án được thực hiện đúng nội dung và tiến độ đã được phê duyệt
1.2.4.2 Chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý thực hiện dự án
QLDA là hình thức Chủ đầu tư ký hợp đồng thuê một pháp nhân khác làm tư vấn QLDA Trong trường hợp này Chủ đầu tư phải cử cán bộ phụ trách đồng thời phân giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc bộ máy của mình thực hiện hợp đồng của
Tư vấn quản lý dự án
+ Chủ đầu tư thuê Tư vấn: Trường hợp chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản
lý điều hành dự án thì tổ chức Tư vấn đó phải thành lập một tổ chức bộ máy có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên Tư vấn quản lý dự án được thuê ở tổ chức, cá nhân tham gia quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký của chủ đầu tư
Với hình thức Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án ở tỉnh Quảng Ninh ít được áp dụng vì hiện nay hầu hết các đơn vị tư vấn trên điạ bàn tỉnh Quảng Ninh chưa đủ năng lực để thực hiện
1.3 Quản lý dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
1.3.1 Đặc điểm các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách
NSNN đã có quá trình ra đời và phát triển từ thế kỷ XII đến nay, thế nhưng hiện nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm NSNN Ở nước ta, NSNN được quy định tại Điều 1 Luật NSNN đã được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ
Trang 28Sinh viên: Đặng Văn Tiến 18 Lớp: 12A-QTKDHL
nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/03/1996: NSNN là toàn
bộ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
Dự án đầu tư sử dụng NSNN có có đặc điểm sau:
Một là, qui mô vốn đầu tư lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi NSNN
Ví dụ, ở nước ta trong những năm qua, chi NSNN cho đầu tư không ngừng tăng lên
cả tuyệt đối và tương đối Tỷ trọng vốn đầu tư trong tổng chi ngân sách thường chiếm trên 40% trong khi số vốn đầu tư từ NSNN và không ngừng tăng lên Vốn đầu tư XDCB từ NSNN thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ yếu ( khoảng 92 - 95%) trong tổng chi đầu tư của NSNN ở nước ta
Hai là, có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư xây dựng
Nguồn vốn thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng khi thực hiện đầu tư thì Nhà nước lại uỷ thác việc quản lý sử dụng cho các chủ đầu tư để triển khai kế hoạch của Nhà nước, tạo ra sự tách rời giữa quyền sở hữu và sử dụng vốn Với đặc điểm này, nếu cơ chế quản lý của Nhà nước không hoàn thiện thì có thể dẫn đến tình trạng các chủ đầu tư quản lý sử dụng vốn tìm cách chiếm đoạt vốn của Nhà nước khi có cơ hội
Ba là, chi ngân sách cho đầu tư XDCB được thực hiện qua nhiều cấp ngân
sách Theo cơ chế quản lý vốn đầu tư ở nước ta hiện nay, việc chi đầu tư XDCB được thực hiện qua nhiều cấp ngân sách như: chi từ nguồn ngân sách trung ương cho hoạt động đầu tư của các bộ, ngành, chi bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho địa phương; chi từ ngân sách địa phương cho các dự án thuộc địa phương quản lý
Thực tế nêu trên dễ dẫn đến tình trạng xin - cho, kéo theo đó là việc phát sinh các tiêu cực, lãng phí do đầu tư không đúng nội dung hoặc đầu tư dàn trải
Bốn là, nguồn vốn đầu tư mà các chủ đầu tư sử dụng phải được tạm ứng,
nghiệm thu và thanh toán theo qui định của Nhà nước Nếu các thủ tục còn rất rườm
rà, phức tạp và nhiều kẽ hở, thì không chỉ có thể gây khó khăn trong việc thực hiện cho cả chủ đầu tư và các nhà thầu mà còn tạo nhiều điều kiện cho việc bị lợi dụng
để chiếm đoạt, biến thủ, tham ô vốn đầu tư của nhà nước
Trang 29Sinh viên: Đặng Văn Tiến 19 Lớp: 12A-QTKDHL
Như vậy, các chủ đầu tư là người chủ cạnh tranh, nhưng không phải là người chủ thực sự của đồng vốn nên dễ dấn đến việc thiếu trách nhiệm quản lý, sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu, thậm chí có tình trạng tìm mọi kẽ hở trong chính sách quản
lý để tiêu cực, tham nhũng, bòn rút VĐT của Nhà nước Nếu các chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án không nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đáp ứng được yêu cầu quản lý; Nhà nước không có những cơ chế chính sách chặt chẽ ràng buộc trách nhiệm trong quản lý, không tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thì thất thoát, lãng phí trong ĐTXD bằng nguồn vốn NSNN
là không thể tránh khỏi
Các dự án đầu tư xây dựng công trình phải tuân thủ theo quy định của Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003; Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005; Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội; Luật sửa đổi bổ sung số 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009; Nghị định số 12/2009/NĐ-
CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 về hướng dẫn lập Kế hoạch đấu thầu; Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về Quản lý chất lượng công trình xây dựng; Nghị định số 112/2010/NĐ-CP về việc Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình và các thông tư hiện hành của Bộ tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ kế hoạch và đầu tư, các Bộ chuyên ngành có liên quan
Những dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn NSNN còn chịu sự chi phối của Luật NSNN, và trình tự thủ tục của các dự án đầy tư xây dựng công trình
sử dụng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh còn phải tuân thủ theo quy định hiện hành và các văn bản hướng dẫn của các cơ sở chuyên ngành; ngoài ra còn chịu quy định của Kho bạc nhà nước nơi thanh toán
Dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước chủ yếu là
để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng với mục tiêu tạo cơ sở vật chất cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư cho An Ninh, Quốc phòng, đây là lĩnh vực mà các Doanh nghiệp và tư nhân không muốn bỏ vốn đầu tư vì đầu tư vào không có hiệu quả cho ngay và cho Doanh nghiệp cũng như Tư nhân bỏ vốn
Trang 30Sinh viên: Đặng Văn Tiến 20 Lớp: 12A-QTKDHL
- Đối với dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN kể cả dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập
dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng Người quyết định đầu tư có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án, nhưng không quá 3 năm đối với dự án nhóm C và không quá 5 năm đối với dự án nhóm B Các dự án sử dụng vốn NSNN do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền quyết định theo phân cấp, phù hợp với quy định của pháp luật về NSNN
- Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của Doanh nghiệp Nhà nước chỉ quản lý về mặt chủ trương và quy mô đầu tư Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định của Nghị định hiện hành của Nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Đối với các dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết hình thức và nội dung quản lý dự án Đối với các dự án sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn khác nhau thì các bên góp vốn thỏa thuận về phương thức quản lý hoặc quản lý theo quy định đối với nguồn vốn có tỷ lệ % lớn nhất trong tổng mức đầu tư
1.3.2 Phân cấp quản lý các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách
Theo nghị định 12/2009/NĐ-CP, các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước
kể cả các dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng Chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước
Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu tư là một trong các cơ quan, tổ chức sau: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ
Trang 31Sinh viên: Đặng Văn Tiến 21 Lớp: 12A-QTKDHL
quan khác ở Trung ương (gọi chung là cơ quan cấp Bộ), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và doanh nghiệp nhà nước
Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư là đơn vị quản lý, sử dụng công trình
Trường hợp chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn
vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì người quyết định đầu tư có thể giao cho đơn vị có đủ điều kiện làm chủ đầu tư Trong trường hợp đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì đơn
vị sẽ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư trong việc tổ chức lập dự án, thiết kế, theo dõi, quản lý, nghiệm thu và tiếp nhận đưa công trình vào khai thác, sử dụng
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn ngân sách
1.3.3.1 Chỉ tiêu kết quả sử dụng vốn
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện Là tổng số tiền chi để tiến hành các hoạt
động của các công cuộc đầu tư bao gồm: các công tác cho chi phí xây lắp, chi phí cho công tác mua sắm trang thiết bị và các chi phí khác theo quy định của thiết kế
dự toán và được ghi trong dự toán đầu tư được duyệt
Chi phí xây lắp là chi phí phá và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ (có tính đến giá trị vật tư, vật liệu thu hồi để giảm vốn đầu tư), chi phí san lấp mặt bằng xây dựng, chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công (đường thi công, điện, nước,…), nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công Chi phí xây dựng các hạng mục công trình, chi phí lắp đặt thiết bị (đối với thiết bị cần lắp đặt), chi phí di chuyển lớn thiết bị thi công và lực lượng xây dựng
Chi phí thiết bị bao gồm chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (gồm cả thiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất gia công, các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt của công trình, chi phí vận chuyển, kho bãi, bảo quản, thuế, bảo hiểm
Trang 32Sinh viên: Đặng Văn Tiến 22 Lớp: 12A-QTKDHL
Chi phí khác bao gồm chi phí ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chi phí ở giai đoạn thực hiện đầu tư, chi phí ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào sử dụng
Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư có chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đối với các dự án nhóm A hoặc dự án nhóm B nếu cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư yêu cầu bằng văn bản, báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án nói chung và các dự án chỉ thực hiện lập báo cáo đầu tư Chi phí tuyên truyền quản cáo cho dự
án Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ có liên quan đến dự án đối với dự án nhóm A và một số dự án có yêu cầu đặc biệt được thủ tướng chính phủ cho phép Chi phí và lệ phí thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đầu tư
Ở giai đoạn thực hiện đầu tư có chi phí khởi công công trình, chi phí đền bù
và tổ chức thực hiện trong quá trình đền bù đất đai, hoa màu, di chuyển dân cư và các công trình trên mặt bằng xây dựng, chi phí phục vụ cho công tác tái định cư và phục hồi Chi phí khảo sát xây dựng, thiết kế công trình, chi phí mô hình thí nghiệm, chi phí lập hồ sơ mời thầu, chi phí cho việc phân tích, đánh giá kết quả đấu thầu xây lắp, mua sắm vật tư thiết bị, chi phí giám sát thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị và các chi phí tư vấn khác Tiền thuê đất hoặc tiền chuyển quyền sử dụng đất, chi phí ban quản lý dự án, chi phí bảo vệ an toàn, bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng công trình, chi phí kiểm định vật liệu đưa vào công trình Chi phí lập thẩm tra đơn giá dự toán, chi phí quản lý, chi phí xây dựng công trình Chi phí bảo hiểm công trình, lệ phí địa chính, chi phí và lệ phí thẩm định thiết kế mỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thi công, tổng dự toán công trình
Ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào sử dụng có chi phí thực hiện việc quy đổi vốn, thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư công trình Chi phí tháo dỡ công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công Chi phí thu dọn vệ sinh công trình, tổ chức nghiệm thu, khánh thành và bàn giao công trình Chi phí đào tạo công nhân kỹ thuật và cán bộ quản lý sản xuất Chi phí nguyên vật liệu, năng lượng
và nhân lực cho quá trình chạy thử không tải, có tải, chi phí dự phòng cho những khoản phát sinh không dự kiến trước được
1.3.3.2 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
Ở tầm vĩ mô các hiệu quả kinh tế thường biểu hiện một cách không rõ nét,
Trang 33Sinh viên: Đặng Văn Tiến 23 Lớp: 12A-QTKDHL
thường phải chờ đợi một thời gian dài mới thấy hết hiệu quả của nó Hiệu quả đầu
tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế - xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kỳ nhất định
Hệ số ICOR Hệ số ICOR cho từng thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm một đồng
GDP thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư Hệ số này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng lớn
Hiệu suất vốn đầu tư Biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức tăng trưởng GDP
và vốn đầu tư trong kỳ
Trong đó:
- Hi: hiệu suất vốn đầu tư trong kỳ
- I: mức tăng đầu tư trong kỳ
Chỉ tiêu hiệu suất vốn đầu tư phản ánh tổng hợp hiệu quả vốn đầu tư, nhưng chỉ tiêu này có nhược điểm cơ bản là sự hạn chế về tính so sánh được giữa tử số và mẫu số của chỉ tiêu, vì giữa GDP và vốn đầu tư trong cùng một thời kỳ không tồn tại mối quan hệ trực tiếp Thời kỳ ngắn thì nhược điểm này càng bộc lộ rõ
Hệ số trang bị tài sản cố định cho lao động Hệ số trang bị tài sản cố định
cho lao động (HL) được xác định bằng tỷ số giữa giá trị bình quân của tài sản cố định trong kỳ (FA) và số lượng lao động sử dụng bình quân trong (L) được tính theo công thức:
Trang 34Sinh viên: Đặng Văn Tiến 24 Lớp: 12A-QTKDHL
Hệ số này cũng là một chỉ tiêu quan trọng vì kết quả vốn đầu tư được biểu hiện ở khối lượng tài sản cố định, yếu tố vật chất hóa sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong việc nâng cao mức trang bị kỹ thuật cho lao động biểu hiện kết quả của việc tăng cường cơ giới hóa, tự động hóa và các phương hướng phát triển khoa học
kỹ thuật khác là tiền đề quan trọng đảm bảo tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất, nâng cao mức sống của dân cư
Hệ số thực hiện vốn đầu tư Hệ số thực hiện vốn đầu tư phản ánh mối quan
hệ giữa khối lượng vốn đầu tư bỏ ra với các tài sản cố định (kết quả của vốn đầu tư) được đưa vào sử dụng Hệ số được tính theo công thức:
Trong đó:
Hu: Hệ số thực hiện vốn đầu tư
FA: Giá trị tài sản cố định
I: Tổng vốn đầu tư trong kỳ
Hệ số thực hiện vốn đầu tư càng lớn thể hiện hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng cao
Ở tầm vi mô thường đo lường và đánh giá hiệu quả của từng dự án đầu tư cụ thể, từng công trình xây dựng Một số chỉ tiêu thường sử dụng bao gồm:
Tỷ suất lợi ích trên chi phí (B/C) Tỷ suất lợi ích trên chi phí xác định mối
quan hệ giữa lợi ích thu được của dự án đầu tư so với chi phí bỏ ra Để xác định được tỷ lệ này chúng ta cần xác định được dòng lợi ích và dòng chi phí của dự án
Tỷ lệ này được tính theo công thức:
n
t
t t
n
t
t t
i C i B C
B
1
1
) 1 (
) 1 (
(1.5)
Trong đó:
- Bt: lợi ích trong năm t (thu nhập tại năm t)
- i: lãi suất tính toán
- Ct: chi phí về vốn đầu tư tại năm t
- n: số năm hoạt động kinh tế của dự án (tuổi thọ kinh tế của dự án)
Trang 35Sinh viên: Đặng Văn Tiến 25 Lớp: 12A-QTKDHL
Kết quả thu được từ công thức (1.6) cho thấy:
- Nếu B/C > 1: thu nhập lớn hơn chi phí, dự án có lãi (hiệu quả)
- Nếu B/C < 1: thu nhập nhỏ hơn chi phí, dự án bị lỗ
- Nếu B/C = 1: dự án hòa vốn
Ưu điểm của chỉ tiêu B/C giúp ta thấy mức lợi ích của một đồng chi phí, nhưng nhược điểm là không cho ta biết tổng số lãi ròng thu được
1.4 Quản lý dự án đầu tƣ sử dụng nguồn vốn ODA
1.4.1 Đặc điểm các dự án đầu tư sử dụng vốn ODA
1.4.1.1.Vốn ODA có tính chất ưu đãi
ODA là nguồn vốn mang tính chất ưu đãi hơn cả bởi vì bao giờ cũng có một phần cho không khá lớn Còn phần cho vay chủ yếu là vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn các khoản vay thông thường rất nhiều (thường dưới 3%/năm) Mức độ ưu đãi nhiều hay ít được thể hiện ở mức lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ Một khoản vốn vay ODA thường có thời gian sử dụng vốn dài, thường 30-40 năm (với các khoản vay từ ADB, WB và JBIC) gồm 2 phần: thời gian ân hạn từ 5-10 năm, và thời gian trả nợ khác nhau ở từng giai đoạn
Bảng 1.1 Một số thí dụ xác định yếu tố cho không trong viện trợ
Thời gian (năm) Yếu tố cho
không (%) Hoàn trả Ân hạn
(ví dụ lãi suất 10%/năm)
Trang 36Sinh viên: Đặng Văn Tiến 26 Lớp: 12A-QTKDHL
Để được xếp vào ODA, một khoản cho vay phải có thành tố viện trợ cho không quy đổi tối thiểu 25%.Thành tố hỗ trợ cho không giúp lượng hoá mức độ ưu đãi của một khoản vay vốn ODA so với một khoản vay thương mại thông thường
Vốn ODA chỉ được dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển Các nước này có thể nhận được vốn ODA khi đáp ứng các điều kiện nhất định:
+ Tổng sản phẩm quốc nội thấp Những nước có tỷ lệ GDP/người càng thấp thì tỷ lệ viện trợ không hoàn lại và các điều kiện ưu đãi càng cao Khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định thì sự ưu đãi cũng sẽ giảm đi
+ Khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định thì sự ưu đãi chính sách
và phương hướng ưu tiên của các bên cho vay
1.4.1.2 Vốn ODA thường gắn với các điều kiện ràng buộc
ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định và một phần sản phẩm quốc dân từ quốc gia phát triển sang quốc gia đang phát triển.ODA thường đi theo các điều kiện ràng buộc về kinh tế, chính trị, xã hội do bên cấp ODA áp đặt cho bên nhận hoặc do những tác động khách quan từ môi trường đem lại nhằm có lợi ích lâu dài cho bên nhận hoặc làm tăng hiệu quả viện trợ
Thứ nhất, ODA gắn liền với điều kiện chính trị
ODA là một trong những phương tiện để thực hiện ý đồ chính trị của nước cấp viện trợ đối với nước nhận viện trợ Trong thời kỳ chiến tranh lạnh ODA dùng
để lôi kéo thêm đồng minh vì có sự đối đầu Đông- Tây, nhằm cân bằng lực lượng
Kể từ ngày các nước XHCN cũ ở Đông ÂU thay đổi thể chế chính trị vào những năm đầu của thập kỷ 90, các nước phương Tây đã cung cấp vốn ODA, tạo điều kiện giúp đỡ các nước này chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Bên cấp viện trợ và các nguồn vốn chính thức khác thường cấp viện trợ cho những người bạn về chính trị và đồng minh quân sự mà không cấp cho đối tượng là kẻ thù Trong các nước cấp viện trợ thì Nhật nặng về Châu Á với 20% dành cho vùng Nam Á và 48,8% dành cho vùng viễn đông Viện trợ của Đức và Áo dành phần lớn cho các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, còn Viện trợ của Mỹ hầu như dành cho Trung Đông Một
Trang 37Sinh viên: Đặng Văn Tiến 27 Lớp: 12A-QTKDHL
ví dụ khác là hầu hết các nước phát triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị, xác định vị trí và ảnh hưởng của mình tại các nước và các khu vực tiếp nhận ODA Hoa Kỳ dùng ODA làm công cụ để thực hiện ý đồ gây "ảnh hưởng chính trị trong thời gian ngắn", một mặt dùng viện trợ kinh tế để bày tỏ sự thân thiện, tiến đến gần gũi thân thiết về chính trị, mặt khác tiếp cận với quan chức cao cấp của các nước đang phát triển để mở đường cho hoạt động ngoại giao trong tương lại Mỹ "lái" các nước nhận viện trợ chấp nhận một lập trường nào đó của Mỹ trong ngoại giao và tác động, can thiệp vào sự phát triển chính trị của các nước đang phát triển Nhật Bản cũng sử dụng ODA như một công cụ ngoại giao lợi hại Nhờ tăng cường viện trợ cho các nước đang phát triển, Nhật Bản đã tranh thủ sự ủng hộ của các nước này để trở thành thành viên của hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc Nhật muốn quốc tế hoá đồng tiền của mình bằng cách hình thành số nợ tính bằng đồng Yên và gắn với những dự án có công ty Nhật tham gia
Thứ hai, ODA gắn với điều kiện kinh tế
Các nước viện trợ nói chung đều muốn đạt được những ảnh hưởng về kinh
tế, đem lại lợi nhuận cho hàng hoá và dịch vụ trong nước Họ gắn quỹ viện trợ với việc mua hàng hoá và dịch vụ nước họ như là một biện pháp nhằm tăng cường khả năng làm chủ thị trường xuất nhập khẩu và giảm bớt tác động của viện trợ đối với cán cân thanh toán Các nước như Bỉ, Đức, Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hoá và dịch vụ của nước mình, Canada là 70% viện trợ phải mua hàng hoá và dịch vụ của họ Thuỵ Sĩ là 1,7% ; Hà Lan là 2,25%; New Zeland là 0% Tính chung trong toàn khối DAC là 22% viện trợ phải được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của quốc gia viện trợ
Mặt khác các nước cho vay đều nhìn thấy lợi ích từ hỗ trợ các nước đi vay để
mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và vốn, xét về lâu dài là lợi về an ninh, kinh
tế, chính trị khi mà kinh tế các nước nghèo tăng trưởng
Nhật còn quy định vốn phải được thực hiện bằng đồng Yên Nhật Tuy là nguồn hỗ trợ có tính ưu đãi nhưng ODA không phải là cho không ODA là khoản cung cấp có vay có trả, gắn với những ràng buộc của nước, tổ chức cung cấp viện
Trang 38Sinh viên: Đặng Văn Tiến 28 Lớp: 12A-QTKDHL
trợ Mỗi nước cung cấp ODA đều có chính sách riêng của mình và những quy định ràng buộc khác nhau đối với nước nhận, nhiều khi những ràng buộc này rất chặt chẽ Ví dụ: Nhật Bản quy định vốn ODA của họ (hoàn lại và không hoàn lại) đều được thực hiện bằng đồng Yên Nhật Trong tình trạng đồng Yên Nhật lên giá mạnh thì việc sử dụng ODA của Nhật cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng mới có thể đạt được hiệu quả
Vốn ODA còn dọn đường cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào nước tiếp nhận viện trợ
Thứ ba, ODA gắn liền với các nhân tố xã hội
Công chúng các nước OECD luôn ủng hộ nguyên tắc giúp đỡ những người cần giúp đỡ Ở các nước có ODA dưới 0,7% GNP, hơn 70% dân chúng cho rằng chính phủ nên tăng ngân sách viện trợ phát triển của nước mình Ở Nhật Bản, một nước cấp viện trợ lớn nhất trên thế giới, theo thăm dò của chính phủ khoảng 47% số người được đòi hỏi muốn duy trì mức viện trợ hiện tại và 33% muốn tăng hơn nữa
Về phía nước nhận viện trợ phần lớn là các nước nghèo, hạn hẹp về nguồn vốn cần nguồn ODA để phát triển đất nước Nhưng chính việc nhận viện trợ bên cạnh kinh tế là được giao lưu văn hoá với các nước viện trợ, nhưng cũng thui chột
đi bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống và có hiệu năng lan toả rất mạnh Do định hướng giá trị, chuẩn mực văn hoá các nước là khác nhau nên khi văn hoá du nhập thường được tiếp nhận với một lăng kính khác ví dụ như sức ỳ của tư duy, ỷ lại cho rằng vốn ODA là của chùa là hỗ trợ thì chẳng cần lợi nhuận lớn làm gì, không cần trả nợ ngay thì sử dụng thong thả Hay một bộ phận không nhỏ lợi dụng chức vụ lấy công làm tư, bớt xén của chùa
Thứ tƣ, Có khả năng gây ra gánh nặng nợ nần cho nước tiếp nhận
Trong thời gian đầu tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, do những điều kiện vay
ưu đãi nên yếu tố nợ nần thường chưa xuất hiện Một số nước đi vay chủ quan với nguồn vốn này không sử dụng một cách có hiệu quả Nước đi vay không trả được lãi và vốn vay ODA theo đúng cam kết và để lại gánh nặng nợ nước ngoài cho thế
hệ sau Do đó, nước đi vay khi hoạch định chính sách tiếp nhận vốn ODA cần phải
Trang 39Sinh viên: Đặng Văn Tiến 29 Lớp: 12A-QTKDHL
kết hợp với chính sách thu hút các nguồn vốn khác để chúng hỗ trợ nhau nhằm tăng cường nguồn vốn, tăng khả năng trả nợ tạo thế chủ động
- Sự ràng buộc làm lãng phí: Hầu hết các khoản vay đều chịu sức ép trong việc phải mua hàng hoá, vật tư thiết bị hoặc sử dụng các dịch vụ (chuyên gia, tư vấn khảo sát, thiết kế ) của tổ chức, Nhà nước cung cấp ODA với giá không hề rẻ Phía nhà cung cấp thường có những động thái nhằm thu hồi một phần tiền vay ngay trong quá trình sử dụng vốn vay, giải quyết được hàng hoá tồn đọng, việc làm, thu nhập cho các công ty của chính quốc
- Các tổ chức tài trợ khi tài trợ cho một dự án cụ thể thường đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật rất cao, thường được hiểu rằng đây là các tiêu chuẩn, chuẩn mực hoặc thông lệ quốc tế Các tiêu chuẩn này nhiều khi rất sai khác với tiêu chuẩn của Việt Nam, gây lãng phí rất nhiều trong quá trình sử dụng vốn vay
Sử dụng ODA là một sự đánh đổi Việc tiếp nhận nhiều hơn và sử dụng hợp
lý, tiết kiệm, hiệu quả là một bài toán không dễ có ngay lời giải Các nhà quản lý và các đơn vị sử dụng vốn ODA cần có những chính sách và hành động cụ thể nhằm phát huy được những thế mạnh, hạn chế nhiều nhất những ảnh hưởng bất lợi của ODA, có như vậy mới đạt được mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế
1.4.2 Phân loại các dự án đầu tư sử dụng vốn ODA
1.4.2.1 Phân loại theo tính chất nguồn vốn
* Viện trợ không hoàn lại
Bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên nhận không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình dự án theo sự thoả thuận trước giữa các bên Có thể coi viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu của ngân sách nhà nước, được sử dụng như hình thức nhà nước cấp phát lại cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Thường được sử dụng ưu tiên cho những chương trình và dự án thuộc lĩnh vực y tế, dân số, xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, giáo dục đào tạo… và còn hỗ trợ cho hoạt động sản xuất trong một số trường hợp cá biệt là góp phần tạo công ăn việc làm cho nhiều người, giải quyết các vấn đề về xã hội…
Viện trợ không hoàn lại thực hiện dưới hai hình thức:
Trang 40Sinh viên: Đặng Văn Tiến 30 Lớp: 12A-QTKDHL
- Hỗ trợ kỹ thuật
- Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật
* Viện trợ có hoàn lại
ODA hoàn lại (ODA cho vay ưu đãi, hay tín dụng ưu đãi) là các khoản ODA
mà các nhà tài trợ cho các nước cần vốn vay một khoản tiền tuỳ theo quy mô và mục đích của dự án với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp Đồng thời, khoản viện trợ có hoàn lại có chứa đựng thành tố hỗ trợ quy đổi đạt ít nhất 25% trị giá khoản vay (đối với Việt Nam có quy định tại khoản 2 điều 1 Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 04/5/2001 của chính phủ) Tín dụng ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thế giới và là nguồn phụ thêm để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước, vì vậy nó được sử dụng dưới hình thức tín dụng đầu tư cho các mục đích có khả năng thu hồi vốn, hoàn trả lại cho nhà nước cả vốn lẫn lãi để trả nợ nước ngoài
* ODA cho vay hỗn hợp
Đó là các khoản ODA kết hợp một phần từ ODA không hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD)
1.4.2.2 Phân loại theo nước tiếp nhận
+ ODA thông thường: Hỗ trợ cho những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp thường có thu nhập bình quân đầu người dưới 2 USD/ngày, tương đương 720USD/năm
+ ODA đặc biệt: Hỗ trợ cho những nước đang phát triển với thời hạn cho vay ngắn, lãi suất cao hơn
1.4.2.3 Phân loại theo nguồn cung cấp
+ ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước khác thông qua hiệp định được ký kết giữa hai chính phủ Thông thường trong tổng
số ODA lưu chuyển trên thế giới, phần viện trợ song phương chiếm tỷ trọng lớn có khi lên đến 80%, lớn hơn rất nhiều nếu so với phần viện trợ đa phương Vì ODA song phương là nguồn vốn được chuyển trực tiếp giữa hai chính phủ với nhau nên